Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2021

Mỹ trừng phạt 59 công ty Trung Quốc

 

Mỹ trừng phạt 59 công ty Trung Quốc

 Mỹ đưa 59 công ty Trung Quốc vào “danh sách đen” trừng phạt, cấm các thực thể này nhận các nguồn đầu tư từ Mỹ. Tờ The Straits Times đưa tin Trung Quốc ngày 4-6 đã lên án mạnh mẽ việc Tổng thống Mỹ Joe Biden ký sắc lệnh hành pháp đưa 59 công ty Trung Quốc vào “danh sách đen” trừng phạt, theo đó cấm các thực thể này nhận các nguồn đầu tư từ Mỹ.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã chỉ trích động thái của Mỹ là "vi phạm luật thị trường" và là một nỗ lực "chèn ép" các công ty Trung Quốc. Trao đổi với báo giới hôm 4-6, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân cho biết: “Hãy xóa bỏ cái gọi là danh sách mang tính chèn ép các công ty Trung Quốc đó đi”. Đồng thời, ông Uông kêu gọi Mỹ “công bằng và không phân biệt đối xử với các công ty Trung Quốc” “Trung Quốc sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để kiên quyết bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các công ty Trung Quốc” – ông Uông tuyên bố. Phát ngôn của ông Uông nhằm phản ứng trước lệnh trừng phạt mới của Mỹ đối với các công ty Trung Quốc hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng và công nghệ.

Lệnh hành pháp mà ông Biden ký hôm 3-6 sẽ ngăn cản nguồn đầu tư của Mỹ vào khu phức hợp công nghiệp-quân sự của Bắc Kinh cũng như các chương trình nghiên cứu và phát triển quân sự của nước này. Theo tuyên bố của Nhà Trắng, các lệnh trừng phạt nhắm vào các công ty liên quan công nghệ giám sát của Trung Quốc, vốn được sử dụng để "tạo điều kiện cho việc áp bức hoặc vi phạm nhân quyền nghiêm trọng", "làm suy yếu các giá trị an ninh hoặc dân chủ của Mỹvà các đồng minh". 

Theo The Straits Times, chính quyền của ông Biden đã gọi động thái trên là nhằm mở rộng phạm vi của danh sách trước đó do Bộ Quốc phòng dưới thời chính quyền người tiền nhiệm Donald Trump đưa ra, vốn “vẫn còn thiếu sót về mặt pháp lý”. Các công ty lớn của Trung Quốc có tên trong “danh sách đen” trước đó của Bộ Quốc phòng Mỹ cũng được đưa vào danh sách cập nhật, bao gồm Tập đoàn Công nghệ Hàng không Trung Quốc (AVIC), Tập đoàn viễn thông China Mobile, Tổng công ty dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC), công ty công nghệ Hangzhou Hikvision Digital Technology, công ty Huawei Technologies và nhà sản xuất chip SMIC.

Theo Nhà Trắng, sắc lệnh hành pháp trên sẽ có hiệu lực từ ngày 2-8. Các nhà đầu tư Mỹ đã đầu tư vào các công ty Trung Quốc sẽ có thời gian một năm để tiến hành thoái vốn.

Trước đó, chính quyền Tổng thống Trump hồi tháng 11-2020 đã đưa ra danh sách 31 công ty Trung Quốc được cho là đang cung cấp hoặc hỗ trợ bộ máy quân sự và an ninh của Trung Quốc.

Hồi tháng 5, ông Kurt Campbell - điều phối viên chính sách Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của ông Biden – cho biết thời kỳ gắn bó với Trung Quốc đã kết thúc và mô hình thống trị trong quan hệ song phương trong tương lai sẽ là một cuộc cạnh tranh.

 

Phát triển con người gắn kết chặt chẽ với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

 

Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng xác định nhiệm vụ: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện. 


Báo cáo chính trị của Đại hội XIII không chỉ dừng lại ở đó, mà còn nhấn mạnh yêu cầu về phát triển con người gắn kết chặt chẽ với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. 


Đây chính là một bước nhận thức mới của Đảng về mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ giữa văn hóa và con người, nhấn mạnh hơn đến vai trò của con người với tính chất là chủ thể và cũng là mục đích của phát triển nền văn hóa. Phát triển nền văn hóa chính là phát triển con người và ngược lại. 

