Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin - Điều không thể xuyên tạc

 Trong những năm qua, các thế lực thù địch đã không ngừng phủ nhận, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, mà một trong những thủ đoạn thâm độc của chúng là cố tình tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hành động này chẳng khác gì cắt đi một cái gốc quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài viết tập trung làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh chính là dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin, đây là điều cần khẳng định, không ai có thể xuyên tạc được.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin - Điều không thể xuyên tạc

Từ khóa: tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin.

1. Nhìn lại cho đúng

Các thế lực chống đối chế độ chính trị hiện nay của Việt Nam tập trung tấn công vào thế chân vạc làm chỗ đứng cho chế độ ta: (1) Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; (2) Chủ nghĩa xã hội; (3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Hễ một trong ba điểm đó yếu thì chế độ chính trị sẽ yếu. Và, nếu hai hoặc cả ba điểm đó yếu thì thế chân vạc sẽ bị triệt tiêu.

Đáng chú ý là, sự bôi nhọ, xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra một cách rất dai dẳng, quyết liệt, thâm hiểm, với nhiều kiểu, nhiều dạng, lúc thì tinh vi, lúc thì “vòng vo tam quốc”, ẩn dụ, ném đá giấu tay, lúc thì trực diện “vỗ mặt” với lời lẽ hằn học, chát chúa. Có ý kiến cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự sao chép chủ nghĩa Mác - Lênin mà thôi. Có ý kiến ngược lại, cho rằng, Hồ Chí Minh không thực sự theo chủ nghĩa Mác - Lênin biểu hiện là ở chỗ Hồ Chí Minh nêu cao chủ nghĩa dân tộc, với ý đi ngược lại/xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin (đòi “xem xét lại chủ nghĩa Mác”(1)); rằng, Hồ Chí Minh coi trọng V.I.Lênin mà không coi trọng C.Mác, với ý là trong tác phẩm Đường cách mệnh (năm 1927), Hồ Chí Minh nhấn mạnh Các Mác “là (nhà) kinh tế học cách mệnh”(2) mà không nhấn mạnh rằng, C.Mác chính là người đã xác lập lý luận chủ nghĩa xã hội (CNXH) khoa học, là “ông tổ” của học thuyết khoa học và cách mạng mà các Đảng Cộng sản (ĐCS) trên thế giới lấy đó làm cơ sở lý luận phát triển cho mình. Có một số ý kiến cho rằng, Hồ Chí Minh không hẳn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng Hồ Chí Minh chỉ coi chủ nghĩa Mác - Lênin như là một phương tiện hoạt động mà thôi; dẫn chứng là tại Đại hội II của Đảng (2-1951), Hồ Chí Minh còn đề cao cả J.Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông; rồi ở nhiều bài nói, bài viết khác, Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lênin “như cái cẩm nang thần kỳ”; Hồ Chí Minh tự nhận mình là “học trò nhỏ” của một loạt nhân vật mà các vị này không đồng chí hướng chính trị, tín ngưỡng: C.Mác, V.I.Lênin, Khổng Tử, Giêsu, Thích Ca Mâu Ni, Tôn Dật Tiên...Như vậy được hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là một trong nhiều luồng tư tưởng, học thuyết mà Hồ Chí Minh sử dụng để đạt mục đích hoạt động chính trị của mình mà thôi.

Những ý kiến trên đây đều không đúng, thậm chí có thể do cái tâm không lành hoặc do cách thức nghiên cứu, những người có ý kiến loại này đã cắt khúc, tách rời các luận điểm của Hồ Chí Minh, không đặt vào một hệ thống. Hồ Chí Minh khẳng định một cách chắc chắn rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là “mặt trời soi sáng”, là “trí khôn” của con người, là “bàn chỉ nam” cho con tàu đi. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa đó. Rồi Hồ Chí Minh dẫn một đoạn như là “đề từ” cho cả tác phẩm này ngay ở bìa 1, ý của V.I.Lênin trong tác phẩm Làm gì?: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động...Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”(3), nghĩa là đảng phải có một lý luận chính trị dẫn đường. Và, Hồ Chí Minh thấy rằng, bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin; “phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(4). Theo cách của ngôn ngữ hiện nay, thì chủ nghĩa Mác - Lênin đúng là nền tảng tư tưởng (“trí khôn” của con người) và kim chỉ nam (“bàn chỉ nam”) cho hành động của tổ chức và người cộng sản chứ dứt khoát không phải là phương tiện.

Về thực chất, Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở để đạt mục đích tối cao là giải phóng con người một cách hoàn toàn và triệt để. Sự giải phóng này chỉ có thể thực hiện được dưới chế độ cộng sản chủ nghĩa - điều mà trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen khảm một ý bất hủ: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(5).

Tư tưởng Hồ Chí Minh là dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện rõ nhất ở 1) Vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin, làm cho lý luận Mác - Lênin thấm vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; 2) Lấy yếu tố không thay đổi (nguyên lý cơ bản) để ứng với muôn vàn sự thay đổi của tình hình (như lời Hồ Chí Minh nói với Huỳnh Thúc Kháng năm 1946: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”); 3) Quá trình bảo vệ và phát triển lý luận Mác - Lênin.

2. Dòng tiếp nối của tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sự tiếp nối tư tưởng/lý luận/học thuyết Mác - Lênin ở nhiều điểm. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung vào 5 điểm chính sau:

(1) Về mục tiêu và con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.

Đó là mục tiêu chủ nghĩa cộng sản, con đường là làm cách mạng tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng. Sau này, trong văn kiện của Đảng, mục tiêu đó được diễn đạt bằng nhiều cụm từ như “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”, “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Trong tư duy của Hồ Chí Minh, mục tiêu này bao gồm nội dung giải phóng dân tộc, nội dung dân chủ (dân chủ ở đây chủ yếu là giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân) và nội dung cách mạng XHCN.

Một số người nhận định không đúng về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH do Hồ Chí Minh tìm và chọn những năm 1910 - 1920 của thế kỷ XX. Họ cho rằng, Hồ Chí Minh đã chọn sai, và hệ lụy, theo họ, là khiến cho đất nước Việt Nam lâm vào nhiều cuộc chiến tàn khốc không cần thiết; rằng, vì mục tiêu và con đường mà Hồ Chí Minh chọn không đúng, cho nên đất nước Việt Nam mới tiến chậm chạp trong khi tiềm lực, tiềm năng của đất nước rất lớn, nếu chọn đúng mục tiêu và con đường (mục tiêu và con đường tư bản chủ nghĩa), thì dân tộc Việt Nam sẽ sớm sánh vai với các cường quốc năm châu, chứ đâu phải như hiện thời, đất nước mới vừa thoát nghèo, GDP đầu người năm 2019 chỉ đạt gần 3 nghìn đôla Mỹ, vẫn chưa thoát ra khỏi cái bẫy của nước thu nhập trung bình, trong khi mức GDP bình quân đầu người thế giới đang đạt con số gần 9 nghìn đôla Mỹ.

Thực tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã kiểm nghiệm nhiều mục tiêu và con đường phát triển. Cần Vương ư? Vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp để rồi quay lại củng cố chế độ phong kiến thì chính là đi ngược lại xu thế phát triển của xã hội Việt Nam, vì chế độ phong kiến Việt Nam đã bị khủng hoảng từ thế kỷ XVI, đến thế kỷ XIX lại càng khủng hoảng hơn. Dân chủ tư sản ư? Kể cả hình thức cộng hòa đại nghị và quân chủ lập hiến tuy là mới đối với Việt Nam nhưng đã là cũ và lỗi thời đối với thế giới. Các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học...đầy dũng khí nhưng đường lối, phương pháp cách mạng không hợp với đất nước. Do vậy, các phong trào đấu tranh yêu nước đó thất bại nhanh chóng, thất bại không phải chỉ vì Việt Nam có vũ khí thô sơ, kỹ thuật tác chiến thua kém so với lực lượng xâm lược Pháp, mà chủ yếu là do các phong trào yêu nước đó không hợp thời. Xu thế mới - con đường cách mạng vô sản theo lý luận C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã nêu lên, Hồ Chí Minh là người đáp ứng được yêu cầu của xu thế phát triển này một cách xuất sắc. Nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh là nhận thức, hành động của người đại diện, người đi tiên phong của xu thế đó.

Sự phủ nhận mục tiêu và con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn chính là sự phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, là sự về hùa cùng các thế lực thù địch nhằm đả kích, xuyên tạc lý luận Mác - Lênin, muốn “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh. Đành rằng, trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế đã từng xuất hiện một số kẻ độc tài, chuyên quyền; có một số hủ bại, thoái hóa, nhưng đó không phản ánh bản chất của lý luận về CNXH mà C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã nêu lên. Cũng tương tự như vậy, trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam, đã có một số tiêu cực, nhưng đó chỉ là những hiện tượng không phản ánh bản chất.

(2) Đối với cách mạng giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh là người đã “đính chính”, nói cách khác là vận dụng, bổ sung, phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở “chính quốc”. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đều có điểm chung khi khẳng định sự gắn kết chặt chẽ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Nhưng, vấn đề đặt ra là quan hệ giữa cách mạng vô sản ở “chính quốc” và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa là quan hệ ngang hàng nhau, hay đó là quan hệ chính - phụ, cái nọ phụ thuộc vào cái kia? Về vấn đề này, lý luận Mác - Lênin cho rằng, cách mạng vô sản ở “chính quốc” đóng vai trò quyết định, sẽ nổ ra và giành thắng lợi trước, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa thành công. C.Mác viết: “So với các nước khác, Anh là nước mà ở đó sự đối lập giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đã đạt tới trình độ phát triển cao hơn cả. Do vậy, thắng lợi của những người vô sản Anh đối với giai cấp tư sản Anh có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của tất cả những người bị áp bức đối với những kẻ áp bức họ. Đó là nguyên nhân vì sao mà phải giải phóng Ba Lan không phải ở Ba Lan, mà là ở Anh”(6). Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen xác định rằng, chế độ người bóc lột người chính là căn nguyên dẫn đến sự nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác, vì vậy, giải quyết vấn đề dân tộc ở các nước thuộc địa lại tùy thuộc vào việc giải quyết vấn đề giai cấp, trước hết là ở các nước “chính quốc”. Do đó, các ông chủ trương: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”(7).

So với C.Mác và Ph.Ăngghen thì V.I.Lênin có điều kiện thực tế để quan tâm nhiều đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa và phụ thuộc, trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc đã thiết lập ách thống trị ở nhiều nước châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh. Song, rất tiếc là V.I.Lênin cũng có quan điểm giống C.Mác và Ph.Ăngghen về sự phụ thuộc của cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Là người xuất thân từ một nước thuộc địa, vận dụng thành công phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin vào phân tích điều kiện cụ thể của Việt Nam và một số thuộc địa khác, Hồ Chí Minh một mặt luôn khẳng định phải nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, không trông chờ, ỷ lại, dựa dẫm vào sự giúp đỡ của bên ngoài; mặt khác, Người nhận thấy rằng, thuộc địa chính là nơi tập trung những mâu thuẫn gay gắt nhất của thế giới lúc đó, là nơi kết tụ những “nọc độc” và “sức sống” của “con rắn độc tư bản chủ nghĩa”. Do đó, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa vẫn có tính độc lập trong mối quan hệ với cách mạng vô sản ở “chính quốc” và điều này là quan trọng hơn cả: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể nổ ra, giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở “chính quốc”, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp công nhân ở “chính quốc” trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, giành chính quyền (tức là “đánh rắn đằng đầu”).

