Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam

 Mục tiêu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN. Chúng dùng nhiều luận điệu để xuyên tạc, phủ nhận đường lối phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Tuy nhiên, bằng những thành tựu thuyết phục của quá trình đổi mới đất nước đã chứng minh, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam

Từ khóa: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam.

Mục tiêu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN. Nhất là gần đây, khi Việt Nam đang tiến hành tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, chúng càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách toàn diện.

Một trong những luận điệu mà các thế lực thù địch và những phần tử phản động cùng những “nhà dân chủ” thường sử dụng là cho rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là khái niệm mơ hồ. Thực chất của việc đó chính là nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng không thể hiện thực được CNXH tại Việt Nam bằng con đường “kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Họ đã vin vào sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu để cho rằng xã hội XHCN, chủ nghĩa cộng sản là không tưởng. Theo họ, “đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là chắp vá, không tưởng. Việt Nam hiện nay đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào. Nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường TBCN thì sẽ bị trả giá, tự giác đi theo con đường TBCN thì đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn”. Gần đây có luận điệu xảo quyệt, thâm độc hơn như “con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ TBCN theo định hướng XHCN, nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập với nhau”.

Vậy về mặt lý luận và thực tiễn liệu có đúng như nhận định của các thế lực thù địch hay không?

1. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là phù hợp quy luật khách quan

Chưa lúc nào các thế lực thù địch, phản động, các “nhà dân chủ” không tìm cơ hội để tăng cường sự chống phá bằng mọi hình thức. Lợi dụng quyền tự do dân chủ, chúng tung lên các trang mạng xã hội hàng loạt bài viết phê phán quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bằng thủ đoạn “lập lờ đánh lận con đen”, chúng cố công biện giải rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi đưa ra khái niệm “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, chưa bao giờ có thể định nghĩa được nó mà không ẩn chứa sự mâu thuẫn bên trong. Những người có quan điểm đối lập với Đảng đã cố tình xuyên tạc sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta, đặc biệt là họ dựa vào các tiêu chí của định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường để cho rằng Đảng ta đã vay mượn khái niệm hay là đánh tráo khái niệm. Thậm chí, một số kẻ còn lớn tiếng khẳng định, kinh tế thị trường mang giá trị phổ quát của nhân loại thêm các đuôi định hướng XHCN sẽ tạo ra một mô hình kinh tế “quái thai”, hoặc kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa có tiền lệ trong lịch sử, nếu áp dụng sẽ tạo ra những lực cản kìm hãm sự phát triển của Việt Nam, tạo ra cản trở cho sản xuất, năng suất lao động, khả năng sáng tạo...

Trước Đại hội VI, chính những người cộng sản Việt Nam trước nhiều bế tắc của đất nước do đói nghèo, khủng hoảng đã nỗ lực tìm ra lối đi, thừa nhận sự tồn tại những hạt nhân hợp lý của kinh tế hàng hóa ngay trong lòng cơ chế kinh tế tập trung bao cấp. Từ những khoán hộ, “khoán chui”, đổi mới cơ chế quản lý tại các xí nghiệp và con đường tìm tòi đầy gian nan để đi đến bước ngoặt Đổi mới từ Đại hội VI, chính thức đề cập sản xuất hàng hóa và xác định “cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa” (Đại hội VI, năm 1986). Đó thực chất cũng là bước ngoặt Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận kinh tế thị trường để xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ.

Đến Đại hội VII (năm 1991) xác định xây dựng “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước”. Đại hội VIII (năm 1996) chủ trương xây dựng “nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội IX (năm 2001), Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Như vậy, phải sau 15 năm thực hiện Đổi mới, khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” mới chính thức được xác định từ Đại hội IX (2011) của Đảng.

Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đại hội XII xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(1).

Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành 3 Nghị quyết: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN”, “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”, “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Đây là sự kiện quan trọng, bởi tại các Nghị quyết này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới, quan trọng về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo đó, định nghĩa về “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” ở nước ta được thống nhất “là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(2).

Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng XHCN chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

So sánh với kinh tế thị trường TBCN, kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa có những điểm tương đồng, nhưng cũng có những điểm khác biệt về bản chất. Điểm tương đồng với kinh tế thị trường tư bản hiện đại là: dựa trên nền tảng của chế độ phân chia sở hữu và đa sở hữu; nền kinh tế vận hành chủ yếu thông qua và bằng cơ chế thị trường; có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước; đa dạng hóa các hình thức phân phối.

Điểm khác biệt, sự sáng tạo trong triển khai kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là ở chỗ, phát triển kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Các chủ thể trong kinh tế thị trường cạnh tranh nhau với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Chính vì vậy, đi liền với tăng trưởng tất yếu là sự phân hóa giàu nghèo, không ít người yếu thế bị bật ra khỏi vòng quay của nền kinh tế, cũng vì vậy nảy sinh các hiện tượng tiêu cực và các tệ nạn xã hội. Trong CNTB, nhân dân lao động là người làm thuê, mục tiêu của CNTB là tăng lợi nhuận, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản. Để đạt tới mục tiêu đó, CNTB đã có nhiều chủ trương, giải pháp về các vấn đề xã hội, trong đó có những mặt tiến bộ như thực hiện giảm nhẹ sự bất bình đẳng trong xã hội cũng như tìm cách giảm căng thẳng trong xã hội. Tuy nhiên, những mặt tiến bộ ấy không bền vững vì mâu thuẫn cơ bản của CNTB là xã hội hóa tư liệu sản xuất và chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn còn tồn tại. Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển kinh tế phải đi liền với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội. “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế”(3) và “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển”(4).

Như vậy, thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Bản thân kinh tế thị trường cho đến nay được xem là phương cách hiệu quả nhất trong phân bổ, khai thác các nguồn lực cho sự phát triển. CNXH là xã hội tương lai, bảo đảm các điều kiện phát triển toàn diện của con người. Do vậy, lựa chọn kinh tế thị trường là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi sau, cho phép các nước này rút ngắn được con đường đi của mình tới CNXH trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế những khuyết tật của thị trường.

2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam - thành tựu bác bỏ mọi sự xuyên tạc

Để đạt được mục đích đen tối là làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động, các “nhà dân chủ” đã dùng nhiều thủ đoạn nhằm tung “hỏa mù”, lợi dụng một số hạn chế về quản lý kinh tế đang diễn ra để gán ghép những thông tin khó kiểm chứng, làm cho người đọc khó phân biệt thật hay giả. Chúng vẽ ra những chuyện gây “sốc” như khả năng thực tế về cạnh tranh quốc tế suy yếu, tăng trưởng chậm và bất ổn kinh tế vĩ mô mà nền kinh tế Việt Nam đang phải hứng chịu là do kinh tế thị trường định hướng XHCN mang lại. Hay chính kinh tế thị trường định hướng XHCN sẽ “thải” ra hệ quả là cỗ máy tăng trưởng kinh tế bị trục trặc, nguồn lực xã hội bị sử dụng kém hiệu quả, tạo ra những thua lỗ, nợ nần. Ngoài ra, kinh tế thị trường với nền tảng “lệch lạc”, “méo mó” sẽ khiến cho nền kinh tế trở nên kém cạnh tranh, khu vực tư nhân bị chèn ép, không lớn lên được. Tất cả những yếu tố này còn gây ra nhiều hệ lụy khác như tham nhũng, lãng phí, nợ xấu... Những luận điệu này không chỉ là sự đánh tráo khái niệm, mà còn chứa đầy sự ác ý, thâm hiểm nhằm phủ nhận đường lối, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là đối với chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN vốn đã được chứng minh hiệu quả trên thực tế.

