Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

Vỗ tay phải vỗ bằng hai tay

Từ nhiều năm nay, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30-4-1975, trên một số báo mạng tiếng Việt ở nước ngoài và tài khoản mạng xã hội của một số cá nhân lại nói nhiều đến vấn đề hòa hợp dân tộc. Năm nay, có lẽ vì kỷ niệm năm chẵn nên nhiều báo mạng ở nước ngoài tổ chức hẳn một “chiến dịch truyền thông” rầm rộ nói về sự kiện này. Điều đáng nói, khác với mọi năm, ngày 30-4 năm nay đã đi qua nhưng những vấn đề mà họ đưa ra “mổ xẻ”, “thảo luận” vẫn chưa dừng lại. Riêng vấn đề hòa hợp dân tộc vẫn được họ bình phẩm tùy tiện, đài này tung, báo kia hứng, cộng thêm các trang blog, facebook “trăm hoa đua nở” dễ khiến những người vốn ít quan tâm đến mạng xã hội sẽ ngộ nhận dường như đang có điều gì đó rất nghiêm trọng về vấn đề này ? Ví dụ như có tờ báo mạng ở Mỹ tổ chức không ít bài viết, lấy ý kiến của nhiều nhân vật để bình luận về Diễn văn lễ mít tinh kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Bài diễn văn cô đọng, súc tích, được dư luận trong nước cũng như quốc tế khen ngợi thì họ lại võ đoán cho rằng “người dân thất vọng tràn trề”, diễn văn “dùng ngôn từ cũ kỹ như 40 năm về trước”, rồi “Mỹ đang mở cửa, hợp tác làm ăn với Việt Nam mà còn nhắc lại những từ như tội ác, dã man làm gì để khơi gợi hận thù”… Đích đến của những bài báo kể trên đều nhằm “luận tội” khi cho rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam không thực tâm muốn hòa hợp dân tộc; kích động rằng “thực chất đồng bào trong nước và Việt kiều thì không có mâu thuẫn gì, vấn đề chỉ là mâu thuẫn giữa chính quyền trong nước với kiều bào ở nước ngoài”… Như vậy, dù lấy cớ này hay cớ khác, quan điểm này hay quan điểm khác thì cuối cùng vấn đề họ nêu cũng quay lại với luận điệu cũ kỹ mà họ đã “ôm ấp” suốt 40 năm qua – đó là xuyên tạc đường lối đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Diễn văn kỷ niệm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện sự chân thành, công khai kêu gọi đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài: “Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công, đồng bào ta ở trong nước cũng như ở nước ngoài, mỗi người chúng ta hãy nêu cao tinh thần dân tộc, lòng yêu nước thương nòi, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, không phân biệt quá khứ, vượt lên trên những khác biệt, cùng nhau chân thành hòa hợp dân tộc, vun đắp và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, tất cả vì một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh như mong muốn cuối cùng trong Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu” thì họ vẫn nói rằng, Đảng, Nhà nước ta “chỉ nói mà không làm”. Điều đáng mừng là ngay trong các bình luận, các ý kiến trên mạng xã hội đã xuất hiện nhiều bài viết chỉ rõ rằng, những người cố xuyên tạc sự thật như trên chỉ là là một bộ phận nhỏ mà hầu hết họ là những quân nhân, sĩ quan, công chức thuộc chế độ Việt Nam Cộng hòa vốn bỏ nước ra đi sau ngày 30-4-1975. 40 năm đã trôi qua nhưng chính họ là những người cố ôm lấy những hận thù đã cũ. Vấn đề hòa hợp dân tộc được ví như chuyện vỗ tay, muốn vỗ thì phải vỗ bằng hai tay, chứ không thể một tay. Hòa hợp dân tộc phải đến từ hai phía. Một Việt kiều đã viết lên facebook của mình: “Thiết nghĩ, muốn hòa giải, cái quan trọng nhất là làm thế nào để sự mặc cảm, thù hận, phân biệt giảm đi và cà hai phía phải gần gũi hơn, chìa bàn tay ra để kéo lại. 40 năm trôi qua đủ để một thế hệ thứ hai đã đến tuổi chín chắn. Vậy mà vẫn còn những người nuôi lòng thù hận. Ấy là cố chấp và nhỏ nhen…”. Có một thực tế mà chúng ta không né tránh, là ở một vài nước phương Tây, cứ vào dịp 30-4 thì một số người Việt ở đó tổ chức “ngày quốc hận”. Những người này đã tô vẽ, lập rất nhiều tổ chức, đảng phái để tìm cách phá hoại nước nhà bằng nhiều cách. Có những người như Võ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh, Ksor Kok.. đã tìm mọi cách đưa người và vũ khí về nước hòng quấy rối, khủng bố, phá hoại an ninh trật tự của nước nhà, phá hoại cuộc sống yên bình của nhân dân. Ngay trong ngày 30-4-2015 vừa qua, trong khi 90 triệu đồng bào trong nước và đông đảo kiều bào ở nước ngoài đều chăm chú theo dõi mít tinh kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì ở một vài nơi, lại có những nhóm người Việt tổ chức kỷ niệm “Tháng Tư đen”, với trò hề kêu gào “Tự do, dân chủ, nhân quyền”… Vì sao lại có một nhóm người vẫn cố chấp ôm thù hận cũ như vậy ? Nhà báo Nguyễn Phương Hùng, Tổng biên tập trang web KBCHN tại Mỹ, một thời là người cầm súng thuộc chế độ Việt Nam Cộng hòa, trong dịp 30-4 vừa qua đã trả lời phỏng vấn báo Quân đội nhân dân. Ông cho rằng: “Chủ trương, chính sách hòa hợp dân tộc được Đảng, Nhà nước ban hành, thúc đẩy ngay sau ngày đất nước thống nhất, nhưng trên thực tế vẫn còn những điều chưa đạt được như mong muốn. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên do, nhưng có thể nhận thấy rõ nhất là một bộ phận người Việt ở hải ngoại đã từng phục vụ cho chế độ VNCH thời kỳ đó còn quá khích, cực đoan, tìm cách kích động, lôi kéo, gây chia rẽ cộng đồng người Việt ở nước ngoài với Đảng, Nhà nước và nhân dân trong nước. Mặt khác, một bộ phận ở hải ngoại do không nắm được đầy đủ thông tin về những đổi mới, tiến bộ ở trong nước nên cứ mang nặng suy nghĩ Việt Nam là một đất nước tụt hậu, kém phát triển. Điều may mắn của cá nhân tôi là có dịp về nước từ tháng 9-2010 và nhiều chuyến sau đó, đã được Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Bộ Ngoại giao tạo điều kiện tiếp xúc với nhiều cơ quan Nhà nước, đến nhiều tỉnh, thành phố, chứng kiến những đổi thay kỳ diệu của đất nước. May mắn hơn, tôi còn được ra huyện đảo Trường Sa (Khánh Hòa) để thấy một phần Tổ quốc mình nơi biển khơi và ý chí hiên ngang, anh dũng, hy sinh, vượt qua khó khăn để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của cán bộ, chiến sĩ. Cơ hội này đã giúp tôi có một cách nhìn khác về một quê hương Việt Nam phát triển, đổi mới. Đảng, Nhà nước Việt Nam và nhân dân trong nước dành cho người Việt Nam ở nước ngoài tình cảm và sự bao dung, mong kiều bào trở về giúp quê hương”. Dịp 30-4 vừa qua, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân đã chia sẻ với báo chí: "Việc chia thành 2 phe trong một đất nước trong thời chiến là điều không ai mong muốn, nhưng đó là thực tế lịch sử. Từ năm 1946, khi chúng ta giành chính quyền sau cách mạng tháng Tám có những người đứng ở bên phía Pháp, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: 'Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi, 5 ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài, nhưng ngắn dài đều hợp ở nơi bàn tay, trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác. Nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường ta phải lấy tinh thân ái mà cảm hóa họ, có như thế mới thành đoàn kết. Có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn vẻ vang”. Tôi nghĩ rằng cách nhìn của Bác, lời dạy của Bác từ đó đến nay đã thấm trong lãnh đạo Việt Nam qua các thời kỳ cũng như nhân dân trong cả nước. Cho dù có lúc đứng đối diện với nhau, cho dù có những khi đã chĩa súng vào nhau, dù mỗi bên đều đã mất mát người thân của mình nhưng nhớ lại lời dạy của Bác thì chúng ta đều một gốc cả, đều là con cháu vua Hùng, đều có lòng yêu nước. Bác Hồ nói rất hay "ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc", đó chính là điểm tựa của chúng ta để cùng hướng về quê hương”. Chia sẻ của Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, chẳng những đã lột tả đầy đủ tinh thần đổi mới, cởi mở, tha thiết muốn có hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mà còn đề cập rõ một vấn đề mà nhiều “nhà dân chủ” đã kêu gọi lâu nay. Gần đây trong các nỗ lực hàn gắn thúc đẩy quá trình hòa hợp dân tộc, lòng yêu nước được coi là không phải độc quyền của riêng ai. Mỗi người có thể, có quyền và có cách thể hiện lòng yêu nước của riêng mình. Đúng là như vậy. Nhưng đấy chỉ là khái niệm chung. Còn đã là người yêu nước thì phải có những phẩm chất, tiêu chí nhất định phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Trên mạng xã hội, khi tranh luận với các “nhà dân chủ”, đã có công dân nêu vấn đề: “Ví như trong hoản cảnh đất nước bị kẻ thù xâm lược thì biểu hiện rõ ràng nhất của lòng yêu nước là lòng căm thù giặc, hăng hái góp công sức, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cứu nước. Ngược lại, người đi theo giặc, làm lính đánh thuê cho chúng thì không thể nói là yêu nước được”. Đây cũng là điều cần phải được nói cho rõ ràng, bởi vì không ít “nhà dân chủ” đang thực hiện “đánh tráo khái niệm lòng yêu nước”. Họ đang ra sức kêu gọi Đảng, Nhà nước ta công nhận “Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu… cũng là những người yêu nước, họ chỉ yêu nước theo cách khác với Hồ Chí Minh ?”. Những lời kêu gọi, những đòi hỏi đó thực chất là âm mưu muốn xóa nhòa bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta; đánh đồng giữa chính nghĩa và phi nghĩa; đánh đồng chiến thắng của nhân dân Việt Nam với lực lượng thực dân, đế quốc và tay sai. Trong lúc họ ra sức kêu gọi, đòi hỏi như vậy nhưng chính các sự thật lịch sử đã bác bỏ ý kiến của họ. Mỗi khi những ý kiến kiểu đó xuất hiện, vẫn luôn có những ý kiến phản bác tự giác của những công dân có trách nhiệm, các ý kiến này đã thẳng thắn chỉ rõ sự thực những Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu đều là tay sai không giấu giếm của thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ. Ngô Đình Diệm từng nói “biên giới nước Mỹ kéo dài đến vĩ tuyến 17”; hay Nguyễn Văn Thiệu đã thẳng thắn nói khi bị buộc từ chức: “Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực chất là đánh thuê cho Mỹ, nay họ trở mặt bỏ mặc chúng tôi thì việc thua Việt Cộng là không tránh khỏi”… Năm 2004, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có Nghị quyết 36 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết đã xác định Việt kiều là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam; là nguồn lực quan trọng góp phần xây dựng đất nước; là cầu nối cho tình hữu nghị, tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các nước. Trong các chuyến đi thăm, làm việc tại nước ngoài, lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn dành một thời gian nhất định để tiếp xúc, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của đồng bào. Có những cuộc gặp lịch sử, như lần Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đi thăm Mỹ năm 2007, cuộc gặp được tổ chức với số lượng đại biểu lên đến khoảng một nghìn người. Những cuộc gặp gỡ như vậy, cùng với những đổi mới liên tục của Đảng, Nhà nước ta trong chủ trương, đường lối, chính sách với người Việt Nam ở nước ngoài đã và đang khẳng định một cách chắc chắn, nhất quán vấn đề hòa hợp dân tộc. Luật Quốc tịch năm 2008 đã tạo điều kiện cho phép công dân Việt Nam có thể mang hai quốc tịch, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật nhà ở và Điều 121 Luật đất đai cho phép mở rộng đối tượng người Việt Nam ở nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam, miễn thị thực cho kiều bào cư trú trong nước 3 tháng, bước đầu xây dựng chính sách, biện pháp thu hút chuyên gia, trí thức kiều bào trở về đóng góp cho đất nước.... Và trên thực tế, vấn đề hòa hợp dân tộc đang thu được rất nhiều thành tựu. Về kinh tế, năm 2014, kiều hối được ghi nhận là khoảng 12 tỷ USD. Về khoa học-giáo dục, ngày càng có nhiều trí thức Việt kiều trở về giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Các tổ chức cộng đồng người Việt ở nước ngoài ngày nhiều, được tổ chức mang tính hệ thống ở nhiều quốc gia; tinh thần giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam được đồng bào ở nước ngoài quan tâm đẩy mạnh; số lượng Việt kiều trở về thăm đất nước ngày càng tăng… Những thành tựu ngày càng to lớn và toàn diện trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài chính là kết quả rõ ràng nhất về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam khi thực hiện hòa hợp dân tộc. Những luận điệu kêu gào, xuyên tạc rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam thiếu thiện chí trong vấn đề hòa hợp dân tộc, phân biệt đối xử với những người thuộc chế độ cũ cùng những âm mưu xóa nhòa bản chất cuộc chiến tranh vệ quốc, đánh đồng giữa chính nghĩa và phi nghĩa sẽ ngày càng trở nên lạc lõng. Thiết nghĩ, 40 năm đã trôi qua, một quãng thời gian quá đủ để những người vẫn đang ôm ấp trong lòng hận thù cũ vượt qua những mặc cảm và định kiến. Rất nhiều người trong số họ khi trở về thăm quê hướng, thấu hiểu thực tiễn đổi thay của đất nước đều đã thay đổi được định kiến, có thêm những việc làm góp sức xây dựng quê hương. Rất mong rằng, những người yêu nước theo quan niệm cũ hãy gác lại quá khứ, hãy trở về và làm những việc tưởng như nhỏ nhất như “xây thêm một viên gạch, trồng thêm một cây xanh, góp thêm một sáng kiến để cho đất nước Việt Nam của chúng ta ngày càng mạnh thêm”.