(3) Đối với vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.

Trong lý luận của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen thường đề cập vấn đề xây dựng và phát triển tổ chức cộng sản ở môi trường xã hội công nghiệp, khi giai cấp công nhân đại cơ khí/đại công nghiệp đã hình thành và phát triển. Từ môi trường xã hội đại công nghiệp, ĐCS tổ chức cho giai cấp công nhân liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác. Thực tế cho thấy, thời của C.Mác và Ph.Ăngghen, chưa có một tổ chức cộng sản nào cầm quyền trên thế giới, cho nên quan điểm của hai ông chưa được kiểm nghiệm một cách chắc chắn trong thực tế. Đến thời kỳ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, V.I.Lênin có khoảng 6 năm đứng đầu ĐCS cầm quyền, đã áp dụng nhiều chủ trương phát triển đất nước lên CNXH trong điều kiện rất đặc thù của nội chiến, của những năm sau Chiến tranh thế giới thứ I. V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, ngoài tính chất lý luận và bản chất giai cấp công nhân của Đảng bônsêvích, cần lưu ý phải đưa nhiều công nhân vào Đảng để cải thiện thành phần trong Đảng vì số lượng đảng viên xuất thân từ giai cấp công nhân ở nước Nga (sau này là cả ở Liên Xô) còn ít. Điều này có khác với thời kỳ khi C.Mác và Ph.Ăngghen sống. Nó có căn nguyên là, môi trường xã hội nước Nga, và sau này là Liên Xô, không phải là một nước công nghiệp, không như hoàn cảnh hình thành lý luận C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu khi đề cập đến vấn đề ĐCS.

Liệu có xây dựng được một tổ chức ĐCS theo chủ nghĩa Mác - Lênin ở môi trường kinh tế lạc hậu, chậm phát triển như ở Việt Nam không, khi mà đầu thế kỷ XX, có tới gần  95% dân số là nông dân, số lượng giai cấp công nhân rất ít so với tổng số dân cư (vào thời điểm Đảng bắt đầu cầm quyền, số lượng giai cấp công nhân khoảng hơn 200 nghìn người) và quá trình giai cấp công nhân tiến lên một giai cấp công nhân đại công nghiệp diễn ra rất chậm chạp? Hồ Chí Minh là người trả lời cả về mặt lý luận và thực tiễn là: hoàn toàn xây dựng được. Hồ Chí Minh nêu lên quy luật ra đời của ĐCS Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Nhưng, cần nhấn mạnh thêm: không những là quy luật ra đời mà còn là quy luật phát triển của Đảng nữa, vì nó có ý nghĩa lớn đối với một đảng cầm quyền như ĐCS Việt Nam. Chính việc đưa thêm yếu tố phong trào yêu nư­ớc vào kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân đã làm cơ sở cho tư­ tư­ởng chiến lư­ợc của Đảng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cơ sở xã hội của Đảng không chỉ là giai cấp công nhân mà còn là toàn thể nhân dân lao động. Hồ Chí Minh đã không ít lần bày tỏ quan điểm này khi cho rằng, bản chất giai cấp của Đảng là bản chất giai cấp công nhân. Nhưng Đảng không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân mà đồng thời còn là của nhân dân lao động và toàn dân tộc.

Thời kỳ của C.Mác và Ph.Ăngghen còn sống, chưa có cuộc cách mạng vô sản nào giành được thắng lợi. Công xã Pari năm 1871 là cuộc thể nghiệm đầu tiên của giai cấp vô sản Pháp vùng lên với khí thế xung thiên đánh đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, phá bỏ nhà nước của giai cấp tư sản, lập nên nhà nước của giai cấp công nhân Pháp, nhưng lúc đó ĐCS Pháp chưa ra đời. Những tổng kết của C.Mác trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp, tuy biểu đạt năng lực tư duy rất nhanh nhạy của C.Mác (tổng kết ngay khi Công xã Pari đang diễn ra), nhưng đối với riêng vấn đề đảng của giai cấp công nhân lại chưa có gì để nói bởi thực tế chưa có. Quốc tế I, Quốc tế công nhân, thời của C.Mác và Ph.Ăngghen thì cũng chưa có một ĐCS riêng của một dân tộc nào. ĐCS cầm quyền, do đó, ngay trong dự đoán của hai ông cũng chưa có.

V.I.Lênin nêu lên một số vấn đề có tính nguyên tắc về đảng vô sản kiểu mới của giai cấp vô sản, rõ nhất là từ năm 1903 với việc hình thành ĐCS (b) Nga, khi có sự phân liệt trong Đảng Công nhân Dân chủ - Xã hội Nga thành hai phái: bolshevik và melshevik. Đây là những nội dung chung cho tất cả các thời kỳ, chứ không riêng cho thời kỳ ĐCS cầm quyền. “Đảng ta là Đảng cầm quyền”(8) là cụm từ do Hồ Chí Minh nêu lên rõ nhất trong Di chúc. Tính từ tháng 9-1945 đến tháng 9-1969, Hồ Chí Minh giữ trọng trách lãnh tụ của ĐCS cầm quyền trong 24 năm. Sự cầm quyền của ĐCS Việt Nam được xác lập thông qua Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi và được khảo nghiệm, thử thách qua hoàn cảnh vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trải qua kháng chiến, chiến tranh cách mạng. Hồ Chí Minh đã vận dụng những nguyên lý chung của V.I.Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp vô sản vào xây dựng ĐCS Việt Nam cầm quyền. Người bổ sung, phát triển lý luận của V.I.Lênin trên nhiều vấn đề, đặc biệt có ba vấn đề chủ yếu nhất: 1) Vấn đề Đảng của ai; 2) Xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng; 3) Nhấn mạnh những vấn đề Đảng cầm quyền trong điều kiện lãnh đạo Nhà nước.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh ĐCS Việt Nam cầm quyền là Đảng của đạo đức và văn minh. Muốn thế, Đảng phải tỏ rõ về thực chất Đảng “là đạo đức, là văn minh”(9). Tư cách của một ĐCS cầm quyền - đó chính là điểm bổ sung, phát triển lớn của Hồ Chí Minh so với chủ nghĩa Mác - Lênin. Quyền mà Đảng cầm là từ nhân dân trao cho. Sự cầm quyền của Đảng không phải cứ tự nhận mà được, mà do uy tín của Đảng qua các thời kỳ cách mạng và từ đó mà nhân dân tin tưởng trao cho Đảng quyền lãnh đạo đất nước. Điều này cũng đi liền với một tất yếu khác: muốn bảo đảm sự cầm quyền thì Đảng phải thường xuyên tự đổi mới và tự chỉnh đốn, làm cho Đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh; Đảng phải luôn luôn nâng cao vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền và sức chiến đấu của mình đối với sự phát triển của đất nước. Như vậy, vai trò cầm quyền của Đảng là chính đáng. Nhưng, sự cầm quyền của Đảng sẽ không còn, nếu Đảng bị thoái hóa, biến chất. Do đó, sự cầm quyền của Đảng là tất yếu, là chính đáng cần đi liền với quá trình Đảng rèn luyện, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải trong sạch, vững mạnh, không bị sa vào các tiêu cực - những nguy cơ rất dễ nhận thấy trong điều kiện họ có chức, có quyền trong bộ máy của hệ thống chính trị. Và, điều đặc biệt ở tư duy cũng như hành động của Hồ Chí Minh, là một điểm bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, là ở chỗ Hồ Chí Minh lưu ý đậm nét tới lãnh đạo - phục vụ của Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh coi lãnh đạo cũng tức là “làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”(10), “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(11).

(4) Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền.

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin hầu như chưa đề cập hoặc đề cập rất ít vấn đề nhà nước pháp quyền trong chế độ XHCN. Trong các bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh không đề cập khái niệm “Nhà nước pháp quyền”, nhưng tinh thần vẫn toát lên nội dung đó. Đó là những vấn đề: Nhà nước hợp hiến, hợp pháp; Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi tổ chức chính trị - xã hội, kể cả Đảng cầm quyền, mọi cá nhân đều có trách nhiệm thực hiện pháp luật với tinh thần thượng tôn pháp luật; bảo đảm bản chất giai cấp nhưng đồng thời mang tính dân tộc sâu sắc; trong hoạt động mang tính nhân văn, nhân đạo, nhân nghĩa - tất cả vì sự nghiệp giải phóng con người - mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng theo tư tưởng Hồ Chí Minh về Giải phóng dân tộc - Giải phóng xã hội - giai cấp - Giải phóng con người. Cũng như về Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh luôn chú trọng tới trách nhiệm phục vụ của Nhà nước, của tất cả cán bộ, công chức. Điều này hoàn toàn phù hợp với xã hội hiện đại, khi vấn đề bảo đảm và phát huy quyền con người, quyền công dân được coi trọng hơn. Hồ Chí Minh chính là người nhấn rất mạnh tới Nhà nước với vai trò chức năng quản lý, phục vụ nhân dân, trong khi lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin lại coi trọng hơn tính cai trị, thống trị của một giai cấp - vốn bản chất gốc của nhà nước. Từ chính phủ của nhà nước cai trị đến chính phủ phục vụ dân là cả những bước tiến dài về nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền Việt Nam, không có chỗ đứng cho cái gọi là “Đảng trị”, nghĩa là Đảng tranh/soán quyền Nhà nước.

(5) Đối với xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh kế thừa phương pháp luận của chủ nghĩa Mác khi xem xét xã hội cộng sản là kết quả vận động tự nhiên trong sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội. Ở nước Nga và về sau là Liên Xô, sau khi V.I.Lênin mất, đã trải qua nhiều thời kỳ, dần dần trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế định hình mô hình Xôviết. Trong quá trình xây dựng CNXH, có nhiều ĐCS cầm quyền vận dụng thành công những quan điểm của V.I.Lênin về CNXH vào điều kiện của nước mình. Song, bên cạnh đó, nhiều đảng cũng đã vận dụng sai, rõ nhất là tư duy đốt cháy giai đoạn, duy ý chí, giáo điều, bao cấp, mệnh lệnh hành chính trong khi lý luận Mác - Lênin luôn nhấn mạnh tính phong phú, tính sáng tạo khi xây dựng CNXH ở mỗi nước.

ĐCS Việt Nam đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào xây dựng CNXH và đạt được những kết quả nhất định nhưng cũng bộc lộ những khiếm khuyết như nhiều ĐCS cầm quyền khác trong cùng hệ thống, phổ biến nhất là tư duy cải tạo nền kinh tế; xác lập hai thành phần kinh tế: nhà nước và tập thể; xác định một cách chủ quan các bước đi; nhận thức chưa đúng về các quy luật kinh tế - xã hội mà chúng có giá trị chung chứ không phải chỉ của xã hội tư bản (kinh tế thị trường, kinh tế hàng hóa, quy luật giá trị, v.v..).

