Thứ Tư, 28 tháng 4, 2021

Cơ cấu, thành phần các ứng cử viên đại biểu Quốc hội ở Trung ương

Từ kết quả Hội nghị hiệp thương lần thứ hai của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngày 28/3/2021, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1244/NQ-UBTVQH14 điều chỉnh lần thứ hai cơ cấu, thành phần, số lượng người của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Cụ thể, số lượng ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XV ở Trung ương là 205 người. Cơ cấu, thành phần, số lượng người được phân bổ ở từng cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương như sau các cơ quan Đảng là 11 người; Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch nước là 3 người; Các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội (đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở Trung ương): 130 người; Chính phủ, cơ quan thuộc Chính phủ (bao gồm cả Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ Công an) là 15 người; Lực lượng vũ trang là 14 người; Tòa án nhân dân tối cao là 1 người; Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 1 người; Kiểm toán Nhà nước là 1 người; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là 29 người. Trong số 205 người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội ở Trung ương, có 46 người là nữ giới (22,43%); 20 người là dân tộc thiểu số (9,7%); 4 người ngoài Đảng (1,9%); tái cử 100 người (48,78%); trẻ tuổi là 5 người (2,43%); Giáo sư, Phó Giáo sư là 16 (7,8%); Tiến sỹ 63 người (30,7%); Thạc sỹ 94 người (45,85%); Đại học và tương đương 32 người (15,6%). Đáng chú ý, trong số 205 người được các cơ quan Trung ương giới thiệu ứng cử có 4 người ngoài Đảng, là các ông Nguyễn Văn Thân (Chủ tịch Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ); Nguyễn Tiến Thiện (Thượng tọa Thích Đức Thiện, Hội đồng trị sự giáo hội Phật giáo Việt Nam); Nguyễn Văn Riễn (linh mục, nhà thờ Thánh Giuse, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương); Nguyễn Lân Hiếu (Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội). Ngày 16/4, Hội nghị hiệp thương lần thứ 3 của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thông qua danh sách 205 người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV. Sau đó, Hội đồng bầu cử quốc gia ban hành nghị quyết phân bổ người của các cơ quan Trung ương về ứng cử tại các địa phương, số ứng viên tham gia chỉ còn 203 người, giảm 2 người so với danh sách đã được Hội nghị hiệp thương lần 3 thông qua. Theo Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, dự kiến phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo nguyên tắc: mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất là 3 đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương; số lượng đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương, bảo đảm tổng số đại biểu Quốc hội dự kiến được bầu là 500 đại biểu; bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất là 6 đại biểu. Dự kiến phân bổ đại biểu Trung ương ứng cử ở địa phương theo nguyên tắc: Đoàn đại biểu Quốc hội có 6 đại biểu thì có 2 đại biểu Trung ương; Đoàn đại biểu Quốc hội có 7 đại biểu thì có 3 đại biểu Trung ương; Đoàn đại biểu Quốc hội có 8 đại biểu thì có 3-4 đại biểu Trung ương; Đoàn đại biểu Quốc hội có 9 đại biểu thì có 4 đại biểu Trung ương; Đoàn đại biểu Quốc hội có 11 đến 14 đại biểu thì có 5-7 đại biểu Trung ương; Đoàn đại biểu Quốc hội có 29-30 đại biểu thì có 14-15 đại biểu Trung ương.

Gấp rút chuẩn bị cho cuộc sát hạch cuối cùng

Theo luật định, ngay sau khi công bố danh sách các ứng viên chính thức, quá trình vận động tranh cử sẽ bắt đầu và kéo dài đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ. Đáng chú ý, trong quá trình vận động tranh cử, các ứng cử viên sẽ được tham gia các hội nghị tiếp xúc cử tri do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh tổ chức cho người ứng cử đại biểu Quốc hội; và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tổ chức cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Có thể nói, đây là đợt sát hạch cuối cùng đối với tất cả các ứng cử viên trước khi cử tri bỏ lá phiếu quyết định ứng cử viên nào sẽ được tín nhiệm trở thành người đại biểu của nhân dân tại cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp Trung ương đến địa phương. Để chuẩn bị tốt cho đợt sát hạch quan trọng này, ngay từ bây giờ các ứng cử viên đã phải tập trung, gấp rút lên chương trình hành động cho vận động tranh cử. Trình bày chương trình hành động dễ hiểu; lắng nghe ý kiến khi tiếp xúc cử tri; chỉ hứa những gì trong thẩm quyền của mình nếu được bầu. Đây là lời nhắn nhủ của các chuyên gia, các đại biểu Quốc hội khóa trước gửi tới các ứng cử viên khi tham gia các hoạt động vận động bầu cử, tiếp xúc cử tri tới đây. Cũng theo các chuyên gia, không có quy định cụ thể về nội dung Chương trình hành động, tuy nhiên để Chương trình hành động có tính thuyết phục, tạo sự tin tưởng, ủng hộ của cử tri thì cần được xây dựng rõ ràng, thiết thực, hiệu quả, khả thi. Chương trình không nên dài dòng, cần bám sát quy định của pháp luật về chức năng, thẩm quyền của người đại biểu, đưa ra những vấn đề bản thân có thể thực hiện được trong khả năng của mình trên cương vị là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Nội dung phải chuyển tải được những yêu cầu, những mong mỏi của cử tri nơi mình ứng cử, đồng thời gắn với những vấn đề nóng, bức xúc chung của cả nước cần phải được giải quyết. Bên cạnh đó, việc nắm bắt rõ tình hình kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng, đời sống dân sinh ở địa phương nơi tiếp xúc có một ý nghĩa quan trọng đối với các ứng cử viên trong quá trình vận động bầu cử. Kiến thức, thông tin này giúp cho ứng viên xây dựng được chương trình hành động tốt, thể hiện trong nội dung bản thuyết trình tại các cuộc tiếp xúc cử tri, phỏng vấn trên truyền hình, bài viết trên báo chí cũng như các tình huống giải đáp các câu hỏi của cử tri đặt ra trong quá trình vận động bầu cử./.

Tuyên truyền sâu rộng đấu tranh với những âm mưu chống phá bầu cử Quốc hội

 

Để đảm bảo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, bầu được những đại biểu đủ tiêu chuẩn, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân và thành công tốt đẹp, các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp.

Dân chủ trong bầu cử hay cơ chế thực hành dân chủ trong bầu cử thực chất đó chính là sự công khai, minh bạch. Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND sắp tới, tính công khai, minh bạch được thể hiện rất rõ trong trình tự các công việc chuẩn bị cho cuộc bầu cử. Công tác chuẩn bị nhân sự bầu cử phải được đặc biệt chú trọng.

Các khâu, các bước hiệp thương, giới thiệu ứng cử viên và hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc giữa cử tri với người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp phải được tổ chức chặt chẽ, đảm bảo dân chủ, bình đẳng, đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan chức năng, tạo điều kiện thuận lợi để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử trình bày chương trình hành động của mình trước cử tri nếu trúng cử.

Để phòng, chống những luận điệu bóp méo, xuyên tạc về cuộc bầu cử, xúc phạm đến quyền và nghĩa vụ công dân trong bầu cử, trước hết chúng ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm làm cho nhân dân hiểu rõ về vị trí, vai trò của Quốc hội và HĐND các cấp cũng như ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử lần này.

Cùng với đó nhân dân, cử tri cả nước cần được quán triệt, phổ biến kỹ các quy định của pháp luật, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân trong công tác bầu cử và tham gia xây dựng bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Người dân hiểu rõ, nhận thức đúng, đó là cơ sở để mỗi cử tri tích cực, tự giác thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân của mình trong tham gia bầu cử. Song hành với công tác tuyên truyền, các cấp, các ngành, các địa phương cần phát động phong trào thi đua yêu nước, thi đua quyết thắng thiết thực lập thành tích chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Các lực lượng chức năng của từng địa phương, cơ quan, đơn vị cần khẩn trương triển khai toàn diện các mặt công tác, có phương án bảo vệ cụ thể nhằm bảo đảm môi trường thực sự an toàn để nhân dân, cử tri cả nước được tham gia ứng cử, bầu cử một cách dân chủ, công khai, công bằng theo đúng quy định của pháp luật.

Mặt khác trước luồng thông tin đa dạng trên không gian mạng hiện nay, mỗi người dân cần nâng cao “sức đề kháng”, tỉnh táo khi tiếp cận thông tin. Đặc biệt trước những thông tin trái chiều, cần thận trọng, kiểm tra lại độ chính xác, tránh những hành động vội vàng, bộc phát gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng tiêu cực tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Khi phát hiện thấy những thông tin “xấu, độc”, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước; xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật cần báo ngay cho lực lượng chức năng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý.

Đối với các đơn vị, lực lượng chức năng bằng các biện pháp nghiệp vụ thường xuyên rà soát, phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, kích động người dân gây rối an ninh trật tự ảnh hưởng tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Đặc biệt từ nay đến ngày chính thức diễn ra cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tuyên truyền xuyên tạc và gia tăng các hoạt động chống phá. Một việc làm hết sức quan trọng là chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, chủ động và kiên quyết đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị.

Công bố danh sách 868 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV .

