Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

Trung Quốc lần đầu đưa tiêm kích hạm đến căn cứ gần Biển Đông

 

Trung Quốc lần đầu đưa tiêm kích hạm đến căn cứ gần Biển Đông

Hải quân Trung Quốc lần đầu điều nhóm tiêm kích hạm J-15 tới căn cứ trên đảo Hải Nam để huấn luyện bay trên khu vực phía bắc Biển Đông.

Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) hôm 27/5 công bố video cho thấy ít nhất hai tiêm kích hạm J-15 cất cánh từ một căn cứ trên đảo Hải Nam, sau đó tham gia huấn luyện bay biển và tiếp liệu trên không rồi quay về nơi xuất phát. Căn cứ này thuộc Bộ Tư lệnh Chiến khu phía Nam của quân đội Trung Quốc.

Các chuyên gia quân sự của tạp chí Jane’s ngày 1/6 nhận định các tiêm kích J-15 trên xuất phát từ căn cứ không quân Lăng Thủy trên đảo Hải Nam, phía bắc Biển Đông.

"Đây là lần đầu tiên kể từ giai đoạn 2018-2019 tiêm kích đa năng J-15, do Tập đoàn Máy bay Thẩm Dương sản xuất, xuất hiện tại căn cứ Lăng Thủy, nơi sư đoàn không quân hải quân số 3 đóng quân", các chuyên gia viết.

Diễn biến này cho thấy Trung Quốc đang nỗ lực huấn luyện, xây dựng không đoàn trên hạm để phục vụ tham vọng thành lập các nhóm tác chiến tàu sân bay của hải quân nước này.

Ảnh vệ tinh chụp ngày 27/1 cho thấy Trung Quốc xây dựng một bãi đáp mô phỏng sàn tàu sân bay ở cuối đường băng phía đông nam của căn cứ Lăng Thủy. Bãi đáp này là nơi cho phi công hải quân Trung Quốc thực hành phương pháp tiếp cận và hạ cánh trên tàu sân bay tại căn cứ trên đất liền.

Bãi đáp mô phỏng được sơn từ tháng 11/2020 và hoàn thiện hồi tháng 1, dài khoảng 206 m và rộng 26 m, tương đương tàu sân bay Sơn Đông. Vị trí hạ cánh của trực thăng, cáp buộc và vị trí dây hãm đà cùng các yếu tố liên quan khác được bố trí giống trên tàu sân bay nội địa Trung Quốc.

Tiêm kích hạm J-15 được Trung Quốc sao chép từ Su-33 của Liên Xô, sau khi nước này mua nguyên mẫu chưa hoàn thiện mang tên mã T-10K-3 từ Ukraine vào năm 2001. J-15 được trang bị hệ thống điện tử, radar, động cơ và vũ khí do Bắc Kinh tự phát triển, nhưng chất lượng của chúng bị nghi ngờ ngay từ đầu.

Phi đội J-15 của Trung Quốc gặp ít nhất 5 tai nạn nghiêm trọng, được cho do vấn đề kỹ thuật, khiến ba phi công thiệt mạng và nhiều người bị thương. Tuy nhiên, chỉ hai vụ được công bố cụ thể trên truyền thông Trung Quốc.

J-15 cũng nằm trong nhóm tiêm kích hạm nặng nề nhất thế giới, với khối lượng rỗng gần 18 tấn và khối lượng cất cánh tối đa 33 tấn. Vấn đề này càng gây khó khăn cho hoạt động tác chiến của tàu sân bay Trung Quốc, khi những chiếc J-15 phải hạn chế số lượng vũ khí và nhiên liệu để tránh làm quá tải hệ thống cáp hãm đà.

 

 

NHẬN DIỆN, BÁC BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP - GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


 Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù trong mỗi thời kì lịch sử, mỗi giai đoạn phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp có những biểu hiện khác nhau, nhưng vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn là vấn đề tất yếu, có tính quy luật của phát triển xã hội. Vì vậy, kiên định với lập trường giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận diện khách quan những đặc điểm trong cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nhận thức đúng về cuộc đấu tranh giai cấp trong tình hình hiện nay là cơ sở quan trọng để củng cố lập trường, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trên những phương diện khác nhau đã xuất hiện không ít những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có nội dung bác bỏ quan điểm về  giai cấp và đấu tranh giai cấp.

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của sự phát triển lịch sử, là tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp.  

Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp thì đấu tranh giai cấp giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị là một tất yếu lịch sử. Chủ nghĩa Mác-Lênin không coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp, nên chưa có đấu tranh giai cấp, và trong tương lai khi xã hội không còn phân chia giai cấp thì không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như C.Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hội.

Theo C.Mác, trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của giai cấp bị trị. Giai cấp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức về chính trị, tư tưởng và tinh thần. Bởi sự hình thành giai cấp cũng là sự hình thành các lợi ích khác nhau. Lợi ích giai cấp không phải do ý thức giai cấp quy định mà do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp ấy tạo nên một cách khách quan. Giai cấp thống trị bao giờ cũng dùng mọi biện pháp và phương tiện bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố chế độ kinh tế, xã hội cho phép họ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp. Lợi ích căn bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị - đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đấu tranh giai cấp. Vì thế, trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (năm 1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả phường hội và thợ bạn, nói tóm lại là những kẻ áp bức và những người bị áp búc, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành cuộc đấu tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thúc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau” [1, tr.596 - 597].

