Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

Trung Quốc tập trận ở vịnh Bắc Bộ, rục rịch kéo giàn khoan lớn ra Biển Đông

 

Trung Quốc tập trận ở vịnh Bắc Bộ, rục rịch kéo giàn khoan lớn ra Biển Đông

Cục Hải sự Trung Quốc (MSA) cho biết, nước này vừa tiến hành cuộc tập trận ở phía tây bán đảo Lôi Châu - khu vực vịnh Bắc Bộ.

Theo thông báo trên trang web của MSA hôm 2/6, cuộc tập trận diễn ra tại vùng biển có bán kính 6km từ tọa độ 21°14,87 vĩ bắc/109°32,75 kinh đông. Mọi tàu thuyền bị cấm đi lại trong khu vực vào thời điểm diễn ra tập trận.

MSA cho hay, từ đầu năm tới nay, Bắc Kinh đã lên kế hoạch hoặc thực hiện ít nhất 21 cuộc diễn tập quân sự ở Biển Đông, bao gồm cả 8 cuộc ở vịnh Bắc Bộ. Gần đây nhất, MSA hôm 25/5 thông báo cuộc tập trận bắn đạn thật ở vịnh Bắc Bộ từ 27-30/5.

Động thái mới diễn ra chỉ vài ngày sau khi Thời báo Hoàn cầu dẫn thông báo từ Tổng công ty dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) hôm 29/5 cho hay sẽ đưa giàn khoan mới, lớn nhất thế giới ra Biển Đông để khai thác khí tự nhiên ngay trong tháng 6.

Theo CNOOC, giàn khoan "Biển sâu số 1" nặng hơn 100.000 tấn đã hoàn tất các công đoạn lắp đặt thiết bị và sẽ được kéo ra khu vực khí Lăng Thủy ngoài khơi đảo Hải Nam trong nửa đầu tháng 6. Giàn khoan bắt đầu khai thác trong tháng, ước tính mỗi năm có thể thu được 3 tỉ mét khối khí tự nhiên. 

Trung Quốc đã liên tục triển khai nhiều giàn khoan thăm dò và khai thác dầu khí trên Biển Đông. Không ít lần, họ sử dụng giàn khoan và tàu khảo sát địa chất như công cụ thúc đẩy yêu sách hàng hải phi pháp trong khu vực.

CNOOC cũng đồng thời là chủ sở hữu giàn khoan HD-981 từng xâm phạm vùng biển Việt Nam năm 2014. So sánh về kích thước, giàn "Biển sâu số 1" lớn gấp 3 lần HD-981 (chỉ nặng 30.000 tấn). Điều này cho thấy công ty đã không ngừng phát triển các giàn khoan, thiết bị mới.

Về các động thái của Trung Quốc gần đây, tại cuộc họp báo ngày 27/5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh: "Việt Nam yêu cầu các bên liên quan tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, tôn trọng luật pháp quốc tế, tuân thủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982, không có các hành động làm phức tạp thêm tình hình, có đóng góp thiết thực, tích cực vào việc duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông cũng như tạo môi trường thuận lợi cho việc đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)”.

 

Hà Nội giám sát người đến từ TPHCM từ ngày 16/5

    Ngày 1/6, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Hoàng Đức Hạnh đề nghị phải sát chặt chẽ những người đến Hà Nội từ TPHCM từ 15 ngày trước (ngày 16/5).
    Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hà Nội khuyến cáo những người về từ TPHCM cần khai báo y tế trực tuyến hoặc khai báo trực tiếp tại trạm y tế xã, phường, thị trấn; tự cách ly y tế tại nhà, hạn chế tiếp xúc, không đi đến nơi đông người trong vòng 14 ngày tính từ ngày về.
    Trường hợp có biểu hiện ho, sốt, khó thở cần báo ngay với cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, lấy mẫu xét nghiệm và chuyển cách ly y tế.
    Trước quyết định trên, để bảo đảm an toàn phòng chống dịch cho bản thân, gia đình và cộng đồng; đề nghị các cá nhân, tổ chức cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, khai báo trung thực lộ trình công tác góp phần cùng cả nước chung tay đẩy lùi dịch bệnh trong thời gian tới, đưu đất nước ta về trạng thái bình thường mới, bảo đảm ổn định đời sống nhân dân.