Hội đồng bầu cử Quốc gia đã công bố danh sách 868 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV tại 184 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 đại biểu Quốc hội khóa XV. .Bà Nguyễn Thị Thanh, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Trưởng ban Công tác đại biểu Quốc hội cung cấp thông tin cho báo chí tại cuộc họp báo. Theo đồng chí Bùi Văn Cường, Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chánh Văn phòng Hội đồng bầu cử Quốc gia, trong tổng số 868 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV theo từng đơn vị bầu cử, số người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV do Trung ương giới thiệu là 203 người, địa phương có 665 người, đạt tỷ lệ 1,74 người ứng cử trên một đại biểu được bầu (trong đó có 9 người tự ứng cử). CƠ CẤU KẾT HỢP CHUNG CỦA CẢ NƯỚC Người ứng cử là phụ nữ có 393 người, chiếm tỉ lệ 45,28%. Người ứng cử là người dân tộc thiểu số là 185 người, chiếm tỉ lệ 21,31%. Người ứng cử là người ngoài Đảng có 74 người, chiếm tỉ lệ 8,53%. Về trình độ chuyên môn: Người ứng cử có trình độ trên đại học có 564 người, chiếm tỉ lệ 64,98%. Người ứng cử có trình độ đại học có 294 người, chiếm tỉ lệ 33,87%. Người ứng cử có trình độ dưới đại học là 10 người, chiếm tỉ lệ 1,15%. Về trình độ lý luận chính trị: Cử nhân có 55 người, chiếm tỉ lệ 6,34%; Cao cấp có 587 người, chiếm tỉ lệ 67,63%; Trung cấp có 111 người, tỉ lệ 12,79%; Sơ cấp có 35 người, chiếm tỉ lệ 4,03%. Có 80 người không có chứng chỉ về trình độ lý luận chính trị, chiếm tỉ lệ 9,22%. Về trình độ ngoại ngữ, tin học: Hầu hết người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, tin học. Người ứng cử là đại biểu Quốc hội khóa XIV tái cử có 205 người, chiếm tỉ lệ 23,62%; Người ứng cử là người trẻ tuổi (dưới 40 tuổi) có 224 người, chiếm tỉ lệ 25,81%. Về độ tuổi bình quân (tính trung bình trong 868 người ứng cử) có 46 tuổi. Người cao tuổi nhất là 77 tuổi, người trẻ tuổi nhất là 24 tuổi. CƠ CẤU NGƯỜI ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở TRUNG ƯƠNG Trong số 203 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV ở Trung ương: Các cơ quan Đảng có 11 người, chiếm tỉ lệ 5,42%. Cơ quan Chủ tịch nước và các cơ quan tư pháp có 5 người, chiếm tỉ lệ 2,46%. Các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương) có 129 người, chiếm tỉ lệ 63,55%. Chính phủ, cơ quan thuộc Chính phủ (bao gồm cả Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an) có 15 người, tỉ lệ 7,39%. Lực lượng vũ trang: Quân đội (cơ quan Bộ, các quân khu, quân chủng và lĩnh vực trọng yếu) có 12 người, chiếm tỉ lệ 5,91%. Công an có 2 người, chiếm tỉ lệ 0,99%. Kiểm toán nhà nước 1 người, chiếm tỉ lệ 0,49%. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có 28 người, chiếm tỉ lệ 13,79%. Về cơ cấu kết hợp: Phụ nữ có 45 người, chiếm tỉ lệ 22,17%; Dân tộc thiểu số có 22 người, chiếm tỉ lệ 10,84%; Tôn giáo có 4 người, chiếm tỉ lệ 1,97%; Người ngoài Đảng có 4 người, chiếm tỉ lệ 1,97%. Về trình độ học vấn: Trên Đại học có 168 người, chiếm tỉ lệ 82,76%; Đại học có 35 người, chiếm tỉ lệ 17,24%; dưới Đại học không có; Tái cử có 99 người, chiếm tỉ lệ 48,77%; Trẻ nhất có 5 người, chiếm tỉ lệ 2,46%. CƠ CẤU NGƯỜI ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG Trong số 665 người ứng cứ đại biểu Quốc hội khóa XV ở địa phương: Người ứng cử là phụ nữ có 348 người, chiếm tỷ lệ 52,33%. Người ứng cử là người dân tộc thiểu số có 163 người, chiếm tỷ lệ 24,51%. Người ứng cử là người ngoài Đảng có 70 người, chiếm tỷ lệ 10,53%. Về trình độ chuyên môn: Người ứng cử có trình độ trên đại học có 396 người, chiếm tỉ lệ 59,55%. Người ứng cử có trình độ đại học có 259 người, chiếm tỉ lệ 38,95%. Người ứng cử có trình độ dưới đại học có 10 người, chiếm tỉ lệ 1,5%. Người ứng cử là trẻ tuổi (dưới 40 tuổi) có 219 người, chiếm tỉ lệ 32,93%. Người ứng cử là đại biểu Quốc hội khóa XIV tái cử có 106 người, chiếm tỉ lệ 15,94%. Tại cuộc họp báo, báo chí có nêu: Gần đây cơ quan điều tra có làm việc với Bệnh viện Tim Hà Nội về những vấn đề pháp luật có liên quan đến thời điểm ông Nguyễn Quang Tuấn (Đại biểu Quốc hội khóa XIV, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai) làm Giám đốc. Hiện ông Tuấn là một trong ứng viên ứng cử tại Hà Nội. Vậy Hội đồng bầu cử Quốc gia có nhận được thông tin này và có thông tin gì mới về trường hợp này? Trả lời câu hỏi này, Trưởng ban Công tác đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cho biết: Trường hợp ông Nguyễn Quang Tuấn, thì Trưởng ban Công tác đại biểu Quốc hội đã biết thông qua báo chí. Tiểu ban nhân sự đã chủ động có văn bản gửi Bộ Công an để biết thông tin chính thức về ông Nguyễn Quang Tuấn. “Chúng tôi nhận được văn bản 1123 của Bộ Công an. Đây là văn bản tuyệt mật. Đến tại thời điểm này, Bộ Công an đang trong quá trình điều tra. Bộ Công an có khẳng định ông Nguyễn Quang Tuấn có ký một số văn bản liên quan. Nhưng để khẳng định có vi phạm pháp luật hay không thì còn đang trong quá trình điều tra”, bà Nguyễn Thị Thanh cho hay.

Công bố danh sách 868 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV

Hội đồng bầu cử Quốc gia đã công bố danh sách 868 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV tại 184 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 đại biểu Quốc hội khóa XV. . Bà Nguyễn Thị Thanh, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Trưởng ban Công tác đại biểu Quốc hội cung cấp thông tin cho báo chí tại cuộc họp báo. Theo đồng chí Bùi Văn Cường, Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chánh Văn phòng Hội đồng bầu cử Quốc gia, trong tổng số 868 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV theo từng đơn vị bầu cử, số người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV do Trung ương giới thiệu là 203 người, địa phương có 665 người, đạt tỷ lệ 1,74 người ứng cử trên một đại biểu được bầu (trong đó có 9 người tự ứng cử). CƠ CẤU KẾT HỢP CHUNG CỦA CẢ NƯỚC Người ứng cử là phụ nữ có 393 người, chiếm tỉ lệ 45,28%. Người ứng cử là người dân tộc thiểu số là 185 người, chiếm tỉ lệ 21,31%. Người ứng cử là người ngoài Đảng có 74 người, chiếm tỉ lệ 8,53%. Về trình độ chuyên môn: Người ứng cử có trình độ trên đại học có 564 người, chiếm tỉ lệ 64,98%. Người ứng cử có trình độ đại học có 294 người, chiếm tỉ lệ 33,87%. Người ứng cử có trình độ dưới đại học là 10 người, chiếm tỉ lệ 1,15%. Về trình độ lý luận chính trị: Cử nhân có 55 người, chiếm tỉ lệ 6,34%; Cao cấp có 587 người, chiếm tỉ lệ 67,63%; Trung cấp có 111 người, tỉ lệ 12,79%; Sơ cấp có 35 người, chiếm tỉ lệ 4,03%. Có 80 người không có chứng chỉ về trình độ lý luận chính trị, chiếm tỉ lệ 9,22%. Về trình độ ngoại ngữ, tin học: Hầu hết người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, tin học. Người ứng cử là đại biểu Quốc hội khóa XIV tái cử có 205 người, chiếm tỉ lệ 23,62%; Người ứng cử là người trẻ tuổi (dưới 40 tuổi) có 224 người, chiếm tỉ lệ 25,81%. Về độ tuổi bình quân (tính trung bình trong 868 người ứng cử) có 46 tuổi. Người cao tuổi nhất là 77 tuổi, người trẻ tuổi nhất là 24 tuổi. CƠ CẤU NGƯỜI ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở TRUNG ƯƠNG Trong số 203 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV ở Trung ương: Các cơ quan Đảng có 11 người, chiếm tỉ lệ 5,42%. Cơ quan Chủ tịch nước và các cơ quan tư pháp có 5 người, chiếm tỉ lệ 2,46%. Các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương) có 129 người, chiếm tỉ lệ 63,55%. Chính phủ, cơ quan thuộc Chính phủ (bao gồm cả Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an) có 15 người, tỉ lệ 7,39%. Lực lượng vũ trang: Quân đội (cơ quan Bộ, các quân khu, quân chủng và lĩnh vực trọng yếu) có 12 người, chiếm tỉ lệ 5,91%. Công an có 2 người, chiếm tỉ lệ 0,99%. Kiểm toán nhà nước 1 người, chiếm tỉ lệ 0,49%. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có 28 người, chiếm tỉ lệ 13,79%. Về cơ cấu kết hợp: Phụ nữ có 45 người, chiếm tỉ lệ 22,17%; Dân tộc thiểu số có 22 người, chiếm tỉ lệ 10,84%; Tôn giáo có 4 người, chiếm tỉ lệ 1,97%; Người ngoài Đảng có 4 người, chiếm tỉ lệ 1,97%. Về trình độ học vấn: Trên Đại học có 168 người, chiếm tỉ lệ 82,76%; Đại học có 35 người, chiếm tỉ lệ 17,24%; dưới Đại học không có; Tái cử có 99 người, chiếm tỉ lệ 48,77%; Trẻ nhất có 5 người, chiếm tỉ lệ 2,46%. CƠ CẤU NGƯỜI ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở ĐỊA PHƯƠNG Trong số 665 người ứng cứ đại biểu Quốc hội khóa XV ở địa phương: Người ứng cử là phụ nữ có 348 người, chiếm tỷ lệ 52,33%. Người ứng cử là người dân tộc thiểu số có 163 người, chiếm tỷ lệ 24,51%. Người ứng cử là người ngoài Đảng có 70 người, chiếm tỷ lệ 10,53%. Về trình độ chuyên môn: Người ứng cử có trình độ trên đại học có 396 người, chiếm tỉ lệ 59,55%. Người ứng cử có trình độ đại học có 259 người, chiếm tỉ lệ 38,95%. Người ứng cử có trình độ dưới đại học có 10 người, chiếm tỉ lệ 1,5%. Người ứng cử là trẻ tuổi (dưới 40 tuổi) có 219 người, chiếm tỉ lệ 32,93%. Người ứng cử là đại biểu Quốc hội khóa XIV tái cử có 106 người, chiếm tỉ lệ 15,94%. Tại cuộc họp báo, báo chí có nêu: Gần đây cơ quan điều tra có làm việc với Bệnh viện Tim Hà Nội về những vấn đề pháp luật có liên quan đến thời điểm ông Nguyễn Quang Tuấn (Đại biểu Quốc hội khóa XIV, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai) làm Giám đốc. Hiện ông Tuấn là một trong ứng viên ứng cử tại Hà Nội. Vậy Hội đồng bầu cử Quốc gia có nhận được thông tin này và có thông tin gì mới về trường hợp này? Trả lời câu hỏi này, Trưởng ban Công tác đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cho biết: Trường hợp ông Nguyễn Quang Tuấn, thì Trưởng ban Công tác đại biểu Quốc hội đã biết thông qua báo chí. Tiểu ban nhân sự đã chủ động có văn bản gửi Bộ Công an để biết thông tin chính thức về ông Nguyễn Quang Tuấn. “Chúng tôi nhận được văn bản 1123 của Bộ Công an. Đây là văn bản tuyệt mật. Đến tại thời điểm này, Bộ Công an đang trong quá trình điều tra. Bộ Công an có khẳng định ông Nguyễn Quang Tuấn có ký một số văn bản liên quan. Nhưng để khẳng định có vi phạm pháp luật hay không thì còn đang trong quá trình điều tra”, bà Nguyễn Thị Thanh cho hay.