Hồ Chí Minh luôn chú ý đến hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam qua các thời kỳ để vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, và sau này là những kinh nghiệm của Liên Xô cũng như của hệ thống các nước XHCN trong xây dựng đất nước với hoàn cảnh rất đặc biệt: đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, nửa nước đang tiến hành chiến tranh giải phóng, đất nước đi lên CNXH trong hoàn cảnh nước tiểu nông, kinh tế lạc hậu...Hồ Chí Minh đã vận dụng xây dựng một chế độ kinh tế bằng hai chân (công nghiệp và nông nghiệp, trong đó nông nghiệp và công nghiệp nhẹ là cơ sở); quản lý kinh tế phù hợp với bước đi dần dần, tiến hành xây dựng xã hội mới với con người XHCN.

Nhìn một cách tổng quát, Hồ Chí Minh chính là nhân vật lịch sử đặc biệt của cách mạng Việt Nam. Điều làm nên tính đặc biệt của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự tiếp nối của Người trong dòng chảy của chủ nghĩa Mác - Lênin, với tư cách là dòng chảy văn hóa phát triển nhân loại.

Cần hiểu đúng luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” và “làm cho tôn giáo đi đến chỗ tiêu vong thực sự” của Chủ nghĩa Mác - Lênin

Khi bàn về tôn giáo, chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhận được sự quan tâm rất lớn của nhiều học giả từ các lập trường tư tưởng, ý thức hệ, lĩnh vực khác nhau trên toàn thế giới. Bên cạnh số học giả ủng hộ, đồng tình và làm rõ thêm các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo thì cũng có khá nhiều học giả, đảng phái, lực lượng phủ nhận một phần hoặc toàn bộ quan điểm về tôn giáo của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một trong số những luận điểm phủ nhận, phê phán cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chủ trương tuyên chiến với tôn giáo và thủ tiêu tôn giáo. Quan điểm “tôn giáo tiêu vong” đã lạc hậu, lỗi thời và sai lầm ngay trong chính thời đại của C.Mác, V.I.Lênin. Bài viết dưới đây sẽ phân tích, làm rõ luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” và “tôn giáo tiêu vong” để hiểu đúng chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, chống lại các luận điệu xuyên tạc, chia rẽ người cộng sản và người tôn giáo.

Cần hiểu đúng luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” và “làm cho tôn giáo đi đến chỗ tiêu vong thực sự” của Chủ nghĩa Mác - Lênin

Từ khóa: chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo tiêu vong, chống tôn giáo.

1. Đấu tranh chống tôn giáo không phải là để xóa bỏ tôn giáo, thiết lập một xã hội không có chỗ cho tôn giáo mà là để giải phóng triệt để quần chúng nhân dân lao động

Trong các tác phẩm kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin như: Tình cảnh nước Anh; Tomat Caclailơ, quá khứ và hiện tại; Chiến tranh nông dân ở Đức; Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức; Chống Đuy Rinh; B.Bauơ và bản chất đạo Kitô giáo nguyên thủy; Gia đình thần thánh; Hệ tư tưởng Đức; Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo; Về thái độ của Đảng Công nhân đối với tôn giáo; Thái độ của các giai cấp và của các đảng phái đối với tôn giáo và giáo hội; Những nhà triết học duy tâm; Các đảng phái trong triết học và các nhà triết học không đầu não; Giới tu hành và chính trị; Bệnh ấu trĩ tả khuynh và tính tiểu tư sản,... Các nhà kinh điển đã đặt vấn đề, xét cho đến cùng mọi lý luận hay phong trào cách mạng đều phải đi đến đích cuối cùng là giải phóng triệt để nhân dân lao động khỏi ách áp bức về giai cấp, về kinh tế, về chính trị và cả ách áp bức về tinh thần mà tôn giáo là một nguyên nhân. Vì sao?

Trong lịch sử, tôn giáo đã từng “xóa sổ” nền triết học, chính trị, luật học cổ đại để bắt đầu một nền văn minh Kitô giáo độc quyền trí dục và một nền giáo dục cũng mang một tính chất thuần túy thần học, “Trong tay bọn giáo sĩ, chính trị và luật học, cũng như tất cả những khoa học khác, vẫn chỉ là những ngành của khoa thần học, và những nguyên lý thống trị trong thần học cũng được áp dụng cho chính trị và luật học. Những giáo lý của giáo hội đồng thời cũng là những định lý chính trị, và những đoạn kinh thánh cũng có hiệu lực trước mọi tòa án như là luật pháp,... Và sự thống trị tối cao ấy của thần học trong tất cả các lĩnh vực hoạt động tinh thần đồng thời cũng là hậu quả tất yếu của cái vị trí mà giáo hội đã chiếm với tính cách là sự tổng hợp chung nhất và sự phê chuẩn chung nhất của chế độ phong kiến hiện tồn”(1). Thời của C.Mác, nhà nước Đức, đứng đầu là vua Phổ đã lợi dụng triệt để tôn giáo để chống lại những xu hướng chính trị tiến bộ, lấy tôn giáo làm liều thuốc ru ngủ người dân trong ảo tưởng và nhẫn nhục về ách áp bức để họ quên đi đấu tranh, quên đi những điều họ có quyền đòi hỏi để được sống một cuộc đời xứng đáng là một con người. Ở nước Nga, đạo Chính thống giữ vị trí quốc giáo, nhà nước Nga Sa hoàng đã sử dụng tôn giáo để củng cố quyền uy. Các đảng phái ở Nga khi đó đang cố gắng tuyên truyền cho tôn giáo, nâng nhu cầu tôn giáo của người dân lên để kéo quần chúng ra khỏi cuộc đấu tranh cách mạng, chú ý về phía tôn giáo mà quên đi các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ. Chứng kiến ở châu Âu, lãnh tụ tôn giáo đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính trị của giai cấp tư sản thống trị nhân dân lao động bằng sự thể chế hóa tôn giáo. Một thời gian dài, giáo hội thực thi quyền “thống trị tất cả chỉ thuộc về Thiên chúa” để phán xử những ai không cùng quan điểm với mình, kể cả vương triều và vương quốc chính trị cũng có thể bị giáo hội xử “tuyệt thống”. Các nhà nước Tây Âu nằm dưới sự thống trị và chịu sự chi phối hoàn toàn bởi Giáo hội La Mã, hoàng đế phải nhận sắc phong của giáo hoàng mới có chính danh để cai quản, thống trị ở vùng đất của mình. Và do vậy, hoàng đế phải ủng hộ giáo hoàng không chỉ bằng niềm tin mà còn bằng cả sức mạnh kinh tế và quân sự. Nhờ đó, giáo hoàng được coi là “vua của các vị vua” ở Tây Âu, giáo hoàng không chỉ có quyền lực thần quyền mà có cả thế quyền. Các nhà lập pháp trong giáo hội đã đặt đức tin của mình lên trên tất thảy để đưa ra những luật lệ thách thức các quyền dân sự khác, nhiều quyết định của giáo hội đã ảnh hưởng quá mức tới thiết chế nhà nước, phản đối các quyết định chính trị mà nhà nước buộc phải chấp hành.

Với hiện trạng đó, các nhà kinh điển mác xít đã ví tôn giáo như thứ “gông cùm” trói buộc tinh thần con người trong một vòng hào quang thần thánh khiến họ đang bị gông cùm vẫn tự cảm thấy mình được tự do, đang bất hạnh nhưng vẫn cảm thấy mình hạnh phúc, đang bất bình đẳng vẫn cảm thấy mình được bình đẳng, nhưng đó chỉ là thứ hạnh phúc (hay thứ tự do) trên “thiên đường tưởng tượng” mà thôi. Sự bình đẳng (dù chỉ là trước Chúa) cũng chẳng tồn tại bao lâu, khi giáo hội xác lập sự đối lập giữa giáo sĩ và tín đồ thì tư tưởng bình đẳng phôi thai ban đầu của tôn giáo cũng chấm dứt. Nói chung, tôn giáo đã xoa dịu, an ủi con người bằng cách tạo ra một “vương quốc thiên đàng toàn mỹ” mà ở đó “người tín đồ luôn luôn gặp lại - dưới một dạng cải biến - những cái đã làm cho cuộc sống của họ ở trên cõi trần này được ngọt ngào hơn”(2).

Như vậy, chủ nghĩa duy linh là kẻ thù của chủ nghĩa nhân đạo cần phải bóc trần và phê phán. Như C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Nhất thiết không để cho người Đức có một phút tự dối mình và khuất phục. Cần phải làm cho ách áp bức hiện thực càng nặng nề hơn nữa bằng cách gắn vào nó cái ý thức về sự áp bức, cần phải làm cho sự nhục nhã càng nhục nhã hơn nữa, bằng cách công bố sự nhục nhã ấy... Cần phải bắt nhân dân khiếp sợ bản thân mình để tiêm dũng khí vào cho họ”(3).

Trong tình hình như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt vấn đề phải đấu tranh “chống tôn giáo”, nhưng chống tôn giáo ở đây phải được hiểu là:

(i) Chống cái xã hội trần tục, chống cái nhà nước đã sản sinh ra tôn giáo và lợi dụng tôn giáo, biến nó thành công cụ tinh thần để nô dịch quần chúng trong vòng ngu muội và cam chịu, chứ “không phải lao vào những cuộc phiêu lưu đấu tranh chính trị chống tôn giáo”(4).

Chống tôn giáo là để giải phóng quần chúng khỏi tình trạng bị nô dịch, bị giam cầm bởi những tư liệu sản xuất do chính họ làm ra nhưng lại đối lập với họ như một sức mạnh xa lạ không sao khắc phục nổi. Chống tôn giáo là để giải phóng con người khỏi sự sợ hãi bởi “bóng ma” tôn giáo bằng cách tạo nên một cảnh “cực lạc” ngay trên trái đất này để con người tự giải phóng mình khỏi sự trông chờ vào cuộc sống cực lạc ở thế giới bên kia. “Nhiệm vụ của lịch sử sau khi cái chân lý của thế giới bên kia đã mất đi - là xác lập chân lý của thế giới bên này. Sau khi cái hình tượng thần thánh của sự tự tha hóa của con người đã bị bóc trần thì nhiệm vụ cấp thiết của cái triết học đang phục vụ lịch sử là bóc trần sự tự tha hóa trong những hình tượng không thần thánh của nó. Như vậy, phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành phê phán chính trị”(5). Xóa bỏ tôn giáo là xóa bỏ những tình cảnh đang cần có “ảo tưởng”, là yêu cầu từ bỏ những ảo tưởng, vứt bỏ khỏi xiềng xích các bông hoa giả trang điểm cho chúng, giơ tay hái lấy bông hoa thật. Việc phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán cuộc sống khổ ải, để con người suy nghĩ, hành động, xây dựng tính hiện thực của mình.