Cùng với chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, sự tăng cường và gắn kết xây dựng con người và nền văn hóa trong một thể thống nhất sẽ là cơ sở vững chắc để “khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, không chỉ làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, mà còn trở thành động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

Xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII

 

Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định định hướng thứ nhất là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường..., tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”(1). Đây là lần đầu tiên, vấn đề “thể chế phát triển bền vững” được đặt ra trong một văn kiện đại hội Đảng. Trước đó, tại Đại hội XII, vấn đề thể chế chỉ được nhắc đến trong nhiệm vụ tổng quát thứ hai là “Tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(2); nói cách khác, tức là mới chỉ đề cập đến hoàn thiện thể chế phát triển của lĩnh vực kinh tế. Báo cáo chính trị của Đại hội XIII đề cập “thể chế phát triển bền vững”, tức là thể chế bảo đảm cho sự vận hành đồng bộ, thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của các lĩnh vực trong đời sống, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế, hướng tới thực hiện yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Trong thể chế phát triển, thể chế chính trị là yếu tố trung tâm, quyết định, chi phối đối với thể chế của các lĩnh vực còn lại.


 Cần  tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Việc nhấn mạnh và đặt “thể chế phát triển bền vững” là định hướng phát triển đầu tiên nói lên điều gì?

 Thứ nhất, đó là nhận thức mới của Đảng ta về ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của thể chế phát triển bền vững đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đó chính là điều kiện quyết định để “tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Đó cũng chính là bài học được rút ra từ thực tiễn lãnh đạo công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Quá trình thực hiện đường lối đổi mới trong 35 năm qua đã không chỉ cho thấy vai trò, ý nghĩa to lớn của thể chế đối với sự phát triển nói chung, mà còn chỉ ra trách nhiệm to lớn, nặng nề và có ý nghĩa quyết định của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện thể chế phát triển nói chung, nhất là thể chế chính trị - một điều kiện sống còn cho công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 Thứ hai, phải chăng thể chế của chúng ta hiện nay nói chung còn có nhiều vấn đề, hạn chế, tạo ra những vướng mắc, gây ra những khó khăn cho việc huy động nguồn lực, sức mạnh để phát triển đất nước một cách đồng bộ, bền vững. Việc nhận ra những hạn chế, vướng mắc về thể chế phát triển chính là thể hiện thái độ nghiêm khắc, tinh thần trách nhiệm và phương pháp khoa học, thực tế, khách quan của Đảng trong lãnh đạo đất nước với tư cách một đảng cầm quyền.

 Thứ ba, cùng với những hạn chế của hệ thống thể chế phát triển bền vững hiện nay thì sự vận động của tình hình chung trên thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực dẫn đến những thay đổi to lớn, mạnh mẽ, toàn diện của thực tiễn và những yêu cầu mới đặt ra đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới cũng đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện thể chế phát triển bền vững. Đó là vấn đề có tính quy luật, là một yêu cầu khách quan, là điều kiện căn bản bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Hơn thế nữa, đây cũng là bài học có tính phương pháp luận cho chúng ta, đó là phải luôn nhìn thẳng vào sự thật và xác định phương hướng phát triển đất nước phải xuất phát từ các điều kiện thực tế./.

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 114

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 77

Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030

         Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là sự cụ thể hóa định hướng phát triển đất nước từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Định hướng đó nhất quán với đường lối xây dựng, phát triển đất nước ta trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những nhận thức mới trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 xuất phát từ những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, từ bối cảnh thế giới hiện đại và điều kiện đặc thù cũng như yêu cầu mới đặt ra của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, nhằm tìm ra những giải pháp tích cực nhất để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 Căn cứ vào bối cảnh, tình hình chung thế giới và trong nước, đặc biệt là những thành tựu to lớn, toàn diện trong phát triển kinh tế  - xã hội của đất nước, Báo cáo chính trị cũng như các văn kiện của Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu tổng quát phát triển đất nước là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1). Từ mục tiêu tổng quát đó, các văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu cụ thể:

 - Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

 - Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

 - Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.     

 Trên cơ sở mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030. Định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới kế tục nhất quán những quan điểm, chủ trương cốt lõi trong 12 định hướng tổng quát về các lĩnh vực của đời sống xã hội đã xác định trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng, nhưng có nhiều nhận thức mới về cách tiếp cận, mục đích và nội dung./.