THẬN TRỌNG KHI NGHỈ LỄ 40/5 VÀ 01/5

    Hiện nay tình hình dịch bệnh trên thế giới và trong khu vực diễn biến rất phức tạp, khó lường; tốc độ lây lan nhanh hơn so với những lần trước. Tại Việt Nam, tình hình dịch bệnh đang được kiểm soát rất tốt, song trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh ở các nước trong khu vực, Việt Nam đã có những động thái phòng dịch rất tích cực, đặc biệt là trước và trong dịp nghỉ lễ. Vì vậy, mỗi người dân khi nghỉ lễ cần thực hiện nghiêm các quy định về phòng chống dịch, tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, nêu cao ý thức và trách nhiệm vì sức khỏe cộng đồng và cá nhân, tập trung thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch đã đề ra.

Thực hiện quyền dân chủ gắn với đề cao trách nhiệm chính trị

Bản chất dân chủ trong Đảng và trong xã hội ta quy định quyền lợi dân chủ và trách nhiệm thực hiện dân chủ phải luôn gắn liền với nhau. Khi thực hành dân chủ, mọi thành viên đều được thực hiện quyền lợi dân chủ, đồng thời phải thực hiện trách nhiệm dân chủ. Điểm khác biệt căn bản giữa thực hành dân chủ trong Đảng với thực hành dân chủ trong xã hội ở trách nhiệm thực hiện dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị, đội tiền phong chiến đấu có tổ chức, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Việc thực hành dân chủ trong Đảng luôn kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện quyền dân chủ và trách nhiệm thực hiện dân chủ trong giải quyết các vấn đề thực tiễn cách mạng đòi hỏi. Đảng có vai trò lãnh đạo cách mạng, Đảng nhận rõ trách nhiệm của mình trước nhân dân trong thực hành dân chủ; Đảng phải lãnh đạo nhân dân thực hiện đầy đủ quyền dân chủ và trách nhiệm thực hiện dân chủ của mỗi người. Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã xác định mục tiêu đấu tranh đưa nhân dân thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công lên địa vị làm chủ xã hội. Nhờ sự lãnh đạo của Đảng, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta thoát khỏi kiếp ngựa, trâu bước lên địa vị người làm chủ đất nước. Từ đó đến nay, Đảng với nhân dân luôn gắn bó máu thịt, Đảng tôn trọng nhân dân, lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh để phấn đấu. Nhân dân ta biết ơn Đảng, tin yêu Đảng. Việc góp ý kiến của nhân dân vào dự thảo các văn kiện đại hội của Đảng được nhân dân ta trân trọng bằng trí tuệ và tâm huyết của mỗi người, nhận thức đúng trách nhiệm của mình. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng ta được xây dựng công phu, do tập thể các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia, các cơ quan giúp việc của Đảng chuẩn bị theo một quy trình chặt chẽ, được đại hội từ cấp cơ sở trở lên thảo luận dân chủ, biểu quyết theo đa số để hoàn chỉnh dự thảo đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân. Điều đó khẳng định trách nhiệm thực hành dân chủ, trách nhiệm chính trị của Đảng trước nhân dân, nhằm tạo sự đồng thuận giữa quyền lực chính trị với quyền lực xã hội đối với sứ mệnh của dân tộc. Tuy nhiên, do sự khác biệt giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội ở trách nhiệm thực hành dân chủ, nên những người cơ hội, chủ nghĩa cá nhân chưa thật sự vì dân, vì nước; thường tìm kế sách đưa đất nước phát triển. Họ thường tìm cách tuyên truyền, vu cáo, bôi nhọ nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ Đảng với nhân dân, phá hoại dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Những luận điệu cho rằng, Đảng “không thành tâm” trong việc tiếp thu ý kiến của nhân dân, hay “việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân chỉ là hình thức” đều phản ánh sai sự thật về quy trình thực hành dân chủ của Đảng. Thực tế lịch sử không thể phủ nhận, việc Đảng đã lãnh đạo đấu tranh giành được quyền làm chủ cho nhân dân lao động; Đảng cùng với nhân dân đấu tranh bảo vệ quyền làm chủ ấy trong suốt 70 năm qua với biết bao xương máu của các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh; không lẽ bây giờ Đảng lại tự xóa bỏ mục tiêu, lý tưởng của mình? Cần nhìn nhận cho đúng mục đích của Đảng lấy ý kiến nhân dân tham gia vào dự thảo các văn kiện trình đại hội, đề cao trách nhiệm thực hiện dân chủ, phản ánh đúng nguyện vọng chính đáng của nhân dân với Đảng, biến nguyện vọng ấy thành mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân trong những năm tới. Để việc góp ý vào dự thảo các văn kiện của Đảng có chất lượng, hiệu quả, đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của mình, đồng thời đề cao trách nhiệm chính trị trong việc nghiên cứu dự thảo các văn kiện, đề xuất, góp ý kiến khách quan, trung thực, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của đông đảo nhân dân với Đảng. Các cơ quan chức năng giúp việc cho Đảng đề cao trách nhiệm, tiếp thu đầy đủ ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tổng hợp nghiên cứu, phân tích những ý kiến có đủ căn cứ khoa học và những ý kiến chưa có cơ sở khoa học, tham mưu đề xuất đưa ra đại hội thảo luận, quyết định. Các đại biểu dự đại hội các cấp cần đề cao trách nhiệm thực hiện đầy đủ quyền dân chủ và trách nhiệm thực hiện dân chủ của bản thân, đồng thời thực hiện đầy đủ quyền dân chủ và trách nhiệm thực hiện dân chủ của đảng viên đã tín nhiệm cho mình để xem xét, thảo luận tiếp thu ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình đại hội. Cần nhận thức đúng, các ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia vào dự thảo các văn kiện do đại hội thảo luận, quyết định biểu quyết theo đa số. Cá nhân có ý kiến tham gia vào dự thảo các văn kiện không được đại hội biểu quyết thừa nhận, phải tôn trọng quyết định của đại hội. Mọi hành vi tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo Đảng đều là sai lầm, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, cần phải được đấu tranh ngăn chặn.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là điều kiện bảo đảm quyền dân chủ

Dân chủ trong Đảng và dân chủ trong xã hội ta được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ, vừa phản ánh quyền dân chủ, vừa phản ánh mục đích dân chủ. Đây là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, vận dụng thực hành dân chủ trong xã hội. Chỉ có thực hành dân chủ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thì quyền dân chủ và trách nhiệm dân chủ của mỗi cá nhân mới được thực hiện trên thực tế, loại trừ được dân chủ cực đoan, mất dân chủ. Nguyên tắc tập trung dân chủ đòi hỏi thực hành dân chủ trong việc góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện đại hội, Đảng phải bảo đảm cho mỗi cá nhân được thực hiện đầy đủ mọi quyền lợi dân chủ và trách nhiệm thực hiện dân chủ. Đồng thời, nguyên tắc cũng bắt buộc việc thực hành dân chủ phải đi đến thống nhất ý chí và hành động trong việc đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn. Nguyên tắc tập trung dân chủ không hạn chế cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện quyền dân chủ mà là phương tiện bảo đảm để quyền dân chủ và trách nhiệm dân chủ đạt được mục đích. Nếu như thực hành dân chủ không theo nguyên tắc tập trung dân chủ thì ý kiến được đa số tán thành và ý kiến được thiểu số tán thành đều không phân minh rõ ràng và cả hai loại ý kiến đó đều được coi như nhau và không được thực hiện trên thực tế. Việc cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện đại hội Đảng thường có nhiều loại ý kiến khác nhau, nhưng phải hướng tới mục tiêu chung là định ra một đường lối đưa đất nước phát triển; không thể cùng lúc đất nước ta thực hiện nhiều đường lối khác nhau. Do vậy, nguyên tắc tập trung dân chủ chính là vũ khí đấu tranh, là điều kiện bảo đảm quyền dân chủ được đa số thừa nhận phải được thực hiện trên thực tế. Để phá hoại dân chủ trong Đảng và trong xã hội ta, các thế lực thù địch thường tìm mọi cách xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ, mục đích thực hành dân chủ của cán bộ, đảng viên và nhân dân, thực chất là xóa bỏ quyền dân chủ của mỗi cá nhân trên thực tế. Không thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ thì việc thực hành dân chủ sẽ trở thành lộn xộn, sẽ nảy sinh hiện tượng lẫn lộn đúng sai, đa số cũng như thiểu số, dân chủ đúng đắn cũng như dân chủ giả hiệu, và như vậy, dân chủ trong xã hội sẽ không có trên thực tế. Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, như đã được Hiến pháp quy định. Việc Đảng tổ chức lấy ý kiến cán bộ, đảng viên và nhân dân góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, với mục đích trong sáng, nhằm phát huy quyền dân chủ, đề cao trách nhiệm thực hiện dân chủ của mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội, tạo sự đồng thuận, thống nhất ý chí và hành động của Đảng với nhân dân, biến quyền lực chính trị của Đảng thành quyền lực xã hội của nhân dân. Mọi hành động, việc làm của bất cứ tổ chức, cá nhân nào cản trở, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phá hoại mục đích thực hành dân chủ của nhân dân đều là những hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật Nhà nước, cần phải lên án, đấu tranh, ngăn chặn, nhằm bảo đảm thực hiện tốt dân chủ trong Đảng và trong xã hội.

Đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt .

Luận điệu “phi chính trị hóa” quân đội và công an luôn là chủ đề được các thế lực thù địch và “diễn biến hòa bình” xác định là một nội dung trọng tâm để chống phá Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những nội dung xuyên tạc và những thủ đoạn xảo quyệt cần phải được vạch trần. . Trong thời gian qua, lợi dụng quá trình đóng góp ý kiến vào bản Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng, nhiều cá nhân, tổ chức, đối tượng thù địch trong và ngoài nước đã đưa ra những ý kiến, quan điểm sai trái, thậm chí đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc như: góp ý đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi bỏ Điều 4 của Hiến pháp năm 2013, đòi Việt Nam thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng; đòi tam quyền phân lập; đòi tư hữu hóa đất đai, các nguồn tài nguyên thiên nhiên; hơn thế nữa, họ đòi “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang nhân dân,… Trong đó luận điệu “phi chính trị hóa” quân đội và công an được chúng xác định là một nội dung trọng tâm để chống phá Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những người ủng hộ quan điểm này còn cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có kinh nghiệm lãnh đạo đất nước trong chiến tranh, không có kinh nghiệm và năng lực lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước trong thời bình; và rằng: Đảng đã “hoàn thành sứ mệnh cao cả”, nay nên trao lại quyền lãnh đạo đất nước cho “lực lượng dân chủ cấp tiến”. Thực hiện nội dung cơ bản này, các thế lực thù địch dùng nhiều ngón đòn và các chiêu bài khác nhau, với nhiều giọng điệu khác nhau, khi thì đứng hẳn về phía đối lập ra sức và trực diện chống phá, khi thì như là "người trong cuộc” thể hiện "thiện chí khách quan” tham gia góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng, họ cố gắng lôi kéo, tìm kiếm, "khuyên nhủ” Đảng, Nhà nước ta nên thế này, thế khác. Sự thật, từ những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động luôn thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, họ thừa biết rằng đây là lực lượng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; bởi vậy các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để vô hiệu hóa các lực lượng vũ trang nhân dân. Và đây cũng là một thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có quân đội nhân dân và qông an nhân dân; làm cho lực lượng vũ trang “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, dẫn đến suy yếu về chính trị, tiến tới làm cho lực lượng vũ trang bị vô hiệu hóa. Với thủ đoạn “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch không có gì khác là muốn làm cho lực lượng vũ trang nhân dân ta dần dần biến chất, từ lực lượng vũ trang của nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, trở thành một đội quân phản bội lại lợi ích của Đảng, của Nhân dân, bảo vệ cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp tư sản. Để thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, chúng tập trung phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; đỏi bỏ Điều 4 trong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phủ nhận học thuyết Mác-Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, an ninh, về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Chúng rêu rao: “quân đội và công an phải là một lực lượng trung lập”; rằng: “quân đội phải đứng ngoài chính trị”. Tuy nhiên, thực tiễn khẳng định: không có một quân đội nào là "đứng ngoài chính trị", là "trung lập". Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển quân đội các nước tư bản đều cho thấy, giai cấp tư sản không hề coi nhẹ quân đội, trái lại, rất coi trọng xây dựng nhân tố chính trị-tinh thần cho lực lượng vũ trang của họ. Vấn đề này, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, khi nói về “lực lượng vũ trang cách mạng”, V.I. Lê-nin đã bóc trần luận điệu lừa bịp đó của giai cấp tư sản: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản... Bọn này trong thực tế bao giờ cũng lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”[1]; mà cái “chính trị phản động” đó là để bảo vệ quyền lợi và sự thống trị của giai cấp tư sản..... Thực tiễn cho chúng ta những bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô tuyên bố xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp (quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên xô), chấp nhận đa nguyên, đa đảng đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị của chủ nghĩa Mác- Lênin và sau đó là chấp nhận xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với lực lượng vũ trang, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối năm 1991. Với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”; đòi “phi chính trị hóa “lực lượng vũ trang, đòi bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với nhà nước, xã hội và quân đội. Các thế lực thù địch với luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, lừa bịp cũng đã từng thành công trong việc lật đổ chính quyền, chuyển hóa chế độ chính trị ở một số nước Bắc Phi-Trung Đông mang tên “Mùa xuân Arập” như đảo chính quân sự ở Ai Cập, nội chiến ở Xyri, bạo lực và khủng bố ở Tuynidi, Libi, Irắc, điều chỉnh chính sách của Iran, xung đột vũ trang giữa Ixraen và Palextin, và gần đây là ở Ukraina,.….và một số vương triều khác ở khu vực Vùng Vịnh là những nét điển hình trong bức tranh “cách mạng sắc màu” hiện nay. Tất nhiên, sự sụp đổ chế độ ở các nước này còn có những nguyên nhân nội tại khác, nhưng không thể phủ nhận có sự nhúng tay chống phá của các thế lực thù địch. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục vận dụng “bài học kinh nghiệm” đó. Phải chăng là thủ đoạn thực hiện tinh vi hơn, hình thức đa dạng và khó lường hơn, tính chất nguy hiểm hơn, với ảo tưởng sẽ có được một kết quả tương tự. Với những âm mưu thâm độc! Chỉ có điều Việt Nam hoàn toàn khác, mà họ đang cố tìm cách xâm nhập. Mặc dù vậy, họ không dễ dàng từ bỏ âm mưu; trái lại, bằng mọi thủ đoạn, họ đã và đang thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Nhưng họ có đạt được mục tiêu đó không, nhân tố quyết định không thuộc về những kẻ phản bội đất nước mà do ta. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang cách mạng, của dân, do nhân dân và vì nhân dân, gắn bó “máu thịt” với Đảng, với nhân dân. Mối quan hệ đó được tôi luyện bằng máu và nước mắt qua mấy chục năm chống kẻ thù xâm lược trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, bất cứ thế lực nào, dù mạnh và hiểm độc đến đâu cũng không thể chia rẽ được lực lượng vũ trang nhân dân với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là điều tất yếu, đã, đang và sẽ tiếp tục được khẳng định. Là con đẻ của một dân tộc và nhân dân anh hùng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, mầm mống lực lượng vũ trang cách mạng của nhân dân ra đời và phát triển từ những đội tự vệ Công nông đầu tiên trên vùng căn cứ cách mạng Cao Bắc Lạng, nhằm chiến đấu chống quân thù khủng bố, đàn áp, bảo vệ quần chúng và phong trào cách mạng, bảo vệ chính quyền cách mạng và làm công tác vận động quần chúng ở vùng đồng bào các dân tộc Việt Bắc, Tây Bắc. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhằm bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội bằng bạo lực vũ trang. Lực lượng vũ trang nhân dân không có mục tiêu chiến đấu nào khác là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đem lại tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho nhân dân lao động. Đó cũng là mục tiêu chính trị cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lực lượng vũ trang cách mạng không chỉ mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân mà còn mang đầy đủ tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Bản chất của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam thể hiện rõ nét ở sự thống nhất về tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc, được biểu hiện sinh động ở lý tưởng chiến đấu, cơ sở chính trị-xã hội, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang. Lòng trung thành của lực lượng vũ trang nhân dân đối với Đảng, bảo vệ Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang được toàn dân thừa nhận, thực tiễn cách mạng khẳng định, các văn kiện của Đảng thể hiện và điều đó được thừa nhận là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên, trong bối cảnh các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng điểm này để xuyên tạc, kích động, chống phá Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, thì việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XII của Đảng là rất cần thiết, nhằm đảm bảo tính pháp lý về vai trò trách nhiệm của lực lượng vũ trang nhân dân nói chung của Quân đội nhân dân và Công an nhâ dân Việt Nam nói riêng; đồng thời, qua đó cho thấy sự phát triển tư duy mới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới. Điều đó cũng lý giải cho việc tại sao các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách, bằng các hình thức che đậy, trá hình dưới dạng ý kiến “khách quan”, “tâm nguyện” để xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, xã hội và các lực lượng vũ trang nhân dân. Thậm chí, có ý kiến vì nhiều động cơ, mục đích không lành mạnh, đưa ra quan điểm đòi quân đội đứng ngoài chính trị, trung lập về chính trị. Những người đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân thể hiện nhận thức “mơ hồ” về chính trị hoặc vì ý đồ cá nhân đã cố tình làm ngơ không hiểu bản chất giai cấp của lực lượng vũ trang nhân dân. Họ cho rằng “lực lượng vũ trang là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái hay một thể chế chính trị nào”. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong các lực lượng vũ trang. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch. Thực hiện vấn đề này, trước hết phải luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam nói riêng; tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; không ngừng chăm lo xây dựng các tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện lệch lạc về chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên trong lực lượng vũ trang; tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị 03CT/TW của Bộ chính trị khóa XI về: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Qua đó, xây dựng tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ hội nhập quốc tế, trước hết cần tập trung cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, hệ thống chế định và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang trong thời kỳ mới; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “phí chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân, đòi đa nguyên, đa đảng, coi việc xây dựng lực lượng vũ trang chỉ để dùng trong chiến tranh và lo đối phó với chiến tranh. Tư duy mới về chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới đòi hỏi phải sử dụng hợp lý và phát huy tối ưu vai trò của lực lượng vũ trang trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ “tự diền biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang nhân dân luôn chủ động, sẵn sang đối phó thắng lợi với mọi tình huống. Thực hiện điều này cần có những quy định thật rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm và thẩm quyền của các cấp lãnh đạo đối với các vấn đề tổ chức và hoạt động của các lực lượng vũ trang nhân dân. Mặt khác, cần phát triển và vận hành thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả các yếu tố hợp thành cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang nhân dân. Đảng thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang thông qua hệ thống tổ chức Đảng, hệ thống chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở cơ sở. Do đó, cần tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, chú trọng cấp ủy đảng ở cơ sở và cơ quan tham mưu chiến lược; tập trung nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, nhất là việc chấp hành nghị quyết và Điều lệ Đảng, chấp hành các nguyên tắc tổ chức và chế độ công tác, quy chế và quy trình làm việc trên các lĩnh vực hệ trọng, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Xử lý nghiêm túc những trường hợp vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mất đoàn kết nội bộ, kém tính đảng, thiếu trách nhiệm trong công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng. Xây dựng các tổ chức Đảng trong lực lượng vũ trang cách mạng thực sự trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, là hạt nhân lãnh đạo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ trong lực lượng vũ trang nhân dân có số lượng và cơ cấu hợp lý, đồng bộ và chất lượng cao, làm nòng cốt trong tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ và hoạt động của lực lượng vũ trang. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phòng giam giữ bí mật, xây dựng lực lượng gắn với địa bàn an toàn, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xâm nhập, cài cắm, móc nối để phá hoại chính quyền ở cơ sở của các thế lực thù địch. Làm tốt công tác dân vận, tăng cường đoàn kết nội bộ, tích cực góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở và giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, đồng thời xây dựng vững chắc nền tảng chính trị-xã hội của lực lượng vũ trang. Giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang, tạo chuyển biến mạnh mẽ, có chiều sâu và độ vững chắc về đoàn kết, dân chủ, kỷ luật, kỷ cương trong lực lượng vũ trang. Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân, tiếp tục tăng cường và giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân là vấn đề chiến lược có tính kế thừa những bài học kinh nghiệm trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng cần tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội nói chung và lực lượng vũ trang nhân dân nói riêng./.