Kẻ núp bóng “vì tù nhân lương tâm” để chống phá, kích động

    Theo thông tin từ cơ quan An ninh điều tra-Công an TP Hà Nội, Nguyễn Thúy Hạnh sinh năm 1963 và có hộ khẩu thường trú tại phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội vừa bị Cơ quan An ninh điều tra – Công an TP Hà Nội thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam ngày 7-4 vì tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Sau khi Hạnh bị bắt, một số báo nước ngoài, trang mạng xã hội đã đưa thông tin sai đúng sự thật, xuyên tạc rằng Hạnh bị bắt là do chính quyền Việt Nam "đàn áp dân chủ", do "từng tham gia tự ứng cử đại biểu Quốc hội"...Thậm chí, một số trang mạng còn ngợi ca Hạnh là người hết mình vì các "tù nhân lương tâm", "người truyền cảm hứng"...Nhưng sự thật về đối tượng này không như những lời hoa mỹ đó. 

    Trên facebook cá nhân, Nguyễn Thúy Hạnh đưa rất nhiều thông tin hoạt động “từ thiện” dành tặng cho “tù nhân lương tâm” và người thân trong gia đình những kẻ bị bắt về tội danh tuyên truyền chống nhà nước đã bị tòa án các cấp xử phạt và đang thụ án. Từ năm 2011, Hạnh đã tham gia tích cực vào nhiều hoạt động tụ tập đông người trái phép, những cuộc biểu tình dưới danh nghĩa “yêu nước”, “chống Trung Quốc”. Sau vài lần bị xử lý hành chính, Nguyễn Thúy Hạnh nhanh chóng trở thành một biểu tình viên tích cực và “chuyên nghiệp” của cái gọi là “làng” dân chủ ở Việt Nam. Hạnh tham gia vào nhiều hoạt động như cafe nhân quyền, biểu tình đòi thả tự do cho những đối tượng vi phạm pháp luật, gây rối trật tự công cộng trước cổng các cơ quan nhà nước, biểu tình phản đối chặt cây xanh... Hạnh còn viết bài trên facebook về các sự việc tiêu cực để quy chụp, vu khống, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các địa phương; viết bài biện hộ cho Việt Tân. Hạnh cũng tham gia vào rất nhiều những hội nhóm mang danh xã hội dân sự để hoạt động chống phá như Hội dân oan, mạng lưới blogger Việt Nam, hội phụ nữ nhân quyền, Hội nhà báo độc lập... 

    Năm 2016, Nguyễn Thúy Hạnh đã lập ra quỹ “tù nhân lương tâm” có tên gọi “50K”. Việc tự lập quỹ “50K” của Hạnh đã vi phạm các quy định của pháp luật, trong đó có Nghị định số 93/2019/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện có nêu rõ người lập quỹ phải có hồ sơ với chương trình cụ thể về việc lập quỹ, huy động nguồn quỹ và sử dụng quỹ rồi trình cơ quan chức năng xem xét, cấp phép. Đặc biệt, tại Điều 9, Nghị định 93 đã đưa ra 6 nội dung các hành vi bị nghiêm cấm trong lập quỹ như: Làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng; gây phương hại đến lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng, khối đại đoàn kết dân tộc; rửa tiền, tài trợ khủng bố và các hoạt động trái pháp luật… 

    Việc Nguyễn Thúy Hạnh tích cực hoạt động gây quỹ và ủng hộ cái gọi “tù nhân lương tâm” thực chất là việc làm vô lương tâm, trái cả đạo lý và pháp lý, ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia. Những hành vi đó cần phải được xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. Hi vọng cơ quan chức năng sớm điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm minh và thông tin kịp thời về sai phạm của Nguyễn Thúy Hạnh.


Phòng ngừa, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” .

Trong Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, một trong những thủ đoạn hết sức thâm hiểm của chúng là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, nhằm tha hóa nhận thức của cán bộ, từ đó dẫn đến những thay đổi về đường lối, chính sách-những biểu hiện của chuyển hóa chế độ XHCN ở nước ta sang một quỹ đạo khác. Đặc biệt là trong thời điểm hiện nay, khi tổ chức đảng các cấp đang tiến hành đại hội để tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII thì việc chống phá càng ráo riết. Các thế lực thù địch, cơ hội, bất mãn sử dụng đủ mọi chiêu trò, kể cả những việc có tính xảo trá như: Dựng chuyện, làm giả công văn giấy tờ, gửi đơn nặc danh tới các cơ quan công quyền để khiếu nại, tố cáo... Tất cả những hành động ấy là nhằm mục đích gây chia rẽ nội bộ, làm cho cán bộ, đảng viên nghi kỵ lẫn nhau, đảng viên phai nhạt niềm tin, quần chúng thiếu tin tưởng vào cấp ủy, chính quyền. Nhìn nhận một cách xác đáng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có cả nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, song quá trình và mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chủ yếu do nguyên nhân bên trong, nguyên nhân chủ quan, tức là do chính chúng ta quyết định. Điều này đã được V.I.Lê-nin cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”(1). Vì vậy, để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải kịp thời phát hiện và triệt tiêu các mầm mống, khả năng gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị. Thực tế cho thấy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mỗi con người, mỗi tổ chức trước hết và chủ yếu là về tư tưởng chính trị. Lĩnh vực này diễn ra hết sức phức tạp, đa dạng, với nhiều cấp độ, dần dần, nhỏ nhặt, mà biểu hiện cao nhất đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị trên các khía cạnh như: Phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đòi Đảng phải từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phê phán lịch sử cách mạng Việt Nam một cách thiếu khách quan; đòi xét lại con đường đi lên CNXH ở nước ta, kêu gọi thay bằng chế độ TBCN; xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Thực tiễn cách mạng thế giới đã cho thấy, nếu tư tưởng chính trị chệch hướng sẽ làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước bị chia rẽ, dẫn đến hệ lụy là nguy cơ “tự sụp đổ” chế độ chính trị khó tránh khỏi. Vì vậy, các thế lực thù địch luôn đặt trọng tâm thúc đẩy "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” nhằm vào các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, là nơi hoạch định ra đường lối, chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển đất nước. Tùy theo từng đối tượng và phạm vi tác động mà các thế lực thù địch sử dụng những thủ đoạn, nội dung, hình thức, biện pháp để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị khác nhau. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế. Biểu hiện đó là sự phủ nhận đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay; hạ thấp, đi đến làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước XHCN; đòi tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu để thay thế bằng chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN... Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế càng trở nên nguy hiểm trong điều kiện các thế lực thù địch có tiềm lực kinh tế rất mạnh. Chúng tìm mọi cách lợi dụng những kẽ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, khoét sâu vào hạn chế, khuyết điểm của ta để cổ súy, thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế, nhằm đến một lúc nhất định, khi sở hữu tư nhân TBCN đã giữ vai trò chi phối cơ sở hạ tầng kinh tế, thực chất là chuyển hóa thành kinh tế TBCN, thì kiến trúc thượng tầng XHCN chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa và “đổi màu”. Khi đó, chế độ kinh tế XHCN được thay thế bằng chế độ kinh tế TBCN. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống. Biểu hiện của quá trình này ở việc sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc; thương mại hóa các hoạt động văn hóa một cách thái quá, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, sống xa hoa, xa rời quần chúng... Nhận rõ tính chất nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”(2). Vì vậy, chúng ta cần làm tốt việc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trước hết chú trọng vào một số biện pháp chủ yếu sau: Thứ nhất, phải luôn giữ vững bên trong đi đôi với chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện "tự diễn biến", “tự chuyển hóa”. Giữ vững bên trong là giữ vững ổn định chính trị, xã hội; kiên định mục tiêu, lý tưởng XHCN; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc... Đồng thời, chủ động đấu tranh vạch rõ âm mưu, thủ đoạn hiểm độc của các thế lực thù địch tìm cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta ở mọi nơi, mọi lúc. Thứ hai, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy "xây" làm cơ sở quyết định để “chống”. Trước hết, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải tập trung xây dựng, củng cố hệ thống chính trị luôn trong sạch, vững mạnh để bảo đảm sự “miễn dịch” trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Phát hiện kịp thời các nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ khi còn ở dạng mầm mống, khả năng để làm cơ sở đấu tranh, phê phán, ngăn chặn hữu hiệu. Đồng thời, đấu tranh kiên quyết và triệt để với tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, coi đó như một thứ “giặc nội xâm”, không khác gì cuộc đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Thứ ba, phải coi trọng công tác tổ chức, cán bộ kết hợp với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng” vừa “chuyên”. Cần làm tốt công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, sắp xếp cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, chủ trì các cấp trong hệ thống chính trị, không để các thế lực thù địch lợi dụng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta. Vì thế, phải coi trọng gắn kết chặt chẽ công tác tổ chức, cán bộ với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ lý luận cách mạng, năng lực công tác, trau dồi phẩm chất đạo đức, lối sống, để mỗi người không dao động tư tưởng trước những tình huống khó khăn, phức tạp. Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn nham hiểm để hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta. Song, mọi mưu đồ của chúng có thực hiện được hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào chính chúng ta. Vì vậy, cần khẳng định, khi mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam luôn nhận rõ mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay; đồng thời, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng luôn vững niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự quản lý của Nhà nước, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, thì sẽ góp phần phòng ngừa, đẩy lùi được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Giữ gìn độc lập, tự chủ phải dựa vào nguồn lực của chính mình