(ii) Chống tôn giáo không phải là tấn công trực diện vào tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo bằng sắc lệnh, để thiết lập một xã hội không có chỗ cho tôn giáo và cấm tất cả mọi sinh hoạt tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội vẫn tôn trọng quyền tự do theo tôn giáo và không theo tôn giáo của quần chúng. “Bất kỳ ai cũng được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mình thích hoặc không thừa nhận một tôn giáo nào”(6). Người theo hay không theo tôn giáo đều bình đẳng về quyền lợi, “Mọi sự phân biệt quyền lợi giữa những công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đều hoàn toàn không thể dung thứ được”(7). Thậm chí, “Trong các văn kiện chính thức tuyệt đối phải vứt bỏ thậm chí mọi sự nhắc đến tôn giáo nào đó của công dân”(8).

Ph.Ăngghen đã từng phê phán “Ông Đuyrinh không thể chờ đợi cho đến khi tôn giáo chết cái chết tự nhiên của nó. Ông ta làm một cách căn bản hơn. Ông ta tỏ ra là Bi-xmác hơn cả Bi-xmác; ông ta ra những đạo luật tháng Năm còn nghiêm ngặt hơn, không chỉ chống đạo Thiên chúa, mà còn chống cả mọi tôn giáo nói chung nữa; ông ta tung bọn hiến binh tương lai của ông ta ra truy kích tôn giáo, và do đó, ông ta giúp cho tôn giáo đạt tới chỗ thực hiện tinh thần tử vì đạo và kéo dài thêm sự tồn tại của nó”(9).

Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không cổ vũ cho quan điểm thủ tiêu tôn giáo bằng cách chế giễu hay sỉ vả nó. Không chống tôn giáo một cách nông cạn, thô thiển, V.I.Lênin coi sai lầm lớn nhất và tệ hại nhất của người mác xít là lầm tưởng rằng chỉ cần giáo dục chủ nghĩa Mác là có thể làm cho quần chúng bừng tỉnh khỏi giấc mê tôn giáo. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không đồng tình với quan điểm xã hội xã hội chủ nghĩa phải phế bỏ mọi trang bị của sự mê hoặc tinh thần hay phế bỏ tất cả những yếu tố của sự thờ cúng và cũng không nên cấm đoán tôn giáo “thành lập những nhà trường riêng của họ bằng những phương tiện riêng của họ và dạy ở đó những điều”(10) mà họ cho là chân lý dù “chân lý” đó có thể là sự nhận thức sai lầm hay hư ảo.

 (iii) Chống tôn giáo là chống “đám mây mù tôn giáo” để bảo vệ thế giới quan duy vật khoa học, “giai cấp vô sản hiện đại đứng về phía chủ nghĩa xã hội, là chủ nghĩa đưa khoa học vào cuộc đấu tranh chống các đám mây mù tôn giáo và làm cho công nhân khỏi tin vào một cuộc đời ở thế giới bên kia, bằng cách đoàn kết họ lại vì cuộc đấu tranh thực sự nhằm giành lấy một cuộc đời tốt đẹp hơn trên trần thế”(11). Chống tôn giáo là chống cách tôn giáo dùng bạo lực và lừa mị, ép buộc người dân theo tôn giáo, V.I.Lênin nhấn mạnh “Những người dân chủ - xã hội không tán thành những quan điểm của Cơ đốc giáo... Nhưng trong khi tuyên bố như thế, tôi thấy có nhiệm vụ phải tức khắc nói rõ ràng, minh bạch rằng, Đảng dân chủ - xã hội đấu tranh đòi được hoàn toàn tự do tín ngưỡng và chúng tôi rất kính trọng mọi sự tin tưởng thành thật trong lĩnh vực tín ngưỡng, chừng nào mà người ta không dùng bạo lực và lừa bịp để truyền bá lòng tin tưởng đó”(12).

(iv) Chống tôn giáo cũng là vì tôn giáo trở thành công cụ ngụy trang tư tưởng cho sự thống trị giai cấp, trở thành vật sở hữu độc quyền của các giai cấp thống trị. Trừ các tôn giáo trong thời kỳ cộng sản nguyên thủy, những tôn giáo về sau đều ít nhiều bị các lực lượng chính trị lợi dụng, làm méo mó, biến dạng để phục vụ cho ý đồ, mục đích riêng. Nói chung, một khi tôn giáo đã biến thành tôn giáo nhà nước, thì nó “quên” đi những tín điều “ngây thơ” của nó lúc sơ khai với một tinh thần dân chủ và cách mạng. V.I.Lênin lưu ý “Tất cả những giai cấp áp bức đều cần đến hai chức năng xã hội, để giữ gìn nền thống trị của mình: chức năng đao phủ và chức năng giáo sĩ. Đao phủ phải dẹp tan sự phản kháng và sự căm phẫn của những người bị áp bức. Giáo sĩ phải an ủi những người bị áp bức, vạch ra cho họ thấy triển vọng”(13). Nên, người cộng sản phải vạch trần sự liên kết giữa tổ chức tôn giáo với những thế lực phản động, dùng tôn giáo để bảo vệ chế độ bóc lột và đầu độc giai cấp công nhân, giam hãm người dân trong vòng ngu muội, khổ ải mà vẫn tưởng mình được sung sướng, hạnh phúc.

Tóm lại, luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” của chủ nghĩa Mác - Lênin là hết sức rõ ràng, nhưng những người chỉ trích chủ nghĩa Mác - Lênin đã lấy sự đối lập ý thức hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tôn giáo để xuyên tạc luận điểm của các ông, để quy kết chủ nghĩa Mác - Lênin có cái nhìn cực đoan về tôn giáo, chỉ thấy những mặt hạn chế và tiêu cực của tôn giáo mà không thấy những điểm tích cực của nó, chủ trương truy kích tôn giáo. Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo như vậy là một định kiến chính trị nông cạn, một thái độ ấu trĩ tả khuynh, một khuynh hướng tư tưởng “không đầu não”.

2. Tôn giáo chỉ tiêu vong thực sự khi xóa bỏ được hết các nền tảng quan hệ xã hội, các thể chế xã hội, các hiện tượng tạo ra sự “tha hóa” cần đến tôn giáo của con người

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt vấn đề, dù tôn giáo đã và đang tồn tại trong xã hội, dù “tiếng đàn” tôn giáo đã rung lên, thức tỉnh hàng triệu trái tim, bắt đế chế La Mã phục tùng hay phần lớn nhân loại đang tôn thờ ngưỡng mộ thì nó vẫn là một phạm trù lịch sử, là một hiện tượng xã hội, ra đời trên những cơ sở trần tục nhất định thì cũng sẽ mất đi khi những cơ sở đó không còn nữa. Chủ nghĩa Mác - Lênin dự báo về thời điểm tôn giáo sẽ tiêu vong khi:

(i) Quan hệ giữa người - người, người - giới tự nhiên hết sức rõ ràng, hợp lý. “Nói chung, sự phản ánh có tính chất tôn giáo của thế giới thực tại chỉ có thể mất đi khi nào mà những quan hệ trong đời sống thực tiễn hàng ngày của con người được biểu hiện bằng những mối liên hệ rõ ràng và hợp lý giữa người ta với nhau và với thiên nhiên”(14).

(ii) Xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và thực hiện chế độ sở hữu (chiếm hữu xã hội về tư liệu sản xuất). Khi xã hội sử dụng tư liệu sản xuất một cách có kế hoạch. Và khi con người ta không chỉ mưu sự mà thành sự cũng tại nhân, thì tôn giáo hay thánh thần sẽ chui xuống cái hầm “trú ẩn” của nó, con người không còn cần phải viện đến thánh thần để cầu xin những gì mà họ bất lực trong thế giới thực tại này, tôn giáo sẽ chết cái chết tự nhiên của nó. Ph.Ăngghen viết: “Khi nào thông qua việc nắm toàn bộ các tư liệu sản xuất và sử dụng những tư liệu ấy một cách có kế hoạch, xã hội tự giải phóng mình và giải phóng tất cả mọi thành viên trong xã hội khỏi tình trạng bị nô dịch, trong đó hiện nay họ đang bị giam cầm bởi những tư liệu sản xuất do chính tay họ đã làm ra nhưng lại đối lập với họ như một sức mạnh xa lạ không sao khắc phục nổi; do đó khi nào con người không chỉ mưu sự mà lại còn làm cho thành sự nữa, thì chỉ khi đó cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo sẽ mất đi, và cùng với nó bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi đó sẽ không có gì để phản ánh nữa”(15).

(iii) Với mỗi bước ngoặt lớn của lịch sử, của trật tự xã hội sẽ kéo theo mọi sự biến đổi và chuyển biến lớn trong tôn giáo. Trong tương lai, cuộc biến chuyển lớn hiện nay khác hẳn với tất cả những cuộc chuyển biến trước đây chính là ở chỗ con người, cuối cùng, đã giải đáp được điều bí ẩn của quá trình lịch sử và bởi vậy, lẽ ra họ lại thần thánh hóa các quá trình thực tiễn “bên ngoài” này dưới hình thức “siêu nghiệm” của thứ tôn giáo mới, thì nay họ sẽ vứt bỏ mọi thứ tôn giáo đi, “Một khi các cơ sở của các tôn giáo ấy bị phá vỡ, những hình thái xã hội kế thừa cái thiết chế chính trị và nền độc lập dân tộc bị phá vỡ thì tất nhiên là tôn giáo tương ứng với chúng cũng bị sụp đổ theo”(16). Trong mỗi dân tộc, đều có một vị thần bảo hộ, bảo vệ cho dân tộc ấy, “lĩnh vực chi phối của các vị thần đó không vượt quá biên giới của lãnh thổ dân tộc mà các vị thần ấy phải bảo vệ và ngoài biên giới đó thì do các vị thần khác tiến hành một sự thống trị không ai tranh giành được. Tất cả các vị thần ấy chỉ có thể tiếp tục tồn tại trong trí tưởng tượng chừng nào dân tộc tạo ra các vị thần ấy còn tồn tại, khi dân tộc đó tiêu vong thì các vị thần ấy tiêu vong theo”(17) và “Một khi các dân tộc không thể bảo vệ được nền độc lập, tự chủ của dân tộc mình nữa thì bản thân các vị thần ấy cũng tự bẻ gẫy cổ mình”(18).

(iv) Tôn giáo sẽ tiêu vong khi lịch sử nhân loại đạt đến chủ nghĩa cộng sản, khi cơ sở kinh tế (chế độ tư hữu và bóc lột) cần thiết tạo ra tôn giáo bị thủ tiêu hoàn toàn.

Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã dự báo tôn giáo có thể tồn tại lâu dài bởi những lý do sau:

 (i) Tư hữu không phải là lực lượng “tha hóa” duy nhất cho sự ra đời và tồn tại của tôn giáo. Dù đã cải tạo chế độ tư hữu thành sở hữu xã hội/ sở hữu công cộng, nhưng xã hội vẫn chưa thể sử dụng tư liệu sản xuất một cách có kế hoạch, chưa hoàn toàn nắm được quy luật khách quan và phát triển sức sản xuất tới trình độ cao, chưa xóa bỏ tất cả những lực lượng “tha hóa” khác chi phối cuộc sống hàng ngày của con người, chưa xây dựng được một chế độ xã hội tự quản và đặt dưới sự kiểm soát tự giác và có kế hoạch của chính mình, chưa làm chủ được tự nhiên, chưa làm chủ được xã hội và làm chủ cuộc đời mình, dư âm của tôn giáo truyền thống vẫn còn sâu đậm thì những nguồn gốc sản sinh ra tôn giáo vẫn còn tồn tại và như thế tôn giáo vẫn còn tiếp tục tồn tại.