Thực hành dân chủ tự giác, có mục đích

Đảng ta đang tổ chức lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XII của Đảng. Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số ý kiến dưới “danh nghĩa nhân dân”, phản ánh “lòng dân với việc góp ý”... Thoảng qua, tưởng như đó là những ý kiến tâm huyết, nhưng bên trong lại có những nội dung xuyên tạc, phủ nhận quá trình thực hành dân chủ của Đảng, vu cáo, nói xấu Đảng ta, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, cản trở việc thực hiện quyền dân chủ của đảng viên và nhân dân. Chúng ta cần tỉnh táo nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời những quan điểm sai trái, nhận thức lệch lạc, mưu đồ xấu đó. . Chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến nay, trước mỗi kỳ đại hội, Đảng ta đều tổ chức lấy ý kiến của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân vào các dự thảo văn kiện trình đại hội trước khi quyết định những chủ trương, đường lối đưa đất nước phát triển đi lên. Đây là một chủ trương đúng đắn, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình ủng hộ. Điều đó cho thấy, Đảng ta và nhân dân ta đều có chung mong muốn thống nhất ý chí và hành động, chung sức, chung lòng phấn đấu đưa đất nước ta, dân tộc ta phát triển, đi lên. Trong quá trình lấy ý kiến đảng viên và nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng thường có những ý kiến khác nhau. Có ý kiến đồng thuận, đóng góp bổ sung sâu sắc hơn; có ý kiến do cách tiếp cận, cách nhìn riêng mang tính phản biện để đại hội xem xét, tiếp thu và cũng có cả những ý kiến chưa thống nhất với các quan điểm, chủ trương, đường lối trong dự thảo nêu ra. Các ý kiến của đảng viên và nhân dân đóng góp vào dự thảo văn kiện ở các kỳ đại hội đều được cơ quan có thẩm quyền của Đảng trân trọng tiếp thu theo đúng quy trình dân chủ và nguyên tắc tổ chức của Đảng. Có ý kiến được đưa ra thảo luận ở nhiều kỳ họp, được cân nhắc kỹ lưỡng và được đa số đại biểu thừa nhận, tiếp thu đưa vào dự thảo văn kiện trình đại hội thảo luận quyết định. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến khi nghiên cứu, xem xét thấy chưa có đủ cơ sở, luận cứ khoa học nên đại hội chưa tiếp thu và tiếp tục nghiên cứu. Tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, từ giữa tháng 9-2015, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tổ chức lấy ý kiến của đảng viên và nhân dân đóng góp vào Dự thảo Báo cáo Chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội trình đại hội. Gần đây, dư luận thấy xuất hiện một số ý kiến trên mạng xã hội dưới “danh nghĩa nhân dân”, phản ánh “lòng dân với việc góp ý” vào chủ trương, đường lối thông qua “các kiến nghị”, “thơ ngỏ” gửi Đảng, gửi chính quyền, do một số người đứng ra ký tên và yêu cầu Đảng “đưa ra công chúng để thảo luận minh bạch, sòng phẳng”… Thoảng qua, tưởng như đó là những ý kiến tâm huyết, với mục đích xây dựng, nhưng bên trong lại có những nội dung xuyên tạc, phủ nhận quá trình thực hành dân chủ của Đảng, vu cáo Đảng. Những ý kiến đó gây bất lợi trong việc lấy ý kiến nhân dân tham gia vào dự thảo các văn kiện của Đảng, ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, cản trở việc thực hiện quyền dân chủ của đảng viên và nhân dân. Một trong những nguyên nhân của hiện tượng trên là do người đóng góp ý kiến chưa thật sự hiểu rõ bản chất dân chủ trong Đảng và trong xã hội, mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội ta phản ánh quyền lực, địa vị, lợi ích của Đảng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Bản chất dân chủ trong Đảng và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta thống nhất với nhau, dân chủ mang bản chất giai cấp công nhân. Đó là dân chủ tự giác, có mục đích; quyền dân chủ và trách nhiệm thực hiện dân chủ gắn liền với nhau; dân chủ có nguyên tắc, bảo đảm quyền dân chủ và trách nhiệm thực hiện dân chủ được thực hiện trên thực tế. Việc thực hành dân chủ đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền lợi dân chủ và trách nhiệm thực hiện dân chủ. Do vậy, để tạo sự đồng thuận trong việc đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện, cần thống nhất nhận thức về thực hành dân chủ trong Đảng, trong xã hội ta nhằm củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, ngăn chặn, làm thất bại những âm mưu chia rẽ, phá hoại mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân.

Quyền dân chủ và trách nhiệm dân chủ

Dân chủ trong Đảng và trong xã hội ta phản ánh quyền lực, địa vị, lợi ích của Đảng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; quy định việc giải quyết mối quan hệ giữa quyền lợi và trách nhiệm của đảng viên trong thực hành dân chủ. Nói đến dân chủ trong Đảng và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nói đến quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Quyền làm chủ đó được thể hiện ở quyền lực chính trị và quyền lực xã hội. Quyền lực chính trị được biểu hiện thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, thể hiện trách nhiệm thực hiện dân chủ của hệ thống chính trị; quyền lực xã hội được biểu hiện thông qua quyền làm chủ của nhân dân, thể hiện việc thực hiện quyền lợi dân chủ của nhân dân. Chỉ có thực hành dân chủ tự giác, dân chủ có mục đích mới có cơ sở để tạo ra sự thống nhất cao giữa quyền lực chính trị và quyền lực xã hội, biến quyền lực chính trị thành quyền lực xã hội. Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều phải có một bộ máy lãnh đạo đất nước, bao gồm các tổ chức trong hệ thống chính trị. Mọi chủ trương, đường lối do bộ máy lãnh đạo đề ra, nếu nhằm thực hiện lợi ích của đông đảo nhân dân lao động trong xã hội, thì quyền lực chính trị và quyền lực xã hội luôn thống nhất với nhau, quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm trên thực tế. Nếu chủ trương, đường lối do bộ máy lãnh đạo đất nước đề ra không xuất phát từ lợi ích của đại đa số nhân dân lao động trong xã hội, thì không thể có được sự thống nhất quyền lực chính trị với quyền lực xã hội; và quyền làm chủ của nhân dân không thể có trên thực tế, mọi lý thuyết về dân chủ trong xã hội đó chỉ là giả tạo. Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng không có lợi ích nào khác. Việc Đảng tổ chức lấy ý kiến của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XII với mục đích tạo sự thống nhất giữa quyền lực chính trị và quyền lực xã hội, bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của mọi tầng lớp nhân dân lao động. Nhân dân tham gia góp ý kiến vào dự thảo văn kiện của Đảng nhằm phản ánh đầy đủ hơn tâm tư, nguyện vọng với Đảng thực hiện quyền làm chủ của mình trên thực tế. Cả hai quá trình lấy ý kiến và góp ý kiến đều thông qua thực hành dân chủ tự giác, có mục đích; thực hành dân chủ trên cơ sở nhận rõ trách nhiệm nhằm hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Thực hành dân chủ tự giác dựa trên sự giác ngộ về địa vị, sứ mệnh lịch sử, mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân, quyền làm chủ của nhân dân lao động; giác ngộ về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân đối với xã hội, với sự phát triển đi lên của dân tộc, của đất nước. Thực hành dân chủ có mục đích, mọi hành động dân chủ đều nhằm hướng tới sự thống nhất ý chí và hành động trong xã hội; hướng tới thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của đông đảo nhân dân lao động trong xã hội. Đó hoàn toàn không phải là quá trình thực hành dân chủ tự phát, tách rời quyền dân chủ với trách nhiệm thực hiện dân chủ; đòi quyền lợi dân chủ, nhưng không thực hiện trách nhiệm dân chủ. Thực hành dân chủ có mục đích đó là thực hiện quyền dân chủ và trách nhiệm dân chủ phải gắn với giải quyết một vấn đề cụ thể, một nhiệm vụ cụ thể, không có dân chủ chung chung, mục đích rõ ràng, không đi đến giải quyết, tháo gỡ những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Thực hành dân chủ tự giác, có mục đích đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân, khi đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện đại hội của Đảng phải hiểu rõ quyền làm chủ của mình, cả quyền lợi và trách nhiệm. Quyền làm chủ đó phải được thực hiện có mục đích nhằm tìm ra con đường đúng đắn, đưa đất nước phát triển đi lên; không vì động cơ cá nhân, bị kích động, lôi kéo mà tự đánh mất quyền dân chủ và trách nhiệm dân chủ của bản thân. Việc xác định đúng quyền làm chủ và trách nhiệm làm chủ của mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện của Đảng trình đại hội sẽ là cơ sở phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của đông đảo nhân dân với Đảng, làm cho việc góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện đại hội Đảng trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu, rộng, với trách nhiệm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân. Thực hành dân chủ tự giác, có mục đích còn là cơ sở để đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, cản trở, phá hoại quyền làm chủ của nhân dân.