Theo C. Mác, đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội chỉ có thể nổ ra trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển tới mức mâu thuẫn không thể giải quyết với quan hệ sản xuất đã lỗi thời trong lòng xã hội cũ. C.Mác gọi đây là “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, vì không có nó thì tất cả sẽ chỉ là sự nghèo nàn sẽ trở thành phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở lại một cuộc đấu tranh để giành những cái cần thiết, thế là người ta lại không tránh khỏi rơi vào cũng sự ti tiện trước đây” [2,tr. 49]. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn tới đấu tranh giai cấp, trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích nguyên nhân cuộc đấu tranh giai cấp dẫn đến sự sụp đổ của chế độ phong kiến để hình thành nên xã hội tư bản: “... chúng ta đã thấy rằng, những tư liệu sản xuất và trao đổi, làm cơ sở cho giai cấp tư sản hình thành, đã được tạo ra trong lòng xã hội phong kiến. Những tư liệu sản xuất và trao đổi ấy, phát triển tới một trình độ nhất định nào đó thì... tất cả những cái đó đều biến thành xiềng xích. Phải đập tan những xiềng xích ấy... Thay vào đó là sự cạnh tranh tự do, với một chế độ xã hội và chính trị thích ứng, với sự thống trị kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản” [1, tr.603 - 604].

          Như vậy, sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản là tất yếu khách quan và là bước tiến vĩ đại trong tiến trình phát triển lịch sử - xã hội. Mặc dù quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã giải phóng lực lượng sản xuất, thực ra đó chỉ là sự thay thế chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của giai cấp địa chủ, bằng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản, thay thế phận làm thuê, làm mướn của người nông nô cho địa chủ bằng cuộc đời làm thuê của giai cấp công nhân cho giai cấp tư sản. Mâu thuẫn về lợi ích giữa giai cấp tư sản và vô sản tiếp tục diễn ra trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn này không thể giải quyết trong xã hội tư bản mà trở thành nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản. Chính vì vậy: “những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản” [1, tr.605 ]. Nghĩa là, lịch sử đã tạo ra chủ nghĩa tư bản hiện đại và đến lượt nó lại trở thành vật cản của văn minh nhân loại.  

Xét đến cùng, sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất để đáp ứng mọi nhu cầu của con người là nguyên nhân của thay đổi quan hệ sản xuất và chế độ xã hội. Có thể nói, con người phát triển lực lượng sản xuất là động lực vĩnh cửu của lịch sử. Nhưng chế độ xã hội lỗi thời không tự nó tan rã, giai cấp thống trị không tự nguyện rút khỏi vũ đài, mặc dù nó đã hết vai trò lịch sử. Để phát triển, lịch sử cần đến một động lực khác nữa, động lực đó là đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội. Không có đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân thì chủ nghĩa tư bản, dù đã hết vai trò lịch sử, cũng không tự động chuyển biến thành chủ nghĩa xã hội.

Quan điểm khoa học về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là áp đặt mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối kháng giữa các giai cấp: bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và bị áp bức. Do đó, đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn. Chủ nghĩa Mác-Lênin không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. C.Mác chỉ ra, ngoài đấu tranh giai cấp ra còn nhiều động lực khác như: đạo đức, tư tưởng, văn hóa, giáo dục… vị trí, vai trò của mỗi động lực là khác nhau. Nhận thức được điều này sẽ giúp chúng ta sẽ tránh được tư tưởng tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp.

Thứ hai, có quan điểm cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin coi bạo lực  cách mạng là “bà đỡ” cho sự ra đời xã hội mới, là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, không thể thúc đẩy xã hội phát triển.

Chủ nghĩa Mác-Lênin tuyệt đối không sùng bái bạo lực mà coi bạo lực cách mạng chỉ là một trong những phương thức để thể hiện sức mạnh của quần chúng, là “bà đỡ” để đưa xã hội mới (xã hội chủ nghĩa) ra đời trong lòng xã hội cũ (chủ nghĩa tư bản). Còn xã hội mới (xã hội chủ nghĩa) trưởng thành, phát triển như thế nào thì chủ yếu là vấn đề xây dựng. Trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, sở dĩ dùng bạo lực cách mạng là để chống lại bạo lực phản cách mạng của giai cấp tư sản cầm quyền. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đề cập đến khả năng dùng biện pháp hòa bình nếu giai cấp tư sản cầm quyền tự nguyện rút lui khỏi vũ đài chính trị, nhưng khả năng này rất hiếm.

Nói đấu tranh giai cấp mà không nói đến bạo lực cách mạng là không đúng với thực tế lịch sử.  Ở thế kỷ XIX, nhân loại đã chứng kiến các điển hình về bạo lực cách mạng có tính giai cấp như vào các năm 1848,1870, giai cấp tư sản Pháp đã dìm hai cuộc khởi nghĩa của công nhân Pari trong biển máu. Giai cấp thống trị tư bản nhiều nước nắm những phương tiện bạo lực, sẵn sàng sử dụng chúng để đàn áp phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chính vì vậy, cuộc đấu tranh giai cấp để giải phóng khỏi áp bức bóc lột của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động nếu diễn ra trong hòa bình mà không cần đến bạo lực cách mạng là điều rất khó xảy ra. Bởi vì, chỉ  có dùng bạo lực cách mạng thì giai cấp bị trị mới có thể thắng được bạo lực phản cách mạng của giai cấp thống trị, song bạo lực cách mạng là phương án lựa chọn cuối cùng.