(ii) Những điều kiện để tôn giáo tiêu vong không tự xuất hiện hoặc xuất hiện một cách dễ dàng, kể cả khi đã xóa bỏ thiết chế tư bản chủ nghĩa và chế độ tư hữu. Để có được kết quả đó là một quá trình tự nhiên, phát triển lâu dài và gian khổ.

(iii) Tôn giáo vẫn có thể tiếp tục tồn tại với tư cách là một hình thức trực tiếp, hình thức cảm xúc trong quan hệ của con người đối với các lực lượng tự nhiên, xã hội “xa lạ” và đang “đè nặng” lên họ mà chưa biết làm cách nào để thoát ra được. Không những thế, tôn giáo còn có tính thích ứng cao trong mọi hoàn cảnh, trong thời kỳ cổ đại, “đạo Cơ đốc toàn thế giới mà đế chế La mã vừa mới thừa nhận và phù hợp với tình trạng kinh tế, chính trị, tinh thần của nó”(19), đến thời kỳ Trung cổ, “đạo Cơ đốc cũng phát triển theo sự phát triển của chế độ phong kiến mà trở thành tôn giáo phù hợp với chế độ ấy, và có một tôn ti phong kiến tương ứng. Và khi tầng lớp thị dân ra đời thì dị giáo Tin Lành đối lập với đạo Thiên chúa phong kiến”(20). Hơn thế, “các tôn giáo mà bắt đế chế La Mã thế giới phải phục tùng và đã thống trị một phần hết sức to lớn loài người văn minh trong suốt 1800 năm thì người ta không thể nào thanh toán được nếu chỉ tuyên bố một cách giản đơn nó là cái vô nghĩa do những kẻ lừa dối tạo ra”(21).

(iv) Tôn giáo vừa là sự phản ánh đời sống hiện thực, do đời sống hiện thực sản sinh ra, vừa tác động trở lại hiện thực, phản kháng chống lại tình trạng khốn cùng của đời sống hiện thực. Chính ý thức hệ Kitô giáo nguyên thủy là sự phản ánh thất bại lịch sử của những người nô lệ khởi nghĩa chống lại đế quốc La Mã, đặc biệt là sau thất bại thảm hại của cuộc khởi nghĩa Spataquyt, khi ấy đạo Kitô ra đời, nó phán ánh những khát vọng giải phóng mà con người ta không đạt được trong thế giới hiện thực này thì họ sẽ tìm ra sự “giải phóng” trong thế giới thần linh của họ. Đồng thời, tôn giáo còn là động lực tinh thần thúc đẩy sự hình thành thiết chế tư bản chủ nghĩa ở châu Âu, đặc biệt sau cuộc cải cách Tin Lành Calvan (Pháp).

Tóm lại, chủ nghĩa Mác - Lênin không chủ trương chống tôn giáo hay tiêu diệt tôn giáo. Việc C.Mác mô tả tôn giáo như là “trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần”(22), việc tuyên bố “đối với nước Đức việc phê phán tôn giáo đã kết thúc”, “Việc phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán cuộc sống khổ ải mà tôn giáo là vòng hào quang thần thánh của nó”(23) đã cho thấy rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin không chủ trương tiêu diệt tôn giáo, chỉ chống các hành động xã hội của tôn giáo đi ngược lại lợi ích con người và tiến bộ xã hội. Xóa bỏ tôn giáo cũng chỉ là xóa bỏ đi các nền tảng quan hệ xã hội, các thể chế xã hội, các hiện tượng tạo ra sự tha hóa cần đến tôn giáo của con người, nhằm nỗ lực thay đổi thế giới. Việc phán xét, phê phán các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo mà không gắn với bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể thời của các ông, không gắn với văn mạch và hoàn cảnh của tác phẩm để hiểu thì đó là một sự phê phán phi nguyên tắc, hời hợt không có giá trị khoa học, một sự thành kiến chính trị ngu dốt. 

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo khi áp dụng vào cách thức mà các tôn giáo đang hiện diện và hoạt động hiện nay vẫn đúng. Xét cho đến cùng, tôn giáo đã đưa ra một mục tiêu lý tưởng và cách thức để cải thiện cuộc sống con người là có được một vị trí trên “thiên đường”, nhưng con người vẫn lựa chọn một vị trí thích hợp trong xã hội “trần thế” để từ đó họ có thể nâng cao đời sống bản thân mình và xã hội. Nên, chủ nghĩa duy linh đáng ra phải biết ơn chủ nghĩa Mác - Lênin vì chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa thần linh xuống “mặt đất” và nâng nhân loại lên mức độ “thần thánh” khiến tôn giáo có cơ hội để tồn tại lâu dài.

CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ RA SỨC XUYÊN TẠC CÔNG TÁC TỔ CHỨC BẦU CỬ, TUNG RA CÁC KIẾN NGHỊ VÔ CĂN CỨ

        Trên nhiều trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đang lan truyền những bài viết“xếp ghế” cho nhân sự trong Quốc hội. Các đối tượng rêu rao những luận điệu vô cùng độc hại, tiêu cực, cho rằng bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”. Những luận điệu này đã tiếp cận đến không ít người dùng mạng xã hội. Ngoài ra, trước vấn đề về số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội, đặc biệt là về số lượng đại biểu là người ngoài Đảng, các đối tượng cơ hội chính trị cũng tích cực chọc ngoáy, xuyên tạc, biến tướng bản chất vấn đề.

          Tại Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/1/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu là người ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các đối tượng xấu đã biến tướng, xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu hướng lái, cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng… Thậm chí, có đối tượng còn đòi xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản.

          Nhìn lại lịch sử, có thể thấy chiêu trò “đòi ghế” trong Quốc hội không phải là điều mới. Ngay trong lần tổng tuyển cử đầu tiên khi đất nước mới giành được độc lập, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến vô cùng phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt quốc, Việt cách) đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.

          Cũng cần cảnh giác rằng, hiện nay, các thế lực phản động, chống đối cũng tìm mọi thủ đoạn để phá hoại bầu cử, không loại trừ việc cài cắm các “mầm mống dân chủ” vào Quốc hội nhằm biến nghị trường trở thành diễn đàn để cách đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong.

          Do vậy, để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 thì ngay lúc này, việc nâng cao cảnh giác, nhận diện và chủ động đấu tranh, quyết liệt làm thất bại những thủ đoạn xuyên tạc, gây rối, bôi nhọ, phá hoại của các thế lực thù địch và các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị là điều rất cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết./.

TBQL 17 

CÁC CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHOÁ XV VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2021-2026

 

        Thời gian vừa qua, ngoài các website, trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành, một số trang báo nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam cũng liên tục tung ra những bài viết, bài phỏng vấn chứa đựng nội dung tiêu cực, thiếu chính xác về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tại nước ta. Các đối tượng xấu đưa ra luận điệu hết sức sai lệch và thâm hiểm như: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử” v.v…

          Căn cứ những nhận định phiến diện trên, các đối tượng xấu quy kết cho rằng cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bầu cử của công dân. Từ đây, các đối tượng đưa ra yêu sách đòi Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ v.v…

          Những luận điệu, nhận định mà các đối tượng đang rêu rao như trên là hoàn toàn sai sự thật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước ta quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đối với công tác bầu cử là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về mặt thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

          Nếu không có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng Cộng sản, chắc chắn nhiều vấn đề bất ổn sẽ nảy sinh, là mầm mống cho sự suy yếu của đất nước. Đảng lãnh đạo bầu cử không phải là làm thay, không bao biện, không khuynh loát trong bầu cử. Ngày 20/6/2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

          Bộ Chính trị xác định rõ công tác bầu cử diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. Chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức như: Sự ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; những diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế; hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta của các thế lực thù địch v.v… Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là điều cần thiết để củng cố, đoàn kết thống nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững./.

TBQL 17

Chiêu trò xúi giục phá hoại

 

         So với những lần bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp trước đây thì mức độ chống phá của các thế lực thù địch nước ngoài và cơ hội chính trị trong nước thời gian gần đây có diễn biến mới, trắng trợn, thâm độc và lan rộng trên mạng xã hội.

          Một trong những nội dung mà các đối tượng hướng tới là phát động phong trào “không biết không bầu”. Đây là chiêu thức cũ, vẫn lấy cảm hứng từ những câu chuyện "dân chủ phương tây", mà chính những xã hội đó đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hố sâu ngăn cách các bộ phận nhân dân như những vết thương không cầm máu.

          Như chúng ta đã biết, bầu cử là một biểu hiện tính dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền so với các chế độ chính trị đã có trong lịch sử như phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do.

          Bất chấp ý nghĩa tốt đẹp về bầu cử đã được hiến định, quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Như ngày 25-2, trên Facebook xuất hiện một thông tin có nội dung dưới dạng tờ rơi hỏi và trả lời được chia sẻ với tốc độ cao. Tại đây, đối tượng đưa ra các câu hỏi như: Đã từng thấy người nào diễn thuyết, kêu gọi bỏ phiếu cho họ chưa? ai là người đại diện cho quyền, lợi ích của bạn? đã có đại biểu Quốc hội nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho bạn chưa...? Trả lời cho các câu hỏi trên là những từ "chưa từng thấy", "chưa có" và đặc biệt là đi đến khẳng định nếu ứng cử viên bầu đại biểu Quốc hội có đề án nhưng không diễn thuyết thì không thể đại diện cho cử tri và thống nhất là không bầu. Cũng cuối tháng 2 vừa qua, NĐC, một nhân vật “trở cờ” ở Hà Nội đã viết trên Facebook cá nhân về cái gọi là “không biết không bầu”. Ông ta khẳng định, việc các cơ quan Trung ương giới thiệu nhân sự bầu đại biểu Quốc hội về các địa phương để ứng cử là một biểu hiện của “Đảng cử, dân bầu”. Những đại biểu ứng cử có chương trình nhưng không thuyết trình và tổ chức vận động tranh cử để nhân dân địa phương biết thì sẽ không bầu. Việc cử tri bầu những người này chỉ là hình thức. Họ không đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri mà chỉ bảo vệ lợi ích cho Đảng, nhằm đàn áp, thống trị nhân dân... Qua những lời ngụy biện ở trên, nhân vật này đã lợi dụng tính lan tỏa của mạng xã hội, kêu gọi cử tri thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu”.

          Phong trào kêu gọi “không biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được khẳng định.

          Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất.