Đằng sau “Tuyên bố” của những “tổ chức” mạng .

Thời gian gần đây, khi tình hình thế giới, khu vực và trong nước trở nên “nóng” hơn và phức tạp hơn, nhất là nhiều sự kiện diễn ra liên quan đến chủ quyền biển, đảo và tự do hàng hải ở Biển Đông, nhiều “tổ chức” ảo (trên mạng), không có tư cách pháp nhân đã ra “Tuyên bố”, “ký tên” ảo với nhiều động cơ bất chính. Chẳng hạn như các “Tuyên bố”: Hoa Kỳ đưa tàu khu trục USS Lassen vào Biển Đông; “Tuyên bố” về chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Tập Cận Bình”; “Tuyên bố… về dự thảo “Luật về Hội”… . Những ai đã có dịp đọc qua những “Tuyên bố” này thì đều thấy đó là sự xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, nhất là về đường lối đối ngoại. Mục tiêu của những cá nhân, “tổ chức” ảo này là đi từ làm giảm uy tín, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, gây mất ổn định chính trị-xã hội để đi đến chuyển hóa chế độ xã hội ta sang mô hình “dân chủ-đa nguyên” ngoại nhập. Mặt khác, qua những “Tuyên bố” đó, người ta hy vọng sẽ từng bước khẳng định được vai trò ảo của mình để đi đến vai trò thật đối với Nhà nước và xã hội như mô hình “dân chủ-đa nguyên” nước ngoài. Để làm rõ những “ý tưởng” đó, xin được bình luận “Tuyên bố… dự thảo “Luật về Hội”. Như mọi người đều biết, sau khi Hiến pháp 2013 được Quốc hội thông qua, có hiệu lực, nhiều dự án luật đã được cơ quan chức năng chuẩn bị, đệ trình và Quốc hội đã cho phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, lấy ý kiến cá nhân, tổ chức. Trong những dự án luật đó có dự án Luật về Hội. Một trong những nội dung chính của “Tuyên bố” là người ta đưa ra những đòi hỏi về quyền được tham gia vào dự thảo luật này. Hơn nữa, họ còn lớn tiếng rao giảng về “quyền con người”. Họ nói: “Chúng tôi đưa quyết tâm không để mình bị loại ra khỏi tiến trình đóng góp ý kiến cho bản dự thảo Luật về Hội,… chúng tôi không bao giờ từ bỏ Quyền tự do Lập hội của mình vì quyền này là quyền cốt lõi, có khả năng thúc đẩy các Nhân quyền quan trọng khác”. Họ còn viết: “Quyền lập hội là quyền hiến định, bất cứ người dân nào cũng có quyền lập hội và tham gia hội. Do đó việc lập hội chỉ cần ghi danh và công bố, không cần xin phép và đợi sự cho phép của cơ quan Nhà nước” (!). Về nội dung dự thảo luật, họ viết: “Điều 4 Hiến pháp cho phép Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn đứng trên mọi lực lượng Nhà nước và xã hội... Khoản 3, Điều 2, cho phép Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết về các hội đoàn… chỉ áp dụng đối với hội có tư cách pháp nhân, tức được chính quyền công nhận”... Lý do mà họ đòi quyền này, theo họ là vì quyền con người (QCN) đã được ghi trong các công ước quốc tế về QCN, hơn nữa còn được ghi trong Hiến pháp 2013-Chương II. Trong chương này đã quy định cụ thể: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Không phủ nhận rằng, Hiến pháp 2013 đã dành cả một chương quy định về “QCN, quyền và nghĩa vụ công dân”. Trong Chương II, Hiến pháp đã quy định một cách đầy đủ các QCN, tương thích với các công ước quốc tế cơ bản về QCN. Không những thế, Hiến pháp 2013 còn đưa ra những nguyên tắc về QCN bao gồm các nội dung cơ bản về mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân, nguyên tắc “hạn chế quyền” và nguyên tắc “suy luận vô tội”. Điều 14 quy định như sau: “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các QCN, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. QCN, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Tuy nhiên, những người soạn thảo “Tuyên bố” đã cố ý không hiểu Hiến pháp là luật “khung”, Hiến pháp không trực tiếp điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cụ thể. Hiến pháp là những quy định cơ bản về chế độ chính trị và những chuẩn mực chung về pháp lý. Các quy định cụ thể trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức phải do luật quy định. Tại Điều 25 có ghi: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Bởi vậy, dự thảo Luật về Hội đưa ra các quy định cụ thể về điều kiện thực hiện quyền lập hội của công dân, chức năng nhiệm vụ của hội… là hoàn toàn hợp lý, hợp pháp. Phân tích những đòi hỏi của các “tổ chức” ảo với những quy định của Hiến pháp 2013 có thể nói đó là những đòi hỏi không thể chấp nhận được. Thứ nhất các cá nhân“tổ chức” ảo (mạng) đã bỏ lỡ thực hiện nghĩa vụ và cơ hội tham gia vào góp ý dự thảo Luật về Hội. Dự thảo Luật về Hội đã được công bố vào tháng 6-2015 để lấy ý kiến của toàn dân. Theo quy định chung của pháp luật, tất cả công dân đều có quyền và nghĩa vụ tham gia đóng góp vào dự thảo luật. Cho đến nay đã có không ít cá nhân, tổ chức đóng góp vào dự thảo Luật về Hội. Chẳng hạn như một số ý kiến đăng tải trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng của cá nhân vào tháng 6-2015(1). Phải chăng các cá nhân trong “tổ chức” ảo đã bỏ qua cơ hội thực hiện nghĩa vụ tham gia góp ý trong khuôn khổ thời gian cho phép?! Bỏ qua cơ hội này là lỗi thuộc về họ. Nhân đây phải nói thêm rằng, các cá nhân, tổ chức “ký tên” ảo (trên mạng) là một đòi hỏi mang tính “đặc quyền”. Nói cụ thể, những đòi hỏi của cá nhân, “tổ chức” ảo (trên mạng) không có tư cách pháp nhân để góp ý kiến. Điều này là trái với pháp luật Việt Nam, đồng thời cũng trái với nguyên tắc bình đẳng về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội trong luật quốc tế về QCN. Thứ hai, những cá nhân và “tổ chức” ảo đòi quyền góp ý dự thảo Luật về Hội là trái pháp luật. Hội là một pháp nhân, nghĩa là một tổ chức được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Bộ luật Dân sự quy định: “Pháp nhân là một tổ chức được thành lập theo quy định của bộ luật này, các luật khác có liên quan”. Việc đòi quyền tham gia góp ý dự thảo Luật về Hội với tư cách là một “tổ chức” ảo, “tổ chức” tự phong, tự lập, không được Nhà nước công nhận, đương nhiên là không có giá trị. Những đòi hỏi này chẳng những trái với Hiến pháp, pháp luật mà còn không phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị”, 1966. Điều 1, “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966” đã quy định: “1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa...”. Quy định này có nghĩa, mỗi nhà nước có quyền xây dựng chế độ chính trị xã hội, thể chế quốc gia-bao gồm cả Hiến pháp và Luật của mình mà không có bất cứ ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc. Bộ luật Dân sự, Luật về Hội (nếu dự luật được thông qua) với những hạn chế nào đó về quyền như quy định việc “thành lập, đăng ký pháp nhân” trong Luật Dân sự và dự thảo Luật về Hội là hoàn toàn hợp pháp. Xin được nhắc lại, quy định về pháp nhân trong Bộ luật Dân sự như sau: “1. Mọi cá nhân và pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân,... 2. Pháp nhân được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền,... 3. Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi, đăng ký xóa đăng ký pháp nhân và đăng ký khác theo quy định của pháp luật”. Nói một cách cụ thể-các “tổ chức” tự phong, tự lập, cùng với “danh sách” cá nhân, “tổ chức” ảo là hoàn toàn không có tư cách pháp nhân. Và vì vậy những đòi hỏi quyền của cá nhân “tổ chức” ảo về quyền tham gia vào các hoạt động chính trị xã hội nói chung, tham gia vào dự thảo Luật về Hội nói riêng là trái với pháp luật hiện hữu. Về chính trị, “Tuyên bố” cho rằng: “Điều 4, Hiến pháp cho phép Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn đứng trên mọi lực lượng Nhà nước và xã hội và các luật… Đảng Cộng sản Việt Nam cũng phải được định nghĩa như một hội thông thường trong Luật về Hội, không có ưu tiên độc tôn, độc quyền…” là một quan điểm xa lạ với nền chính trị và tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam. Thực tế lịch sử cho thấy: Trong thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn là tổ chức khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước CHXHCN Việt Nam; là tổ chức khai sinh ra các tổ chức chính trị-xã hội chủ yếu của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay. Mặt khác, Điều 4, Hiến pháp 2013 đã đưa ra quy định hạn chế quyền của Đảng. Điều này chứng tỏ không có chuyện Hiến pháp đặt Đảng đứng trên Nhà nước và xã hội như “Tuyên bố” viết. Điều 4 quy định như sau: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội… Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân…Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4). Nhân đây, xin được chia sẻ với những người soạn thảo “Tuyên bố” nói trên và những ai ký tên tham gia “văn kiện” này rằng: Các bạn hãy chuẩn bị các điều kiện để xin đăng ký thành lập hội, đoàn... sau khi Luật về Hội được Quốc hội thông qua. Một khi đã có tư cách pháp nhân, các bạn không chỉ có quyền, nghĩa vụ mà còn được Nhà nước bảo vệ.