Thứ ba, có một số ý kiến cho rằng, vận dụng quan điểm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là không phù hợp.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lêninviệc nhận thức và giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Ðảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững lập trường cách mạng, trung thành với quan điểm về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta luôn xác định rằng, hiện nay và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta vẫn còn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đó là một thực tế khách quan. Song quan niệm đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay diễn ra trong điều kiện mới, nội dung và hình thức mới.

Trong điều kiện mới hiện nay, không được cường điệu cuộc đấu tranh giai cấp, dẫn đến sự rụt rè, không dám đổi mới; đồng thời, không được coi nhẹ, xem thường đấu tranh giai cấp, dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác. Điều kiện quốc tế đã có nhiều thay đổi, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, vận mệnh dân tộc đứng trước những thời cơ mới và thách thức mới. Điều kiện trong nước, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế bình đẳng không bị hạn chế về cơ hội phát triển, nhằm tạo điều kiện để mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội có thể phát huy hết tiềm năng của mình, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đã hình thành một cơ cấu xã hội - giai cấp mới đa dạng, phức tạp, gồm nhiều giai cấp, tầng lớp. Đáng chú ý là thành phần kinh tế tư bản tư nhân trở thành một thành phần kinh tế lớn mạnh, được khuyến khích phát triển, không giới hạn về ngành nghề, quy mô, tốc độ.

Đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay, chủ yếu là đấu tranh để chiến thắng những thế lực cản trở việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hình thức đấu tranh giai cấp và xử lý quan hệ xã hội - giai cấp đa dạng, phong phú. Trong đó nổi bật lên những mối liên hệ sau: trong mối quan hệ giữa trấn áp và tổ chức xây dựng thì bạo lực trấn áp là cần thiết, tất yếu, song tổ chức xây dựng là chính, là quyết định; quan hệ giữa cưỡng chế với thuyết phục, giáo dục thì thuyết phục, giáo dục được đặt lên hàng đầu; quan hệ giữa đoàn kết và đấu tranh thì đoàn kết là chính, đấu tranh là cần thiết, song không phải để làm tăng thêm sự khác biệt mà là để giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc; quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện công bằng xã hội cần xem cả hai đều là mục tiêu chiến lược.

Về đấu tranh giai cấp, Ðại hội IX của Ðảng nhận định, cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội thì cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiều. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðại hội IX của Ðảng khẳng định: “Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc” [3, tr.86 ].

Tóm lại, trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, đấu tranh giai cấp không những không mất đi mà còn diễn ra rất phức tạp, đòi hỏi mỗi chúng ta cần nhận thức sâu sắc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng tư duy lý luận tốt, có khả năng phân tích, đánh giá tình hình nắm bắt quy luật vận động, củng cố lập trường giai cấp công nhân, có niềm tin khoa học, kiên quyết và sáng suốt đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Quan điểm về đấu tranh giai cấp trong lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh đúng quy luật khách quan và vẫn giữ nguyên giá trị. Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nhận thức rõ tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp. Để bổ sung, phát triển một cách sáng tạo đúng đắn và khoa học quan điểm về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin, mỗi thế hệ kế tiếp nhau sẽ dùng phương pháp biện chứng duy vật để không ngừng phát triển nó lên một trình độ cao hơn, yêu cầu đặt ra là cần phải nghiên cứu cẩn thận, nghiêm túc những tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và quan điểm của Đảng ta, tránh rơi vào sai lầm khi xem thường, xóa nhòa đấu tranh giai cấp đi đến mơ hồ, mất cảnh giác, mắc vào âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực phản động trên thế giới đang tìm cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây chính là cách tốt nhất để tăng cường sức sống và sức hấp dẫn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên đầy biến động và năng động hiện nay. ST

Trung Quốc sẽ khai thác khí ngoài Biển Đông: Những lo ngại đối với các quốc gia trong khu vực Biển Đông, trong đó có Việt Nam

 

Trung Quốc sẽ khai thác khí ngoài Biển Đông: Những lo ngại đối với các quốc gia trong khu vực Biển Đông, trong đó có Việt Nam

Thời báo Hoàn Cầu mới đây dẫn nguồn từ Tổng công ty dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) cho biết, giàn khai thác "Biển sâu số 1" nặng hơn 100.000 tấn do công ty này sản xuất sẽ được kéo ra Biển Đông để khai thác khí tự nhiên ngay trong tháng 6 này.

Khu vực dự tính đặt giàn khoan là khu vực Lăng Thủy gồm các lô dầu khí Lăng Thủy 17-2, Lăng Thủy 25-1, Lăng Thủy 18-1 và Lăng Thủy 18-2, nằm cách đảo Hải Nam khoảng 150km.

 PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã có bài viết nêu quan điểm riêng của mình về vấn đề này và cho rằng: Trung Quốc là một nước lớn nhìn cả từ cấp độ phát triển và cả về dân số, kéo theo là nhu cầu tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, lương thực, thực phẩm và năng lượng,... Họ đều đứng đầu thế giới.