Sau gần 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề quan trọng để tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Kinh tế tăng trưởng liên tục, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh; kinh tế vĩ mô ổn định và từng bước được tăng cường; sức cạnh tranh, tiềm lực và quy mô của nền kinh tế được nâng cao. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, quyết liệt, có bước đột phá và đạt nhiều kết quả rõ rệt, được nhân dân hoan nghênh, đồng tình, tin tưởng và ủng hộ. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, năm 2019 kinh tế Việt Nam lần đầu tiên vươn lên nửa trên của bảng xếp hạng thế giới, vị trí 67/141 nền kinh tế được xếp hạng (tăng 10 bậc so với năm 2018), xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư (tăng 15 bậc so với năm 2018).

Có những mục tiêu tưởng chừng như rất khó đạt được cùng lúc, thông thường sẽ phải có sự đánh đổi trong tiến trình phát triển, đó là quy mô càng lớn càng khó có thể tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên, điều này đã không đúng ở Việt Nam. Năm 2018, quy mô kinh tế Việt Nam đạt gần 250 tỷ USD lớn gấp 9,3 lần so với thời điểm bắt đầu đổi mới năm 1986 và gấp gần 1,3 lần so với năm 2015. Nếu như năm 2016 đầu nhiệm kỳ Đại hội XII, chúng ta chỉ tăng trưởng 6,21% thì năm 2019 chúng ta đạt tăng trưởng lên đến 7,02%, đưa quy mô nền kinh tế năm 2019 đạt hơn 262 tỷ USD(5).

Để cố tình chứng minh sự không đúng đắn của việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, có luận điệu cho rằng, Việt Nam đã phải chấp nhận đánh đổi giữa tăng trưởng nhanh và ổn định vĩ mô. Năm 2010, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm sau khủng hoảng, kinh tế Việt Nam đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm, từng bước phục hồi và tăng trưởng khá nhanh với 6,4%, lần lượt các năm tiếp theo từ 2011 đến 2019 chúng ta có tốc độ tăng trưởng là 6,2%, 5,2%, 5,4%, 6,0%, 6,7%, 6,2%, 6,8%, 7,08%, 7,02%. Năm 2019, chúng ta không chỉ đạt được tăng trưởng nhanh hàng đầu khu vực cũng như trên thế giới mà còn duy trì được nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát chỉ 2,79%, mặt bằng lãi suất và tỉ giá luôn duy trì ổn định trong bối cảnh các thị trường tài chính toàn cầu đầy biến động. Cán cân ngân sách tính đến ngày 23-12-2019 là thặng dư, tỷ lệ nợ công giảm từ hơn 64% GDP vài năm trước về còn khoảng 56% GDP. Quy mô xuất nhập khẩu hơn 517 tỷ USD, cán cân thương mại hàng hóa đạt thặng dư kỷ lục gần 10 tỷ USD, dự trữ ngoại hối gần 80 tỷ USD - những con số mà 10 năm trước chúng ta không thể hình dung được.

Thành tựu đạt được nói trên không phải là sự đánh đổi giữa số lượng và chất lượng tăng trưởng, giữa tăng trưởng cao và tăng trưởng bền vững. Năm 2019, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hàng đầu châu Á, thì chất lượng tăng trưởng của chúng ta lại có sự cải thiện rất rõ nét thể hiện qua tốc độ tăng năng suất lao động. Một số quan điểm cho rằng các nước đang phát triển ở giai đoạn tiền công nghiệp hóa, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh thường phải chấp nhận suy giảm yếu tố môi trường và xã hội. Song Chính phủ Việt Nam luôn nhất quán với thông điệp không đánh đổi, hy sinh môi trường để lấy tăng trưởng, xác định công thức ba trong một của sự phát triển là Kinh tế - Xã hội và Môi trường.

Đối với quốc tế, sự phát triển của Việt Nam cũng được ghi nhận một cách khách quan, là điểm sáng về đầu tư và phát triển. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Doanh nghiệp APEC 2017, Tổng thống Mỹ Donal Trump khẳng định: “Vào đầu thập niên 1990, gần một nửa người dân Việt Nam sống chỉ với một vài đô la một ngày, và cứ một trên bốn người không có điện. Ngày nay, nền kinh tế Việt Nam mở cửa là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới. Kinh tế tăng gấp 30 lần và học sinh Việt Nam nằm trong số những học sinh giỏi nhất thế giới, điều này rất đáng phục”(6).

Năm 2019, trong Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2019 tiếp tục hạ xuống 3,2%; tuy nhiên với Việt Nam, IMF dự báo tăng trưởng khoảng 6,5% năm 2019; Ngân hàng Thế giới dự báo ở mức 6,6%; Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) thì lạc quan với dự báo tăng trưởng của Việt Nam ở mức 6,8%. Trong khi đó, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII 2019) mới được Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới công bố cho thấy Việt Nam tiếp tục tăng 3 bậc, xếp hạng 42/129 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam được xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư năm 2019, tăng 15 bậc so với năm 2018. Thành tích giảm nghèo của Việt Nam tiếp tục là một điểm sáng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam cũng được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc với số phiếu 192/193...

Quý I năm 2020, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, dẫn đến tăng trưởng kinh tế giảm sút bởi cung và cầu đều suy giảm, song theo dự báo mới nhất của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), nền tảng của kinh tế Việt Nam vẫn được duy trì. “Cho dù các hoạt động kinh tế suy giảm và các rủi ro do dịch COVID-19 vẫn còn, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất khu vực Đông Nam Á,” Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam Eric Sidgwick cho biết. Những động lực tăng trưởng của nền kinh tế trong thời gian tới là khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ, năng động, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện và tầng lớp trung lưu ngày càng tăng nhanh. Giải ngân đầu tư công được cải thiện đáng kể, tăng gần 18% trong giai đoạn tháng 1-2 năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019. Giải ngân sẽ tiếp tục được cải thiện trong năm 2020 vì đây là một trong các biện pháp tài khóa ưu tiên để ứng phó với dịch COVID-19. Số lượng lớn các hiệp định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia hứa hẹn tăng cường việc tiếp cận thị trường cho Việt Nam, đây là yếu tố thiết yếu cho sự phục hồi kinh tế sau COVID-19.

 Tính đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; 71 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường; nước ta cũng đã ký 14 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các nước, trong đó 11 hiệp định đã có hiệu lực. Hiện nay, Việt Nam đang cùng các nước tích cực thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Gần đây nhất, ngày 12-2-2020, Nghị viện châu Âu (EP) đã chính thức bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu.

Đối với các hoạt động thương mại quốc tế, Việt Nam cũng đã có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng xuất khẩu thô và hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài. Năm 2018, trong điều kiện co kéo giữa xu hướng “tự do hóa thương mại” và “chủ nghĩa bảo hộ thương mại mới” giữa các cường quốc, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt 475 tỷ USD, tăng 11,7%; trong đó, xuất khẩu 238 tỷ USD, tăng 11,2%; tiếp tục xuất siêu 6-7 tỷ USD. Năm 2019, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 517,19 tỷ USD, tăng 7,6%; trong đó  xuất khẩu đạt 264,19 tỷ USD, tăng 8,4%, nhập khẩu của Việt Nam đạt 253 tỷ USD, tăng 6,8%; thặng dư thương mại đạt mức 11,19 tỷ USD(7).

Với những chỉ số tăng trưởng cao, được thống kê đầy đủ, cụ thể như vậy sao lại cho rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là “mơ hồ”? Ngược lại, đây phải chăng là sự nhận thức “mơ hồ” về nền kinh tế nước ta? Nếu không phải, rõ ràng là sự vu cáo vô căn cứ, không có cơ sở, cố tình diễn biến, phá hoại tình hình Việt Nam.

Để “gia tăng” luận điệu chống phá, còn có các ý kiến cho rằng “đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là không tưởng, đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào, nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì sẽ bị trả giá, tự giác thì đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn”.

Thật hết sức nực cười, trái ngược với lời suy diễn thiếu căn cứ đó, không ai có thể phủ nhận rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển hình ảnh đất nước thanh bình, cuộc sống của nhân dân đã từng ngày được “thay da, đổi thịt”.

Nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa, khu vực được cho là yếu thế, khó khăn đã được triển khai mang lại kết quả rõ rệt. Cho đến nay, các xã, cụm dân cư đã có đủ cơ sở xã hội thiết yếu, như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế. Tăng trưởng khu vực nông nghiệp luôn theo chiều hướng gia tăng, năm 2018 đạt 3,65%, cao nhất kể từ năm 2012. Xuất khẩu nông sản năm 2018 đạt trên 40,5 tỷ USD. Năm 2019 do ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn châu Phi tăng trưởng của ngành chỉ đạt 2,2%, song nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra. Xuất khẩu nông sản năm 2019 đạt 41,3 tỷ USD, thặng dư thương mại đạt 10,4 tỷ USD. Xây dựng nông thôn mới đạt 54% số xã, 111 huyện đạt chuẩn nông thôn mới...(8)

GDP bình quân đầu người năm 2019 đạt gần 2.800 USD (nếu tính cả quy mô nền kinh tế bị bỏ sót thì đã trên 3.000 USD), tăng hơn 700 USD so với năm 2015. Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm nhanh, luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành và vượt mức mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo còn 5,2-5,7%, giảm 1-1,5% (riêng các huyện nghèo giảm trên 4%).

Theo đánh giá của Liên Hợp quốc, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Kết quả đó đã thể hiện tính đúng đắn trong sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực trong quản lý của Nhà nước về mục tiêu kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội (đói nghèo, việc làm, thu nhập, phân hóa giàu - nghèo, công bằng xã hội), đảm bảo môi trường sinh thái... thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội XHCN.

Do vậy, luận điệu cho rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN là “không tưởng”, “bị trả giá...” thực chất là phản động, muốn hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường TBCN.

Quan điểm xuyên suốt trong lãnh đạo là tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, xây dựng hệ thống hành chính liêm chính, hành động, kiến tạo, phục vụ trong chỉ đạo của chính phủ, năm khởi nghiệp, đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, sự nỗ lực của nhân dân; cùng với đó là tình hình chính trị ổn định, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi là những nguyên nhân chính mang tính căn cốt để nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam tiếp tục sẽ vượt qua những khó khăn sẽ có được những chỉ số tăng trưởng cao, tích cực. Đây là minh chứng, câu trả lời rõ nhất phản bác các luận điệu xuyên tạc về kinh tế thị trường định hướng XHCN của thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong thời gian qua.

Một số giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

 Hiện nay, các thế lực thù địch triệt để sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền các thông tin xấu, độc và các luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng (chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh). Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, chúng ta cần tập trung thực hiện một số giải pháp như sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội; nâng cao trách nhiệm các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội; tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Một số giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

Ảnh minh họa

Từ khóa: mạng xã hội; thông tin xấu, độc; quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch không ngừng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chúng sử dụng rất nhiều các hình thức, phương pháp tinh vi, trong đó có mạng xã hội.       

Quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là những quan điểm sai lệch hoặc đối lập với nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam được đăng tải trên không gian mạng với mục đích gây nhiễu loạn thông tin, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam.

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của các đoàn thể xã hội và cả sự hợp tác quốc tế.

1. Sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội với các hình thức đa dạng, phong phú

Một là, các cơ quan trong hệ thống chính trị phải thường xuyên bám sát các chỉ đạo, định hướng, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị (khóa XII) về đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cụ thể là cần thường xuyên bám sát các thông tin và định hướng của Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của cấp mình gắn với việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Hai là, các cơ quan trong hệ thống chính trị tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình, hàng năm cần xây dựng kế hoạch, chương trình, giải pháp cụ thể để thực hiện nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từng cơ quan phải đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.

Ba là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, rà soát để chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động của các đối tượng chống phá, xuyên tạc. Rà soát thường xuyên, nắm tình hình, phát hiện các trang blog, trang facebook, trang website, các diễn đàn thường đăng tải các thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, ban tuyên giáo các cấp, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh.

Năm là, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, lấy thông tin tích cực đẩy lùi các thông tin tiêu cực. Vì vậy, cần xây dựng và tổ chức các trang thông tin chính thống có uy tín để thường xuyên cập nhật, đưa các thông tin chính xác, nhanh nhạy.

Sáu là, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bảy là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, rút kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ; nâng cao trình độ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tám là, tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, ngăn chặn sớm các tin tức xấu độc trên các trang mạng xã hội. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Chín là, nâng cao nhận thức và đề cao cảnh giác với các biểu hiện của bệnh giáo điều, cơ hội, thực dụng và xét lại trên mạng xã hội ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội XII của Đảng nhận định: “...một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”(1).

Nếu là thông tin xấu do các thế lực phản động, thù địch tấn công độc hại một thì các thông tin xấu do chính những kẻ cơ hội, bất mãn, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội sẽ nguy hại gấp nhiều lần. Bởi vậy, phải kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Lãnh đạo các cơ quan của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội cần sớm phát hiện, kịp thời giáo dục và xử lý kỷ luật thích đáng, nếu cần thiết thì đưa ra khỏi tổ chức mình cán bộ, đảng viên cơ hội, thực dụng và xét lại ở mức độ nghiêm trọng để làm trong sạch đội ngũ.

2. Phân định rõ trách nhiệm các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội

a. Trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và các cơ quan quản lý của Nhà nước

Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, rất cần sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo 35, Ban Tuyên giáo các cấp và các cơ quan chức năng của Nhà nước như Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông... và chính quyền các cấp.

Một là, các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở phải coi đây là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách. Trong quá trình xây dựng nền tảng tư tưởng của Đảng phải luôn luôn đi đôi với chống sự phá hoại và coi nhiệm vụ xây là cơ bản, chống là cần thiết nhưng bối cảnh hiện nay phải tập trung chống nhiều hơn, quyết liệt hơn. Trung ương Đảng kịp thời ban hành các chỉ thị, nghị quyết liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, đồng thời chỉ đạo sát sao với các cơ quan chuyên môn của Đảng như Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh... có những hoạt động cụ thể, quyết liệt để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này. Các cấp ủy đảng đưa nội dung đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội vào chương trình, kế hoạch lãnh đạo của cấp mình và thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng khắp; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh trong nội bộ tổ chức đảng.

Hai là, cơ quan Công an, Thông tin - Truyền thông và chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở thể chế hóa, cụ thể hóa văn bản lãnh đạo của Đảng và chỉ đạo việc thực hiện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội mà trọng tâm là thực hiện nghiêm Luật An ninh mạng. Bên cạnh đó, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin chính thống bằng nhiều kênh và tăng cường đối thoại với nhân dân về những vấn đề bức xúc, nhạy cảm; chủ động, linh hoạt tham gia giải quyết các vấn đề thiết thực của xã hội.

Chính quyền các cấp thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng như thông tin truyền thông, an ninh mạng...; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội.

b. Trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng

Các cơ quan chức năng như Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, các viện nghiên cứu, hệ thống trường Đảng, trường chính trị... cần huy động nguồn lực và tổ chức xây dựng lý luận sắc bén và trang bị cho các thành viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Từ đó, nâng cao tính tích cực phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch trên mạng xã hội cho đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội.