Phát hiện fanpage giả mạo Ban Tuyên giáo Trung ương

 

Phát hiện fanpage giả mạo Ban Tuyên giáo Trung ương

Trung tâm xử lý Tin giả Việt Nam (VAFC), ngày 2-6, cho biết, fanpage trên Facebook có tên gọi “Ban Tuyên giáo Trung ương” giả mạo là fanpage của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Trang fanpage giả mạo này cung cấp nhiều thông tin không đáng tin cậy. VAFC khuyến cáo cộng đồng mạng không tiếp nhận và chia sẻ thông tin từ fanpage giả mạo này.

VAFC sẽ chuyển vụ việc tới cơ quan chức năng để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Khai trương từ tháng 1, Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam thuộc Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử, Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ tiếp nhận, phát hiện, thẩm định, gắn nhãn tin giả; công bố thông tin xác nhận tin giả, tin sai sự thật trên trang http://tingia.gov.vn.

Cùng với đó, chủ động phát hiện các xu hướng thông tin có lượng người chia sẻ tương tác lớn để đánh giá, thẩm định, dán nhãn tin giả (nếu có) để cảnh báo người dân không chia sẻ, cũng như hướng dẫn cách nhận biết, phòng tránh, đối phó tin giả.

 

Nguy cơ bùng phát dịch từ nhóm truyền giáo Phục Hưng

    Ổ người nhiễm SARS-CoV-2 liên quan ổ dịch nhóm truyền giáo Phục Hưng liên tiếp gia tăng, đã ghi nhận 265 ca. Thành phố đang chủ động các phương án, sẵn sàng cho các tình huống.
    Từ ngày 26/5 đến nay, thành phố ghi nhận 265 trường hợp nhiễm mới có liên quan đến chuỗi lây nhiễm tại nhóm truyền giáo Phục Hưng. Kết quả giải trình gen SARS-CoV-2 của 7 người bệnh đầu tiên là hội viên nhóm truyền giáo cho thấy, bệnh nhân đều nhiễm biến chủng Ấn Độ (B.1.617.2).
    Qua hoạt động điều tra truy vết kết hợp với thông tin khai báo y tế từ thành viên của nhóm tôn giáo ghi nhận, tổng số người tham gia là 55 người, trong đó 40 người đã xác định mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 70%.
    Điều nguy hiểm là các hội viên nhóm truyền giáo Phục Hưng sinh sống ở rất nhiều nơi trên khắp địa bàn cả nước, nên nguy cơ lây lan dịch bệnh là rất cao.

Lực lượng CAND hoàn thành xuất sắc công tác bảo vệ an ninh, an toàn cuộc bầu cử

 

Lực lượng CAND hoàn thành xuất sắc công tác bảo vệ an ninh, an toàn cuộc bầu cử

Ngày 3/6, tại Hà Nội, Trung tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, Trưởng Tiểu ban chủ trì phiên họp tổng kết công tác bảo đảm ANTT bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Tại phiên họp, Trung tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng Bộ Công an, Thường trực Tiểu ban ANTT bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2021 – 2026 (Thường trực Tiểu ban) đã trình bày báo cáo tóm tắt kết quả công tác bảo đảm ANTT bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2021 – 2026 (cuộc bầu cử). 

Theo đó, so với các kỳ bầu cử gần đây, việc quán triệt triển khai công tác đảm bảo ANTT cuộc bầu cử lần này được tiến hành từ sớm, toàn diện, quyết liệt, bài bản, nhiều nhiệm vụ được chủ động trước khi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng bầu cử Quốc gia. Ngay sau Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 45 về lãnh đạo cuộc bầu cử, Bộ Công an đã ban hành chỉ thị, kế hoạch, thành lập Tiểu ban ANTT cuộc bầu cử… để lãnh đạo chỉ đạo toàn diện công tác đảm bảo ANTT cuộc bầu cử. 