Trong kỷ nguyên của hội nhập quốc tế với việc gia tăng sử dụng công nghệ cao thì nhu cầu về năng lượng lại ngày càng lớn. Vì thế, Trung Quốc đã hình thành chiến lược để giải quyết vấn đề này và chưa bao giờ có ý định lùi bước trước cuộc chiến chống lại cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu kéo dài. Thậm chí, Trung Quốc còn tận dụng các cơ hội và giải pháp thúc đẩy hơn nữa miễn sao giành được nhiều nguồn năng lượng về mình.

Biển Đông là một mặt trận để Trung Quốc thực hiện ý đồ đó trong khuôn khổ của mục tiêu “kép”: tiếp cận tài nguyên biển và mở rộng tham vọng chủ quyền biển đảo. Cho nên, động thái tuyên bố sẽ chính thức đưa giàn khoan "Biển Sâu số 1" tự sản xuất đi vào hoạt động ngoài Biển Đông từ tháng 6 năm 2021, của Tổng công ty dầu khí Hải Dương Trung Quốc lần này cũng không nằm ngoài ý đồ bao trùm nói trên.

Ngay từ năm 2014, khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981 ở vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thì Chủ tịch CNOOC khi đó đã ngang nhiên tuyên bố, các giàn khoan nổi/cố định của Trung Quốc không chỉ để hút dầu mà còn như một cái gọi là “cột mốc chủ quyền” trên biển của họ.

Và cần nhắc lại rằng, khu vực biển Lăng Thủy này cũng nằm trong vùng chồng lấn gây tranh cãi từ năm 2014, và lần này lặp lại, Trung Quốc không thể che đậy được ý đồ “độc quyền khai thác tài nguyên” trước khi “độc chiếm Biển Đông” mà họ đã định vị bằng “đường chín đoạn” (đường lưỡi bò) phi lý. Các thách thức về an ninh khu vực Biển Đông liên quan đến giàn khoan này sẽ có thể gia tăng căng thẳng, khiến cho tình hình Biển Đông lại một lần nữa rơi vào thế bất ổn.

Mặt khác, Trung Quốc đã chuẩn bị kịch bản cho một “chiến lược hướng nam” ở Biển Đông bằng các bước đi cụ thể hòng độc quyền khai thác tài nguyên, tiến lới độc chiếm khu vực biển quan trọng này như nói trên.

Họ đã đơn phương thực hiện các bước đi chiến lược, có thể tóm gọn, như: “Pháp lý hóa Biển Đông” bằng cách công bố “đường lưỡi bò” phi lý ra Liên hiệp quốc (2009); “Hành chính hóa/Dân sự hóa” Biển Đông bằng việc công bố cái gọi là “thành phố Tam Sa” (2012), và yêu sách “Tứ Sa” (2017); “Quân sự hóa” (2016) Biển Đông trên nền tảng các đảo nhân tạo xây dựng trái phép trên các bãi cạn rạn san hô ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Phục vụ triển khai các bước đi chiến lược đó, Trung Quốc đã chuẩn bị khá tốt các giải pháp công nghệ tương ứng, và thực tế họ đã dùng công nghệ can thiệp xử lý kỹ thuật thành công đối với các trường hợp mà trước đây dự báo là không dễ dàng...

Dĩ nhiên, thời gian qua, các bước đi chiến lược nói trên của Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của các quốc gia trong khu vực Biển Đông, trong đó có Việt Nam và thậm chí cả các quốc gia liên quan ngoài khu vực. Không có quốc gia nào chấp nhận trước những điều vô lý, trái với thông lệ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS-1982), và cũng không có quốc gia nào nhượng bộ về chủ quyền quốc gia, dân tộc. Không ai bỏ mất các quyền và lợi ích chính đáng của quốc gia mình,...

Hơn lúc nào hết, các quốc gia trong khu vực phải duy trì nhận thức chung, đặc biệt là các cường quyền chính trị nước lớn phải kiềm chế, thể hiện thiện chí, gương mẫu và biết tôn trọng các quốc gia khác, tôn trọng luật pháp quốc tế. Lúc này cần sự đoàn kết giữa các nước trong khu vực, đặc biệt là ASEAN để khẳng định vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực, bao gồm Biển Đông.

Thời gian qua, Việt Nam đã chủ động có những đóng góp quan trọng trong giải quyết các thách thức trong khu vực Biển Đông, trong đó có những thách thức an ninh. Chúng ta cũng đã chứng minh được với bạn bè quốc tế về cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình và giải quyết nhiều vấn đề trên biển cả ở cấp độ đa phương và song phương. Việt Nam có quyền tự hào về những đóng góp của mình cho nền hòa bình khu vực, cho sự thịnh vượng của đất nước và cho cuộc sống yên bình của nhân dân, đặc biệt trong chống lại đại dịch Covid-19, bảo đảm mục tiêu kép.