          Thực tiễn cho thấy, thứ nhất, việc đưa ra và tuyên truyền, cổ xúy cho phong trào tự phát “không biết không bầu” là đi ngược lại với quy định của Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Điều 2 của luật này quy định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Thế nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì tự mình đã đánh mất quyền công dân, quyền cử tri mà pháp luật đã quy định. Xin nói thêm là, từ năm 1946 trở về trước, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, công dân Việt Nam chưa khi nào được hưởng không khí tự do, dân chủ đúng nghĩa; chưa ai được cầm trong tay phiếu bầu để bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Có thể nói, cùng với việc khai sinh, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) thì cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa I) diễn ra tại các tỉnh, thành phố trong cả nước vào ngày 6-1-1946, theo lối phổ thông đầu phiếu và lựa chọn ra 333 đại biểu cho Quốc hội là một bước tiến và dấu ấn lịch sử, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của toàn dân tộc. Từ đó đến nay, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội chính trị của nhân dân. Các quy định trong bầu cử cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, được luật hóa để sao cho phát huy quyền làm chủ của công dân, cử tri được cao nhất; bảo đảm bầu cử an toàn, thống nhất và hiệu quả. Vậy nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì khác nào “lấy đá ghè chân mình”, tự tước đi quyền, lợi ích của chính công dân và của chính cử tri.

          Thứ hai, việc tán phát thông tin trái luật đã khiến cho nhiều người lầm tưởng và hiểu sai lệch chế độ chính trị ở Việt Nam, cổ vũ cho tư tưởng dân chủ cực đoan, vô lối, chủ nghĩa dân túy. Thực tế, ở các nước phương Tây, việc bầu nghị viện và bầu ra nhà lãnh đạo đất nước được tiến hành khá cởi mở. Các ứng cử viên tự do xây dựng đề án, tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động tranh cử để cử tri lựa chọn. Tuy nhiên, hiện nay việc này đã xuất hiện những “gót chân Asin” mang biểu hiện lợi ích cục bộ, thao túng chính trị, tranh giành cử tri bằng mọi giá, triệt hạ đối thủ bằng mọi cách, gây bất bình giữa các tầng lớp trong xã hội. Những bất ổn, náo loạn, đổ máu... xung quanh bầu cử lãnh đạo cấp cao của một số quốc gia ngày càng cho thấy những bất đồng, phân biệt về quyền làm chủ của công dân giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội là rất khó có thể điều hòa. Những người cổ vũ tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ trong lúc này chẳng những thiếu hiểu biết, mà còn rắp tâm phá hoại đất nước.

          Thứ ba, phong trào tự phát “không biết không bầu” là một cái cớ để các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến có dịp phản bác lại sự ổn định chính trị, ổn định xã hội ở Việt Nam. Chúng mong muốn hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đối tác, ngăn các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những căn nguyên có thể cướp đi việc làm, thu nhập của người lao động trong xã hội và đặc biệt làm giảm động lực tinh thần hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường...

          Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng đồng thời là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong ngày hội lớn của đất nước.

Nguồn Báo QĐND

CÁC PHẦN TỬ CHỐNG PHÁ THỰC HIỆN CHIÊU TRÒ “TỰ ỨNG CỬ”, ĐỂ GÂY RỐI, PHÁ HOẠI CUỘC BẦU CỬ

            Có thể thấy mục đích cơ bản nhất của chiêu trò “tự ứng cử” mà các “nhà dân chủ” đang thực hiện là nhằm phá hoại bầu cử. Đồng thời, thông qua việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội, các đối tượng đánh bóng tên tuổi của bản thân trong giới “dân chủ”.

          Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, quyết định các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND.

          Chính vì vậy, những người tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định. Trong đó, các tiêu chuẩn cơ bản đối với ứng viên là: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm…

          Việc lựa chọn những ứng cử viên để bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp được tiến hành theo đúng quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước”./.

TBQL 17

Xem, đọc trên mạng xã hội bằng lý trí

    Phải khẳng định rằng, khi tham gia mạng xã hội, chúng ta có điều kiện giao lưu, kết bạn, chia sẻ nhanh và rộng rãi hơn quan điểm của mình tới các vấn đề xã hội mình quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại, vẫn còn những hạn chế, rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến lợi ích của người dùng, đặc biệt là tình trạng nhiễu loạn thông tin, gây mất định hướng tư tưởng, nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, tổ chức.

Cảnh giác với âm mưu phá hoại bầu cử đại biểu quốc hội khóa XV

    Cần phải nâng cao cảnh giác, kịp thời đấu tranh, xử lý nghiêm trước pháp luật với những thủ đoạn phá hoại, gây rối của các thế lực thù địch, không để cho những cá nhân, tổ chức nào đứng sau xuyên tạc, bôi nhọ chế độ, lợi dụng dân chủ để dẫn dắt dư luận xã hội, phá hoại cuộc bầu cử.

    Bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là sự kiện chính trị quan trọng, diễn ra trong thời điểm đại hội Đảng bộ các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vừa diễn ra thành công tốt đẹp. Thực hiện thành công cuộc bầu cử, sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nhằm bầu ra những người tiêu biểu có đủ đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

    Thế nhưng, đi ngược lại với mong muốn đó, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị lại tỏ thái độ hằn học, chống đối và xem đây là thời cơ để chống phá. Hiện nay lợi dụng không gian mạng, nhiều tổ chức phản động lưu vong như "Việt Tân", "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời", "Triều Đại Việt" và một số cá nhân, hội nhóm chống đối trong nước đang tiến hành các hoạt động kích động, xuyên tạc, cổ súy các hành vi trái luật liên quan bầu cử. Trong số đó Lê Văn Dũng (Dũng Vova), Lê Trọng Hùng... tại Hà Nội cầm đầu. Mục đích của chúng là lôi kéo số chống đối tự ứng cử tràn lan, xuyên tạc các quy định về bầu cử, gây mất an ninh trật tự, phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu HĐND các cấp sắp tới.

    Mới đây, trên facebook cá nhân của mình, đối tượng Lê Trọng Hùng đăng bài viết “Tự tranh cử ĐBQH là một đòi hỏi của dân tộc vì thế đó là bổn phận của công dân”. Trong bài viết của mình, Hùng ra sức phê phán các ĐBQH hiện nay, đồng thời tự cho rằng mình là mẫu “công dân gương mẫu, công dân chuẩn mực, công dân thuần chủng” mà được Hùng gọi chung là “đại công dân”, qua đó kêu gọi những “đại công dân” như Hùng sẵn sàng tham gia việc tự ứng cử ĐBQH trong nhiệm kỳ sắp tới, trong khi đó Hùng là đối tượng có "tiền án", đã từng bị cơ quan chức năng truy tố, xét xử về hành vi “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, sau khi ra tù, Hùng lại "ngựa quen đường cũ" tiếp tục chống phá chế độ; còn Dũng Vova đã thực hiện hàng nghìn video clip xuyên tạc, bôi đen, thổi phồng các vấn đề nhạy cảm của xã hội đăng trên các trang facebook. Ngoài ra, Lê Văn Dũng và Lê Trọng Hùng cùng các đối tượng chống đối đang tìm cách móc nối, lôi kéo, kích động khiếu kiện cực đoan tại các địa phương, thu thập thông tin về các vụ khiếu kiện, sau đó lồng ghép các nội dung xuyên tạc, bôi nhọ lãnh đạo, chống phá cuộc bầu cử để phát tán phát trên “Đài CHTV”...

    Từ nay đến ngày bầu cử, các thế lực thù địch sẽ tăng cường xuyên tạc chống phá cuộc bầu cử. Để cuộc bầu cử thành công tốt đẹp, cấp ủy Đảng các cấp cần triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Kiên quyết đấu tranh chống mọi luận điệu xuyên tạc, âm mưu, hoạt động phá hoại cuộc bầu cử, lợi dụng bầu cử để gây rối an ninh, trật tự, âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp phát huy vai trò tuyên truyền, vận động của người có uy tín, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

    Đặc biệt, cần phải nâng cao cảnh giác, kịp thời đấu tranh, xử lý nghiêm trước pháp luật với những thủ đoạn phá hoại, gây rối của các thế lực thù địch, không để cho những cá nhân, tổ chức nào đứng sau xuyên tạc, bôi nhọ chế độ, lợi dụng dân chủ để dẫn dắt dư luận xã hội, phá hoại cuộc bầu cử. Việc tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cũng là hành động cụ thể nhằm triển khai thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp, Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào thực tiễn cuộc sống./.


Nhận diện và đấu tranh với các hoạt động chống phá bầu cử

    Hiện nay, công tác chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đang được các cơ quan chức năng tích cực tiến hành. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị vẫn đang tiến hành nhiều hoạt động với tính chất chống phá hết sức quyết liệt. Đáng chú ý, các đối tượng chống phá ra sức xuyên tạc công tác tổ chức bầu cử, tung ra các kiến nghị vô căn cứ.

    Trên nhiều trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đang lan truyền những bài viết“xếp ghế” cho nhân sự trong Quốc hội. Các đối tượng rêu rao những luận điệu vô cùng độc hại, tiêu cực, cho rằng bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”. Những luận điệu này đã tiếp cận đến không ít người dùng mạng xã hội. Ngoài ra, trước vấn đề về số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội, đặc biệt là về số lượng đại biểu là người ngoài Đảng, các đối tượng cơ hội chính trị cũng tích cực chọc ngoáy, xuyên tạc, biến tướng bản chất vấn đề.

    Tại Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/1/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu là người ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). 

    Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các đối tượng xấu đã biến tướng, xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu hướng lái, cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng… Thậm chí, có đối tượng còn đòi xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản.

    Nhìn lại lịch sử, có thể thấy chiêu trò “đòi ghế” trong Quốc hội không phải là điều mới. Ngay trong lần tổng tuyển cử đầu tiên khi đất nước mới giành được độc lập, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến vô cùng phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt quốc, Việt cách) đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.

    Cũng cần cảnh giác rằng, hiện nay, các thế lực phản động, chống đối cũng tìm mọi thủ đoạn để phá hoại bầu cử, không loại trừ việc cài cắm các “mầm mống dân chủ” vào Quốc hội nhằm biến nghị trường trở thành diễn đàn để cách đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong.

    Do vậy, để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 thì ngay lúc này, việc nâng cao cảnh giác, nhận diện và chủ động đấu tranh, quyết liệt làm thất bại những thủ đoạn xuyên tạc, gây rối, bôi nhọ, phá hoại của các thế lực thù địch và các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị là điều rất cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết./.


Nhận diện và đấu tranh chống lại âm ưu xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử

    Thời gian vừa qua, ngoài các website, trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành, một số trang báo nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam cũng liên tục tung ra những bài viết, bài phỏng vấn chứa đựng nội dung tiêu cực, thiếu chính xác về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tại nước ta. Các đối tượng xấu đưa ra luận điệu hết sức sai lệch và thâm hiểm như: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử” v.v…

    Căn cứ những nhận định phiến diện trên, các đối tượng xấu quy kết cho rằng cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bầu cử của công dân. Từ đây, các đối tượng đưa ra yêu sách đòi Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ v.v…

    Những luận điệu, nhận định mà các đối tượng đang rêu rao như trên là hoàn toàn sai sự thật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước ta quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đối với công tác bầu cử là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

    Về mặt thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Nếu không có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng Cộng sản, chắc chắn nhiều vấn đề bất ổn sẽ nảy sinh, là mầm mống cho sự suy yếu của đất nước. Đảng lãnh đạo bầu cử không phải là làm thay, không bao biện, không khuynh loát trong bầu cử. Ngày 20-6-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

    Bộ Chính trị xác định rõ công tác bầu cử diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. Chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức như: sự ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; những diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế; hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta của các thế lực thù địch v.v… Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là điều cần thiết để củng cố, đoàn kết thống nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững./.