Có thể khẳng định, công tác bảo đảm ANTT cuộc bầu cử đã đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra, không xảy ra bị động, bất ngờ, không xảy ra bất cứ sơ xuất nào dù là nhỏ nhất. Trong công tác bảo đảm ANTT cuộc bầu cử, xuất hiện nhiều đơn vị, địa phương có sáng kiến, cách làm hay đã được nhân rộng trong cả nước, thể hiện sự chủ động, quyết liệt, hết lòng, hết sức vì công việc, được lãnh đạo Bộ Công an ghi nhận, đánh giá cao...

Các thành viên Tiểu ban cũng đánh giá tổng thể các mặt công tác đã triển khai để bảo vệ ANTT cuộc bầu cử; nêu lên những khó khăn, vướng mắc, phương hướng xử lý và rút ra bài học kinh nghiệm. 

Thay mặt Tiểu ban, Thứ trưởng Lương Tam Quang biểu dương tinh thần trách nhiệm, kết quả công tác của các lực lượng Công an, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm ANTT cuộc bầu cử. Nhấn mạnh một số nhiệm vụ cần thực hiện thời gian tiếp theo, Thứ trưởng Lương Tam Quang đề nghị, Công an các đơn vị, địa phương sớm hoàn thành báo cáo tổng kết của Tiểu ban để báo cáo Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Chủ tịch Quốc hội và các đơn vị liên quan theo đúng quy định; tiếp tục triển khai thực hiện bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn các nhiệm vụ, hoạt động còn lại của cuộc bầu cử; tổng kết công tác bảo đảm ANTT cuộc bầu cử; tích cực thực hiện nhiệm vụ tuyến đầu trong phòng, chống dịch COVID-19, góp phần ngăn chặn dịch bệnh lây lan, ảnh hưởng đến công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 

Thường trực Tiểu ban phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương xây dựng Quy trình công tác bảo đảm ANTT cuộc bầu cử; chủ trì, phối hợp với Công an các đơn vị, địa phương khẩn trương hoàn thành Hướng dẫn khen thưởng của Bộ đối với công tác bảo đảm an ninh, an toàn cuộc bầu cử…

 

 

LỜI BÁC DẠY CHÚNG CON MÃI GHI NHỚ!

 “ĐỒNG BÀO NAM BỘ LÀ DÂN NƯỚC VIỆT NAM. SÔNG CÓ THỂ CẠN, NÚI CÓ THỂ MÒN, SONG CHÂN LÝ ĐÓ KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI”


Là chân lý thiêng liêng, cao cả của dân tộc Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, đăng trên Báo Cứu quốc, số 255 ngày 01/6/1946.

Đầu năm 1946, đất nước ta đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, nhất là nguy cơ thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu tâm trạng lo lắng và nguyện vọng thiết tha được độc lập, thống nhất Nam - Bắc một nhà của đồng bào miền Nam. Trước khi lên đường sang Paris để mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp, Người đã gửi thư bày tỏ sự đồng cảm và khơi dậy niềm tin của đồng bào Nam bộ vào thắng lợi tất yếu trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thực tiễn sau 30 năm đấu tranh giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chân lý trên đã trở thành hiện thực: Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong giai đoạn hiện nay, tình hình quốc tế và trong nước có những thay đổi nhanh chóng, đan xen giữa thời cơ và thách thức; song Đảng ta luôn nhất quán với tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh; phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước; tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc.

Thấm nhuần lời Bác dạy, Quân đội ta luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới; vào sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội trong tình hình mới. Quan tâm lãnh đạo tốt việc xây dựng mối đoàn kết, gắn bó cán bộ, chiến sĩ giữa các vùng miền, giữa người kinh với người dân tộc thiểu số; chăm lo bồi dưỡng nâng cao chất lượng huấn luyện đối với bộ đội là con em dân tộc ít người, vùng sâu, vùng sa; thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, làm tốt công tác dân vận góp phần xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch gây chia rẽ giữa các dân tộc anh em, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao…

Yêu nước ST.