Lịch sử đã chỉ rõ, muốn giữ được sự độc lập, tự chủ, giữ được chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thì phải dựa vào nguồn lực của chính mình. Tuyệt đối không được manh nha tư tưởng là dựa vào người khác, thế lực khác để giữ gìn độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đây là nguyên tắc cao nhất, bất di bất dịch, không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện như thế. Từ ngày 6 đến 10/7, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đi thăm chính thức Hợp chúng quốc Hoa Kỳ theo lời mời của Chính phủ Hoa Kỳ. Đây là chuyến thăm nhằm tăng cường mối quan hệ đối tác hợp tác toàn diện mà Chính phủ hai bên đã thống nhất trước đó. Thế nhưng mấy ngày gần đây, trên một số tờ báo mạng có trụ sở từ nước ngoài có quan điểm thiếu thiện chí với Việt Nam và một số trang blog đã có những bài viết bình luận kiểu “đoán mò”, hòng hướng lái dư luận theo âm mưu của họ. Tệ hơn, có những bài báo còn cố tình dắt dây từ chuyện này sang chuyện khác, nhằm nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đánh lừa dư luận bằng những chuyện vụn vặt để nhằm vào hai mục đích: Thứ nhất là “câu view”; thứ hai là chống phá cách mạng Việt Nam. Trong thế giới tự do thông tin, tự do ngôn luận, việc các trang mạng kia nói những gì rõ ràng là quyền của họ. Tuy nhiên, để cho một tờ báo có thể trở nên có uy tín thực sự thì điều tiên quyết đối với tờ báo đó là phải nói đúng sự thật. Những người viết ra những bài báo đó phải là những người có đạo đức của người làm báo, không có tà tâm, tà ý. Nhưng nghe và đọc những bài báo của các trang mạng nói trên, tôi không nhận thấy tác giả các bài báo nói trên có đạo đức về báo chí. Lịch sử đã chỉ rõ, muốn giữ được sự độc lập, tự chủ, giữ được chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thì phải dựa vào nguồn lực của chính mình. Tuyệt đối không được manh nha tư tưởng là dựa vào người khác, thế lực khác để giữ gìn độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đây là nguyên tắc cao nhất, bất di bất dịch, không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện như thế. Ngược lại thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 18/12/1946, khi xác định rõ âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập gấp Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng ở làng Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội ngày nay). Hội nghị này đã quyết định kêu gọi nhân dân cả nước tiến hành Toàn quốc kháng chiến để chống lại thực dân Pháp. Hội nghị này cũng đã đề ra đường lối cơ bản để tiến hành cuộc kháng chiến, đó là: Kháng chiến toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Đường lối kháng chiến từ Hội nghị Vạn Phúc đã theo dân tộc Việt Nam đi hết 9 năm kháng chiến trường kỳ và đến thắng lợi “chấn động địa cầu” tại Điện Biên Phủ tháng 5/1954. Cũng từ đường lối kháng chiến ấy, chúng ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, buộc quân Pháp phải rút khỏi Việt Nam và Đông Dương. Bước sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hội nghị Trung ương 15 mở rộng đã xác định rõ con đường giải phóng đất nước chỉ có thể là đoàn kết toàn dân, lấy sức mạnh của quần chúng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng để tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, thống nhất đất nước. Đó là sự phát triển quan điểm, chủ trương “dựa vào sức mình là chính” đã được hiện thực hóa từ cuộc kháng chiến chống Pháp. Với đường lối kháng chiến đúng đắn, sức mạnh của toàn dân tộc đã được cố kết và đã chiến thắng bom đạn của quân thù, thu non sông về một mối bằng thắng lợi vĩ đại trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4/1975. Sau giải phóng, do ảnh hưởng của cấm vận, cộng với sự vận dụng không phù hợp lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, duy trì cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp trong một thời gian dài, khiến đất nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng về kinh tế xã hội. Một lần nữa Đảng lại cùng với nhân dân cả nước mạnh dạn đứng lên tiến hành công cuộc đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng, giữ vững ổn định về chính trị, kinh tế từng bước phát triển vững chắc, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao. Ngược lại dòng lịch sử để chúng ta nhận thức thêm rằng, những thành quả mà dân tộc ta giành được hoàn toàn từ nội lực mà ra. Tuy nhiên chúng ta cũng thừa nhận, trên con đường cách mạng của Việt Nam có sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của bạn bè quốc tế. Sự giúp đỡ đó đã phần nào giúp chúng ta thuận lợi hơn trong quá trình tiến hành chiến tranh cách mạng, xây dựng đất nước, nhưng đó không phải là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mà tất cả những thành quả của cách mạng, của đất nước có được như hôm nay, đều bắt nguồn từ sức mạnh của quần chúng, từ quyết tâm của quần chúng được tập hợp dưới ngọn cờ tiền phong của Đảng. Trước đây đã rõ, bây giờ và cả mai sau chân lý này vẫn đúng. Người dân Việt Nam không bao giờ tin rằng có một thế lực nào đó sẽ vô tư giúp mình bảo vệ đất nước. Chỉ có những kẻ thiển cận trong suy nghĩ, hoặc cơ hội về chính trị thì mới nảy sinh tư tưởng cho rằng cần phải dựa vào một thế lực nào đó ngoài cõi để bảo vệ và chấn hưng đất nước. Người xưa gọi đây là những kẻ “há miệng chờ sung”. Do vậy lối suy nghĩ này cần bị tẩy chay, những con người này cần phải bị lên án trước dư luận. Vả lại lịch sử cũng đã chứng minh, tất cả những triều đại có tư tưởng, hành động ấy đều thất bại, thậm chí là mất nước. Chuyến thăm Hợp chúng quốc Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một hoạt động ngoại giao cũng như bao hoạt động ngoại giao trước đó của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Các hoạt động ngoại giao đó nhằm không ngừng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Với phương châm Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, chúng ta hoàn toàn tin rằng chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ thành công tốt đẹp. Mọi bình luận xiên xẹo của các thế lực thù nghịch, nhằm thực hiện các mưu đồ riêng về chuyến đi cần phải bị phê phán và bác bỏ./.

Kiên trì thực hiện đường lối độc lập, tự chủ trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo .

Trong khi đại đa số ý kiến ủng hộ phương thức đấu tranh hòa bình đúng đắn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, thì cũng có một số người lợi dụng tình hình ấy để bày tỏ “lòng trung thành với tâm nguyện vì dân vì nước” rồi cho rằng: “Không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”(!). Trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, ở trong nước cũng như ngoài nước xuất hiện nhiều tư tưởng lo lắng, quan ngại. Trong khi đại đa số ý kiến ủng hộ phương thức đấu tranh hòa bình đúng đắn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, thì cũng có một số người lợi dụng tình hình ấy để bày tỏ “lòng trung thành với tâm nguyện vì dân vì nước” rồi cho rằng: “Không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”(!). Thực chất, đó là biểu hiện của mưu toan hướng lái Việt Nam chệch khỏi đường lối độc lập và tự chủ trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; hòng “đục nước béo cò”, phục vụ cho những dã tâm nguy hiểm hơn của các thế lực thù địch, phản động chống phá Việt Nam. Chủ quyền quốc gia dân tộc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Đó là tình cảm tự nhiên, sâu thẳm trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam. Để thực hiện nhiệm vụ bảo toàn lãnh thổ của Tổ quốc, cả hệ thống chính trị và toàn quân, toàn dân ta đang tích cực, chủ động và kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây là đường lối đấu tranh hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt trong tình hình hiện nay. Đường lối này là sự kết tinh truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm giữ nước. Lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta đã cho thấy, khi nào Việt Nam kiên định đường lối độc lập và tự chủ thì cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc thắng lợi; trái lại, khi nào tinh thần độc lập và tự chủ không được phát huy đúng đắn, nhún nhường hay bị nước ngoài can thiệp, ép buộc thì nền độc lập của Tổ quốc bị đe dọa, đất nước bị xâm lược, thôn tính hay chia cắt lâu dài. Bài học đấu tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX chỉ ra, nhân dân ta đã bước ra khỏi hai cuộc chiến tranh với hai tư thế khác nhau. Nếu như trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân và dân ta đã đánh thắng Pháp trên chiến trường, nhưng lại không thắng được hoàn toàn các mưu đồ thâm hiểm trên bàn đàm phán Giơ-ne-vơ (1954), bị các cường quốc áp đặt, chi phối, chia chác và hy sinh nền độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, buộc nhân dân ta phải mất thêm 21 năm nữa cho cuộc đấu tranh của mình. Rút kinh nghiệm từ bài học xương máu đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã kiên quyết giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình không chỉ trên chiến trường, trên bàn đàm phán mà cả trên mặt trận ngoại giao; tận dụng và huy động hết thảy sức mạnh của thời đại, sức mạnh của sự ủng hộ quốc tế, của nhân dân và chính phủ khắp các nước trên thế giới. Với tinh thần đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã kiên trì thực hiện thắng lợi một cách trọn vẹn lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quyết giành cho được độc lập”, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta hiện nay đã chứng minh rằng, việc kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế… vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh của Đảng, Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn. Các cuộc chiến tranh và xung đột khắp Nam Âu đến Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi mấy thập niên qua đều chỉ ra, một trong những nguyên nhân và “ngòi nổ” của nó là thiếu sự kiên định đường lối đối ngoại độc lập và tự chủ của chính phủ các nước đó. Mới đây, bài học về cuộc nội chiến ở Xy-ri, xung đột và tan vỡ đất nước của U-crai-na, I-rắc… chính là sự không nhất quán về đường lối độc lập và tự chủ trong đấu tranh bảo vệ đất nước. Chính phủ và ngay cả một bộ phận nhân dân các nước đó đã luôn trông chờ hoặc nước này, hoặc thế lực kia đến “cứu giúp” dân tộc mình. Họ có biết đâu rằng, đằng sau những hành động và việc làm “vô tư”, “nhân đạo” đó là cả một “núi” những tham vọng về lợi ích chiến lược của các cường quốc; và hậu quả để lại cho nhân dân các nước đó là cảnh "nồi da nấu thịt”, chém giết lẫn nhau, tàn phá tan hoang chính quê hương, đất nước mình. Những bài học lịch sử còn nóng hổi tính thời sự, được rút ra từ xương máu của nhân loại và nhân dân Việt Nam đã trở nên rõ ràng. Ấy vậy mà, vẫn có những giọng điệu, tư tưởng “ngóng trông”, “chờ đợi” và mạnh dạn “khuyên can chân thành” Chính phủ và nhân dân Việt Nam nên liên minh quân sự với nước này để kiềm chế hay chống đỡ đối với nước khác mới bảo vệ được nền độc lập của mình (!). Nhưng để có được liên minh quân sự đó, họ cũng nói rõ ngay cái giá mà Việt Nam phải trả đó là: “Cần thay đổi chính sách nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam”; “từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và quân đội”; “thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội” (!) v.v.. Như vậy, động cơ và ý tứ “chân thành” của họ đã bộc lộ rõ “chân tướng”. Nếu ta làm theo họ, trước hết là đã từ bỏ những nguyên tắc căn bản nhất về quyền tự quyết dân tộc, tự quyết định đến vận mệnh của dân tộc mình-điều mà bất cứ một quốc gia, dân tộc, một người dân bình thường nào cũng không thể chấp nhận được. Tiếp đến, đó là chúng ta phải từ bỏ vũ khí sức mạnh chính trị, tinh thần đã hóa thành sức mạnh vật chất vĩ đại nhất của dân tộc ta trong suốt thế kỷ XX đến nay-vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Và nếu thực hiện theo ý họ, có nghĩa là chúng ta sẽ mắc mưu “đuổi hùm cửa trước, rước beo cửa sau”. Thực chất, đó là hành động “cõng rắn cắn gà nhà” đã bị lịch sử dân tộc Việt Nam lên án. Hơn nữa, trong việc đấu tranh phản đối nước ngoài xâm phạm trái phép chủ quyền vùng biển của Việt Nam vừa qua, chúng ta đã hiểu rõ chính phủ, nhân dân nước nào đã thực tâm với nhân dân Việt Nam, hết lòng, hết sức ủng hộ Việt Nam; còn ai lợi dụng hoàn cảnh rối ren để “đục nước béo cò”, toan tính tiếp tục thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, làm phức tạp thêm tình hình đất nước, phá hoại sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta từ bên trong. Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần hiểu đúng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sức mạnh tổng hợp của quốc gia về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong đó, sức mạnh của lực lượng vũ trang là nòng cốt; phát huy sức mạnh nội lực là chính, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kết hợp quân sự với kinh tế, chính trị với ngoại giao. Sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị, sự trung thành, tận tụy, trong sạch của đội ngũ cán bộ, công chức và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định. Chỉ có kiên trì thực hiện đường lối và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, chúng ta mới phát huy sức mạnh dân tộc, tranh thủ khai thác, phát huy sức mạnh thời đại cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc./.

Thứ Tư, 28 tháng 4, 2021

Quan điểm của Hồ Chí Minh về giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân .

Trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân. Điều này, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với cách mạng nước ta, góp phần đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. . Lợi ích theo Từ điển Tiếng Việt, là “điều có lợi, có ích cho một đối tượng nào đó, trong mối quan hệ với đối tượng ấy”[1]. Theo đạo đức học Mác - Lênin, “lợi ích là những điều kiện vật chất, tinh thần có tính khách quan đối với sự tồn tại và phát triển bình thường của các cá nhân, các cộng đồng người, các giai cấp và của xã hội nói chung”[2]. Với ý nghĩa đó, lợi ích cá nhân được hiểu là những điều có lợi, có ích cho cá nhân nói chung. Lợi ích cách mạng được hiểu là lợi ích chung của toàn dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử. Trong đó, xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam là xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, giành độc lập dân tộc và xây dựng thành công xã hội mới đảm bảo cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong bối cảnh đất nước bị xâm lược thì mục tiêu hàng đầu mà Hồ Chí Minh quan tâm đó là đánh đuổi chủ nghĩa thực dân, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Độc lập cho dân tộc là điều kiện để nhân dân được tự do, đồng bào được hạnh phúc. Nếu không có độc lập dân tộc thì không thể nói tới phát triển đất nước. Khi đất nước bị mất chủ quyền thì tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội đều phải chịu chung số phận của người nô lệ, đều phải chịu chung nỗi nhục mất nước. Người nhận thức sâu sắc rằng, độc lập dân tộc là cái trước hết, trên hết nhưng sau khi giành được độc lập rồi, thì đất nước sẽ phát triển theo con đường nào? Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại, Hồ Chí Minh khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc, phù hợp với xu thế thời đại và phù hợp với nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta. Mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân luôn tiềm tàng một mâu thuẫn, quan hệ giữa chúng là quan hệ giữa cái chung và cái riêng nên mâu thuẫn này là mâu thuẫn giữa cái chung và cái riêng, chứ không phải là mâu thuẫn đối kháng. Do đó, xã hội và cá nhân cần có sự điều chỉnh mối quan hệ giữa hai lợi ích trên. Với tư duy chính trị sắc bén, Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân. Nó góp phần khơi dậy, phát huy sức mạnh của cá nhân và cộng đồng trong sự nghiệp cách mạng chung. Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Hồ Chí Minh là phải đặt lợi ích của cách mạng, lợi ích của Tổ quốc lên trên lợi ích cá nhân. Điều này, được Người giải thích rất rõ trong “Bài nói tại buổi bế mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan trung ương” như sau: “Mọi người nhận rõ lợi ích chung của dân tộc phát triển và củng cố thì lợi ích riêng của cá nhân mới có thể phát triển và củng cố. Cho nên lợi ích cá nhân ắt phải phục tùng lợi ích của dân tộc, chứ quyết không thể đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích dân tộc. Đó là một tiến bộ”[3]. Vì “tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc”[4]. Sau này, trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Người khẳng định: “Trong chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, thì mỗi người là một bộ phận của tập thể, giữ một vị trí nhất định và đóng góp một phần công lao trong xã hội. Cho nên lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể. Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thoả mãn. Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”[5]. Trong bối cảnh đất nước mất chủ quyền, thực hiện giải phóng dân tộc trước hết đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp. Vì thế, lợi ích của giai cấp, của cá nhân phải phục tùng lợi ích của dân tộc. Tại Hội nghị lần thứ 8, của Ban chấp hành Trung ương Đảng (5/1941), Người khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại lại được”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam được tự do, nông dân có ruộng đất để cày cấy, trí thức được tự do sáng tạo… các giai cấp, tầng lớp trong xã hội từ thân phận của người nô lệ trở thành người chủ nước nhà. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục đạo đức, Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác nêu gương, vì đối với người phương Đông “Một tấm gương sống còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người nêu những tấm gương sáng của các vị anh hùng dân tộc và những cử chỉ tốt đẹp của Việt Minh đã luôn đặt lợi ích cách mạng, lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân để mọi người noi theo. Trong “Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng”, Người khẳng định: “Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. … Khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Uỷ ban Trung ương do Quốc dân đại hội bầu ra, đáng lẽ tham dự Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin lui, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng còn ở ngoài Việt Minh. Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học”[6]. Bên cạnh đó, Người còn dùng hình ảnh sinh động của “tàu điện” để phân tích một cách dễ hiểu về biểu hiện của việc chỉ chăm lo cho lợi ích cá nhân mình, tách cá nhân ra khỏi cộng đồng. Trong bài “Nói chuyện tại hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, Người nhấn mạnh: “…Trong khi kinh tế tài chính của ta có khó khăn lại muốn một mình ăn no mặc ấm. Ví dụ, ngoài đường kia có tàu điện chạy qua. Trong tàu điện có gái, trai, già, trẻ. Tàu điện đi đến đâu thì mọi người đi đến đó. Nhưng có người nói tàu điện chạy chậm quá muốn riêng mình đi cho mau, muốn nhảy ra khỏi tàu điện để chạy lên trước. Kết quả sẽ thế nào? Có thể là què chân, gãy tay. Vì vậy, không thể tách rời tiền đồ của cá nhân mình với tiền đồ của toàn dân, toàn Đảng”[7]. Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Nhưng quần chúng phải được giác ngộ, phải được tổ chức, được lãnh đạo theo một đường lối đúng đắn thì mới trở thành một lực lượng to lớn. Để làm được những việc có tầm rộng lớn ấy, Người thấy rõ phải đưa chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, từ đó thành lập Đảng Cộng sản để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vấn đề phải đặt lợi ích cách mạng, lợi ích của Đảng lên trên hết. Bởi vì, Đảng chính là người lãnh đạo, dẫn dắt toàn dân thực hiện lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, của nhân dân, “ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích khác… Vì vậy, mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài…”[8]. Theo Người, đó là mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người “đầy tớ” trung thành của nhân dân. Do đó, người dân Việt Nam luôn coi Đảng ta là của chính mình. Sau này, trong bài “Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, Người đã khẳng định mục đích đấu tranh của Đảng ta: “là muốn cho tất cả mọi người được ăn no, mặc ấm, được tự do”[9]. Mục đích của mỗi đảng viên đấu tranh cũng để mọi người được ăn no mặc ấm, được tự do. Đảng Cộng sản là đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân, đại diện cho ý chí, lợi ích của giai cấp công nhân, nhưng lợi ích của giai cấp công nhân về cơ bản là thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động. Người viết: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động, chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào... Giai cấp công nhân chẳng những đấu tranh để tự giải phóng, mà còn để giải phóng cả loài người khỏi áp bức, bóc lột. Cho nên lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích của nhân dân là nhất trí. Đảng viên là người thay mặt Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng, của giai cấp”[10]. Có thể nói, những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân gắn liền với sự giải phóng nó về mặt kinh tế, chính trị và tinh thần, gắn liền với sự phát triển toàn diện và tự do của loài người. Theo Hồ Chí Minh, “đặt lợi ích của Đảng, tức là đặt lợi ích của nhân dân lên trên, lên trước hết”[11], biết đem lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng là một trong những tiêu chuẩn của người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Một mặt, Hồ Chí Minh nêu lên những biểu hiện về sự thống nhất giữa lợi ích chính đáng của cá nhân với lợi ích của Đảng, mặt khác, Người cũng phê phán những biểu hiện cần tránh, đó là: “Nhiều khi lợi ích của cá nhân hợp với lợi ích của Đảng. Thí dụ đảng viên và cán bộ cẩn thận giữ gìn sức khoẻ của mình để làm việc. Ham học tập để nâng cao trình độ của mình. Làm đúng cần, kiệm, liêm, chính để cho dân tin, dân phục, dân yêu. Những lợi ích cá nhân đó rất chính đáng. Đảng mong cho đảng viên và cán bộ như thế. Song ngoài ra, như ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại, v.v.. Đó đều là trái với lợi ích của Đảng”[12]. Đồng thời, Người cũng lý giải tại sao mọi người lại lo nghĩ cho cá nhân trong bài “Nói chuyện tại hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục” như sau: “Có khi các cô, các chú lo nghĩ cho cá nhân, cái đó cũng dễ hiểu. Vì người ta không phải là thần thánh gì. Vả lại, khuyết điểm trong xã hội ảnh hưởng đến các cô, các chú”[13]. Có thể nói, dân tộc Việt Nam có truyền thống đề cao cộng đồng mà chưa có truyền thống và ý thức tôn trọng cá tính, nhân cách độc lập của mỗi người một cách đúng mức. Đây là mặt yếu, mà chúng ta đang dần dần khắc phục, để tạo ra một cuộc sống hài hòa giữa cộng đồng và cá nhân. Một mặt, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải đặt lợi ích cách mạng, lợi ích của Tổ quốc lên trên lợi ích cá nhân; mặt khác, Người cũng rất tôn trọng, quan tâm, chăm lo đến lợi ích cá nhân chính đáng. Người viết: “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Nhưng lại phải thấy rằng chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình. Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”[14]. Đây là sự tiếp tục quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa tập thể. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định rằng: Chỉ có chủ nghĩa xã hội và sau đó là chủ nghĩa cộng sản mới có điều kiện phát huy toàn diện năng lực bản chất của con người, tự do, nhu cầu, khát vọng, năng khiếu của con người, C.Mác viết rằng, trong chủ nghĩa xã hội “sẽ xuất hiện một liên hợp trong đó có sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[15]. Bởi, cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng triệt để, sự thay đổi các điều kiện kinh tế - xã hội một cách căn bản và tiến bộ đã dẫn đến sự thay đổi các mặt đời sống xã hội, đem giá trị của con người trả lại cho con người, coi con người là mục đích cao nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, chống chủ nghĩa cá nhân nhưng “không giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Điều này tưởng chừng đơn giản nhưng để nhận thức đầy đủ và thực hiện đúng lại không đơn giản chút nào. Bởi lẽ, nếu quá nhấn mạnh lợi ích cá nhân, con người sẽ dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân và ngược lại, chống chủ nghĩa cá nhân không thận trọng sẽ “giày xéo” lên lợi ích chính đáng của cá nhân. Cả hai khuynh hướng trên đều dẫn tới những kết quả là cản trở sự nghiệp giải phóng cá nhân, khó thực hiện mục tiêu đem lại tự do, hạnh phúc cho mỗi người trong chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Ở đây, biểu hiện quan hệ giữa cá nhân và xã hội, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội thống nhất với nhau. Ở đó, con người không chỉ nghĩ và hành động vì mình mà vì người khác, có tinh thần trách nhiệm và thái độ tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, chúng ta phải chăm lo đến lợi ích vật chất, tác động vào các động lực chính trị - tinh thần như: phát huy quyền làm chủ và ý thức làm chủ của người lao động, thực hiện công bằng xã hội, bồi dưỡng các nhân tố đạo đức, văn hóa, pháp luật… để phát huy sức mạnh cá nhân. Để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân, theo Hồ Chí Minh, trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là “chủ nghĩa cá nhân”, phải biết đặt lợi ích của dân tộc, của giai cấp lên trên lợi ích cá nhân, phải biết quên mình cho nghĩa lớn. Vì vậy phải chống chủ nghĩa cá nhân. “Chủ nghĩa cá nhân” được hiểu là “cái gì cũng chỉ biết có mình và gia đình mình chứ ít khi nghĩ đến cái gia đình lớn là dân tộc, cái mình lớn hơn là phải hòa mình vào với dân tộc”[16]. Người ví chủ nghĩa cá nhân “như là một thứ vi trùng rất độc”, nó “đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”[17]. Sau này, Người còn chỉ ra những tác hại của chủ nghĩa cá nhân khi đảng viên mắc phải, như: “Vì chưa rửa gột sạch chủ nghĩa cá nhân, cho nên có đảng viên còn “kể công” với Đảng. Có ít nhiều thành tích, thì họ muốn Đảng “cảm ơn” họ. Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ. Nếu không thoả mãn yêu cầu của họ thì họ oán trách Đảng, cho rằng họ “không có tiền đồ”, họ “bị hy sinh”. Rồi dần dần họ xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”[18]. Trong khi miền Bắc nước ta đang tiến lên chủ nghĩa xã hội - Đó là công trình tập thể của hàng chục triệu người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, thì Người nhắc nhở: “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.[19] Vậy, “Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do. Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ăn no, mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, như thế mới đúng. Muốn như vậy, phải ra sức công tác, ra sức lao động sản xuất”[20]. Đồng thời, với việc chống chủ nghĩa cá nhân, Người đặc biệt coi trọng nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải “hết lòng tôn trọng tập thể, phát huy dân chủ nội bộ”, “phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ…”[21] Có thể nói, tư tưởng và tấm gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá mà Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta. Đây là một trong những nhân tố góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cho đến nay, những quan điểm của Người về giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân vẫn còn giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây cũng là nội dung, phương hướng rèn luyện đạo đức của mỗi người theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nó là kim chỉ nam của Đảng ta trong việc xây dựng đạo đức mới trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Những quan điểm trên của Người vẫn tiếp tục chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. Đặc biệt là trong bối cảnh, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, phai nhạt lý tưởng cách mạng, quá coi trọng đến lợi ích cá nhân đã và đang làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ thì việc nắm vững những quan điểm của Người về giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân có giá trị thời sự sâu sắc. Hiện nay, vận dụng quan điểm của Người để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng với lợi ích cá nhân, đòi hỏi mọi suy nghĩ và hành động của cá nhân phải trên cơ sở lợi ích chung của tập thể, của Đảng, của đất nước, trong đó có quyền lợi của chính bản thân mình, đó là phấn đấu vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong từng nhiệm vụ cụ thể, phải đặt lợi ích chung của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân mình. Đồng thời, xã hội phải có những cơ chế đảm bảo lợi ích chính đáng của cá nhân. Trong cơ chế cũ, có lúc chúng ta đã tuyệt đối hóa tập thể, triệt tiêu cá nhân. Lợi ích xã hội nhiều khi được quan niệm rất trừu tượng, mơ hồ, biến lợi ích chung thành lợi ích của thứ “cộng đồng hư ảo” như Mác đã nói… Ngày nay, trong quá trình chuyển đổi cơ chế lại có một sự điều chỉnh, đánh giá lại mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể và xã hội. Việc phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội; đáp ứng nhu cầu trước mắt với lợi ích lâu dài giữa cá nhân và cộng đồng là điều kiện đảm bảo tốt nhất vấn đề lợi ích, là cơ sở để đảm bảo sự gắn bó giữa Đảng với dân ở nước ta hiện nay. Như vậy, với nhãn quan chính trị sắc bén, Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cách mạng và lợi ích cá nhân. Sự thống nhất, hài hòa các lợi ích này là động lực cho cá nhân hoạt động, là cơ sở cho sự gắn bó giữa cá nhân với tập thể và xã hội; đồng thời, phát huy được sức mạnh của cộng đồng cũng như sức mạnh cá nhân trong sự nghiệp cách mạng chung, góp phần đưa cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn.