Các cơ quan tuyên giáo các cấp phải thường xuyên tổ chức các hội nghị báo cáo viên, thường xuyên cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân để giúp cán bộ, đảng viên có hiểu biết đầy đủ, chính xác, trung thực những vấn đề chính trị của đất nước đang diễn ra. Chỉ khi làm được như vậy mới giúp mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực chuyên môn, nắm vững các quan điểm, đường lối của Đảng, hiểu rõ tình hình trong nước và quốc tế, nhận thức rõ “đối tượng” và “đối tác” để vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta.

c. Trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội

Các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội nông dân) tham gia tích cực trong công tác này. Các tổ chức chính trị - xã hội thường xuyên nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho các thành viên của tổ chức mình để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Một là, tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho các thành viên của các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cán bộ chủ chốt về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó kiên định lập trường tư tưởng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, từ sau sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, do đó, cần nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để tiếp tục bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị đến đông đảo nhân dân, nhất là những người của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội để nắm chắc hơn, sâu sắc hơn những nguyên lý lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, cần nhận thức rõ những giá trị lý luận bền vững; những luận điểm lý luận đã bị lịch sử vượt qua, hoặc từng bị hiểu sai; những luận điểm lý luận không còn phù hợp với thực tế hiện nay trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, cán bộ, đảng viên và nhân dân mới có niềm tin có cơ sở khoa học về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để kiên định lập trường tư tưởng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Hai là, nâng cao tính tích cực phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch đối với những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho thành viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội. Hiện nay, các thế lực thù địch thường sử dụng các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên mạng xã hội đối với những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng nhiều hình thức tinh vi khác nhau. Trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội là phải giúp cho đoàn viên, hội viên hiểu về những luận điệu xuyên tạc này.

d. Trách nhiệm của các tổ chức xã hội

Các tổ chức xã hội thường xuyên bám sát định hướng của Đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Tăng cường giáo dục ý thức cảnh giác cho các thành viên tổ chức mình tránh bị lôi kéo, lợi dụng, mắc mưu mà vô tình hoặc cố ý tiếp tay cho các thế lực bất mãn, phản động truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng

xã hội.

Ngoài ra, đối với các tổ chức xã hội có chức năng, nhiệm vụ có thể có những kế hoạch, chương trình thực hiện phù hợp. Chẳng hạn Hội Nhà báo Việt Nam cần hướng dẫn Hội Nhà báo các cấp, phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị. Các cơ quan báo chí cần phát huy vai trò nòng cốt đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Tất nhiên, cần chú trọng các thông tin đấu tranh. Yêu cầu các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với nước ta.

3. Tăng cường hợp tác quốc tế

a. Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm các quan điểm sai trái, thù địch chống phá trên mạng xã hội

Cơ quan chức năng cần chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá trên mạng xã hội để đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng. Kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá các nước XHCN như Lào, Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam...

Để nắm tình hình có hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan quản lý các mạng xã hội cần sử dụng tổng hợp các lực lượng, phương tiện, biện pháp; thường xuyên rà quét, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung phức tạp, các đối tượng viết bài trên những trang mạng này; khai thác thông tin trên các trang web, blog để xác định được đối tượng sở hữu, quản lý bài viết và đề xuất biện pháp kịp thời xử lý.

b. Tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế có liên quan trong việc quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội ở Việt Nam

Tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế có liên quan trong việc quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram..., tính toán sử dụng các giải pháp về công nghệ để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu độc trên các trang mạng. Đặc biệt, phải chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội, sau đó xóa dữ liệu, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định.

c. Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi, rút kinh nghiệm với các nước có cùng chế độ chính trị về đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội với các nước Trung Quốc, Lào, Triều Tiên, Cu Ba. Chẳng hạn, tháng 8-2019, các thế lực thù địch đã lợi dụng một số vấn đề có liên quan đến vấn đề biên giới giữa Lào và Campuchia nêu lên những thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội Facebook nhằm mục đích gây ra sự hiểu lầm về quan hệ giữa Lào và Campuchia. Văn phòng Ủy ban biên giới Quốc gia của Lào (Office of the National Boundary Committee, Ministry of Foreign Affairs) đã kịp thời tổ chức họp báo ở Thủ đô Viêng Chăn để phản bác lại các quan điểm này, góp phần thuyết phục các đảng viên, nhân dân trong nước và bạn bè thế giới nắm bắt thực chất vấn đề biên giới giữa Lào và Campuchia.

Ngoài ra, cần thường xuyên trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý mạng xã hội của các nước tiên tiến khác trên thế giới.

d. Tập hợp rộng rãi các nhân sĩ, trí thức, Việt kiều yêu nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia phòng - chống các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên mạng xã hội

Các thế lực phản động đã thiết lập hàng nghìn trang Website, blog, tài khoản Facebook, trang Fanpage với hầu hết máy chủ đặt ở nước ngoài, tổ chức hàng trăm chiến dịch tuyên truyền, phát tán với tần suất và số lượng lớn các tin, bài bình luận, videoclip... có nội dung xấu, độc, thật, giả, trắng đen lẫn lộn, thậm chí công khai các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Từ đó, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán nản thậm chí thù hận không chỉ một số người trong nước mà ngay cả Việt kiều và người nước ngoài, dẫn đến thiếu niềm tin vào Đảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Việt Nam. Do vậy, chúng ta cần huy động, thu hút được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức, Việt kiều yêu nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng và Nhà nước Việt Nam thông qua đẩy mạnh thông tin đối ngoại để giúp họ hiểu rõ bản chất tốt đẹp và những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng và phát triển đất nước. Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng.

Trong bối cảnh cả nước đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cần nâng cao cảnh giác đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội để giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự kiên định tư tưởng trong Đảng và toàn xã hội thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

__________________

Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trong thời đại công nghệ số

 Khi an ninh mạng đang nổi lên như một thách thức toàn cầu thì chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trở thành tâm điểm của các cuộc tranh luận(1). Bài viết tập trung làm rõ nội hàm của khái niệm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, phân tích sự cần thiết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, làm rõ mối quan hệ giữa bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng với bảo vệ các quyền cơ bản của con người; những thách thức trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trong thời đại công nghệ số

Vệ tinh Vinasat I và II của Việt Nam trên bầu trời

Từ khóa: chủ quyền quốc gia, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, quyền tự do cơ bản của con người, quản lý nhà nước về an ninh mạng.

1. Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng - nội hàm mở rộng của khái niệm chủ quyền quốc gia trong thời đại công nghệ số

Tôn trọng chủ quyền quốc gia là một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong hệ thống luật pháp quốc tế. Điều 1 Hiến chương Liên Hợp quốc ghi nhận: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc”. Khoản 1, Điều 2 Hiến chương khẳng định: “Liên Hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên”(2). Theo đó tất cả các quốc gia, không tính đến quy mô lãnh thổ, dân số, chế độ chính trị - xã hội, đều có chủ quyền quốc gia. Đây là một trong những đặc trưng chính trị và pháp lý thiết yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Trong các từ điển luật học hay các công trình nghiên cứu, “chủ quyền quốc gia là thuật ngữ dùng để chỉ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một quốc gia độc lập được thể hiện trên mọi phương diện, chính trị, an ninh, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội và được đảm bảo toàn vẹn, đầy đủ mọi mặt cả lập pháp, hành pháp lẫn tư pháp của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia mình”(3).

Việc đặt ra nguyên tắc và luật lệ nhằm ghi nhận và bảo vệ chủ quyền quốc gia là rất quan trọng, tuy nhiên vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào các quốc gia có thể bảo vệ chủ quyền của mình trong bối cảnh mới. Những năm gần đây, thế giới chứng kiến việc công dân của quốc gia này hoàn toàn có thể thực hiện các hoạt động dân sự hay chính trị trên lãnh thổ của quốc gia khác mà không cần có sự hiện diện về mặt thể nhân. Thí dụ, chúng ta ở Việt Nam nhưng vẫn có thể tham gia hoạt động mua sắm hay làm việc cho các công ty ở nước Mỹ. Các công ty công nghệ mặc dù không có trụ sở, tài sản ở một quốc gia nhất định nhưng họ vẫn thực hiện các hoạt động kinh doanh, buôn bán, cung cấp dịch vụ cho người dân của các quốc gia này. Các cá nhân, tổ chức có thể sử dụng công nghệ cao, đặc biệt là internet để can thiệp vào các hoạt động chính trị tại các quốc gia có chủ quyền. Gần đây Nga bị cáo buộc đã sử dụng các tài khoản Facebook, Twitter giả để can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ bằng việc định hướng tâm lý cử tri từ đó làm giảm sự ủng hộ cho ứng cử viên của Đảng Cộng hòa(4). Như vậy là các chủ thể ở bất cứ một quốc gia nào cũng có thể thực hiện các hoạt động trên không gian mạng với mục tiêu gây thiệt hại về kinh tế, chính trị cho cá nhân và tổ chức ở các quốc gia mà họ không cần hiện diện thể nhân.