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn con đường phát triển của đất nước ta

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, nước ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và giải phóng dân tộc. Chính trong điều kiện đó, Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước. Sau khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, Người tìm thấy cơ sở lý luận chắc chắn cho con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Đó là con đường cách mạng vô sản. Bác Hồ khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức: "Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn". "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Tư tưởng đó đã được Đảng ta khẳng định, được cả dân tộc hưởng ứng và đi theo. Đó là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam. Sự lựa chọn này dựa trên cơ sở: Chỉ có chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản mới triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, đem lại vị trí làm chủ chân chính cho người lao động. Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ triệt để chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, là nguồn gốc sinh ra tình trạng người bóc lột người, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, cơ sở kinh tế đảm bảo cho nhân dân lao động thoát khỏi đói nghèo, hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tạo điều kiện giải phóng và phát triển con người toàn diện. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Tính tất yếu của thời đại mới đã tạo khả năng và điều kiện để các dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội, đem lại những nhận thức mới trong quan niệm và giải pháp giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc một cách triệt để. Sức mạnh và thành tựu của chủ nghĩa xã hội, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa đã thức tỉnh nhân loại, tạo khả năng đoàn kết các dân tộc để giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh huỷ diệt, buộc chủ nghĩa tư bản phải điều chỉnh chính sách có lợi cho người lao động; tạo khả năng hiện thực cho các nước lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Trong hơn 7 thập kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã đạt thành tựu quan trọng: Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất với quy mô và trình độ hiện đại, đảm bảo ngày càng tốt hơn về vật chất và tinh thần của nhân dân. Từ một nước Nga nghèo nàn và lạc hậu, sau một thời gian xây dựng đã trở thành một cường quốc của thế giới, đạt được bước tiến lớn trong nghiên cứu khoa học, chinh phục vũ trụ, có tiềm lực quân sự và quốc phòng hùng mạnh… tạo điều kiện cho phong trào giải phóng dân tộc phát triển. Hàng trăm nước đã giành được độc lập dân tộc góp phần quyết định vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới và hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. * Thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 70 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định tính đúng đắn của sự lựa chọn đó. Lịch sử loài người đã không đi theo con đường thẳng tắp và phong trào cách mạng cũng không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm, thậm chí có những thất bại hoặc thoái trào. Nhưng quan trọng hơn là từ trong sai lầm, khuyết điểm đó, tìm ra những nguyên nhân, rút kinh nghiệm để đưa phong trào cách mạng tiến lên. Đó mới là một thái độ nghiêm túc, đúng mực. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ do nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân trực tiếp là Đảng Cộng sản phạm những sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức bắt đầu từ sự phản bội của người lãnh đạo chủ chốt; chủ nghĩa đế quốc can thiệp vừa tinh vi, vừa trắng trợn, thực hiện "diễn biến hòa bình" ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự đổ vỡ đó không có nghĩa là sự sụp đổ của học thuyết về chủ nghĩa xã hội, không phải là sự sụp đổ của phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới, bởi vì hiện nay một số nước xã hội chủ nghĩa vẫn đang tiếp tục đứng vững và phát triển. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là qui luật tiến hóa của lịch sử"(1). Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, bên cạnh những thành tựu, chúng ta cũng còn có khuyết điểm, yếu kém, những vấp váp sai lầm. Đảng ta đã sớm nhận thức ra những thiếu sót, khuyết điểm và tự nhận khuyết điểm trước nhân dân, đã sửa chữa và sửa chữa có kết quả, đem lại lòng tin của nhân dân với Đảng. Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện vì chủ nghĩa xã hội, với quyết tâm và trí tuệ của toàn Đảng, sự tham gia tích cực của nhân dân, công cuộc đổi mới ở nước ta trong hơn 17 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, khẳng định đường lối đổi mới là đúng đắn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: "Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội"(2). Xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn, cả tình hình trong nước và kinh nghiệm quốc tế, muốn thay đổi căn bản cuộc sống của người lao động từ kiếp nô lệ làm thuê trở thành người làm chủ, không có con đường nào khác ngoài con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Mọi con đường khác đều không được nhân dân ta chấp nhận. Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta cần kiên định vững vàng với mục tiêu, lý tưởng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Phát triển kinh tế biển để tận dụng nguồn lợi tuyệt vời từ biển mang lại cho nền kinh tế, đồng thời khẳng định chủ quyền biển, đảo Việt Nam

 

 Phát triển kinh tế biển để tận dụng nguồn lợi tuyệt vời từ biển mang lại cho nền kinh tế, đồng thời khẳng định chủ quyền biển, đảo Việt Nam

Trao đổi với Đất Việt, TS. Đào Mạnh Tiến - Chủ tịch Hội địa chất biển, nguyên Liên đoàn trưởng - Liên đoàn Địa chất biển đã có chia sẻ về vấn đề phát triển kinh tế biển ở Việt Nam.