Quyền lập hội luôn được tôn trọng, thực thi tại Việt Nam

Quyền lập hội cũng không phải chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 2013 như một số người lầm tưởng. Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân Việt Nam được ghi nhận xuyên suốt trong tất cả các bản Hiến pháp được Quốc hội Việt Nam thông qua từ trước đến nay. Khi Quốc hội Việt Nam đang chuẩn bị xem xét Luật về hội theo quy trình, trong dư luận xuất hiện một số ý kiến mang tính "chọc gậy bánh xe", cho rằng, Việt Nam vẫn còn "e dè" về quyền tự do lập hội, bởi ý tưởng xây dựng Luật về hội đã có từ rất lâu nhưng đến nay vẫn đang trong quá trình xây dựng! Thậm chí, có những tư tưởng mang danh "dân chủ" đề nghị cần có “không gian dân sự” cho xã hội và không cần “kiểm soát” mọi hội, nhóm trong xã hội, đặc biệt là các “hội có chung sở thích”. Thực tế, “không gian dân sự” cho xã hội đã và vẫn đang tồn tại, chưa có Luật về hội thì trong xã hội Việt Nam cũng đã có rất nhiều hội, nhóm dân sự hoạt động và các hội, nhóm ấy không hề bị “kiểm soát” hoạt động. Đương nhiên, hoạt động của các hội, nhóm đều phải tuân thủ luật pháp, vì lợi ích của tập thể và các thành viên. Người nào lập hội, nhóm để hoạt động đi ngược lại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích cộng đồng hoặc xâm phạm lợi ích, bí mật của cá nhân, tổ chức khác thì ở xã hội nào, quốc gia nào cũng sẽ bị xử lý trách nhiệm… “Không gian dân sự” không thiếu Theo thống kê của Bộ Nội vụ, tính đến tháng 12-2014, cả nước có 52.565 hội với 483 hội hoạt động trên phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động trên phạm vi từng địa phương. Trong đó có 8.792 hội có tính chất đặc thù, gồm 28 hội hoạt động trên phạm vi cả nước và 8.764 hội hoạt động trên phạm vi từng địa phương. Về phân loại, một số hội được xác định là tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp và 10 hội được thành lập đảng, đoàn để lãnh đạo hoạt động của tổ chức. Các hội còn lại được xác định là tổ chức xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nhân đạo, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí hoạt động. Có 31 tổ chức hội hoạt động trên phạm vi cả nước được Nhà nước cấp kinh phí để tạo điều kiện hoạt động vì đó là những lĩnh vực Nhà nước cũng có trách nhiệm thực hiện hoặc khuyến khích thực hiện, như để thúc đẩy nền văn học nước nhà, bảo vệ công lý, phát triển phúc lợi xã hội... Đây là con số thống kê những tổ chức hội có đăng ký hoạt động và được cấp có thẩm quyền cho phép. Tất nhiên, trong xã hội còn tồn tại cực kỳ nhiều loại hội, nhóm khác nhau, từ hội đồng hương, đồng ngũ, đồng niên, đồng khóa, cho đến các hội có chung sở thích như cổ động viên, chơi các môn thể dục-thể thao, làm thơ, trồng trọt… Bản thân người viết bài này cũng như rất nhiều người khác trong xã hội đang cùng lúc tham gia hàng chục hội, nhóm như vậy. Tất nhiên, những hội, nhóm ấy cũng có tổ chức đàng hoàng, cũng thu-chi quỹ lớn, quỹ bé, cách thức hoạt động hẳn hoi. Thực tế, chưa hề có ai ngăn cản việc các cá nhân, tổ chức thành lập hội, nhóm hay kiểm soát, hạn chế các hội, nhóm ấy hoạt động, trừ phi các hội, nhóm có vi phạm pháp luật, như các hội, nhóm giang hồ, trộm cướp, cờ bạc, hành nghề mê tín dị đoan hoặc nguy hại hơn là chống phá Đảng, chính quyền, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc… Quyền lập hội cũng không phải chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 2013 như một số người lầm tưởng. Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân Việt Nam được ghi nhận xuyên suốt trong tất cả các bản Hiến pháp được Quốc hội Việt Nam thông qua từ trước đến nay. Điều 10 Hiến pháp năm 1946 nêu rõ, công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài. Điều 25 Hiến pháp năm 1959: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”. Điều 67 Hiến pháp năm 1980: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân. Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó. Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân”. Điều 69 Hiến pháp năm 1992: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Và Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Như vậy, quyền tự do hội họp, tự do lập hội của công dân Việt Nam luôn được Hiến pháp của Việt Nam ghi nhận. Không những thế, những quyền được các công ước quốc tế coi là quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do hội họp, lập hội, còn được Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ bảo đảm và bảo vệ. Bộ luật Hình sự Việt Nam cũng quy định rất rõ tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Làm luật mới để bảo đảm tốt hơn quyền lập hội Thực tế, không phải Việt Nam “e dè” nên chưa xây dựng Luật về hội như một số ý kiến thiếu thiện chí, thậm chí đối nghịch, luôn tìm cách hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, xuyên tạc, bịa đặt "lập lờ đánh lận con đen" trên các diễn đàn, trang mạng xấu độc. Luật Quy định quyền lập hội năm 1957 đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ban bố cho đến nay vẫn còn hiệu lực thi hành. Trên cơ sở luật này, ngày 21-4-2010, Chính phủ Việt Nam đã ra Nghị định số 45/2010/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Những người luôn hô to và đòi các quyền "tự do, dân chủ" đã cố tình lờ đi một thực tế: Quyền hội họp, lập hội của công dân Việt Nam vẫn được Hiến pháp, pháp luật Việt Nam ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ, vẫn được thực thi bình thường trong cuộc sống. Các vướng mắc nảy sinh chưa đến mức cấp thiết phải sửa đổi hay xây dựng luật về hội mới ngay lập tức trong các thời điểm trước đây. Trong khi đó, với sự chuyển mình mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh tế, việc ưu tiên sửa đổi, xây dựng các luật để vận hành trơn tru nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hay bảo đảm tinh thần cải cách tư pháp là tất yếu. Bởi vậy, việc đến nay Quốc hội Khóa XIII mới xem xét Luật về hội để thay thế luật năm 1957 cũng là bình thường. Việc Quốc hội Khóa XIII quyết định xây dựng Luật về hội mới là để bảo đảm, bảo vệ tốt hơn quyền lập hội, tham gia hội của công dân, đồng thời đáp ứng tinh thần mới của Hiến pháp năm 2013 là việc hạn chế quyền con người, quyền công dân chỉ được quy định tại các văn bản luật, các văn bản dưới luật (như nghị định) không được quy định hạn chế quyền con người, quyền công dân. Đương nhiên, theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và theo thông lệ quốc tế, quyền lập hội của công dân cũng sẽ bị Luật về hội hạn chế trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng… Ai lập hội hay lợi dụng việc tham gia hội để có các hoạt động vi phạm pháp luật chắc chắn cũng vẫn phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính, hay thậm chí là hình sự cho hành vi vi phạm của mình. Xin nêu dẫn chứng mà hẳn nhiều người đã biết, đó là thời gian qua, một phụ nữ lợi dụng trang mạng xã hội, lập hội nhóm “Tập đoàn thánh bóc” công khai trên mạng xã hội để xâm phạm bí mật đời tư, xâm phạm lợi ích của các cá nhân khác đã bị lực lượng chức năng bắt giữ để phục vụ công tác điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự… Rõ ràng, những ý kiến đề nghị “phải có không gian dân sự” cho các hội, nhóm ở Việt Nam, đặc biệt là "các hội, nhóm có chung sở thích", “không được kiểm soát hoạt động của mọi hội, nhóm trong xã hội” hoặc là do người đề xuất chưa tìm hiểu kỹ lịch sử lập hiến, lập pháp cũng như thực tiễn ở nước ta, hoặc là do một số kẻ cố tình bóp méo sự thật, chống phá Đảng, chính quyền, gây hiểu lầm, hồ nghi không đáng có trong nhân dân về việc bảo đảm, bảo vệ và thực thi quyền lập hội tại Việt Nam./.

Phê phán những ý kiến sai trái cũng là bảo vệ những góp ý lành mạnh .

Đảng ta đã công bố dự thảo các văn kiện để mong muốn đón nhận, tiếp thu, tập hợp được nhiều ý kiến tham gia đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Trong khi nhiều người dân đã đóng góp, hiến kế được nhiều ý kiến tâm huyết, trí tuệ, thì cũng đã xuất hiện những ý kiến phiến diện, lệch lạc, thậm chí xuyên tạc quá khứ, bôi nhọ hiện tại và phủ nhận con đường đi tới tương lai của đất nước. . Trong tình cảm, nhận thức của hầu hết người dân Việt Nam, việc Đảng cũng là việc dân, việc nước cũng là việc của mỗi người, mỗi nhà. Bởi Đảng ta có vững mạnh, đất nước ta có phát triển, thì mỗi người dân, mỗi gia đình mới có điều kiện hưởng thụ cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Vậy nên, vào mỗi dịp chuẩn bị Đại hội, Đảng ta đã công bố dự thảo các văn kiện để mong muốn đón nhận, tiếp thu, tập hợp được nhiều ý kiến tham gia đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Trong khi nhiều người dân đã đóng góp, hiến kế được nhiều ý kiến tâm huyết, trí tuệ, thì cũng đã xuất hiện những ý kiến phiến diện, lệch lạc, thậm chí xuyên tạc quá khứ, bôi nhọ hiện tại và phủ nhận con đường đi tới tương lai của đất nước. Ý kiến nhuốm màu “trái tim đen” Đọc những thông tin sau đây, bất cứ người Việt Nam yêu nước nào cũng cảm thấy bị xúc phạm, niềm tự hào dân tộc bị tổn thương khi có “nhà nghiên cứu” cho rằng: “Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội XII của Đảng vẫn chưa thoát khỏi một lối tư duy chính trị lạc hậu, do đó, cần phải có một nhân tố mới, như một nhà lãnh đạo có tư duy cải tổ để hủy bỏ hoàn toàn văn kiện này và thay bằng một văn kiện mới”(!). Lại nữa, có “nhà dân chủ” đã viết rằng: Việc dự thảo vẫn duy trì hệ tư tưởng Mác - Lê-nin, giữ tên Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục đi theo con đường XHCN, duy trì chế độ “một đảng toàn trị”, lấy “sở hữu quốc doanh làm chủ đạo của nền kinh tế”, là “năm tai họa”, là “năm cái gông xiết vào cổ dân ta”(!)… Những ý kiến này, khi xét ở góc độ khoa học vốn đã không khách quan, thiếu căn cứ thực tiễn, phi lô-gích, không xuất phát từ cơ sở, luận cứ nào. Còn xét về phương diện chủ quan, đó hoàn toàn là cái nhìn hằn học, được cất lên từ những tiếng nói lạc lõng và cách nhìn nhận vấn đề đã bị nhuốm màu “trái tim đen”! Thực chất, đằng sau ý kiến đó là mưu đồ chính trị xấu xa nên chắc chắn sẽ không được lòng dân Việt Nam chấp thuận. Dự thảo sát thực tế, phản ánh đúng tình hình đất nước Có một câu danh ngôn, đại ý: Muốn nhìn bầu trời quang đãng, cần phải bỏ đôi kính đen đang đeo trên đôi mắt của mình. Muốn nhìn nhận, xem xét, đánh giá vấn đề gì đạt tới chân lý, cũng phải dựa trên các yếu tố khách quan, toàn diện, thực tiễn, lịch sử và phát triển. Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội XII của Đảng ta đã bao quát và thể hiện đầy đủ các yếu tố trên. Tính khách quan, toàn diện, thực tiễn, lịch sử, phát triển trong Dự thảo lần này không chỉ thể hiện ở tiêu đề, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, mà còn thể hiện ở cách nhìn nhận, đánh giá từ vấn đề vĩ mô đến những lĩnh vực cụ thể. Tiêu đề báo cáo chính trị có nội hàm sâu sắc hơn, tính định hướng rõ ràng hơn. Kết cấu, bố cục trong Dự thảo bảo đảm lô-gích hơn, khoa học hơn. Mục tiêu, phương hướng đề ra hợp với quy luật khách quan, sát tình hình thực tiễn của đất nước. Các chỉ tiêu kinh tế-xã hội đặt ra bảo đảm sát thực tế hơn. Các giải pháp thực hiện đồng bộ, có tính khả thi hơn. Trong đó, đáng chú ý là trong Dự thảo lần này Đảng ta tiếp tục đề cao phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật”, nhất là khi đánh giá về tình hình đất nước, những nguy cơ, thách thức tác động đến quá trình phát triển và những nguyên nhân chủ quan dẫn đến những tồn tại, yếu kém trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chẳng hạn như trong phần xây dựng Đảng, ngoài khẳng định những kết quả đạt được, Dự thảo đã nói rõ nguyên nhân chủ quan từ bên trong, những nguy cơ xuất phát từ nội bộ, đó là: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp”. Sự nhìn nhận, đánh giá này chứng tỏ Đảng ta không hề giấu giếm khuyết điểm, luôn có tinh thần tự phê bình nghiêm khắc; đồng thời thể hiện sự cảnh tỉnh, phản tỉnh sâu sắc cũng như ý thức cầu thị của Đảng trước vận mệnh của Tổ quốc và chế độ. Vì vậy, nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi tình trạng suy thoái, mọt ruỗng từ bên trong, lần đầu tiên trong Dự thảo đã đưa nội dung “đạo đức” vào mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. (Trước đây, trong mục tiêu xây dựng Đảng ta chỉ có 3 yếu tố là chính trị, tư tưởng và tổ chức). Hơn nữa, trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ Đại hội XII mà Dự thảo đưa ra, nhiệm vụ thứ nhất được xác định là: “Tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Thông qua một ví dụ trên đây trong Dự thảo có thể khẳng định rằng: Đảng ta là “con nòi” của dân tộc và nhân dân ta, nên Đảng ta không bao giờ “đứng trên dân tộc”, “đứng ngoài nhân dân” như một vài ý kiến cực đoan nào đó từng rêu rao. Không những vậy, ý thức được vị trí, vai trò to lớn của mình, Đảng ta đã đánh giá trúng, đúng những thành tựu, ưu điểm và cả những hạn chế, khuyết điểm của mình; từ đó nêu cao ý chí quyết tâm tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự học hỏi, tự làm giàu kiến thức, đạo đức, năng lực, trí tuệ để không ngừng tiến bộ, trưởng thành, thể hiện ngày càng xứng đáng với vị thế cầm quyền của một đảng cách mạng chân chính, đáp lại niềm tin yêu và lòng mong đợi của đại đa số nhân dân.