Việt Nam xác định lợi ích quốc gia, dân tộc luôn là điều tối thượng. Trước sau như một, người Việt luôn thủy chung với bạn bè, hữu nghị với láng giềng; kiên trì, kiên định và tin tưởng vào đường lối đối ngoại và tiếp cận giải quyết hòa bình các vấn đề trên biển liên quan, nhưng kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tự cường dân tộc, độc lập tự chủ, đa phương hóa quan hệ ngoại giao, khôn khéo, linh hoạt trong từng trường hợp sẽ vẫn là những bài học giúp Việt Nam vượt qua khó khăn, thách thức. Lần này cũng sẽ vậy.

Đề nghị tạm đình chỉ hoạt động Hội thánh truyền giáo Phục Hưng

 

Đề nghị tạm đình chỉ hoạt động Hội thánh truyền giáo Phục Hưng

Theo Báo Người lao động, đến nay (03/6), có 220 ca F0, hơn 2.500 F1, hơn 61.000 người là F2 và cả thảy 11 địa phương xuất hiện ca mắc Covid-19 liên quan những thành viên Hội thánh truyền giáo Phục Hưng tại quận Gò Vấp, TP HCM. Đây là một trong những thông tin được đại diện Bộ Nội vụ báo cáo với Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại cuộc họp trực tuyến Ban Chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 TP HCM vào sáng 1-6.

Đại diện Bộ Nội vụ cho biết Hội thánh truyền giáo Phục Hưng chỉ là một điểm nhóm hoạt động chứ không phải hội thánh tôn giáo, chỉ đăng ký hoạt động ở cấp phường, xã. Người đứng đầu cũng không phải mục sư mà chỉ là người đứng đầu điểm nhóm.

Điểm nhóm này hoạt động được cấp phường đăng ký theo đúng quy định, hoạt động hợp pháp. Tuy nhiên, do tính chất truyền giáo nên sau khi xảy ra dịch bệnh và chủ quan của người đứng đầu điểm nhóm đã để lại hậu quả nghiêm trọng.

Cho đến nay, liên quan đến điểm nhóm này có 220 ca F0, hơn 2.500 F1 và hơn 61.000 người. F2. 11 địa phương trong cả nước có ca mắc Covid-19 liên quan đến người của Hội thánh truyền giáo Phục Hưng. Dự báo, trường hợp F0 từ F1, F2 sẽ tiếp tục gia tăng trong những ngày tới.

Đại diện Bộ Nội vụ cho biết hiện nay, toàn quốc có khoảng 5.500 điểm nhóm, riêng tại TP HCM có khoảng 145 điểm nhóm hoạt động như Hội thánh truyền giáo Phục Hưng. Những điểm nhóm này đa số hoạt động ở cơ sở vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, những điểm nhóm này hoạt động độc lập, không phụ thuộc và lệ thuộc vào sự chỉ đạo của các tổ chức tôn giáo, do đó khó khăn trong tuyên truyền, vận động và kiểm soát.

Riêng Hội thánh truyền giáo Phục Hưng có 60 tín đồ thì có 55 người đã là F0. TP HCM đã kịp thời xử lý, khởi tố vụ án. Dù vậy, Bộ Nội vụ đề xuất TP HCM nên chỉ đạo lãnh đạo phường 3, quận Gò Vấp đình chỉ hoạt động điểm nhóm này để phục vụ công tác điều tra, tùy tính chất vụ án để xử lý cao hơn, như có thể rút giấy phép hoặc xóa tên.

Bộ Nội vụ cũng đề nghị TP HCM tăng cường rà soát lại các hoạt động ở những cơ sở thờ tự trên địa bàn.

 

 25,2 NGHÌN TỶ MUA, TIÊM VACCINE COVID-19 CHO TOÀN DÂN

Bộ Tài chính cho biết đã trình các cấp để đảm bảo nguồn lực, triển khai việc mua vaccine theo đề xuất của Bộ Y tế.
Theo Bộ Tài chính, tại Tờ trình số 104/TTr-CP ngày 2/4/2021 về phương án sử dụng nguồn tiết kiệm chi và kinh phí còn lại của Ngân sách Trung ương năm 2020, Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội nguồn kinh phí dự kiến mua và tiêm vaccine phòng COVID-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người khoảng 25,2 nghìn tỷ đồng. Trong đó, kinh phí mua vaccine khoảng 21.000 tỷ đồng, vận chuyển, bảo quản, phân phối, tổ chức tiêm khoảng 4,2 nghìn tỷ đồng.
Ngân sách Trung ương sẽ bảo đảm cho các đối tượng do trung ương quản lý và hỗ trợ các địa phương khó khăn khoảng 16.000 tỷ đồng, ngân sách địa phương chi và huy động đóng góp của các doanh nghiệp, tổ chức khoảng 9.200 tỷ đồng.
Cụ thể, Ngân sách trung ương gồm 3,33 nghìn tỷ đồng, trong đó, chuyển nguồn từ năm 2020 sang năm 2021 (12,1 nghìn tỷ đồng tiết kiệm chi Ngân sách Trung ương năm 2020 và 1,237 nghìn tỷ đồng đã bổ sung cho Bộ Y tế năm 2020 nhưng chưa sử dụng nay chuyển nguồn sang năm 2021. Phần còn lại từ dự phòng Ngân sách Trung ương năm 2021, bước đầu Thủ tướng đã bổ sung 1.237 tỷ đồng cho Bộ Y tế theo Quyết định số 507/QĐ-TTg ngày 31/3/2021.
Ngày 18/5/2021, UBTVQH ban hành Nghị quyết số 1271/NQ-UBTVQH14 về việc sử dụng nguồn tiết kiệm chi và kinh phí còn lại của Ngân sách Trung ương năm 2020, trong đó tại Điều 1 sử dụng nguồn tiết kiệm chi và kinh phí còn lại của Ngân sách Trung ương năm 2020: “Sử dụng 12.100 tỷ đồng nguồn tiết kiệm chi năm 2020 để mua vắc xin phòng dịch COVID-19”.
"Như vậy, đến nay, Bộ Tài chính đã trình cấp có thẩm quyền đảm bảo nguồn lực để triển khai việc mua vắc xin theo đề xuất của Bộ Y tế", Bộ Tài chính khẳng định.
Theo Bộ Tài chính, đến nay, Ngân sách Nhà nước đã chi hơn 8 nghìn tỷ đồng để thực hiện các chính sách phòng, chống dịch COVID-19, trong đó riêng ngân sách Trung ương đã chi hơn 6,1 nghìn tỷ đồng để bổ sung cho các Bộ mua sắm vật tư, trang thiết bị y tế và mua vaccine phòng COVID-19 (5,35 nghìn tỷ đồng) và hỗ trợ cho các địa phương 762 tỷ đồng.
Chi 13,1 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ cho trên 13 triệu đối tượng gặp khó khăn do đại dịch, chủ yếu là người nghèo (gần 8 triệu người), đối tượng bảo trợ xã hội (gần 3 triệu người), người có công với cách mạng (hơn 1 triệu người) và 1,3 triệu lao động bị mất việc làm.