Vị  chuyên gia nhận định, Việt Nam có một tiềm năng biển to lớn và cũng đã đặt các mục tiêu lớn cho phát triển kinh tế biển tập trung vào các lĩnh vực chính: Giao thông vận tải biển, Dầu khí, Nuôi trồng và khai thác Thủy Hải sản, Khai thác năng lượng tái tạo: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng dòng chảy và thủy triều.

Ở mỗi một ngành, một lĩnh vực đều tập trung với kế hoạch phát triển riêng có mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 về phát triển kinh tế biển một cách bền vững.

Song cần phải nhìn nhận một cách thực chất vào sự phát triển này. Các lĩnh vực cần phải có sự phát triển liên ngành, liên vùng mới có thể hoàn thiện một chiến lược tổng thể, đảm bảo phát triển một cách tối đa và bền vững.

Ông Tiến nêu ví dụ, hiện nay ở Việt Nam đang bắt đầu phát triển năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời nhưng mỗi nơi đều phát triển riêng mà chưa thể kết hợp lại.

Ví như năng lượng gió và năng lượng mặt trời có "đầu vào" khác nhau nhưng cùng có "đầu ra" là điện. Hoặc năng lượng thủy triều và năng lượng dòng chảy kết hợp cũng rất phù hợp để triển khai trên biển và đảo, những nơi có nhiều tiềm năng này.

"Nếu phát triển cả năng lượng điện và gió ở đảo như ở Quần đảo Trường Sa thì nguồn năng lượng có thể dư thừa trong khi đó nhu cầu về nước ngọt lại hạn chế. Nếu chúng ta có được công nghệ lọc nước mặn thành nước ngọt và sử dụng năng lượng tái tạo cho phục vụ công nghệ đó thì sẽ giải được các bài toán phục vụ nhu cầu dân sinh bằng nguồn tài nguyên từ biển mang lại" - ông Tiến nhận xét.

"Công nghệ lọc nước biển thành nước ngọt ở quy mô lớn nếu chúng ta chưa có thì phải nghiên cứu, học hỏi. Đây là nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Công thương và cơ quan chịu trách nhiệm phát triển các ngành công nghiệp của Việt Nam" - vị chuyên gia nhấn mạnh.

Theo vị chuyên gia, có thể chúng ta thấy nhiều dự án phát triển năng lượng tái tạo nhưng mới chỉ ở một địa phương, với mục tiêu hòa vào lưới điện quốc gia, đạt tỷ trọng bao nhiêu trong tổng khối lượng sản xuất điện của cả nước... Tuy  nhiên, những điều đó không thực sự quan trọng bằng việc chúng ta phải thúc đẩy các sáng kiến về liên kết các ngành kinh tế để vừa tận dụng được lợi thế của biển mang lại phục vụ trước hết là đời sống mà sau đó còn là đảm bảo an ninh trên biển của Việt Nam.

Bên cạnh khai thác năng lượng từ biển thì khai thác thủy, hải sản từ biển của Việt Nam cũng cần phải phát triển gắn với công nghệ, phát triển ngành công nghiệp chế biến là phát triển theo hướng hiện đại hóa hơn của ngành này.

"Đừng để tình trạng như nông nghiệp, hơi có khó khăn thì chúng ta giải cứu. Tôi nhớ một cựu lãnh đạo ngành Nông nghiệp từng nói rằng sẽ phát triển công nghệ chế biến thực phẩm, phát triển ngành công nghiệp chế biến bằng cách lập ra các viện nhưng khi ông ấy về hưu, tôi vẫn chỉ nghe thấy giải cứu và giải cứu. Các thực phẩm tươi ngon của Việt Nam chỉ qua 3, 5 ngày là thối hỏng vứt bỏ, quá lãng phí trong khi chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng công nghệ chế biến để xuất khẩu"- ông Tiến nhận định.