 

THAM GIA BẦU CỬ QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN LÀ LÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG,
 QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 -  2026 là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ra sau 35 năm thực hiện đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chiến tranh công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhân tố gây bất ổn đến an ninh quốc gia của Việt Nam. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Trước tình hình đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải ra sức phấn đấu, đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đã đặt ra.

Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam công tác chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đang được tiến hành rất khẩn trương. Tuy nhiên, trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã và đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá cuộc bầu cử với tính chất hết sức quyết liệt, manh động. Thông qua việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những luận điệu sai trái, thiếu trung thực, phiến diện, quy chụp với mục đích hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, gieo rắc nhận thức lệch lạc, sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử ở nước ta. Trong đó, có quan điểm cho rằng: bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Đây là một quan điểm sai trái, xuyên tạc, thiếu chính xác của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đối với công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện mưu đồ chính trị của chúng.

 Ở VIỆT NAM, QUYỀN BẦU CỬ VÀ ỨNG CỬ LÀ MỘT TRONG NHỮNG QUYỀN CHÍNH TRỊ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

Bầu cử là việc đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, thông qua bầu cử giúp người dân có điều kiện thể hiện quyền  "làm chủ" của mình, nhất là trong việc lựa chọn ra những người đại diện cho tiếng nói, cho lợi ích của mình. Trong bất kỳ một thể chế chính trị nào, để Nhà nước có quyền hợp pháp, thực sự là Nhà nước "của dân, do dân, vì dân" thì phải có được sự đồng thuận của người dân.

Thông báo Kết luận số 174-TB/TW ngày 08/6/2020 của Bộ Chính trị về phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 nêu rõ đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải là những người trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngoài tiêu chuẩn chung, Hướng dẫn số 36-HD/BCHTW, ngày 20/01/2021 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác nhân sự đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ  2021 - 2026 đã quy định chi tiết về tiêu chuẩn, điều kiện của đại biểu Quốc hội chuyên trách và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách. Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân và được quy định cụ thể tại Điều 18 Hiến pháp năm 1946: "Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái, trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử", và tiếp tục được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1959 (Điều 23), Hiến pháp năm 1980 (Điều 57), Hiến pháp năm 1992 (Điều 54). Hiến pháp năm 2013 và quyền của công dân luôn gắn liền với nghĩa vụ của công dân. Trong đó, Điều 15, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân", Điều 21 cũng quy định: "Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân...". Theo Điều 2 Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp năm 2015 quy định: "Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này". Đồng thời, Khoản 5, Điều 4 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp năm 2015 quy định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp". 

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là cuộc bầu cử được tiến hành dựa trên hệ thống thiết chế pháp luật rất vững chắc như: Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức quốc hội năm 2014, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015… Điều này có nghĩa là các quyền, nghĩa vụ của công dân, của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các quy trình tổ chức đều được xây dựng một cách chặt chẽ, khoa học, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân cũng như phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.Bên cạnh đó, tiếp thu tinh thần chỉ đạo của  Bộ Chính trị tại Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, Hướng dẫn số 36-HD/BCHTW ngày 20/01/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung về quy trình nhân sự theo hướng việc giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2015; quy trình thủ tục, hồ sơ cụ thể thực hiện theo quy định của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Như vậy có thể thấy, trong quy trình lựa chọn, sự tín nhiệm của cử tri là thước đo rất quan trọng về tiểu chuẩn của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Do đó, tại  Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ lần này, trong quá trình lựa chọn, sàng lọc, đặc biệt quan tâm đến yếu tố tín nhiệm. Nếu ở địa bàn, ở nơi công tác nếu cá nhân đó không được tín nhiệm thì bước đầu tiên sẽ không đưa vào giới thiệu nhân sự bầu cử. Ngoài ra, còn nhiều văn bản khác cũng quy định về quyền, nghĩa vụ của công dân, cũng như tiêu chuẩn về nhân sự bầu của đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Việt Nam không hạn chế quyền ứng cử tự do của công dân, nếu họ đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định và được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Bên cạnh đó, việc tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân; bản thân mỗi cử tri có vai trò quyết định trong việc lựa chọn cho mình những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. 

THAM GIA BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN LÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG, QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 

Trong quá trình lịch sử, các cuộc bầu cử dân chủ luôn là hoạt động tiêu biểu, quan trọng nhất trong các hoạt động dân chủ trực tiếp của người dân. Thông qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền công dân, quyền "làm chủ" của dân được thể hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Mọi quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nói cách khác, tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chính là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng nhà nước nói chung và cơ quan đại  diện - cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương tới địa phương ở nước ta nói riêng. Tham gia bầu cử chính là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng cho ý chí, nguyện vọng là quyền làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Trong lịch sử đất nước ta, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/9/1945), cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946 được tổ chức thành công là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam trong điều kiện đất nước vô cùng khó khăn của "thù trong, giặc ngoài", tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hết sức khó khăn. Do đó, cuộc Tổng tuyển cử này không chỉ là một cuộc vận động chính trị thông thường mà thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp vô cùng gay go, phức tạp. Tuy nhiên, đại đa số người dân tham gia bầu cử luôn xúc động và tự hào vì "... ngày mai mà một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ra bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình..."[1]. Trong quá trình vận động và phát triển, tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng và quy trình bầu cử cũng như lựa chọn nhân sự ngày càng chặt chẽ và khoa học. Mặc dù, vẫn còn một số ít những tồn tại, hạn chế nhưng phải khẳng định một điều rằng chất lượng đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân ngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng trên diễn đàn của Quốc hội, của Hội đồng nhân dâncác cấp ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, trong các phát biểu, kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, trong giải quyết những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. Để đạt được những thành tựu trên, một trong những yếu tố quyết định và không thể không nói đến đó là tinh thần, trách nhiệm của mỗi người dân ngày càng được nâng cao thông qua việc lựa chọn những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. 

Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, người dân đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, tích cực tham gia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào, nhân dân cả nước. Những vấn đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên thực tế.

Bên cạnh đó, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong suốt quá trình bầu cử là một tất yếu nhằm lựa chọn được những người tiêu biểu, xứng đáng nhất, có đủ các tiêu chuẩn theo quy định, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có năng lực, có điều kiện thực thi nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Đồng thời bảo đảm cơ cấu và chất lượng, không vì cơ cấu mà giảm chất lượng. Đó là là cơ sở pháp lý giúp cho việc hình thành các cơ quan nhà nước trong nhiệm kỳ mới, bảo đảm tính liên thông, thống nhất với kết quả đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng.

Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu sai trái, khi cho rằng bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Những luận điệu xuyên tạc này của chúng nhằm hướng lái dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hiện thực hóa mục đích "cài cắm mầm mống dân chủ" vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp với mưu đồ biến nghị trường thành diễn đàn để các đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và thực hiện "chiến lược diễn biến hòa bình" làm nước ta tự suy yếu từ bên trong. 

Trong lịch sử, có thể thấy chiêu bài "đòi ghế" trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị không phải là vấn đề mới. Từ năm 1946, trong lần Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.

Mặc dù, một trong năm phương thức lãnh đạo của Đảng là thông qua công tác cán bộ và vai trò tiên phong gương mẫu của người đảng viên. Đối với những cơ quan dân cử, các cấp ủy đảng cần trực tiếp xem xét, tập thể quyết định việc lựa chọn, đánh giá, giới thiệu những cán bộ giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội. 

Trên thực tế, sau khi chỉ thị của Bộ Chính trị được ban hành, hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử được tổ chức để kịp thời quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai công tác bầu cử. Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội... ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử từ Trung ương đến địa phương. Các cấp ủy đảng, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở địa phương cũng tiến hành khẩn trương, nghiêm túc các công việc chuẩn bị bầu cử và lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử ở các cấp. Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập theo đúng quy trình và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ theo quy định. Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì và tổ chức các hội nghị hiệp thương, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thông qua công tác cán bộ nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Đảng sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Bởi vì, Đảng chỉ định hướng cơ cấu, số lượng nhân sự và xây dựng bộ tiêu chuẩn đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Bên cạnh đó, yếu tố quyết định trong việc lựa chọn người đại diện cho tiếng nói của mình thuộc về nhân dân, ngay từ khâu chuẩn bị nhân sự thông qua việc lấy ý kiến cử tri nơi công tác và nơi cư trú và trực tiếp thông qua những lá phiếu cử tri trong quá trình bầu cử.

Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp, quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước; Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Do đó, thực hiện thành công cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. 

Những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: "Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự"... là hoàn toàn xuyên tạc, sai sự thật, nhằm xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026./.

Cảnh giác không nên quá dựa vào vaccine Covid-19

    Hiện nay tình hình dịch bệnh Covid-19 trên thế giới và trong khu vực đang diễn biến hết sức phức tạp. Mặc dù đã được tiêm vaccine Covid-19 nhưng số lượng còn ít. Theo Bộ Y tế, hiện nay mới có tổng cộng 425.638 người đã được tiêm vaccine Covid-19. Theo Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam, thế giới ghi nhận khoảng 150 triệu ca Covid-19, trong đó hơn 3,1 triệu người đã tử vong. Đứng thứ nhất về số ca mắc là Mỹ, sau đó là Ấn Độ và Brazil.
    Ấn Độ đang đối mặt với cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất từ trước tới nay do đại dịch Covid-19 gây ra, số ca mắc mới được ghi nhận ở mức cao kỷ lục và số ca tử vong vượt mốc 200.000. Các chuyên gia lo ngại số ca mắc thực tế ở nước này có thể cao gấp 30 lần con số báo cáo, lên hơn nửa tỷ người. Trong 24 giờ qua, khu vực Đông Nam Á có 5 quốc gia ghi nhận các ca tử vong vì Covid-19 trong đó Indonesia nhiều nhất với 168 ca, Philippines ghi nhận 63 ca, Malaysia thêm 13 ca, Thái Lan thêm 15 ca và Campuchia ghi nhận 3 ca.
    Tại Việt Nam, khoảng một tháng qua cả nước không ghi nhận ca nhiễm mới trong cộng đồng, song số ca nhiễm nhập cảnh tăng hàng ngày, có hôm hơn 25 ca. Kể từ ngày 27/1 bùng phát đợt dịch liên quan Hải Dương, Quảng Ninh đến nay, tổng ca nhiễm cộng đồng duy trì 911.
    Bộ Y tế cảnh báo nguy cơ lây nhiễm từ bên ngoài vào nước ta rất cao nếu không kiểm soát chặt đường biên giới, đặc biệt với Campuchia. Ngành y tế đang lập bệnh viện dã chiến tại cửa khẩu Hà Tiên và thành phố Cần Thơ, kiểm soát chặt biên giới, ngăn chặn dịch xâm nhập. Người dân được khuyến cáo thực hiện nghiêm quy tắc 5K. 