 

Bài viết có giá trị cao về lý luận và thực tiễn, diễn đạt sắc bén, cụ thể và thuyết phục

 

Đọc và suy ngẫm về bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta thấy nội dung bài viết có nội hàm rộng lớn, phong phú cả về lý luận và thực tiễn nhưng lại được diễn đạt rất cụ thể, dễ hiểu và hàm chứa cả sự khiêm tốn của tác giả: “Trong phạm vi bài này, tôi chỉ xin đề cập một số khía cạnh từ góc nhìn thực tiễn của Việt Nam”.

Mệnh lệnh từ trái tim đối với mỗi cán bộ, đảng viên

 

Nghiên cứu nội dung bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tôi đồng tình với quan điểm:

Từ "Đường Kách mệnh”...

 

Cuối năm 1924, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu, Trung Quốc, xúc tiến công cuộc giải phóng dân tộc. Tại đây, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở lớp huấn luyện chính trị, ra Báo Thanh niên, truyền giảng cho đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên của Việt Nam những nội dung cơ bản của học thuyết Mác-Lênin, chuẩn bị cho sự ra đời một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Kết quả "kép" ở Việt Nam là minh chứng hùng hồn về một nền dân chủ đích thực

          Dân chủ tư sản đã góp phần tạo nên một kết quả là: mới chỉ hơn 100 năm ra đời và tồn tại, nhưng phương thức sản xuất phong kiến đã tạo ra được một khối lượng lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất bằng tất cả các phương thức sản xuất trước đó cộng lại.

        Song, cũng chính giai cấp tư sản đã từ bỏ những gía trị nhân bản, nhân văn của nó, như "tự do, bình đẳng, bác ái", "ai cũng có quyền sống, quyền tự do, mưu cầu hạnh phúc".

MLN. Nh

KẾT QUẢ 'KÉP" Ở VIỆT NAM LÀ MINH CHỨNG HÙNG HỒN VỀ MỘT NỀN DÂN CHỦ THỰC SỰ

      Chính giai cấp địa chủ, phong kiến đã sử dụng những giá trị dân chủ của tư tưởng chủ nô dân chủ để đánh sập chế độ chiếm hữu nô lệ, khai sinh ra Hình thái kinh tế Phong kiến. 

      Sau khi đạt được mục đích tập hợp đông đảo quần chúng tạo nên sức mạnh để lật đổ chế Chế độ chiếm hữu nô lệ thì giai cấp phong kiến lại quay lưng lại với chế độ dân chủ, quay mũi giáo về phía quần chúng nhân dân. Đến lượt nó, chính dân chủ tư sản đã  xuất hiện và góp phần quan trọng vào tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản để đánh đổ chế độ phong kiến và khai sinh ra Hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa và dân chủ tư sản.

MLN.Nh

kết quả "kép" ở Việt Nam là minh chứng hùng hồn về một nền dân chủ đích thực

         Bất cứ một nền dân chủ nào muốn được ghi nhận thì nó đều phải minh chứng được sức sống và giá trị của nó trong đời sống, đống góp vào sự phát triển của quốc gia, dân tộc và khu vực, thế giới.

Những tư tưởng tư tưởng chủ nô dân chủ dưới thời chiếm hữu nô lệ đã góp phàn quan trọng đánh đổ chính chế độ chiếm hữu nô lê lệ, đưa nhân loại tiến đến phương thức sản xuất phòng kiến. 

Một trò xuyên tạc hèn hạ của Phạm Trần



Vừa rồi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết quan trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên  CNXH ở Việt Nam”. Có thể nói đây như là một bài giảng mang tính chất, chỉ đạo, bồi dưỡng về lý luận cho các cán bộ, đảng viên không ngừng nỗ lực, phấn đấu, để đưa Nghị Quyết Đại hội Đảng XIII vào cuộc sống. Các phương tiện thông tin đại chúng của Đảng và Nhà nước đã đăng tải toàn văn bài viết. 