Theo vị chuyên gia, không chỉ ngành kinh tế biển mà ở bất cứ ngành nào cũng đều cần nhất là yếu tố con người.

"Tôi đã từng đặt câu hỏi cho các lãnh đạo Bộ về việc vì sao chúng ta không thể phát triển được công nghiệp, không thể đóng tàu thủy, không thể có đội tàu mạnh để ra khơi... họ đều phẩy tay và nói rằng không hề đơn giản?" - ông Tiến trăn trở.

Vị chuyên gia nhấn mạnh, tiềm lực về con người là một lợi thế mạnh của Việt Nam mà giới lãnh đạo chưa biết tận dụng. Giới tri thức Việt Nam đâu đâu cũng được giới học giả nước ngoài kính trọng, được mời hướng dẫn và đi đầu. Người Việt chúng ta không hề kém thông minh hơn các quốc gia nước ngoài, tuy nhiên, chúng ta đang thua Hàn Quốc, Malaysia, Singapore...

"Vấn đề nằm ở công tác cán bộ của chúng ta. Cả đời tôi nghiên cứu khoa học biển, làm chủ nhiệm rất nhiều đề án, dự án khoa học và nhận thấy rằng ngay cả các nhân viên kế toán là những người sẽ thanh toán tiền nghiên cứu công trình khoa học của chúng tôi, có quyền uy hơn tất thảy.

Các hạng mục tiến hành nghiên cứu là cần thiết, thậm chí mang tính chất cốt lõi của đề tài nhưng nếu chứa từ ngữ không thuộc các mục trong quy định thì họ kiên quyết không thanh toán, không trình bày. Qua đó, tôi mới nhận thấy rằng, một đề tài khoa học có thể gian dối để lấy tiền trong khi không cần đạt được mục tiêu cụ thể đặt ra.

Như vậy, không những đồng tiền bỏ ra không được sử dụng đúng mà các công trình nghiên cứu khoa học chân chính không được sử dụng vào kinh tế-xã hội, không mang lại lợi ích gì cho đất nước. Khi giới trí thức không có điều kiện đóng góp tối đa thì con đường phát triển của đất nước sẽ khó khăn hơn. Do vậy, điều tôi muốn nhấn mạnh là công tác cán bộ của chúng ta cần phải xem xét lại, tổ chức lại" - TS. Đào Mạnh Tiến nhận định.

 

NGUỴ BIỆN CỦA NGUỴ SỬ ĐỂ RỬA MẶT CHO NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN


1. Nguỵ biện thứ nhất: đòi công nhận chính danh cho chế độ nguỵ quyền Sài Gòn vì "họ cũng có công giữ gìn, bảo vệ lãnh thổ", thậm chí đòi vinh danh lính nguỵ vì "họ cũng là con dân Việt Nam, họ cũng yêu nước" và dẫn cả lời Bác Hồ rằng "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" để bảo vệ cho đòi hỏi đó.

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi thực tế nguỵ quyền giữ lãnh thổ cho Mỹ, lính nguỵ chết ở Hoàng Sa là do bị bán đứng. Đồng thời lờ đi ý nghĩa lời Bác nói là khẳng định chỉ có một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, và chính Bác luôn gọi rõ tên nguỵ quyền nguỵ quân, Bác cũng luôn chỉ rõ Việt gian thì cần phải trừng trị!

2. Nguỵ biện thứ hai: đòi thay thế từ "nguỵ" bằng "Việt Nam cộng hoà" là để hoà hợp hoà giải.

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi việc ta đã thực hiện hoà hợp hoà giải ngay trong quá trình giải phóng cho đến ngày nay, bằng thực tâm và các giải pháp toàn diện. Còn theo ý họ "bỏ từ nguỵ" thì chỉ hoà hợp hoà giải với một nhúm nguỵ cực đoan, kết quả đâu chưa thấy, đã thấy xã hội chia rẽ vì nhiều người cảm giác bị phản bội, lũ nguỵ được đằng chân lân đằng đầu càng chống phá điên cuồng hơn, trong khi hàng triệu CCB và gia đình TBLS thì đau đớn, nổi giận.