Tiếp thu ý kiến xác đáng, phê phán luận điệu xuyên tạc

Đã từ lâu ở Việt Nam, mỗi dịp Đại hội Đảng là một sự kiện chính trị trọng đại không chỉ của Đảng, mà thu hút sự quan tâm đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Trong tình cảm, nhận thức của hầu hết người dân Việt Nam, việc Đảng cũng là việc dân, việc nước cũng là việc của mỗi người, mỗi nhà. Bởi vậy, mỗi khi Đảng ta kêu gọi, vận động, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia ý kiến đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội của Đảng, nhân dân ta coi đó là việc rất đỗi tự nhiên nên luôn có tinh thần hưởng ứng tham gia nhiệt tình, tâm huyết, trách nhiệm. Hơn nữa, việc Đảng ta đã công bố công khai các dự thảo văn kiện đại hội trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng không ngoài mục đích và mong muốn được tiếp nhận, tiếp thu, tập hợp nhiều ý kiến, hiến kế của các tầng lớp nhân dân, qua đó nhằm bổ sung, hoàn thiện các dự thảo văn kiện, bảo đảm cho văn kiện đại hội thực sự là kết tinh của “Ý Đảng, lòng dân”. Là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Lấy mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng để tập hợp đại đoàn kết dân tộc, gắn kết 54 dân tộc anh em trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Trên cơ sở “cầu đồng tồn dị”, chúng ta chấp thuận ý kiến khác nhau, nhưng không trái, không đi ngược lại với mục tiêu cao cả đó. Có thể trong hàng ngàn, hàng vạn ý kiến đóng góp vào Dự thảo các văn kiện Đại hội XII của Đảng, cũng có ý kiến đúng, có cơ sở khoa học, hợp lý, hợp tình; nhưng cũng có ý kiến chưa đúng vì thiếu thông tin hay thiếu tầm nhìn cần thiết. Nếu các ý kiến đó đều xuất phát từ tình cảm tâm huyết, trách nhiệm, vì dân, vì nước thực sự, thì luôn được Đảng ta trân trọng, đón nhận, chứ không bao giờ có thái độ “phân biệt đối xử” với những góp ý chưa đúng. Đó là phương châm hành xử giàu chất văn hóa, đồng thời cũng là trách nhiệm chính trị và ý thức cầu thị của một đảng cách mạng đã được nhân dân quý trọng, nuôi dưỡng, đùm bọc, bảo vệ suốt 85 năm qua. Tuy nhiên, trong xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, lợi dụng internet, mạng xã hội cũng đã xuất hiện những ý kiến đóng góp thiếu thiện chí, thiếu cơ sở khoa học, không phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam, thậm chí có những ý kiến chỉ trích, chê bai, phản bác lồng ghép với dụng ý xuyên tạc, bôi nhọ, chống phá thì chúng ta cần phải đề cao cảnh giác và kịp thời ngăn chặn, phê phán. Chúng ta chỉ tiếp thu những ý kiến đóng góp có lợi cho quốc kế dân sinh, cho sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước, chứ không chấp nhận những ý kiến làm phương hại đến sự ổn định chính trị, làm phân tâm tư tưởng nhân dân, gây xáo trộn đời sống tinh thần xã hội và cũng kiên quyết bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch muốn lợi dụng việc đóng góp ý kiến này để chống phá cách mạng nước ta. Bởi vì, suy cho cùng, việc phê phán, phản bác những ý kiến sai trái, thù địch cũng là một cách để trân trọng, bảo vệ những ý kiến đóng góp tâm huyết, trí tuệ, chính đáng của các tầng lớp nhân dân vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng.

Chấm dứt luận điệu thiếu thiện chí về tự do tôn giáo ở Việt Nam .

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành và lãnh đạo triển khai thực hiện nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách, pháp luật về tôn giáo, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Thế nhưng, báo cáo hàng năm của Bộ Ngoại giao Mỹ về tự do tôn giáo thế giới công bố ngày 14/10/2015 vẫn thể hiện tư duy lối mòn, lặp lại những luận điệu cũ và được sao chép lại từ nhiều năm trước về đời sống sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Như thường lệ, Washington tự cho mình quyền phán xét về nhiều vấn đề thuộc công việc nội bộ của nước khác, với cách nhìn chủ quan và thiếu thiện chí. Tương tự như các bản báo cáo trước, bản báo cáo năm nay của Bộ Ngoại giao Mỹ tiếp tục chỉ trích Việt Nam hạn chế các hoạt động tự do tôn giáo... Những thông tin mà báo cáo đề cập không có gì mới mà mang đậm màu sắc chủ quan và phiến diện. Thực tế đời sống tôn giáo sinh động và tính thượng tôn pháp luật trong bảo vệ các quyền con người tại Việt Nam là sự phủ nhận mạnh mẽ nhất những luận điệu đó. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo và đứng thứ ba thế giới về sự đa dạng tôn giáo, tín ngưỡng. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 nêu rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.” Trên thực tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được thực thi có hiệu quả trong cuộc sống. Trong những năm qua, nhiều tôn giáo đã được Nhà nước ta công nhận. Đến nay, Việt Nam có 14 tôn giáo, 38 tổ chức tôn giáo, trên 24 triệu tín đồ, 78.000 chức sắc và hơn 23.000 cơ sở thờ tự. Hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam ngày càng diễn ra sôi nổi. Việc mở trường và đào tạo chức sắc tôn giáo luôn được nhà nước tạo điều kiện thuận lợi. Hiện đã có 13 trường đào tạo cử nhân tôn giáo của các giáo hội, 40 trường đào tạo trung cấp và cao đẳng của các tổ chức tôn giáo; khoảng 13.000 người đang học ở các trường đào tạo tôn giáo; hơn 1.000 người thuộc các tổ chức tôn giáo đang học thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài. Hoạt động quốc tế của các tổ chức tôn giáo trong những năm qua diễn ra hết sức sôi động với nhiều đoàn của các tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam và nhiều đoàn của các tổ chức tôn giáo Việt Nam ra nước ngoài. Các tổ chức tôn giáo ở trong nước cũng được tạo điều kiện tổ chức nhiều hoạt động quan trọng như như Đại lễ Vesak năm 2008 và năm 2014, Đại hội Hội đồng Giám mục các nước châu Á... Không phải ngẫu nhiên mà Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa - người đứng đầu Truyền thừa Phật giáo Kim cương thừa Drukpa thế giới - đã tới thăm Việt Nam 7 lần. Mới đây nhất, vào trung tuần tháng Chín vừa qua, Đức Pháp Vương đã tới thăm Việt Nam với nhiều hoạt động tôn giáo như cử hành các Pháp hội cầu nguyện cho hòa bình thế giới, quốc thái dân an, đại lễ cầu siêu, khiển trừ chướng ngại, tăng phúc trường thọ.... Tôn giáo cùng với các tín ngưỡng đã hòa vào dòng chảy văn hóa Việt Nam, làm phong phú thêm nét văn hóa đa dạng của người Việt. Đông đảo những người theo tôn giáo đã và đang tham gia các hoạt động chung của xã hội, đoàn kết xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo. Chỉ có những phần tử lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm luật pháp, chống phá Nhà nước Việt Nam hoặc có các hoạt động đi ngược lại chính sách của Đảng và Nhà nước, tuyên truyền mê tín dị đoan và các hủ tục lạc hậu nhằm mưu cầu lợi ích cá nhân mới bị xử lý theo các quy định của pháp luật như mọi công dân khác. Rõ ràng, bản báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là xa rời thực tế, phiến diện, một chiều. Bản báo cáo hoàn toàn không giúp ích và không phù hợp với quan hệ đối tác toàn diện đang ngày càng phát triển giữa Việt Nam và Mỹ./.

Chiêu thức mới cũng không thể lòe người

Trong những năm gần đây, để gia tăng tính nguy hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch đã trực tiếp tiến công vào quan niệm của chúng ta về “diễn biến hòa bình”. Các thế lực thù địch cho rằng, quan niệm của chúng ta về “diễn biến hòa bình” là “quan điểm chính trị lạc hậu, phản khoa học, đẩy lùi sự phát triển”. Theo họ, những cái gọi là quan niệm (hay quan điểm) về “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là do chúng ta “cố tình đặt ra” để hù dọa nhân dân và che giấu khuyết điểm. . Hiện nay, trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là chúng ta đang chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XII của Đảng, thì sự chống phá của các thế lực thù địch càng trở nên ráo riết. Chiêu trò đánh thẳng vào quan niệm của chúng ta về “diễn biến hòa bình” được các thế lực thù địch tích cực đưa lên các trang mạng xã hội với một kiểu cách mới. Họ phỉnh phờ rằng, hiện nay, nói đến chống “diễn biến hòa bình” là “việc không cần thiết và thiếu thức thời”, là “một chuyện lạc lõng”; rằng, lẽ ra người ta “phải cổ vũ và thúc đẩy cho “diễn biến hòa bình”, như thế mới thực sự là người vì dân, vì đất nước và vì dân tộc”. Bởi vì, theo họ “diễn biến hòa bình” là “sự chuyển đổi trong hòa bình có tác dụng tránh đổ vỡ, là một lựa chọn đúng đắn theo những giá trị phổ quát của nhân loại”. Trong khi nói chúng ta đã “cố tình nặn ra” “diễn biến hòa bình” để “hù dọa nhân dân và che giấu khuyết điểm” thì các thế lực thù địch và một số phần tử cơ hội lại kêu gọi phải “cổ vũ và thúc đẩy cho việc “diễn biến hòa bình”, đã cho thấy tính chất “lá mặt lá trái” trong cách lập luận của họ. Đây chính là sự lập lờ về chính trị của một số người và là một thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch. Cần thấy rằng, khái niệm "diễn biến hòa bình" không phải là sự “sáng tạo” của những người cộng sản, mà đó là một chiến lược, là một sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc trong mục tiêu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Đối với cách mạng Việt Nam, “diễn biến hòa bình” là một nguy cơ thực sự, ngày càng được các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh, với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. "Diễn biến hòa bình" là sự thực, là thực tế, đã và đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta. Việc các thế lực thù địch kêu gọi không nên chống "diễn biến hòa bình" là một luận điệu xằng bậy. Nó như một chiêu thức bổ sung cho âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Chúng ta cần hiểu rằng, phương châm “diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam đến nay là nhất quán, tuy nhiên, nó đã có những thay đổi, mở rộng ra về mặt không gian, lĩnh vực và luôn thay đổi về thủ đoạn. Các thế lực thù địch đã kết hợp xuyên tạc lịch sử, phủ định sự nghiệp cách mạng và phủ nhận sự hy sinh gian khổ của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến giành tự do độc lập cho dân tộc. Ngay cả những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đang hiển hiện từng ngày, từng giờ làm thay đổi tầm thế của đất nước cũng không tránh khỏi sự phê phán của các thế lực thù địch. Những phê phán đó được họ kết hợp với việc đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi chế độ, chính sách, luật pháp… hòng làm chệch hướng phát triển đất nước ngay từ hệ thống pháp luật. Những kiến nghị đòi thực hiện cái gọi là “cách mạng màu”, “cách mạng hoa nhài”, sửa đổi Hiến pháp, pháp luật theo quan điểm dân chủ và giá trị phương Tây, đòi xóa bỏ nhiều quy định trong Bộ luật Hình sự liên quan đến lĩnh vực an ninh quốc gia... cho thấy ngón đòn “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được họ thực thi khá… toàn diện. Tại sao lại có những kẻ rắp tâm ra mặt “khuyên” chúng ta không đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" nữa, mà phải “cổ vũ và thúc đẩy”, như thế mới thực sự là người “vì dân, vì đất nước và vì dân tộc”. Cần phải khẳng định rằng, đó tuyệt nhiên không phải là hành động của những người “vì dân, vì đất nước, vì dân tộc” như họ dương dương tự xưng. Hành động đúng đắn, vì dân, vì nước lúc này là phải đồng tâm hiệp lực, chung vai gánh vác cùng với Đảng, với Nhà nước và nhân dân “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của nhân dân ta càng trở nên cần thiết, càng cần phải đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hơn nữa. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là một cuộc đấu tranh mang tính tổng hợp. Chúng ta cùng một lúc phải đối phó với nhiều thế lực thù địch, ngăn chặn đồng thời nhiều nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam, để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ công cuộc đổi mới đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân ta hơn 70 năm qua. Đảng và nhân dân ta vừa phải đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” vừa phải ra sức khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đặc biệt là những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chúng ta phải tích cực, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đồng thời phải giữ vững môi trường ổn định, hòa bình, bảo đảm điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đất nước. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiện nay là một cuộc đấu tranh mang tính sống còn đối với chế độ xã hội và độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của nước ta. Cuộc đấu tranh này dù có muôn vàn khó khăn, nhưng phải kiên quyết giành phần thắng. Cần phải tiếp tục kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định với con đường, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao khả năng "miễn dịch", sức đề kháng của cơ thể xã hội, của hệ thống chính trị, đặc biệt là của Đảng và cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, kiên quyết ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, lấy ngăn chặn "tự diễn biến", gột rửa, loại trừ cái xấu làm chính. Thực hiện thật tốt nhiệm vụ “then chốt” xây dựng Đảng mà Đại hội lần thứ XI, đặc biệt Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4, khóa XI của Đảng đã xác định. “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào”(1). Tạo sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, nhất là xây dựng cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ.