KHÔNG GÌ CÓ THỂ PHỦ NHẬN TẤM LÒNG YÊU NƯỚC THƯƠNG DÂN CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH

   Gần đây, có một số người chỉ dựa vào thư của Nguyễn Tất Thành viết ngày 15-9-1911 gửi Tổng thống Pháp xin vào học Trường Thuộc địa (École Coloniale) ở Paris và sự từ chối của giám đốc trường này để rồi quy chụp rằng “Nguyễn Tất Thành, bỏ nước ra đi chỉ với mục đích tìm đường làm quan, để giải quyết chuyện cơm ăn áo mặc của riêng mình, chứ không hề có ý định cứu nước giúp dân…”.

Đó là lập luận với ý đồ xấu nhằm hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh. Là một nhà nghiên cứu lịch sử, PGS, TS Vũ Quang Hiển (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã có bài viết gửi Báo Quân đội nhân dân Điện tử phản bác quan điểm sai trái trên. 


Do thiếu phương pháp luận khoa học, nhất là quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm toàn diện, họ đã lấy cái cá biệt thay cho cái toàn thể, lấy một hiện tượng thay cho bản chất. Đó là thuật ngụy biện, dẫn đến những kết luận sai lầm và mang nặng tính chủ quan. Nhưng điều tệ hại hơn, những kết luận đó được không ít những người khác lợi dụng để tuyên truyền xuyên tạc, gây hoài nghi về tấm lòng giúp dân, cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, nhằm “hạ bệ thần  tượng Hồ Chí Minh”, làm lung lạc niềm tin của nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ của mình.

Đã có nhiều bài viết phản bác luận điểm trên, thiết nghĩ không cần phải bàn thêm. Nhưng khảo cứu lại điều kiện lịch sử lúc đó, tôi muốn làm sáng tỏ thêm một vấn đề căn cơ hơn: Vì sao Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước? Xin tóm tắt như sau:


Trước hết, xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam, phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam đã diễn ra liên tục và anh dũng, với tinh thần “người trước ngã, người sau đứng dậy”. Nhiều phong trào yêu nước và con đường cứu nước theo các khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra liên tiếp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, nhưng đều không thành công. Sự nghiệp cứu nước lâm vào một “tình hình đen tối tưởng như không có đường ra”, đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải tìm một con đường cứu nước mới.

Đất nước mất độc lập, nhân dân mất tự do. Độc lập tự do là khát vọng cháy bỏng của mọi người Việt Nam yêu nước, thôi thúc nhiều người ra đi tìm đường cứu nước, trong đó có Nguyễn Tất Thành.


Thứ hai, do sự hấp dẫn của văn minh nhân loại, nhất là khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” của cách mạng Pháp.

Sinh ra và lớn lên trong một nhà Nho giàu lòng yêu nước, Nguyễn Tất Thành sớm chịu ảnh hưởng của gia đình và truyền thống văn hoá của quê hương xứ Nghệ, có sự am hiểu về Nho giáo. Chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá phương Đông, nhưng ở Nguyễn Tất Thành không có sự chối bỏ, hay mâu thuẫn với văn hoá phương Tây. Với tư duy văn hoá mở, Nguyễn Tất Thành cảm nhận được sự phong phú của các nền văn hóa, hướng tới một thế giới năng động và sáng tạo, nhất là nơi có khoa học, kỹ thuật phát triển và những tư tưởng mới.

Tháng 9-1905, vào tuổi 15, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được thân phụ Nguyễn Sinh Huy xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở Vinh. Tại đây, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu TỰ DO – BÌNH ĐẲNG – BÁC ÁI và “muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”. Trong thời gian làm thầy giáo ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết (1910), Nguyễn Tất Thành được đọc Tân thư trong gia đình cụ Nguyễn Thông, tiếp cận với các thuyết nhân quyền, dân quyền, tự do, bình đẳng, bác ái do những triết gia và văn hào Pháp khởi xướng như J.J. Rousseau, Ch. De Montesquieu, Fr. Voltaire… Nguyễn Tất Thành được đọc một số tờ báo phát hành sang Việt Nam, nên “nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao”.


Ý tưởng đi sang phương Tây để tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi thành tựu văn minh nhân loại từng bước lớn lên trong tâm trí Nguyễn Tất Thành, thể hiện sự mong muốn tiếp thu giá trị văn hoá nhân loại, là bước khởi động để đưa Việt Nam hội nhập vào các trào lưu tiến bộ của thời đại.