Công nghệ ngày càng phát triển khiến cho việc thực hiện các chức năng vốn có của chính phủ như: tiến hành bầu cử, thu thuế, quản lý và kiểm soát các hoạt động của các chủ thể trên phạm vi lãnh thổ quốc gia mình ngày càng trở nên ít rõ ràng hơn. Các chính phủ đang phải hoạt động trong những khuôn khổ cực kỳ hạn chế mà Moises Naim, cố vấn cao cấp của Ngân hàng Thế giới gọi là “sự suy tàn của quyền lực”. Internet đã làm biến đổi xã hội, chính trị và cả quyền lực(5), nó cũng làm thay đổi các vấn đề liên quan đến việc thực thi chủ quyền quốc gia. Nếu như trước đây các quốc gia đã từng đổ máu để giữ vững quyền thống trị của mình thông qua việc bảo vệ các đường biên giới thì giờ đây các đường biên giới gần như đã bị dịch chuyển. Vấn đề diện tích, quy mô của vùng lãnh thổ nằm dưới quyền cai trị của một quốc gia sẽ không còn có ý nghĩa tuyệt đối đối với cuộc sống của từng cá nhân(6). Do vậy, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia không chỉ là việc bảo vệ các đường biên giới mà được mở rộng hơn rất nhiều. Những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn quốc tế hiện nay phần lớn liên quan đến các quy tắc của không gian mạng và những thách thức mang tính hệ thống đối với việc quản trị toàn cầu trong không gian mạng. Các chính phủ đã nỗ lực không ngừng trong việc bảo vệ quyền vốn có của mình theo đó khái niệm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng ra đời.

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cho việc thống nhất các quan điểm thì cho đến nay, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng vẫn còn là chủ đề gây nhiều tranh cãi. Nhiều quốc gia cho rằng nguyên tắc chủ quyền quốc gia dựa trên lãnh thổ là cơ sở pháp lý hiệu quả để xây dựng các quy phạm về an ninh mạng nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Theo đó, các quốc gia có quyền quản lý và áp dụng luật pháp quốc gia về không gian mạng trong phạm vi lãnh thổ của mình theo quan điểm của luật pháp quốc tế. Do đó các công ty, tập đoàn cung cấp dịch vụ trên không gian mạng cần đặt hệ thống cơ sở hạ tầng trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia để chính phủ có thể thực thi quyền quản lý(7). Tuy nhiên, điều này hoàn toàn bất khả thi về mặt thực tế và câu hỏi đặt ra là vậy thì các quốc gia có quyền quản lý với các hoạt động của các chủ thể nếu họ không đặt hệ thống cơ sở hạ tầng tại quốc gia đó.

Để đạt được mục đích cuối cùng là các cá nhân và tổ chức có quyền truy cập sử dụng mạng cho mục đích cá nhân của mình nhưng không làm tổn hại đến lợi ích của các chủ thể khác cũng như không vi phạm an ninh của các quốc gia có chủ quyền, nguyên tắc về chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đã được hình thành. Trên phương diện hợp tác đa phương, các quốc gia đã thỏa thuận nhằm đưa ra nguyên tắc trong việc công nhận chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Theo nguyên tắc này, các quốc gia sẽ hợp tác để hỗ trợ lẫn nhau trong việc truy tìm nguốn gốc ban đầu của các cuộc tấn công mạng nhằm xác định các tác nhân cụ thể phải chịu trách nhiệm đồng thời truy tố hoặc dẫn độ những cá nhân đó(8). Từ năm 2013 đến 2017, các chuyên gia trên lĩnh vực an ninh mạng đã xây dựng quy tắc hướng dẫn sử dụng mạng. Theo quy tắc này các chủ thể không được tiến hành các hoạt động trên không gian mạng vi phạm chủ quyền của một quốc gia khác. Đồng thời, các quốc gia có quyền kiểm soát đối với việc truy cập và sử dụng không gian mạng để thực hiện các hoạt động trên phạm vi lãnh thổ của họ(9). Các quốc gia khác được yêu cầu phải tuân thủ và công nhận chủ quyền quốc gia của các quốc gia khác trên không gian mạng đồng thời có thể thực hiện một số biện pháp kiểm soát đối với không gian mạng của mình(10). Như vậy, cũng giống như khái niệm chủ quyền quốc gia trên biển, chủ quyền quốc gia trên không và chủ quyền quốc gia trong không gian vũ trụ, khái niệm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng vẫn có cơ sở từ khái niệm chủ quyền quốc gia theo nghĩa truyền thống.

2. Mối quan hệ giữa bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và việc bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người

Khái niệm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quy tắc quốc tế về không gian mạng(11). Tuy nhiên, việc này đang là chủ đề có nhiều quan điểm khác biệt. Internet và các mạng viễn thông là thành tựu của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ cho phép kết nối không giới hạn. Vào giữa thế kỷ XX, các học giả như Herbert McLuhan đã xem công nghệ và sự kết nối thông qua các phương tiện truyền thông là một phương tiện để tạo ra “ngôi làng toàn cầu”. Một số học giả còn tin rằng công nghệ sẽ thúc đẩy một sự tiến hóa trong tâm thức con người; công nghệ sẽ giúp thay thế thời đại công nghiệp; thúc đẩy khả năng cạnh tranh. Do đó càng nhiều thông tin được chia sẻ, xã hội càng tự do, càng có nhiều tiềm năng hợp tác, hợp tác hoàn hảo gặt hái kết quả tương tự như cạnh tranh hoàn hảo và không có người thua cuộc(12). Theo đó, nhiều học giả cho rằng chính phủ và các tập đoàn không nên kiểm soát sự phát triển của công nghệ, thông tin. Người ta tin rằng bất cứ ai kiểm soát hệ thống thông tin hoặc truyền thông cũng kiểm soát tin nhắn, điều đó là vi phạm các quyền tự do cơ bản của con người đã được ghi nhận trong hệ thống luật nhân quyền quốc tế. Điều 19 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; quyền này bao gồm việc bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và quan điểm thông qua bất cứ phương tiện đại chúng nào không giới hạn về biên giới”(13). Vậy nếu nhà nước can thiệp vào các tên miền trên không gian mạng và kiểm soát các luồng thông tin được lan truyền trên không gian mạng cũng như sử dụng các bức tường lửa hay các phương tiện kỹ thuật khác nhằm hạn chế việc người dân truy cập, tìm kiếm, lan truyền thông tin, là đi ngược lại với tinh thần của Điều 19 Tuyên ngôn Nhân quyền toàn cầu.

Tại Việt Nam trước và sau khi Luật An ninh mạng được thông qua và chính thức có hiệu lực từ năm 2019, có rất nhiều quan điểm trái chiều được đưa ra như: “người dân có quyền truy cập vào bất cứ trang mạng nào họ muốn”; nhà nước sẽ vi phạm quyền tự do thông tin của người dân nếu sử dụng các phương tiện kỹ thuật để yêu cầu các tổ chức, cá nhân phải gỡ bỏ hay ngăn chặn không cho người dân truy cập vào các trang mạng. Đài Châu Á Tự do xuyên tạc về Luật An ninh mạng của nước ta, khi cho rằng đó là biện pháp để chính quyền xâm phạm quyền tự do riêng tư, quyền tự do ngôn luận của người dân. Họ đặt ra các dòng tiêu đề như sau: “Luật An ninh mạng: chỗ nào bảo vệ riêng tư cho người dân? Những người quyền cao chức trọng cần phải tuyệt đối rõ ràng minh bạch lại được quyền ẩn danh hèn nhát, còn người dân thấp cổ bé họng lại sắp bị tước đi cả cái quyền lẩn mình vào đám đông để tự vệ trước cường quyền”(14).