Quân đội “trung lập về chính trị” - sự đòi hỏi phi lý, không thể chấp nhận .

Đòi hỏi quân đội “trung lập về chính trị” là thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch để chống phá cách mạng Việt Nam. Mục tiêu xuyên suốt của họ là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, trước hết là vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng và lý tưởng chiến đấu. Quân đội nhân dân cùng với Công an nhân dân là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội, trước hết bắt nguồn từ đường lối đúng đắn của Đảng. Do vậy, nếu làm suy yếu Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sẽ làm cho Đảng ta mất chỗ dựa vững chắc, tin cậy và điều đó cũng có nghĩa mở đường cho việc chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Rõ ràng đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch. Bằng nhiều giọng điệu khác nhau, họ rêu rao quan điểm: Quân đội cần phải “trung lập về chính trị”, Quân đội “không cần sự lãnh đạo của đảng phái nào cả”, Quân đội “không cần trung thành với Đảng Cộng sản”, v.v. Để nhấn mạnh thêm “ý nghĩa” các quan điểm đó, họ bịa đặt rằng: “do phải trung thành với Đảng Cộng sản, nên Quân đội chỉ lo chống “Diễn biến hòa bình”, mà lơ là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”? Họ “khuyên” hãy “học tập cách thức xây dựng quân đội của các nước tư bản”, v.v. Đó là những luận điệu sai trái! Nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, ai cũng biết: suốt 71 năm qua, mỗi bước trưởng thành của Quân đội đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân. Trong cuộc chiến đấu trước đây, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Quân đội ta cùng với toàn dân đã lập nên những chiến công hiển hách, đánh bại các đội quân xâm lược nhà nghề, có tiềm lực bậc nhất thế giới. Dù là chiến sĩ Vệ quốc quân ở chiến khu Việt Bắc, Anh bộ đội mặt trận Bình - Trị - Thiên khói lửa, hay người lính ở bưng biền Đồng Tháp, họ đều có điểm chung là một lòng theo tiếng gọi của Đảng, cầm súng chiến đấu vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Nhờ đường lối đúng đắn của Đảng, mà dân tộc, quê hương, bà con họ hàng và bản thân gia đình họ thoát khỏi cảnh mất nước, lầm than, vươn lên tự quyết định lấy tương lai tươi sáng của mình. Giờ đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta - con em của đồng bào các dân tộc trong cả nước - vẫn ngày đêm vững chắc tay súng, cùng toàn dân giữ vững chủ quyền, biển đảo, vùng trời và môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng đời sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc. Dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta cũng tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; luôn gắn bó mật thiết với Đảng, Nhà nước và nhân dân, quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao phó. Yêu cầu Quân đội “trung lập về chính trị”, thực chất là hòng xóa bỏ bản chất cách mạng, xóa bỏ tất cả những gì tốt đẹp nhất của Quân đội nhân dân được xây đắp trong suốt mấy mươi năm qua, hơn thế, còn đẩy Quân đội đối lập với Đảng và nhân dân; vô hiệu hóa vai trò “Quân đội là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Để thực hiện mưu đồ đó, họ tập trung công kích vào những vấn đề cơ bản nhất tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, đó là: phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; phá hoại sức mạnh đoàn kết giữa Đảng, Quân đội và nhân dân. Họ ra sức xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh; bôi nhọ, nói xấu và đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Đồng thời, dựng chuyện, bóp méo một số sự kiện để vu khống, bôi nhọ Đảng và Nhà nước trong quá trình lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước. Dù biết, không gì có thể phá hoại được sức mạnh đoàn kết dân tộc, cũng như không gì có thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, nhưng đối với họ, chí ít thì cũng gây ra sự hoài nghi đối với Đảng trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, từ đó tạo sự lơ là, thiếu cảnh giác, để dễ bề lung lạc bản chất cách mạng của Quân đội ta, v.v. Những thủ đoạn đó là vô cùng nguy hiểm, cần hết sức cảnh giác; những đòi hỏi của họ là hết sức phi lý, không thể chấp nhận, cần bác bỏ! Trước hết, cần khẳng định rằng, trên thế giới không có và không thể có một quân đội nào “trung lập về chính trị” hay “đứng ngoài chính trị”. Lịch sử nhân loại chứng minh rằng, mọi quốc gia và ở mọi thời điểm, sự xuất hiện của quân đội luôn gắn liền với chính trị, sự ra đời của nhà nước và chiến tranh. Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà nước và do nhà nước, giai cấp đó thành lập, nuôi dưỡng, sử dụng để tiến hành đấu tranh vũ trang, thực hiện mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Quân đội các nước tư bản mang bản chất của giai cấp tư sản, được nhà nước tư sản tổ chức, nuôi dưỡng và bảo vệ chính thể và quyền lợi của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ tư hữu, luật pháp và trật tự của xã hội tư bản. Quân đội vô sản là quân đội kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản sáng lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Quân đội chiến đấu vì độc lập, chủ quyền quốc gia - dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân và vì đoàn kết quốc tế. Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, Đảng Cộng sản hết sức coi trọng xây dựng Quân đội về chính trị. Kinh nghiệm xây dựng Quân đội ở các nước xã hội chủ nghĩa chỉ ra rằng, việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện tiên quyết bảo đảm Quân đội vững mạnh, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Ở đâu và nơi nào xem nhẹ nhân tố chính trị hoặc nhân nhượng, thỏa hiệp, thậm chí từ bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Quân đội, thì ở đó Quân đội mất mục tiêu, lý tưởng, phương hướng chiến đấu, đất nước rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản,… như thế giới đã từng chứng kiến ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây. Thứ hai, cần làm rõ sự khác nhau giữa đòi hỏi quân đội phải “trung lập về chính trị” của các “nhà dân chủ” Việt Nam với đòi hỏi quân đội phải “trung lập” trong bầu cử ở một số nơi trên thế giới. Để tăng thêm sức nặng của đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam phải “trung lập về chính trị”, các “nhà dân chủ” thường dẫn giải về sự “trung lập” của quân đội các nước tư bản trong các cuộc vận động bầu cử. Họ phân tích nhiều điều, dẫn ra nhiều thí dụ để nói về ý nghĩa của việc thực hiện đòi hỏi đó, nhưng lại lẩn tránh làm rõ sự khác nhau giữa chúng, v.v. Thực tế thì ở một số nước tư bản thực hiện chế độ đa đảng, cuộc đấu tranh giữa các đảng phái tư sản để giành quyền kiểm soát cơ quan quyền lực nhà nước diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp. Trong cuộc đấu tranh đó, quan điểm: “quân đội chỉ tuân theo pháp luật” hay “quân đội phải trung lập”, được các bên cổ súy, nhằm bảo đảm cho đảng phái mình chiến thắng trong bầu cử. Về bản chất, đấy không phải là quan điểm đòi quân đội “phi chính trị hóa”, hay quân đội “trung lập về chính trị” để nhằm mục đích chuyển hóa chế độ chính trị của đất nước như đòi hỏi của các “nhà dân chủ” Việt Nam. Đó chỉ là những đòi hỏi: quân đội “đứng ngoài cuộc” trong quá trình tranh giành quyền lực giữa các đảng phái của giai cấp tư sản, chứ không hề đụng đến chế độ chính trị - xã hội của đất nước họ, v.v. Thực tế cho thấy, ở các nước tư bản, quân đội không những không “trung lập về chính trị”, mà còn là công cụ đắc lực để thực hiện tham vọng chính trị của giai cấp cầm quyền. Chẳng phải ở Mỹ và phương Tây, quân đội luôn là lực lượng để bảo vệ thể chế chính trị đất nước; đồng thời, là công cụ hữu hiệu để can thiệp quân sự, lật đổ chính quyền những quốc gia không thân thiện với họ đó sao? Từ năm 1990, Mỹ và liên quân đã tiến hành can thiệp vào đời sống chính trị của nhiều nước độc lập có chủ quyền, kể cả tiến hành chiến tranh ở các nước, như: Nam Tư, Áp-ga-ni-xtan, I-rắc, Li-bi trước đây, hay ở Xy-ri hiện nay. Các “nhà dân chủ” thường “quên” những vấn đề cốt lõi, tày đình này, để đưa ra những khái niệm mập mờ, nhằm phục vụ cho mưu đồ xấu của họ. Thật là sự đòi hỏi phi lý không thể chấp nhận! Thứ ba, yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới, đòi hỏi phải tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; trong đó, phải: “chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái”, như Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng XII đã nêu. Để thực hiện tốt điều đó, cần tập trung nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng, đường lối đổi mới đất nước; chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, cũng như yêu cầu đối với Quân đội trong thời kỳ mới. Đồng thời, tăng cường đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, nhất là trên các phương tiện truyền thông, nhằm vạch trần bản chất phản động, phản khoa học và tính chất nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”, luận điệu đòi Quân đội “trung lập về chính trị”. Hơn ai hết, trong cuộc đấu tranh gay go và phức tạp này, chúng ta phải ghi nhớ lời dạy của V.I. Lê-nin: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động,…”1. Để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cũng tức là làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa” Quân đội ta, chúng ta cần tiếp tục coi trọng nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị; tập trung xây dựng các tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh để lãnh đạo đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng cho mọi quân nhân, tạo sự “miễn dịch” và tăng cường sức “đề kháng” để ngăn chặn mọi sự xâm nhập và phá hoại của các luận điệu thù địch, nhất là luận điệu: quân đội “trung lập về chính trị”. Đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và nhân dân; có đủ sức mạnh hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.