TỰ HÀO NGƯỜI CHIẾN SĨ TRÊN TUYẾN ĐẦU CHỐNG DỊCH

      Ngày 26-5 vừa qua, tại Chốt lưu động phòng, chống dịch Covid-19 Cầu Ván thuộc Đồn Biên phòng cửa khẩu Xa Mát (xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh) đã diễn ra lễ kết nạp đảng viên cho 2 quần chúng là chiến sĩ đang thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 trên tuyến biên giới: Đồng chí Phan Hoàng Hiệp và Lê Chí Hoàng. Đây là hai chiến sĩ được bổ sung, tăng cường cho một số chốt kiểm soát dịch Covid-19 dọc tuyến biên giới đất liền. Trong nhật ký của mình, Binh nhất Phan Hoàng Hiệp chia sẻ:

“...Ngày 26-5-2021: Mặc dù đang trong giai đoạn cao điểm phòng, chống Covid-19 và chống xuất nhập cảnh trái phép qua biên giới, mình vinh dự được kết nạp vào Đảng, trên chính tuyến đầu chống thứ “giặc vô hình Covid-19”. Mình sẽ không bao giờ quên giây phút ấy - giây phút nhận Quyết định kết nạp Đảng, đọc lời tuyên thệ của người đảng viên trước ảnh Bác Hồ treo ngay tại chốt gác, trong khung cảnh mênh mông của miền rừng nơi biên viễn. Trở thành đảng viên, trọn đời phấn đấu vì mụ…Trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trong một hoàn cảnh thiêng liêng, đặc biệt, mình nguyện nỗ lực hết mình, đem sức trẻ phục vụ Tổ quốc, góp phần cùng đồng đội tạo thành “bức tường xanh” đồng hành cùng toàn dân chống dịch Covid-19, xứng đáng với niềm tin yêu mà Đảng đã gửi gắm...!”. Trong nhật ký của mình, Binh nhất Lê Chí Hoàng bày tỏ:                                                          Được kết nạp Đảng ngay tại nơi tuyến đầu chống dịch còn nhiều khó khăn, vất vả, nên tuy lễ kết nạp bài trí đơn sơ, không cầu kỳ song vẫn vô cùng trang nghiêm bởi không khí thiêng liêng, tự hào. Khắc ghi trước Tổ quốc, trước cờ Đảng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh lời thề “máu thịt, gan ruột, mệnh lệnh”, mình nguyện mang theo niềm vinh dự này vào mỗi nhiệm vụ được giao, trước mắt là hoàn thành tốt nhiệm vụ tham gia phòng, chống dịch Covid-19 trên tuyến biên giới hiện nay…

Cuộc chiến với dịch Covid-19 còn lâu dài. Cất giấu nỗi nhớ vào tim, mình nguyện nêu cao tinh thần, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cùng đồng đội và nhân dân trên địa bàn bảo vệ biên giới, chung tay đẩy lùi dịch bệnh Covid-19. Mình mong lắm vì biết rằng, khi ấy, cả đất nước sẽ bình yên, sạch giặc Covid-19 và nhịp sống sẽ trở lại bình thường...".

Qua những dòng nhật ký trên đã cho thấy niềm vinh dự, tự hào của những quần chúng ưu tú nơi biên cương Tổ quốc vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Đó thực sự là một kỷ niệm đáng nhớ trong đời quân ngũ. Chúc các chiến sĩ luôn bảo đảm về sức khỏe, hoàn thành tốt nhiệm vụ phòng, chống dịch, góp phần giữ vững trận tuyến phòng, chống dịch Covid-19 trên khu vực biên giới của Tổ quốc                           ST.