Một số đối tượng cũng chỉ trích về vai trò của quân đội trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Theo Điều 30, Luật An ninh mạng năm 2019 của nước ta: “Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng”, họ coi đó là việc làm “vi hiến”, và cho rằng: “Quân đội chỉ để chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, nhân dân mà thôi”(15).

Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là nguyên tắc đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, theo đó các chính phủ có quyền kiểm soát đối với các hoạt động trên không gian mạng. Điều này xuất phát từ những lý do cơ bản như sau:

Một là, chúng ta phải kiểm soát không gian mạng để nó có thể tồn tại và hoạt động theo các chức năng của mình. Bởi các không gian mạng luôn có một cấu trúc vật lý được đặt trên mặt đất gắn liền với những địa danh cụ thể, nếu không có cấu trúc vật lý này chúng ta không có quyền truy cập thông tin trên không gian ảo. Các cấu trúc vật lý này luôn đòi hỏi phải có người giám sát và vận hành để nó hoạt động và phát triển, người ta phải gắn tên miền và địa chỉ cho các đường truyền trên không gian mạng.

Hai là, các quốc gia phải có các biện pháp quản lý nhà nước về an ninh mạng vì các hoạt động trên không gian mạng luôn gắn với chủ quyền của các chủ thể cụ thể được xác lập thông qua các mối quan hệ tài chính được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật của các quốc gia. Do đó, nếu các quốc gia không thiết lập chủ quyền quốc gia trên không gian mạng thì các quan hệ tài chính đó rất khó được vận hành hoặc sẽ là rất nguy hiểm nếu nó vận hành mà không có sự điều tiết, quản lý bởi hệ thống pháp luật. Thực tế là, các hoạt động kinh doanh đều dựa trên nền tảng của pháp luật.

Ba là, các hoạt động trên không gian ảo nhưng lại có tác động mạnh mẽ đến thế giới thực. Chúng ta vẫn tin rằng internet và các mạng truyền thông ra đời như một phương tiện hợp tác để cải thiện cuộc sống của con người, do đó chúng ta có thể không quan tâm đến việc lạm dụng mạng. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều sử dụng internet cho những mục tiêu tốt đẹp. Có những người coi internet là phương tiện để khai thác những mối lợi từ các cá nhân khác thông qua việc tạo ra sự hỗn loạn, giành lợi thế so với đối thủ cạnh tranh hoặc phổ biến thông điệp gây thù hằn sắc tộc, tôn giáo, khuyến khích chiến tranh, khủng bố. Do đó, cũng giống như trong thế giới thực, nhà nước cần phải thực hiện các hoạt động để kiểm soát và điều chỉnh hành vi của các nhóm chủ thể. Hầu hết các quốc gia đã có quy định pháp luật nhằm ngăn chặn các dòng thông tin xấu có thể làm ảnh hưởng đến sự an toàn đối với cuộc sống của công dân nước mình như việc ngăn chặn các dòng thông tin về khiêu dâm, về khủng bố, kỳ thị chủng tộc, tôn giáo... Chính những dòng thông tin độc hại này đang làm sói mòn đạo đức, gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sự an toàn của con người, nên các quốc gia có nghĩa vụ hợp pháp là kiểm soát đối với những gì đang được lan truyền, đang diễn ra thông qua không gian ảo.

Bốn là, những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia. Hiện nay, nhiều quốc gia khai thác không gian mạng như một phương tiện nhằm đạt được lợi thế chiến lược và quân sự so với các quốc gia khác. Do đó, các quốc gia phải kiểm soát hoạt động này như một vấn đề an ninh quốc tế.

Vì khả năng gây hại trong không gian ảo là có thật và vẫn đang tiếp tục gây ra những tác hại nghiêm trọng do đó các quốc gia không thể bỏ qua việc kiểm soát các hoạt động và luồng thông tin được lan truyền trên không gian mạng. Chính vì thế cần phải khẳng định mạnh mẽ, việc các chính phủ trong đó có Chính phủ Việt Nam triển khai các hoạt động bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, triển khai các hoạt động quản lý nhà nước về an ninh mạng không đi ngược lại tinh thần bảo vệ các quyền cơ bản của con người đã được nghi nhận trong hệ thống luật nhân quyền quốc tế, trong Hiến pháp, pháp luật quốc gia. Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua thể hiện nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc tạo ra công cụ pháp lý nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân và tổ chức được bảo vệ quyền truy cập, sử dụng mạng cho mục đích cá nhân của mình mà không bị làm hại hay gây hại cho chủ thể khác.

Trả lời câu hỏi liệu quân đội tham gia các hoạt động bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng có là “vi hiến”, thì cần khẳng định không vì quân đội bảo vệ chủ quyền quốc gia trong thời đại công nghệ số không chỉ là bảo vệ vùng biển, vùng trời, các đường biên giới mà còn là bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng. Nếu như các thế lực thù địch đã thay đổi phương thức, phương tiện để hoạt động chống phá, nếu tội phạm đã mở rộng phạm vi, phương thức hoạt động thì việc quân đội phải thay đổi phương thức tác chiến, tham gia làm sạch môi trường mạng, giữ vững chủ quyền quốc gia là điều hiển nhiên, làm sao có thể gọi là “vi hiến”?

3. Những thách thức đối với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Nhìn lại tiến trình phát triển nhận thức cũng như hoạt động mà các quốc gia đã triển khai nhằm bảo vệ chủ quyền của mình trên không gian mạng, có thể thấy một số thách thức cơ bản như sau:

Thứ nhất, những thách thức do thiếu cơ sở pháp lý cũng như các cơ chế hợp tác quốc tế để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Thế giới đã đi đến nhiều đồng thuận trong việc cần phải bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng nhưng vẫn chưa đi đến thống nhất để có thể xây dựng, thiết lập các nguyên tắc pháp lý mang tính quốc tế đối với các hoạt động này. Năm 2011, Nga đưa ra sáng kiến về việc Liên Hợp quốc nên xây dựng công ước về bảo đảm an ninh thông tin quốc tế trong đó đề cập đến các tiêu chuẩn điều phối hoạt động trên internet, trong đó có các hoạt động liên quan đến chủ nghĩa khủng bố, hình sự, chính trị và quân sự. Tuy nhiên, sáng kiến này của Nga không được các quốc gia chấp thuận. Đến năm 2015, một nỗ lực để đạt được các thỏa thuận quốc tế nhằm xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng tiếp tục được đưa ra. Các chuyên gia của Liên Hợp quốc đã đi đến một thỏa thuận với bốn nguyên tắc nhằm bảo đảm hòa bình trong không gian mạng. Tuy nhiên, các quốc gia như Nga và Trung Quốc lại có những cách tiếp cận khác nhau đối với việc xây dựng các quy chuẩn chung này. Cho đến nay, thế giới mới chỉ có các thỏa thuận riêng lẻ giữa các quốc gia trong từng khu vực liên quan đến đảm bảo an ninh mạng mà chưa có các quy chuẩn pháp lý mang tính quốc tế để điều chỉnh các hoạt động trên lĩnh vực này. Liên minh châu Âu có Công ước Budapest năm 2001 nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý chung cho các quốc gia châu Âu trong công tác phòng chống tội phạm mạng. Đến nay công ước đã được đàm phán và mở rộng cho các quốc gia thành viên ở châu Á như: Nhật Bản, Philippines. Tuy nhiên, Nga, Trung Quốc và Brasil lại cho rằng để công ước này trở thành công ước chung cho toàn thế giới cần phải đàm phán để xây dựng lại công ước này bởi bản thân công ước được xây dựng dựa trên những đặc thù của khu vực nên không phản ánh hết các điều kiện và nhu cầu của tất cả các quốc gia trên thế giới(16). Việc thiếu cơ sở pháp lý mang tính quốc tế khiến cho việc thực hiện các hoạt động bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng của quốc gia gặp nhiều khó khăn, cũng như các hoạt động hợp tác, phối hợp trong bảo vệ chủ quyền của các quốc gia sẽ không được thúc đẩy trên thực tế.