3. Nguỵ biện thứ ba: cho rằng dùng từ "nguỵ" là miệt thị, và từ đó ngôn ngữ quốc tế không có!

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi nghĩa của từ "nguỵ quân nguỵ quyền" là danh từ để chỉ một chế độ không chính danh, một đội quân không chính nghĩa chứ không phải chỉ là tính từ biểu cảm. Và tiếng quốc tế có đủ để dịch (nếu họ đọc), ví như trong tiêng Anh có "Government mandate - Chính phủ uỷ nhiệm", "puppet government - chính quyền bù nhìn", "Fictional state - nhà nước hư cấu", hoặc đơn giản nhất là "fake government - chính phủ giả hiệu"!

4. Nguỵ biện thứ tư: đòi "công nhận chế độ Việt Nam cộng hoà là để có thể kế thừa các thành tựu kinh tế - văn hoá - giáo dục,...".

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi thực tế rằng chính người Mỹ (TNS Fulbright và nhiều chính khách khác) đã nhận xét thẳng thừng: "chỉ có 5% dân số ủng hộ VNCH, 10% trung lập, còn lại tất cả đều theo Việt Cộng", "VNCH chỉ kiểm soát được 20% lãnh thổ, 80% nằm trong tay Việt Cộng"! Và 20 % lãnh thổ đó thì "Sài Gòn chỉ là cái động đĩ của Mỹ" với "một nền kinh tế dựa trên chợ đen, ma tuý và đĩ điếm", đó là chưa nói đến việc hoàn toàn dựa vào viện trợ Mỹ và do Hoa kiều (Ba Tàu) kiểm soát, thao túng hầu hết!

5. Nguỵ biện thứ năm: đòi "công nhận VNCH là cơ sở pháp lý để đòi Hoàng Sa"!

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi thực tế năm 1977 nước CHXHCN Việt Nam đã được LHQ công nhận là quốc gia thành viên LHQ, nghĩa là kế thừa tất cả quyền lợi và nghĩa vụ của mọi thể chế trước đó, và trong Hiệp định Paris ta đã công nhận "VNCH là một thực thể chính trị được tồn tại hoà bình", không đồng nghĩa với công nhận "quốc gia VNCH" nhưng cũng quá đủ để kế thừa các lãnh thổ do VNCH kiểm soát, quản lý trước đó. Mặt khác, cả hai Hiệp định Geneve và Paris đều khẳng định tính toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nghĩa là CHXHCN Việt Nam có quyền kế thừa đầy đủ tất cả! Giờ đòi "công nhận VNCH" thì họp lại để sửa tất cả các Hiệp định, đồng thời sửa hết cả các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam DCCH trước kia? Công pháp quốc tế không phải trò trẻ con như thế!

Vv và vv, mọi người có thể bổ sung, rất nhiều những nguỵ biện khác.

Tóm lại: tất cả những diễn giải của đám nguỵ sử và của cả một vài vị nọ vị kia chỉ là nguỵ biện, phục vụ cho âm mưu đào bới, xét lại lịch sử, rửa mặt và phục dựng thây ma cờ vàng nhằm chia rẽ nhân tâm, phá hoại sự thống nhất "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" hòng đánh đổ từ bên trong chế độ ưu việt Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều mà thực dân, đế quốc và bành trướng không thể thực hiện được.

Kết luận: Thế giới không ai cấm Việt Nam gọi đúng tên "nguỵ quân nguỵ quyền". Việt Nam cũng không ai cấm gọi "chính quyền, quân đội VNCH" cả. Cách gọi là tuỳ theo ngữ cảnh, nhưng những gì thuộc về lịch sử thì phải viết đúng theo lịch sử. Nhân dân ta, chiến sỹ ta không chống việc "bỏ từ nguỵ" mà là CHỐNG QUAN ĐIỂM BỎ TỪ NGUỴ ĐỂ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ, CHẠY TỘI CHO NGUỴ!

Nguỵ muôn đời là nguỵ! Vấn đề là: ai nuôi dưỡng nguỵ?

MINH TIẾN st