Đầu tư vào lương tâm

    Người ta thường đầu tư bất động sản, đầu tư chứng khoán,… mấy ai nghĩ đến đầu tư vào lương tâm.

    Trong cuộc chiến khốc liệt mang tên cuộc đời, mỗi chúng ta đều sẽ có cách riêng để sống sót và nỗ lực chạm đến cuộc sống gói gọn trong 3 chữ, sống an yên. Và thế là người người lo làm giàu, nhà nhà lo kiếm tiền. Người ta nghĩ trăm phương ngàn kế để kiếm tiền. Cuộc đua tiền bạc, giàu sang ấy cứ cuốn đi khiến ta mải miết theo những đồng tiền và rồi quên mất khoản đầu tư không tốn một đồng song lại đem đến giá trị lớn lao: Đầu tư vào lương tâm. 

    Có một thực tế đáng buồn, đời thực lại chẳng thiếu những kẻ đánh rơi lương tâm. Họ nghĩ cái tôi của người nhiều tiền lớn hơn của người ít tiền. Họ nghĩ giá trị của ông chủ cao hơn giá trị của người làm thuê. Họ nghĩ quan được đặc quyền, dân phải chịu bổn phận. 

    “Mục hạ vô nhân” dường như trở thành triết lý sống của một bộ phận người. Với họ, có tiền, có quyền đồng nghĩa với việc có đặc ân, có sùng bái. Thế mới có chuyện, ông Chi cục trưởng ở Tuyên Quang túm cổ áo, tát vào mặt một trung uý cảnh sát giao thông vì anh dám dừng xe của ông để kiểm tra nồng độ cồn. Thế mới có chuyện, bà phó phường ở Quảng Ninh sẵn giọng quát “con này mày điên rồi”, khi chị bán rau cố xin lại những mớ rau và chiếc xe cà tàng của mình. Thế mới có chuyện, ông Giám đốc của một công ty ở Sóc Trăng yêu cầu nhân viên nhận tội thay sau khi gây tai nạn.

    Đầu tư bất động sản, đầu tư chứng khoán,… ta có thể có tiền, có nhà, có xe, có sự xem trọng về hình thức. Đầu tư vào lương tâm ta có nụ cười, có lời cảm ơn, có sự kính trọng từ tâm. Hơn - thiệt phụ thuộc vào tiêu chuẩn của mỗi người nhưng… thứ không nhìn thấy được thường rất khó để định giá, giống như chuyện ông Huỳnh Bảo Toàn bên chiếc xe máy tặng cho người shipper nghèo; chuyện anh Nguyễn Ngọc Mạnh được gọi là người hùng khi cứu sống bé gái 3 tuổi bị rơi từ tầng 12A của chung cư 60B Nguyễn Huy Tưởng…

    Những thứ anh Toàn, anh Mạnh đang nhận được chẳng thể quy ra tiền, chẳng trả được tiền điện, tiền nhà hay tiền ăn. Nó chỉ mang đến cho 2 anh nụ cười và niềm vui nho nhỏ vì sự nổi tiếng bất đắc dĩ. Nhưng, phía sau nụ cười ấy là điều kỳ diệu vẽ nên từ 2 chữ lương tâm. Họ không chỉ thay đổi cuộc đời của một người mà của rất nhiều người. Họ không chỉ gieo hy vọng cho một người mà gieo hy vọng cho nhiều người. “Con đường an toàn nhất là không làm gì trái với lương tâm. Với bí mật này, chúng ta có thể hưởng thụ cuộc sống và không sợ chết”. Đầu tư vào lương tâm có bao giờ khiến ta thua lỗ?!


Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

    Diễn biến mới, phức tạp và khó nhận diện của biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đòi hỏi chúng ta phải hành động kiên quyết và khôn khéo để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ tổ chức, tạo ra hệ “miễn dịch” bảo vệ cán bộ, đảng viên. Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: 

    Một là, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, xây dựng bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng cho cán bộ, đảng viên. Về bản chất là trang bị cho cán bộ, đảng viên cả “thanh kiếm” và “khiên chắn” để tăng cường “sức đề kháng”, tạo hệ “miễn dịch” trong tư tưởng, nhận thức của mỗi người trước sự lôi kéo của các thế lực thù địch. V.I. Lê-nin đã từng nhắc nhở: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta” và bài học sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm 1989 - 1991 của thế kỷ trước là minh chứng sâu sắc cho luận điểm này.

    Hai là, phát huy vai trò của tổ chức đảng để ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ cơ sở. Mỗi chi bộ, đảng bộ cần làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay; quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng chính trị; kịp thời phát hiện những nhận thức lệch lạc và giáo dục, định hướng, giải quyết tốt để tạo sức đề kháng từ phía tổ chức. Có lẽ, đã đến lúc mỗi chi bộ, đảng bộ cần quy định rõ những vấn đề cán bộ, đảng viên không được tham gia trên mạng xã hội; từ đó, xây dựng rào chắn và ý thức, trách nhiệm đúng đắn của cán bộ, đảng viên khi tham gia, tiếp nhận, xử lý thông tin trên mạng xã hội.

    Ba là, đầu tư, hiện đại hóa các phương tiện, công cụ truyền thông để tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch. Các chiêu thức chống phá tinh vi đòi hỏi công tác đấu tranh không chỉ dừng lại ở việc hô khẩu hiệu, mà quan trọng là chúng ta phải bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận sắc bén, thuyết phục. Đồng thời, khai thác tốt vai trò công nghệ để giám sát các thông tin độc hại ngay từ nguồn phát tán để ngăn chặn từ sớm, từ xa; để mở rộng tối đa phạm vi bao phủ của thông tin chính thống trên hệ sinh thái truyền thông, tạo khả năng áp đảo cần thiết trong các loại hình chiến tranh thông tin. Do đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ giỏi về công nghệ trong các cơ quan chuyên môn để quản lý, sàng lọc, định hướng thông tin, định hướng những vấn đề cần tập trung đấu tranh; đồng thời, sử dụng công nghệ để vạch trần, chỉ ra những mánh khóe, thủ đoạn, âm mưu ẩn chứa tinh vi trong những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, cần ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trước những tiêu cực, mặt trái, những vấn đề chính trị - xã hội phức tạp; nâng cao chất lượng các bài viết, bài bình luận, thiết kế âm thanh, hình ảnh hiện đại, tiện ích, đa phương tiện để thu hút sự quan tâm của độc giả trong nội bộ các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cả xã hội.

    Bốn là, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc tự tu dưỡng, tự học tập để nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng. Đó là con đường tự thân nhằm nâng cao sức đề kháng thông qua khả năng tự nhận biết, tự phân loại, sàng lọc và định hướng thông tin để tự bảo vệ mình, bảo vệ tổ chức trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; không để lực lượng thù địch có cơ hội lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, chống phá. Rõ ràng là khi mỗi cán bộ, đảng viên đều có ý thức cảnh giác, tự “hoàn thiện” cơ chế tự phòng vệ bằng trình độ lý luận chính trị và nhận thức, hiểu biết của mình thì không kẻ thù nào khiến chúng ta có thể “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”./.


Nhận BHXH một lần: Người lao động thiệt đủ đường!

 Mặc dù biết thanh toán Bảo hiểm xã hội (BHXH) một lần sẽ mất nhiều quyền lợi nhưng thời gian gần đây nhiều người lao động tại Quảng Ninh vẫn lựa chọn giải pháp này do gặp khó khăn.

Chị Trần Hà Trang (42 tuổi, ở phường Hà Trung, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) vốn là công nhân một công ty xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Chị từng đóng BHXH bắt buộc gần 20 năm. Tuy nhiên vào cuối năm 2020, chị Trang đã xin nghỉ việc để làm ở nơi khác.

Do gia đình gặp khó khăn, cần tiền chữa bệnh cho người thân trong khi không có tiền tích lũy, chị Trang đã quyết định thanh toán BHXH 1 lần. Sau khi thanh toán số tiền chị Trang nhận được là hơn 100 triệu đồng.

Dù vẫn biết là nhận BHXH một lần sẽ mất đi nhiều quyền lợi lâu dài nhưng do dịch bệnh kéo dài, chồng chị đang lâm vào cảnh thất nghiệp nên chị Trang không còn lựa chọn khác.

Tương tự, anh Nguyễn Văn Chung (46 tuổi, ở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) từng làm việc tại một Trung tâm đào tạo nghề trên địa bàn thị xã gần 20 năm và đóng BHXH tương đương với số năm làm việc.

Năm 2019, anh Chung xin nghỉ việc, nhận sổ BHXH để bảo lưu và có kế hoạch sẽ đóng BHXH tự nguyện tiếp theo. Tuy nhiên gần đây do gặp khó khăn về tài chính, anh Chung quyết định thanh toán BHXH một lần và nhận được số tiền hơn 100 triệu đồng.

Theo tìm hiểu, việc thanh toán BHXH một lần không chỉ có 2 trường hợp trên mà còn rất nhiều trường hợp khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh do gặp khó khăn về tài chính đã phải lựa chọn giải pháp này.

Thậm chí, tình trạng trên còn có phần gia tăng trong đầu năm 2021 do ảnh hưởng của dịch bệnh, người lao động mất việc, không có thu nhập…

Theo số liệu từ tỉnh Quảng Ninh, chỉ trong quý I/2021, cơ quan BHXH tỉnh đã tiếp nhận và giải quyết cho hơn 1.200 hồ sơ thanh toán BHXH một lần, tăng hơn 1% so với cùng kỳ năm 2020.

Một lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh phân tích, thanh toán BHXH một lần chỉ giải quyết nhu cầu khó khăn về kinh tế trước mắt, về lâu dài người lao động sẽ mất đi nhiều quyền lợi từ chính sách BHXH mang lại cho bản thân. Đặc biệt sẽ rất khó khăn khi tuổi cao, không còn khả năng lao động, bệnh tật…nhưng không có lương hưu, không có thẻ BHYT.

Theo cơ quan BHXH tỉnh, nhằm giảm thiểu tình trạng trên, đơn vị đã chỉ đạo các bộ phận liên quan tiếp tục tuyên truyền, vận động người lao động khi đến làm thủ tục để thay đổi quyết định thanh toán 1 lần, tiếp tục tham gia bảo hiểm tự nguyện hoặc chờ thời gian đi làm trở lại ở đơn vị mới, doanh nghiệp mới tiếp tục tham gia bảo hiểm bắt buộc.

Cũng theo BHXH tỉnh, trong quá trình thực hiện tuyên truyền, vận động cũng đã có nhiều người lao động thay đổi ý định thanh toán một lần, tiếp tục tham gia đóng BHXH.

Thêm 3 ca Covid-19, Việt Nam có 2.696 bệnh nhân

 Sáng 12/4, Bộ Y tế thông tin đây là 3 ca nhập cảnh, đều từ Nhật Bản về nước, được cách ly tại Hà Nội và Thái Nguyên.

Tính từ 18h ngày 11/4 đến 6h ngày 12/4, nước ta có 3 ca mắc mới Covid-19 (BN2694-2696) được cách ly ngay sau khi nhập cảnh tại Hà Nội (2) và Thái Nguyên (1).