Thứ hai, liên quan đến năng lực thực thi của các quốc gia. Việc triển khai các hoạt động phòng, chống các cuộc tấn công trên không gian mạng, ngăn chặn tin tặc hay tội phạm công nghệ cao luôn gặp phải những giới hạn liên quan đến nguồn lực như năng lực thực thi của các cơ quan công quyền, hạn chế trong hệ thống hạ tầng công nghệ. Pháp luật của các quốc gia đôi khi lạc hậu hơn so với sự phát triển và thay đổi nhanh chóng của các hoạt động tội phạm dựa trên công nghệ số. Chính vì thế mà nhiều quốc gia như Trung Quốc đã thiết lập không gian mạng riêng đáp ứng nhu cầu sử dụng mạng của người dân nước mình. Tại nước ta, nhiều người cũng đặt ra câu hỏi là: liệu Việt Nam có nên thiết lập một hệ thống mạng riêng cho người Việt giống như những gì mà Trung Quốc đang thực hiện? Tuy nhiên cần phải thấy rằng, việc làm này đi ngược lại với tinh thần và nền tảng của cuộc cách mạng công nghệ số là kết nối vạn vật, không giới hạn không gian và thời gian(17). Điều đó chỉ chứng tỏ sự hạn chế hay sự bất lực của nhà nước trong việc kiểm soát các hoạt động trên không gian mạng. Phương án này cũng được cho là bất khả thi với các quốc gia có dân số không quá lớn. Do đó, các quốc gia cần phải tìm ra các phương thức hoàn hảo hơn trong việc quản lý và kiểm soát các hoạt động trên không gian mạng nhằm bảo vệ hòa bình, ổn định, bảo đảm các quyền cơ bản của con người mà không làm mất đi đặc tính ưu việt của công nghệ là kết nối vạn vật.

Thứ ba, thách thức trong việc xác định ranh giới giữa hoạt động bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng với các hoạt động được coi là vi phạm quyền tự do cơ bản của con người. Rõ ràng, để bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia thì các loại hoạt động tội phạm mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng... là các hoạt động bị cấm. Tuy nhiên, một thách thức đặt ra cho các cơ quan chức năng là, làm thế nào để xác định đâu là các hoạt động mạng gây thiệt hại cho an ninh quốc gia, trật tự công cộng, an toàn tài sản và tính mạng của người dân. Vẫn có những hoạt động đứng giữa lằn ranh của hai thái cực(18) và những xung đột giữa việc bảo vệ quyền kiểm soát của chính phủ với việc bảo vệ các quyền tự do cơ bản của người dân. Chính phủ Pháp đã từng có nhiều nỗ lực nhằm ngăn chặn các cá nhân tìm cách tải các phim hay nhạc bất hợp pháp trên internet nhưng lại gặp phải sự phản đối của người dân và điều này chỉ được thông qua gần đây sau những sự phản đối của các ca sĩ. Hay việc Liên minh châu Âu “yêu cầu tất cả các nhà cung cấp dịch vụ internet lưu giữ thông tin về lưu lượng email, truy cập vào các trang web và các cuộc gọi điện thoại qua internet trong 12 tháng”. Yêu cầu này đã dẫn đến những phản ứng của một số nhóm. Do vậy, việc các quốc gia áp đặt chủ quyền trên không gian mạng thông qua việc yêu cầu xác định rõ hơn các tác nhân không gian mạng không phải lúc nào cũng đạt được sự đồng thuận hay ủng hộ từ phía người dân(19), bởi rất khó để xác định ranh giới của các hoạt động bảo vệ an ninh mạng với các hoạt động vi phạm quyền tự do cơ bản của con người.

__________________

TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG NHẬN DIỆN NHỮNG CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Ở VIỆT NAM

Mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch là chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam với những âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt và vô cùng nguy hiểm.     Do đó, tích cực chủ động nhận diện để phát hiện ra những chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch hiện nay là việc cấp thiết nhằm nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chúng, bảo vệ vững chắc chế độ chủ nghĩa xã hội.

Kinh doanh phải trung thực

    Sau H&M, Uniqlo và BMW, hàng loạt nhãn hàng khác được phát hiện công khai bản đồ thế giới có hình lưỡi bò trên Website tại Trung Quốc. Trong đó bao gồm: Louis Vuitton, Mercedes, Chanel, Gucci, Adiddas. Theo đó, bản đồ hình lưỡi bò là bản đồ không hợp pháp và không được Quốc tế công nhận. Trong bản đồ đó, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam lại thuộc Trung quốc. Có vẻ như, những nhãn hàng này đã âm thầm thực hiện hành động này từ rất lâu rồi, nhằm nịnh bợ lấy và lòng người dân tại Trung Quốc. Đây là hành động không tôn trọng Việt Nam và đáng lên án để bảo vệ chủ quyền ! Không thể nào bao che cho hành động này bằng bất cứ hình thức nào, vì điều này là hoàn toàn sai trái. Dù cho đăng tải tấm bản đồ này ở đâu, cũng là sự tiếp tay "bẩn thỉu" cho việc công nhận điều sai sự thật. Chúng ta có chủ quyền, có sự tự tôn dân tộc, chúng ta cũng có Hoàng Sa và Trường Sa, đây là điều không thể để mất. Là người dân Việt Nam, hãy cho những nhãn hàng trên biết chúng ta không im lặng, nên tẩy chay và chỉ trích nặng nề để hành động trên không thể tiếp tục xảy ra thêm nữa. Kinh doanh phải trung thực! 

Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương: “Mô hình phát triển của Việt Nam được đánh giá rất đặc biệt”

 Bên lề Đại hội Đảng XIII, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng - Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương đã trao đổi với báo giới xung quanh vấn đề lý luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Mô hình phát triển của Việt Nam hiện nay được thế giới nhìn nhận rất đặc biệt, "giải quyết được vấn đề ổn định, huy động nguồn lực và sự tham gia của nhân dân".

Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương: “Mô hình phát triển của Việt Nam được đánh giá rất đặc biệt”

GS, TS  Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh,

Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.

PV: Đến nay Việt Nam đã xây dựng lý luận về phát triển như thế nào, thưa ông?

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng: Phát triển lý luận của chúng ta trong thời gian vừa qua là kế thừa của 35 năm đổi mới đất nước, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991... Chúng ta đã đạt được những thành tựu nổi bật và thực tiễn chứng minh điều đó. Theo quan điểm như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nói, chúng ta kế thừa và phát triển, nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn như giữa đổi mới, ổn định và phát triển... Điều quan trọng nữa là nhấn mạnh đến yêu cầu về thẩm định thực tiễn, gắn giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận.

Lý luận là việc chúng ta tổng kết thực tiễn, chưng cất hoàn thiện bằng chính thực tiễn Việt Nam, sáng tạo Việt Nam, cách làm của Việt Nam và chưa có tiền lệ. Đây là mô hình mà hiện nay thế giới cũng nhìn nhận là rất đặc biệt, giải quyết được vấn đề về ổn định, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là sự tham gia của nhân dân.

Hai vấn đề lớn của văn kiện lần này về mặt lý luận là nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò lấy dân làm gốc, dân là trung tâm, là chủ thể, vừa tham gia, vừa thụ hưởng thành quả của sự phát triển. Đấy chính là chủ nghĩa xã hội, bởi chúng ta muốn một dân tộc với khát vọng phát triển, vươn lên sánh vai các cường quốc năm châu, đồng thời là một dân tộc người dân được hưởng tự do, được hạnh phúc và mọi người tham gia, mọi người hưởng lợi hay nói đúng hơn là bao trùm bền vững, không ai bị bỏ lại phía sau. Đấy chính là chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

PV: Là Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, ông nói gì về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thời gian qua?