Không thế lực nào có thể ngăn cản khát vọng vươn lên của toàn dân tộc

     Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại.
    Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông. Tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. 
    Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Việc Đảng ta đưa ra tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu từng bước đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc, không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng với xu thế phát triển của thời đại.

Kiên trì nguyên tắc 'Ngăn chặn, phát hiện, truy vết - cách ly, khoanh vùng - dập dịch, điều trị hiệu quả' .

Trong bối cảnh dịch COVID-19 trên thế giới diễn biến phức tạp, Bộ Y tế nhấn mạnh kiên trì nguyên tắc phòng, chống dịch: Ngăn chặn, phát hiện, truy vết - cách ly, khoanh vùng - dập dịch, điều trị hiệu quả. Trong bối cảnh nhiều quốc gia đã ghi nhận ca mắc COVID-19 tăng trở lại sau khi nới lỏng các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19, trong đó có một số quốc gia có chung đường biên giới hoặc ở gần Việt Nam như Thái Lan, Lào, Campuchia, Bộ Y tế nhấn mạnh kiên trì nguyên tắc phòng, chống dịch: Ngăn chặn, phát hiện, truy vết - cách ly, khoanh vùng - dập dịch, điều trị hiệu quả; thực hiện nghiêm túc phương châm bốn tại chỗ trong công tác phòng, chống dịch và nêu cao tinh thần cảnh giác; tiếp tục chiến lược 5K + vaccine. Đây là nhận định của Bộ Y tế tại cuộc họp Ban Chỉ đạo, diễn ra chiều 27/4, tại trụ sở Chính phủ. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 chủ trì cuộc họp. KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ KHU VỰC BIÊN GIỚI Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam nhấn mạnh, hiện nay nguy cơ dịch bệnh rất cao, không chỉ từ các nước có biên giới với Việt Nam mà còn từ các chuyên gia vào làm việc, người dân trở về nước... Theo báo cáo của Bộ Y tế, mới đây nhất là trường hợp dương tính với virus SARS-CoV-2 ở Yên Bái - nhân viên khách sạn có tiếp xúc với đoàn chuyên gia Ấn Độ nhập cảnh từ ngày 18/4 (trong đoàn đã có 4 ca dương tính trước đó). Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh: "Chúng ta phải tiếp tục có các biện pháp ngăn chặn, kiên trì nguyên tắc ngăn chặn, phát hiện, cách ly, khoanh vùng, dập dịch, điều trị hiệu quả". Cùng với việc tiếp tục kiểm soát chặt chẽ khu vực biên giới, các lực lượng phòng, chống dịch, cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị cơ sở tăng cường vận động, tuyên truyền người dân ở các tỉnh biên giới và trên toàn quốc, nếu thấy người từ nước ngoài trở về, lập tức báo cho chính quyền, lực lượng chức năng. Vì sự an toàn của cả nước, các thành viên Ban Chỉ đạo đề nghị xử lý nghiêm các trường hợp nhập cảnh trái phép; đồng thời, giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo, hỗ trợ, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phục vụ công tác kiểm soát xuất nhập cảnh ở khu vực biên giới. Đối với người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, từ trước đến nay, Việt Nam vẫn chủ động kiểm soát chặt chẽ, có kế hoạch nhằm phục vụ yêu cầu kiểm soát dịch, đồng thời phát triển kinh tế thông qua cơ chế xét thị thực nhập cảnh (dưới sự thống nhất của tổ công tác 5 bộ: Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông Vận tải); đảm bảo người nhập cảnh phục vụ mục đích phát triển kinh tế theo đề nghị của các doanh nghiệp ở Việt Nam. Đối với người Việt Nam ở nước ngoài, trong thời điểm dịch bệnh, các thành viên Ban Chỉ đạo mong muốn người dân hạn chế di chuyển và tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch của đất nước sở tại. Trong trường hợp cần thiết phải về nước, người dân nên đăng ký nhập cảnh theo đường hợp pháp. Trước thực tế hầu hết người Việt Nam nhập cảnh qua biên giới đường bộ có hoàn cảnh khó khăn, Ban Chỉ đạo thống nhất quan điểm, đề nghị Chính phủ không thu phí xét nghiệm, cách ly những trường hợp này, không để một số người vì lý do phải đóng phí cách ly, xét nghiệm mà vượt biên, nhập cảnh trái phép. Với những địa bàn ở xa, Việt Nam vẫn tiếp tục tổ chức các chuyến bay đưa người dân về nước, phù hợp với tình hình phòng, chống dịch ở khu vực, nước sở tại và tình hình dịch trong nước. Đối với số người Việt Nam ở Ấn Độ, lãnh đạo Bộ Ngoại giao cho biết, Đại sứ quán Việt Nam tại đây tiếp tục giữ liên hệ chặt chẽ, đang thu xếp để đưa một số người dân có nguyện vọng về trong thời gian sắp tới. Tại cuộc họp, Ban Chỉ đạo đề nghị, trên tinh thần đẩy nhanh tốc độ, tiết kiệm chi phí, Bộ Y tế khẩn trương hoàn thiện vật tư, trang thiết bị y tế, phương án xét nghiệm, kết hợp với việc cập nhật các loại công nghệ, sinh phẩm xét nghiệm mới để phục vụ các tình huống dịch bệnh khác nhau, trong tình hình biến chủng mới có tốc độ lây lan nhanh. Những địa phương có nguy cơ cao, đặc biệt các tỉnh biên giới Tây Nam, phải tăng cường năng lực xét nghiệm, không để xảy ra tình trạng không xác định kịp thời tình hình dịch bệnh do thiếu năng lực xét nghiệm. Ban Chỉ đạo thống nhất giao các bộ, ngành liên quan rà soát lại năng lực các khu cách ly tập trung (cả khu vực quân sự và dân sự), bảo đảm cách ly an toàn, không để lây nhiễm chéo; đồng thời có phương án mở rộng các khu cách ly, sẵn sàng cho trường hợp có nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng. Bộ Y tế rà soát lại toàn bộ quy trình giám sát, theo dõi y tế sau cách ly tập trung. Cùng với đó, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo, hỗ trợ để tất cả các cơ sở cách ly tập trung đều được lắp đặt camera giám sát, kết nối trực tuyến để nhiều cơ quan cùng thực hiện giám sát. Liên quan đến công tác khoanh vùng, dập dịch, Ban Chỉ đạo yêu cầu Bộ Y tế báo cáo Thủ tướng Chính phủ để thống nhất sự điều hành khi các tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách, cách ly xã hội (theo thẩm quyền được giao) tại các vùng giáp ranh với tỉnh, thành phố khác. Trường hợp giãn cách, cách ly toàn tỉnh, các địa phương phải trao đổi ý kiến với các tỉnh, thành phố lân cận và báo cáo Thủ tướng Chính phủ, khoanh vùng gọn nhất có thể. Những trường hợp chưa đủ căn cứ khoanh vùng gọn, các địa phương phải khẩn trương xác định khu vực có dịch, bảo đảm an toàn, bớt xáo trộn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Theo đó, Bộ Y tế chủ trì, phối hợp cùng lãnh đạo các bộ, ngành (là thành viên Ban Chỉ đạo) tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống dịch ở các địa phương, đặc biệt việc thực hiện thông điệp 5K, xử phạt người không đeo khẩu trang nơi công cộng; cập nhật thông tin lên Bản đồ chung sống an toàn với dịch COVID-19... Cùng với đó, các thành viên Ban Chỉ đạo đề nghị Bộ Y tế có giải pháp đẩy nhanh tiến độ tiêm vaccine phòng COVID-19 trong nước; khẩn trương, tích cực đàm phán các nguồn vaccine nước ngoài, đẩy mạnh nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước trên tinh thần "vaccine là phương tiện chống dịch hiệu quả, cố gắng có vaccine sớm nhất có thể và tiêm cho người dân với tỷ lệ cao nhất có thể". Ban Chỉ đạo yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hạn chế các sự kiện tập trung đông người. Trường hợp cần thiết phải yêu cầu tổ chức, cơ quan, đơn vị chủ trì tổ chức sự kiện chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện nghiêm các yêu cầu, điều kiện quy định phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt vấn đề đeo khẩu trang.

Kiên trì nguyên tắc 'Ngăn chặn, phát hiện, truy vết - cách ly, khoanh vùng - dập dịch, điều trị hiệu quả