Cụ thể:

- CA BỆNH 2694 (BN2694) ghi nhận tại Thành phố Hà Nội: Bệnh nhân nam, 32 tuổi, công dân Việt Nam, địa chỉ tại huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

- CA BỆNH 2695 (BN2695) ghi nhận tại Thành phố Hà Nội: Bệnh nhân nam, 23 tuổi, công dân Việt Nam, địa chỉ tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.

Ngày 9/4, BN2694-2695 từ Nhật Bản nhập cảnh Sân bay Nội Bài và được cách ly ngay sau khi nhập cảnh tại Thành phố Hà Nội. Kết quả xét nghiệm ngày 11/4 dương tính với SARS-CoV-2.

Hiện các bệnh nhân được cách ly, điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh.

 - CA BỆNH 2696 (BN2696) ghi nhận tại tỉnh Thái Nguyên: Bệnh nhân nữ, 23 tuổi, công dân Việt Nam, địa chỉ tại huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

Ngày 9/4, bệnh nhân từ Nhật Bản nhập cảnh Sân bay Nội Bài và được cách ly ngay sau khi nhập cảnh tại tỉnh Thái Nguyên. Kết quả xét nghiệm ngày 11/4 dương tính với SARS-CoV-2.

Hiện bệnh nhân được cách ly, điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh.

Như vậy, tính đến 6h ngày 12/4, Việt Nam có tổng cộng 2.696 ca Covid-19, trong đó có 1.570 ca mắc do lây nhiễm trong nước, số lượng ca mắc mới tính từ ngày 27/1 đến nay là 910 ca.

Giá vàng tuần mới diễn biến thế nào khi đối diện với các áp lực lớn?

 Lúc 7h sáng nay, giá vàng giao ngay tại châu Á qua niêm yết của Kitco.com có biên độ giảm nhẹ, giao dịch ở mức 1.742,6 USD/ounce.

Chốt phiên giao dịch cuối tuần qua, giá vàng SJC tại Hà Nội qua niêm yết của một số doanh nghiệp vàng lớn ở mức 54,8 triệu đồng/lượng (mua vào) - 55,25 triệu đồng/lượng (bán ra) đối với giao dịch bán lẻ và bán buôn.

Giá vàng SJC tại TP.HCM được doanh nghiệp chốt tuần ở mức 54,8 triệu đồng/lượng - 55,25 triệu đồng/lượng.

Trên thế giới, lúc 7h sáng 12/4 giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tại châu Á qua niêm yết của Kitco.com có biên độ giảm nhẹ, giao dịch ở mức 1.742,6 USD/ounce.

Giá vàng có biên độ giảm nhẹ nhưng kỳ vọng vàng tiếp tục tăng vẫn khá lớn với các nhà phân tích và đầu tư.

Theo kết quả khảo sát mới nhất từ Kitco News, tâm lý trong ngắn hạn trên thị trường một lần nữa lại tăng lên khi kim loại quý này kết thúc tuần với mức gần như cao nhất trong 2 tuần trở lại đây.

Tuần này, 60% nhà phân tích Phố Wall tham gia khảo sát dự đoán giá vàng tăng, 20% dự đoán giá giảm và 20% cho rằng thị trường sẽ đi ngang.

Còn tại phố Main, 778 trên tổng số 1.201 phiếu bầu (tương đương 65%) dự đoán giá đi lên, 236 phiếu (tương đương 20%) dự đoán giá sẽ thấp hơn và 187 phiếu còn lại (tương đương 16%) giữ ý kiến trung lập.

Adam Button, trưởng bộ phận chiến lược tiền tệ tại Forexlive.com, cho hay, thị trường đang ở một vị trí bấp bênh. Mức đóng cửa trên 1.755 USD/ounce sẽ xác nhận đáy kép của tháng 3 và hướng đến 1.840 USD. Nếu điều đó không thành công, vàng sẽ quay trở lại mức 1.676 USD hoặc thấp hơn.

Theo Adrian Day, Chủ tịch của Adrian Day Asset Management, mặt hàng kim loại quý đang gặp một số rủi ro giảm giá khi thị trường bước vào giai đoạn hợp nhất và dự đoán giao dịch sẽ duy trì trong khoảng 1.680 - 1.745 USD/ounce trước khi bứt phá theo chiều hướng tăng.

"Sốt" đất hầm hập: Có nơi tăng gấp 3, bất ngờ xuất hiện chỗ chạm đáy

  "Sốt" đất hầm hập, có nơi tăng gấp 3: Hé lộ thị trường được "săn" nhiều nhất; Dân Đồng Kỵ bán đất lấy tiền nhập gỗ, giá nhiều nơi chạm đáy... là những thông tin bất động sản nổi bật tuần qua.

"Sốt" đất hầm hập, có nơi tăng gấp 3: Hé lộ thị trường được "săn" nhiều nhất

Giá bất động sản tăng nhanh tại nhiều thị trường mới, với mức tăng phổ biến 10-30%, một số nơi giá đất tăng gấp 2-3 lần trong thời gian ngắn.

Đó là thông tin đáng chú ý được ông Nguyễn Quốc Anh - Phó Tổng Giám đốc batdongsan.com.vn - cho biết tại buổi họp báo công bố về thị trường bất động sản quý I/2021, diễn ra ngày 6/4.

Không chỉ các tỉnh thành vệ tinh mà khu vực vùng ven quanh bán kính 20km của Hà Nội cũng chứng kiến mức độ quan tâm tăng đáng kể trong quý 1/2021. Cụ thể, Đông Anh (Hà Nội) tăng 36%, Từ Sơn (Bắc Ninh) tăng 67%, Gia Lâm (Hà Nội) tăng 18%, Ba Vì (Hà Nội) tăng 33%, Quốc Oai (Hà Nội) tăng 32%, Văn Giang (Hưng Yên) tăng 13%, Thanh Trì (Hà Nội) tăng 8%, Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm (Hà Nội) tăng 4%.

Dân Đồng Kỵ bán đất lấy tiền nhập gỗ, giá nhiều nơi gần như chạm đáy

Do đại dịch, hoạt động kinh doanh ở làng Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh) tê liệt một thời gian dài. Không ít hộ phải bán đất trả lãi ngân hàng, khi dịch ổn lại phải bán cắt lỗ nhập gỗ khôi phục sản xuất.

"Người bán để trả nợ, người bán để phát triển kinh doanh nên đất ở khu vực Từ Sơn đang được rao bán rất nhiều", chị D - một người kinh doanh gỗ tại Từ Sơn nói. Song, cũng theo chủ xưởng gỗ này, lượng cung cao hơn nhu cầu thực tế, nên giá đất ở đây đang chạm đáy.

Từ Sơn vốn là nơi giao lưu mua bán gỗ rất nhộn nhịp của khách trong và ngoài nước. Do đó, có rất nhiều người tìm về đây mua nhà, đất để làm ăn kinh doanh, xây dựng nhà xưởng. Thế nhưng, sau ảnh hưởng của dịch bệnh, giá đất ở đây đã "hạ nhiệt" rất nhiều.

Giá đất tăng 200%: Nhiều thông tin mới chỉ rò rỉ, giá đã bị đẩy lên rất cao

Tại tọa đàm "Giải mã cơn sốt đất", ông Lê Văn Bình - Cục trưởng Cục Kinh tế và Phát triển quỹ đất (Tổng cục Quản lý đất đai) - cho biết, cơn sốt đất lần này có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân cộng hưởng. Yếu tố đầu tiên là do quy hoạch.

Ông Trần Ngọc Minh, Trưởng phòng Quản lý nhà và Thị trường Bất động sản - Sở Xây dựng Hà Nội, cũng đồng tình cho rằng hiện nay, "cơn sốt" đất ở Hà Nội có một số nguyên nhân như ông Bình phân tích. Theo đó, việc "sốt đất" do một số nguyên nhân như tính chu kỳ, xu hướng đầu tư của dòng tiền và quy hoạch.

Bên cạnh đó, ông Minh cho biết còn có một số nguyên nhân khác: Thứ nhất, 2021 là năm đầu tiên chúng ta thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ 17 và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, trong đó có chỉ tiêu về phát triển nhà ở, cải thiện điều kiện nhà ở cho người dân….

"Giá đất được đẩy lên cao nhất trong thời gian qua là đất ở nông thôn, đất vườn ao, đất lâm nghiệp… Có những nơi tăng lên 100%, có nơi tăng đột biến 200%", ông Minh nói. 

TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ CA NGỢI ĐỘI NGŨ LÃNH ĐẠO MỚI CỦA VIỆT NAM Thông tin về đội ngũ lãnh đạo mới của Việt Nam được truyền thông quốc tế đồng loạt đăng tải trong những ngày qua. Hãng tin Reuters ngày 5/4, đưa tin ông Phạm Minh Chính được Quốc hội Việt Nam bầu làm Thủ tướng với 96,25% số phiếu tán thành. Ông Phạm Minh Chính là "Thủ tướng đầu tiên chưa từng giữ chức Phó Thủ tướng kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới", theo hãng thông tấn Anh. Trong khi đó, tờ báo tài chính Mỹ Bloomberg đưa tin ông Nguyễn Xuân Phúc, 66 tuổi, đã được bầu làm Chủ tịch nước. Bloomberg cũng cho biết, trong nhiệm kỳ Thủ tướng của ông Nguyễn Xuân Phúc, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh, đạt 7,08% năm 2018, với đầu tư nước ngoài đạt mức cao nhất khoảng 30 tỷ USD, tăng 44%, năm 2017. Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế khen ngợi vì thành tích trong kiềm chế đại dịch Covid-19. Tạp chí Nikkei của Nhật Bản đánh giá ông Nguyễn Xuân Phúc là "người có công lao duy trì nền kinh tế phát triển ổn định bất chấp đại dịch" khi làm Thủ tướng. "Trên cương vị Chủ tịch nước, ông Nguyễn Xuân Phúc sẽ là nhà ngoại giao hàng đầu đất nước", Nikkei đánh giá. Nikkei cũng dẫn lời GS Ngô Vĩnh Long, một học giả lâu năm về các lĩnh vực lịch sử Đông Nam Á, Đông Á và quan hệ châu Á - Mỹ nhận định, Việt Nam sẽ nỗ lực duy trì ổn định xã hội, chính trị nhằm giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 6% trong tương lai gần". Nikkei dẫn phân tích của giới chuyên gia cho rằng, ông Phạm Minh Chính trở thành Thủ tướng "phù hợp với việc Hà Nội sẽ tiếp tục đẩy mạnh chống tham nhũng, một sáng kiến chủ chốt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong hai nhiệm kỳ qua". Hãng này cũng trích bình luận của giáo sư Carl Thayer thuộc Đại học New South Wales cho rằng, "các ưu tiên trước mắt của tân Thủ tướng Việt Nam là đánh bại Covid-19 và khởi động phục hồi nền kinh tế". Hãng tin Nhật Bản cho biết, ưu tiên của ban lãnh đạo mới là tiếp tục nỗ lực duy trì sự tăng trưởng kinh tế - điều hiếm thấy trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hiện nay. St