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng: Đây là nhiệm vụ rất quan trọng, đóng góp vào quá trình xây dựng, phát triển của Đảng ta. 5 năm qua, nhất là sau khi có Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, công việc này được triển khai bài bản, hệ thống, nhất quán và đặc biệt là rất quyết liệt từ Trung ương đến địa phương.

Lần đầu tiên, chúng ta có Ban chỉ đạo về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và triển khai từ Trung ương đến địa phương, tất cả đều vào cuộc rất bài bản. Chúng ta đã xây dựng được kế hoạch, chương trình thực hiện đấu tranh có trọng tâm, trọng điểm, cả trước mắt và đặt cơ sở cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng một cách thường xuyên.

Chính vì vậy, vừa qua chúng ta đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và khẳng định những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới, phát triển đất nước và những kết quả rất quan trọng, nhiều dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ vừa qua.

Các cơ quan chức năng cũng đã xây dựng được một mạng lưới đấu tranh trên các loại hình báo chí cũng như trên mạng xã hội. Đây là điểm rất mới, một mặt xây dựng luận cứ để đấu tranh thật sự thuyết phục và hiệu quả, nhất là trên mạng xã hội, với những bài viết ngắn gọn, rõ ràng, thuyết phục để đông đảo tất cả mọi người hiểu sâu được quan điểm, đường lối của Đảng.

Chúng ta cũng đấu tranh trực diện với những luận điểm sai trái, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Các thế lực thường lợi dụng những sự kiện lớn, những vấn đề nóng để xuyên tạc, làm lệch lạc, gây ra tình trạng mơ hồ. Vì vậy, chúng ta vừa xây dựng các luận cứ để phản bác, vừa sử dụng giải pháp về công nghệ, kỹ thuật để gỡ bỏ thông tin xấu độc trên mạng.

Ngoài ra, cơ quan chức năng còn thực hiện các giải pháp về kinh tế, tài chính, kiểm soát dòng tiền mà các thế lực sử dụng thông qua các trang mạng xã hội để thực hiện mục tiêu chống phá. Với những giải pháp tổng thể đó, bước vào Đại hội XIII, khoảng 80-85% thông tin xấu độc, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã bị gỡ bỏ.

PV: Nhưng thông tin xấu độc này bị xử lý thì thông tin khác lại xuất hiện. Vậy giải pháp căn cơ như thế nào?

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng: Đây sẽ là cuộc đấu tranh bền bỉ, thường xuyên, quyết liệt, đồng bộ và với sự tham gia của tất cả lực lượng trong mặt trận tư tưởng, lý luận. Chiêu trò của các thế lực thù địch đa dạng, nhiều âm mưu, có kịch bản, thậm chí xây dựng giao diện trang thông tin tương tự trang chính thống làm bạn đọc lẫn lộn, mơ hồ và người dân không biết được đâu là đúng, đâu là sai.

Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng là phải làm tốt nữa công tác thông tin, giáo dục. Không chỉ có các lực lượng chuyên trách mà cả hệ thống chính trị, người dân phải cùng tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khẳng định cái đúng, cái mới, cái hay; trực tiếp đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái.

Bên cạnh đó, chúng ta phải xây dựng khuôn khổ pháp lý để đấu tranh với các thế lực thù địch, đảm bảo vừa răn đe, cảnh báo, nhưng đồng thời xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật.

PV: Công tác phòng, chống tham nhũng tạo dấu ấn trong nhiệm kỳ vừa qua và sẽ được tiếp tục ở nhiệm kỳ tới như thế nào?

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng: Đạt được kết quả đó là nhờ chúng ta coi công tác xây dựng Đảng là then chốt. Xây dựng Đảng toàn diện cả về tư tưởng chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ, đồng thời bám rất sát các nguyên tắc của Đảng. Trong nguyên tắc của Đảng có nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết trong Đảng, thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân.

Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng vừa qua có được những kết quả rất tốt, củng cố được niềm tin của nhân dân. Nhưng đó mới là kết quả bước đầu, bởi vì điều quan trọng nhất là chúng ta phải xây dựng được một thể chế để các cá nhân tham gia trong hệ thống chính trị không có cơ hội, không dám và không thể tham nhũng.

Chúng ta phải xây dựng một Đảng cách mạng, chân chính, trong sạch, vững mạnh thì cuộc đấu tranh mới mang lại kết quả cuối cùng, đưa Việt Nam có được kỳ tích phát triển mới.

Xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh

    Quán triệt sâu sắc phương châm: gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã đề cập ở trên, mục đích thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch hòng làm cho Quân đội ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, để xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ đảng viên và cán bộ chủ chốt các cấp. 

    Đi đôi với giáo dục chính trị, tư tưởng, cần coi trọng xây dựng về tổ chức, trước hết là tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh. Các cấp phải thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng, coi đó là khâu then chốt, nhằm đảm bảo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với QĐND. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và cũng là yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, trong đó có mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Thực tiễn đã khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, quyết định sức mạnh, sự trưởng thành, chiến thắng của QĐND. Vì thế trong thời gian tới chúng ta cần phải đặc biệt coi trọng công tác này.

    Cùng với đó, phải thực hiện tốt và gắn chặt các mặt công tác cán bộ, tổ chức, dân vận, chính sách, tư tưởng,… Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tổ chức tốt phong trào Thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động: “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, tạo khí thế thi đua sôi nổi, rộng khắp  và là nguồn động lực tinh thần to lớn cho toàn quân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, chúng ta càng phải nêu cao cảnh giác, tăng cường các biện pháp phòng ngừa những phát sinh phức tạp về tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ. Gắn liền với đó, phải hết sức coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chống việc lộ, lọt thông tin, các hiện tượng móc nối, cài cắm, xâm nhập hoặc thẩm thấu quan điểm xấu từ bên ngoài vào Quân đội dưới mọi hình thức; phấn đấu đảm bảo tuyệt đối an toàn về an ninh, chính trị, tư tưởng của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

    Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phải thường xuyên chăm lo kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng, đoàn thể, hội đồng quân nhân. Bởi, đây là các tổ chức, cá nhân trực tiếp chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị - yếu tố quyết định chất lượng xây dựng Quân đội về chính trị. Từ thực tiễn, nhất là qua Sơ kết 9 năm thực hiện Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX), Nghị quyết 513/ĐUQSTW của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) chúng ta cần đánh giá đúng thực chất (cả ưu điểm và hạn chế, tồn tại), rút ra những bài học kinh nghiệm, để tiếp tục vận dụng thực hiện có hiệu quả trong thời gian tới. 

    Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN của quân và dân ta được tiến hành trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường; do đó bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, cũng có không ít khó khăn, thách thức. Trong đó, thách thức gay gắt nổi lên là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Với Quân đội ta, họ thúc đẩy mạnh mẽ “phi chính trị hóa” bằng những hình thức, thủ đoạn mới tinh vi, thâm độc. Cùng với đó là những diễn biến phức tạp mới ở Biển Đông, trực tiếp đe dọa đến chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trước tình hình trên, chúng ra cần chú trọng thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, mọi thông tin được chuyển tải nhanh, lan tỏa rộng, thì công tác này lại càng quan trọng, nhưng trong thực hiện có không ít khó khăn, phức tạp. Vì thế, công tác thông tin, tuyên truyền càng cần phải được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, chính xác. Trong đó phải bảo đảm sự chủ động, giữ vững “trận địa thông tin”, làm chủ nguồn tin và độ tin cậy nguồn tin, nhằm tạo dư luận tốt trong xã hội nói chung và trong Quân đội nói riêng.