Trong bối cảnh dịch COVID-19 trên thế giới diễn biến phức tạp, Bộ Y tế nhấn mạnh kiên trì nguyên tắc phòng, chống dịch: Ngăn chặn, phát hiện, truy vết - cách ly, khoanh vùng - dập dịch, điều trị hiệu quả. Trong bối cảnh nhiều quốc gia đã ghi nhận ca mắc COVID-19 tăng trở lại sau khi nới lỏng các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19, trong đó có một số quốc gia có chung đường biên giới hoặc ở gần Việt Nam như Thái Lan, Lào, Campuchia, Bộ Y tế nhấn mạnh kiên trì nguyên tắc phòng, chống dịch: Ngăn chặn, phát hiện, truy vết - cách ly, khoanh vùng - dập dịch, điều trị hiệu quả; thực hiện nghiêm túc phương châm bốn tại chỗ trong công tác phòng, chống dịch và nêu cao tinh thần cảnh giác; tiếp tục chiến lược 5K + vaccine. Đây là nhận định của Bộ Y tế tại cuộc họp Ban Chỉ đạo, diễn ra chiều 27/4, tại trụ sở Chính phủ. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 chủ trì cuộc họp. KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ KHU VỰC BIÊN GIỚI Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam nhấn mạnh, hiện nay nguy cơ dịch bệnh rất cao, không chỉ từ các nước có biên giới với Việt Nam mà còn từ các chuyên gia vào làm việc, người dân trở về nước... Theo báo cáo của Bộ Y tế, mới đây nhất là trường hợp dương tính với virus SARS-CoV-2 ở Yên Bái - nhân viên khách sạn có tiếp xúc với đoàn chuyên gia Ấn Độ nhập cảnh từ ngày 18/4 (trong đoàn đã có 4 ca dương tính trước đó). Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh: "Chúng ta phải tiếp tục có các biện pháp ngăn chặn, kiên trì nguyên tắc ngăn chặn, phát hiện, cách ly, khoanh vùng, dập dịch, điều trị hiệu quả". Cùng với việc tiếp tục kiểm soát chặt chẽ khu vực biên giới, các lực lượng phòng, chống dịch, cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị cơ sở tăng cường vận động, tuyên truyền người dân ở các tỉnh biên giới và trên toàn quốc, nếu thấy người từ nước ngoài trở về, lập tức báo cho chính quyền, lực lượng chức năng. Vì sự an toàn của cả nước, các thành viên Ban Chỉ đạo đề nghị xử lý nghiêm các trường hợp nhập cảnh trái phép; đồng thời, giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo, hỗ trợ, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phục vụ công tác kiểm soát xuất nhập cảnh ở khu vực biên giới. Đối với người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, từ trước đến nay, Việt Nam vẫn chủ động kiểm soát chặt chẽ, có kế hoạch nhằm phục vụ yêu cầu kiểm soát dịch, đồng thời phát triển kinh tế thông qua cơ chế xét thị thực nhập cảnh (dưới sự thống nhất của tổ công tác 5 bộ: Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông Vận tải); đảm bảo người nhập cảnh phục vụ mục đích phát triển kinh tế theo đề nghị của các doanh nghiệp ở Việt Nam. Đối với người Việt Nam ở nước ngoài, trong thời điểm dịch bệnh, các thành viên Ban Chỉ đạo mong muốn người dân hạn chế di chuyển và tuân thủ các biện pháp phòng, chống dịch của đất nước sở tại. Trong trường hợp cần thiết phải về nước, người dân nên đăng ký nhập cảnh theo đường hợp pháp. Trước thực tế hầu hết người Việt Nam nhập cảnh qua biên giới đường bộ có hoàn cảnh khó khăn, Ban Chỉ đạo thống nhất quan điểm, đề nghị Chính phủ không thu phí xét nghiệm, cách ly những trường hợp này, không để một số người vì lý do phải đóng phí cách ly, xét nghiệm mà vượt biên, nhập cảnh trái phép. Với những địa bàn ở xa, Việt Nam vẫn tiếp tục tổ chức các chuyến bay đưa người dân về nước, phù hợp với tình hình phòng, chống dịch ở khu vực, nước sở tại và tình hình dịch trong nước. Đối với số người Việt Nam ở Ấn Độ, lãnh đạo Bộ Ngoại giao cho biết, Đại sứ quán Việt Nam tại đây tiếp tục giữ liên hệ chặt chẽ, đang thu xếp để đưa một số người dân có nguyện vọng về trong thời gian sắp tới. Tại cuộc họp, Ban Chỉ đạo đề nghị, trên tinh thần đẩy nhanh tốc độ, tiết kiệm chi phí, Bộ Y tế khẩn trương hoàn thiện vật tư, trang thiết bị y tế, phương án xét nghiệm, kết hợp với việc cập nhật các loại công nghệ, sinh phẩm xét nghiệm mới để phục vụ các tình huống dịch bệnh khác nhau, trong tình hình biến chủng mới có tốc độ lây lan nhanh. Những địa phương có nguy cơ cao, đặc biệt các tỉnh biên giới Tây Nam, phải tăng cường năng lực xét nghiệm, không để xảy ra tình trạng không xác định kịp thời tình hình dịch bệnh do thiếu năng lực xét nghiệm. Ban Chỉ đạo thống nhất giao các bộ, ngành liên quan rà soát lại năng lực các khu cách ly tập trung (cả khu vực quân sự và dân sự), bảo đảm cách ly an toàn, không để lây nhiễm chéo; đồng thời có phương án mở rộng các khu cách ly, sẵn sàng cho trường hợp có nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng. Bộ Y tế rà soát lại toàn bộ quy trình giám sát, theo dõi y tế sau cách ly tập trung. Cùng với đó, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo, hỗ trợ để tất cả các cơ sở cách ly tập trung đều được lắp đặt camera giám sát, kết nối trực tuyến để nhiều cơ quan cùng thực hiện giám sát. Liên quan đến công tác khoanh vùng, dập dịch, Ban Chỉ đạo yêu cầu Bộ Y tế báo cáo Thủ tướng Chính phủ để thống nhất sự điều hành khi các tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách, cách ly xã hội (theo thẩm quyền được giao) tại các vùng giáp ranh với tỉnh, thành phố khác. Trường hợp giãn cách, cách ly toàn tỉnh, các địa phương phải trao đổi ý kiến với các tỉnh, thành phố lân cận và báo cáo Thủ tướng Chính phủ, khoanh vùng gọn nhất có thể. Những trường hợp chưa đủ căn cứ khoanh vùng gọn, các địa phương phải khẩn trương xác định khu vực có dịch, bảo đảm an toàn, bớt xáo trộn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Theo đó, Bộ Y tế chủ trì, phối hợp cùng lãnh đạo các bộ, ngành (là thành viên Ban Chỉ đạo) tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống dịch ở các địa phương, đặc biệt việc thực hiện thông điệp 5K, xử phạt người không đeo khẩu trang nơi công cộng; cập nhật thông tin lên Bản đồ chung sống an toàn với dịch COVID-19... Cùng với đó, các thành viên Ban Chỉ đạo đề nghị Bộ Y tế có giải pháp đẩy nhanh tiến độ tiêm vaccine phòng COVID-19 trong nước; khẩn trương, tích cực đàm phán các nguồn vaccine nước ngoài, đẩy mạnh nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước trên tinh thần "vaccine là phương tiện chống dịch hiệu quả, cố gắng có vaccine sớm nhất có thể và tiêm cho người dân với tỷ lệ cao nhất có thể". Ban Chỉ đạo yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hạn chế các sự kiện tập trung đông người. Trường hợp cần thiết phải yêu cầu tổ chức, cơ quan, đơn vị chủ trì tổ chức sự kiện chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện nghiêm các yêu cầu, điều kiện quy định phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt vấn đề đeo khẩu trang.

NGUY CƠ LÂY NHIỄM DỊCH BỆNH VÀO VIỆT NAM

Theo báo cáo của Bộ Y tế, đến ngày 27/4, thế giới ghi nhận trên 147 triệu ca mắc COVID-19, trong đó có trên 3,1 triệu ca tử vong. Mỹ tiếp tục là quốc gia có số ca mắc COVID-19 cao nhất thế giới với trên 32,8 triệu ca mắc, khoảng 586.000 ca tử vong; tiếp đó là Ấn Độ với trên 17,3 triệu ca mắc, trên 195.000 ca tử vong; Brazil với trên 14,3 triệu ca mắc, khoảng 390.000 ca tử vong. Đáng chú ý, trong 4 tuần qua, thế giới ghi nhận trên 18 triệu ca mắc COVID-19, chiếm 12,4% tổng số ca nhiễm từ đầu mùa dịch, trong đó có trên 290.000 ca tử vong, chiếm 9,4%. Tại Ấn Độ, dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp với số ca mắc tăng cao, trong khi hệ thống y tế đang có nguy cơ sụp đổ. Chỉ tính riêng ngày 25/4, Ấn Độ ghi nhận thêm 349.313 ca mắc mới và thêm 2.761 ca tử vong, đánh dấu ngày thứ 8 liên tiếp Ấn Độ ghi nhận trên 200.000 ca/ngày. Các chuyên gia cho rằng, Ấn Độ mất cảnh giác khi dịch COVID-19 được kiểm soát trong thời gian dài (từ tháng 1 - 3/2021) và dỡ bớt các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, cho phép tập trung đông người trở lại. Trong khi đó, Chính phủ Ấn Độ đã phát động chương trình tiêm vaccine ngừa COVID-19 nhưng chỉ có một phần nhỏ trong số trên 1,3 tỷ dân được tiêm. Đến nay, một số quốc gia như Anh, Canada, Singapore, Các tiểu vương quốc Ả-rập đã tạm ngừng nhập cảnh đối với người đến từ Ấn Độ. Tại Việt Nam, tính đến ngày 27/4, cả nước ghi nhận tích lũy 2.854 ca mắc COVID-19, trong đó có 1.570 ca lây nhiễm trong nước (chiếm 55% tổng số ca mắc). Trong số các ca mắc, 2.516 ca được điều trị khỏi (chiếm 88,2%), còn 291 đang được điều trị (chiếm 10,2% tổng số ca mắc) và 35 ca tử vong. Tình hình dịch bệnh trong nước đến nay được kiểm soát tốt, cả nước đã có 33 ngày không ghi nhận ca mắc mới trong cộng đồng. Tuy nhiên, Bộ Y tế nhận định, nhiều quốc gia đã ghi nhận ca mắc tăng trở lại sau khi nới lỏng các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, trong đó có một số quốc gia có chung đường biên giới hoặc ở gần Việt Nam như Thái Lan, Lào, Campuchia. Đáng chú ý, trong 1 tuần qua, có 16.607 trường hợp nhập cảnh vào Việt Nam từ 3 nước Lào, Trung Quốc, Campuchia (tăng 3.838 trường hợp so với tuần trước đó), trong đó có 483 tường hợp nhập cảnh trái phép (tăng 160 trường hợp so với tuần trước đó, cụ thể: Trung Quốc 301 trường hợp, Lào 16 trường hợp và Campuchia 166 trường hợp). Trong khi đó, hiện có tình trạng người dân có tâm lý lơ là, chủ quan, tụ tập đông người, không đeo khẩu trang. Trên cả nước vẫn còn những trường hợp nhập cảnh trái phép hoặc các trường hợp nếu không quản lý tốt sẽ có thể có ca nhiễm với biến chủng lây lan tốc độ nhanh, dẫn đến nguy cơ ghi nhận ca mắc mới. Đặc biệt, đợt nghỉ lễ dài 30/4, 1/5 và nghỉ hè là thời điểm người dân đi du lịch, di chuyển và tập trung đông người nên nguy cơ lây nhiễm lớn. Bộ Y tế nhấn mạnh kiên trì nguyên tắc phòng chống dịch: Ngăn chặn, phát hiện, truy vết-cách ly, khoanh vùng - dập dịch, điều trị hiệu quả; thực hiện nghiêm túc phương châm bốn tại chỗ trong công tác phòng, chống dịch, nêu cao tinh thần cảnh giác; tiếp tục chiến lược 5K + vaccine. Về tiến độ triển khai tiêm chủng vaccine phòng COVID-19, ở đợt 1, hiện có 92.446/107.000 liều vaccine được phân bổ, đạt tỷ lệ 86,4% cho các địa phương, lực lượng quân đội và công an. Đến nay, 8/13 tỉnh, thành phố hoàn thành triển khai, còn 5 tỉnh, thành phố đang triển khai và dự kiến sẽ kết thúc tiêm chủng đợt 1 trong tháng 4/2021; 18/21 cơ sở điều trị đã hoàn thành, 3 cơ sở còn lại đang triển khai tiêm chủng. Ở đợt 2, đã có 35/63 tỉnh, thành phố triển khai tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 đợt 2 với tổng số 119.376 liều vaccine đã sử dụng, trong đó có 117.654 mũi 1 và 1.722 mũi 2.

Bầu cử QH: Lựa chọn những ứng cử viên ưu tú để cử tri bầu chọn

Ước tính sẽ có khoảng 1.000 ứng cử viên trong ngày bầu cử 23/5 để cử tri trên cả nước lựa chọn ra 500 đại biểu Quốc hội khóa XV. Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, chậm nhất là ngày 28/4/2021, Hội đồng bầu cử quốc gia lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước. Cho đến nay, trải qua một quy trình 5 bước với 3 vòng hiệp thương chặt chẽ, dân chủ, cẩn trọng, không phân biệt, danh sách và số lượng chính thức các ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã hình thành. Đây là những ứng cử viên ưu tú để cử tri bầu chọn trong ngày bầu cử 23/5 tới. Ước tính sẽ có khoảng 1.000 ứng cử viên để cử tri lựa chọn ra 500 đại biểu Quốc hội khóa XV. Yêu cầu với việc lập danh sách chính thức người ứng cử Danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội/đại biểu Hội đồng nhân dân phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp, chức vụ, nơi công tác của người ứng cử. Danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội/đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử được xếp theo vần chữ cái. Người ứng cử đại biểu Quốc hội chỉ được ghi tên vào danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở một đơn vị bầu cử. Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính nào thì cũng chỉ được ghi tên vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở một đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp tương ứng trên địa bàn đơn vị hành chính đó. Số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội/đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó ít nhất là 2 người. [Niềm tự hào và trách nhiệm công dân khi cầm trên tay lá phiếu bầu cử] Trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử vì lý do bất khả kháng thì Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định. Hội đồng bầu cử quốc gia hướng dẫn để Ủy ban bầu cử các cấp xem xét, quyết định đối với trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử vì lý do bất khả kháng. Chậm nhất là ngày 3/5/2021, Ủy ban bầu cử ở tỉnh phải công bố danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương mình theo quyết định của Hội đồng bầu cử quốc gia.