 

VẪN CÒN NHỮNG CON NGƯỜI MÔNG MUỘI VÀ ẤU TRĨ NHƯ THẾ


Có lẽ những người Việt chống cộng không bao giờ phủ nhận được rằng, kiếp vong nô 46 năm qua là tội lỗi, nỗi đau, nỗi nhục, nỗi buồn không bao giờ vơi được của những kẻ cầu vinh bán nước mang danh ngụy Sài Gòn.

46 năm qua, một sự thật cũng không bao giờ họ và con cháu họ, dù ở trong nước hay đang vong quốc nô thân ở nước ngoài vẫn thấy một sự thật rằng, đất nước Việt Nam đang vẹn toàn, non sông gấm vóc, thái bình, dân tộc đoàn kết, nhân dân từng ngày giàu mạnh, có lẽ ngàn năm nay chưa một triều đại, một chế độ nào làm được.

Gần 30 năm vong quốc, khi được về Việt Nam, thấy đất nước rạng ngời, bình an khó tả, ông Nguyễn Cao Kỳ đã thốt lên, "chúng tôi chưa bao giờ làm được như những người Cộng sản", và ông khuyên những kẻ chống cộng đang vong quốc rằng: "Nước Việt Nam có mất cho Tây cho Tàu đâu mà phục quốc? Chưa kể là một số người cho là 3 triệu người hải ngoại là nhân danh Tổ quốc. Và thử hỏi nếu họ thật sự yêu nước thì họ phải biết ngồi im và biết suy nghĩ chứ đừng đi theo một lũ côn đồ, hám danh hám lợi, lừa gạt mọi người. Cứ nhân danh chính nghĩa quốc gia, nhân danh tự do dân chủ, nhân danh chống cộng mà đi lừa gạt người ta thì lấy đâu ra nhân danh con dân nước Việt..."

Ông Kỳ đã khuyên họ đã gần 20 năm rồi, trong những kẻ lầm đường ấy, có người đã thức tỉnh lương tri, hỗi lỗi trở về với dân tộc, nhân dân để góp sức xây dựng đất nước phồn vinh. Song cũng có một bộ phận, đến nay đã thất thập, bát thập, cửu thập niên sinh mùa hoa gạo nhưng vẫn chưa mở mặt ngước nhìn Tổ quốc thống nhất, vinh quang; thậm chí không chịu nghe những người trong cuộc mà hối lỗi để về với đất mẹ, về giữa từ đường dòng họ để thắp cho tổ tiên cây hương báo hiếu, hối lỗi mà suốt ngày ra rả "Cộng sản độc tài", Cộng sản tà quyền", "Cộng sản bán nước".

Thật không thể ngờ vẫn còn có những con người mông muội và ấu trĩ như thế!

 

ẢO TƯỞNG CỦA XUÂN HÀO VỀ VIỆC

CỐ LÀM “ SỐNG LẠI CÁI THÂY MA VNCH ”

 Chuyện sẽ chẳng có gì đáng bàn nếu “ cờ vàng” chỉ là biểu tượng của một cộng đồng thiểu số ở Mỹ. Nhưng vì nhiều năm nay một số tổ chức, cá nhân người Mỹ gốc việt luôn cố gắng lợi dụng ẩn nấp dưới “cờ vàng” để chống phá Việt nam một cách điên cuồng, cố gắng “hà hơi thổi ngạt” để làm sống lại một cái “ thây ma” đã chết cách đây hơn 46 năm với mưu đồ chính trị đen tối. Đơn cử có thể kể ra là bài viết gần đây nhất đang trên Facebook “ Chân Trời Tự Do” của tác giả Xuân Hào càng cho thấy bản chất lưu manh phản động, chống phá , xuyên tạc lịch sử với động cơ không trong sáng của các tổ chức, cá nhân này.

Ngay tiêu đề bài viết là dòng hồi tưởng “LÁ CỜ GẮN VỚI THÂN PHẬN NGƯỜI DÂN” với mốc thời gian năm 1954, Xuân Hào cho rằng: “ Sau khi cờ vàng hạ xuống tại Hà Nội thì dân Miền Bắc bị xiềng xích, hơn triệu sinh mạng thường dân phải chết vì chủ trương giải phóng” . Đây là luận điệu xuyên tạc lịch sử một cách trơ trẽn và trắng trợn. Sự thật là từ năm 1949 Pháp thành lập chính phủ “Quốc Gia Việt Nam” với nhiều gương mặt con quý tộc địa chủ phong kiến được đào tạo bên  Pháp lên nắm quyền thì “cờ vàng ba sọc” chính thức được chính thể tay sai này thừa nhận và sử dụng cho đến ngày lưu vong(30/4/1975) trải qua 01 đời Quốc trưởng và 4 đời Tổng thống làm tay sai cho Pháp rồi đến Mỹ. Với những biến cố thảm hại, những sự kiện nhơ nhuốc của các chính quyền tay sai thường bị người dân Việt Nam khinh miệt với nhũng từ ngữ nặng nề như “ngụy”, “tay sai” , “bán nước” … nên nó sớm bị loại bỏ xem như biểu tượng của thành phần phản động bất hảo. Và thực tế là từ 2-9-1945 cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện trong lễ tuyên bố độc lập, tại quảng trường Ba Đình thì “cờ vàng hạ xuống” không phải là năm 1954 như Xuân Hào viết ở trên. Thêm vào đó Quốc trưởng Bảo Đại vào Nam theo ý đồ của Pháp và Mỹ  để dựng nên chính thể VNCH với mưu đồ chia rẽ nước ta. Sự hy sinh đổ máu là điều không ai mong muốn nhưng với bản chất hiếu chiến phản động của kẻ thù thì con đường đấu tranh giải phóng dân tộc bằng bạo lực cách mạng là con đường đúng đắn duy nhất. Sự hy sinh dù không mong muốn nhưng là cần thiết để ta có được sự thống nhất, độc lập toàn vẹn lãnh thổ, chứ đâu phải như luận điệu xuyên tạc “ phải chết vì chủ trương giải phóng” như tác giả này viết.

Chưa dừng tại đây, Xuân Hào viết tiếp “khi cờ vàng còn tuần tiễu tại biển Đông thì không sợ bị TQ giết hại”. Sự thật là theo hiệp định Geneve 1954 toàn bộ lãnh hải nam vĩ tuyến 17 của Việt Nam do quân đội Pháp kiểm soát sẽ được chuyển giao cho quân đội Quốc gia Việt nam bao gồm cả quần đảo Hoàng sa.  Khi chính phủ tay sai Việt Nam Cộng Hòa được dựng lên, trên cơ sở kế thừa thì quần đảo này thuộc quyền quản lý của Việt Nam cộng Hòa. Tuy vậy đến năm 1974 ngay khi “cờ vàng còn tuần tiễu tại biển Đông”  hải chiến Hoàng Sa xảy ra giữa VNCH và Trung Quốc, dù có tàu chiến mạnh hơn nhiều lần kể cả về kích thước và hỏa lực nhưng Hải quân VNCH vẫn nhanh chóng thất bại. Sau trận đánh, không quân VNCH có kế hoạch huy động lực lượng áp đảo Trung quốc để tái chiếm quần đảo nhưng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh hủy bỏ chiến dịch do chịu sức ép từ Hoa Kỳ để đổi lấy quan hệ đồng minh giữa Hoa kỳ  với Trung Quốc. Đây là một minh chứng dễ hiểu cho bản chất tay sai, bù nhìn của cái chính thể VNCH được quan thầy Mỹ dựng lên mà Xuân Hòa đang cố sức làm cho sống lại. Bởi vậy với chính thể VNCH mà tiềm lực quân sự  hùng hậu, quân số có thời điểm hơn 1,3 triệu quân chính quy lại được Mỹ viện trợ trang bị vũ khí hiện đại nhất thời bấy giờ lại nhu nhược, đớn hèn như vậy thử hỏi làm sao “ngư dân VN yên tâm ra khơi”? . Và phải chăng vì cái suy nghĩ nuối tiếc về cái thời sống bám vào ngoại bang làm hại đồng bào, không xấu hổ khi tự huyễn hặc để lừa dối mình, lừa dối người khác về “ chế độ VNCH” có “quân sự hùng mạnh” ,có “tự do, dân chủ”, “kinh tế phát triển, ăn sung mặc sướng” rồi hoang tưởng về ngày “phục quốc” phải chăng cũng vì thế mà Xuân Hòa đã viết “ Tôi chọn đứng dưới lá cờ vàng vì nó chân thật, nó là thân phận của mình !”. Dòng viết này đã lột tả đúng bản chất của Xuân Hòa và đưa Xuân Hòa về đúng vị trí của y. Một kẻ “ăn mày dĩ vãng” với mưu đồ làm sống dậy cái “thây ma” đã biến mất trên bản đồ chính trị-địa lý thế giới gần nửa thế kỷ. Mặc dù những thế hệ F1 phần lớn đã chết nơi đất khách quê người nhưng vẫn còn những kẻ cơ hội vì tiền, vì lòng thù hận hẹp hòi như Xuân Hòa hằng ngày cấu kết với quan thầy để chống phá Việt Nam. Ảo tưởng, ảo vọng rồi hoang tưởng và để thỏa mãn tâm thế hoang tưởng mấy kẻ đang nấp dưới ‘cờ vàng” bày ra đủ thứ âm mưu xảo quyệt, đê hèn để chống phá đất nước, dùng đủ các loại thủ đoạn bẩn thỉu từ gây sức ép tới dọa dẫm buộc người gốc Việt phải góp tiền bạc để họ “giải phóng quê hương”! Trong việc làm vô vọng này họ coi “cờ vàng” làm biểu tượng là công cụ để khuyếch trương để hô hào quyên góp tiền của và lực lượng. Lá cờ vàng ba sọc đỏ đã trở thành biểu tượng của đám người chống cộng cực đoan bất kể lý lẽ, những đám người giống như băng đảng, không đại diện cho bất kỳ ai chứ đừng nói đến là đại diện cho hơn hai triệu Kiều bào ở hải ngoại. Bởi vậy mấy kẻ sức cùng lực kiệt mà vẫn cố làm sống lại cái “thây ma VNCH” cũng cần phải xem xét lại mình để thấy xấu hổ và dừng lại, không xúi bẩy người khác làm điều xấu. Bởi đó không phải đơn giản chỉ là chuyện lá cờ, mà là mưu đồ chính trị đen tối, và nếu tiếp tục, chắc chắn sẽ bị pháp luật trừng trị thích đáng./.