Thứ ba, nhờ trí tuệ và sự nhạy cảm về chính trị chính trị, Nguyễn Tất Thành nhận thấy sự cần thiết phải tìm một con đường mới.

Nguyễn Tất Thành nhận thấy hạn chế trong phong trào cứu nước của các vị tiền bối. Phong trào Đông Du tan rã, chứng tỏ không thể dựa vào Nhật để đánh Pháp, điều đó chẳng khác gì “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Thất bại của phong trào Duy tân cũng cho thấy việc trông chờ vào thiện chí cuả người Pháp để được trao trả nền độc lập cũng chẳng khác gì “xin giặc rủ lòng thương”. Khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám tuy có phần thực tế hơn, “nhưng vẫn mang nặng cốt cách phong kiến". Chính vì thế, mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của các vị tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành không theo con đường của họ.

Được theo phụ thân đi nhiều nơi gặp những người cùng chí hướng để bàn luận về thời cuộc, Nguyễn Tất Thành có điều kiện mở rộng tầm nhìn, tầm suy nghĩ, thấy rõ sự thống khổ của nhân dân, nên “sớm có  chí đuổi thực dân Pháp giải phóng đồng bào” và không khỏi băn khoăn khi thấy nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân không thành công. Làm thế nào để cứu nước là câu hỏi sớm được đặt ra trong tâm trí người thiếu niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.

Năm học 1908-1909, Nguyễn Tất Thành vào học Trường Quốc học Huế, tận mắt chứng kiến cảnh thực dân Pháp khinh rẻ, bóc lột, hành hạ người Việt Nam, được nghe kể về những hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những bàn luận của những sĩ phu yêu nước về con đường cứu nước.

Ngày 4-12-1908, Nguyễn Tất Thành tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên. Họ đi tay không, chỉ đòi giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là “đồng bào”.  Vì những hoạt động yêu nước, Nguyễn Tất Thành bị người Pháp để ý theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Sắc cũng bị chính quyền thuộc địa khiển trách vì để con trai có những hoạt động bài Pháp. Nguyễn Tất Thành được chứng kiến thực dân Pháp khinh rẻ, bóc lột, hành hạ người Việt Nam, nhà trường ca ngợi chế độ thực dân phong kiến; được nghe kể về hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những bàn luận về con đường cứu nước trong các sĩ phu yêu nước…

Một lần trả lời nhà văn Mỹ Anna Luyxơtơrông, Nguyễn Ái Quốc nói: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.


Thứ tư, một quyết định lịch sử của cá nhân Nguyễn Tất Thành.

Được chứng kiến thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp, từ lòng yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc, năm 1911 Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước.

Trước khi đi, Tất Thành bàn với một người bạn thân: “Tôi muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?”. Khi người bạn hỏi “lấy đâu ra tiền mà đi?”, Nguyễn Tất Thành vừa nói, vừa giơ hai bàn tay một cách tự tin và kiên quyết: “Đây, tiền đây… chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.


Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba được một thuỷ thủ dẫn lên tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville), một con tàu lớn của hãng Sácgiơ Rêuyni (Charge Réuni), vừa chở khách, vừa chở hàng, gặp thuyền trưởng Maixen (Maisen) và được nhận làm phụ bếp trên tàu. Chuyến đi được xác định.

Ngày 5-6-1911, con tàu Amiral Latouche Tréville nhổ neo, rời bến cảng Sài Gòn đi Marseille. Với hành trang là chủ nghĩa yêu nước, cuộc hành trình đi tìm chân lý của Nguyễn Ái Quốc bắt đầu. Đó là chuyến đi một mình, không theo một tổ chức nào, cũng không có nguồn tài trợ của bất cứ ai. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc vượt qua các đại dương đầy sóng gió, tự lao động để kiếm sống, đến với nhân loại cần lao đang tranh đấu ở nhiều châu lục và quốc gia trên thế giới, ở cả phương Đông và phương Tây, cả các nước tư bản và thuộc địa.


Một thời kỳ mới trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - thời kỳ khảo nghiệm và tìm kiếm chân lý cứu nước bắt đầu.

Sự kiện Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911) không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, mà là một quyết định lịch sử, khởi đầu từ ý tưởng “làm quen với nền văn minh Pháp” xuất hiện từ thuở thiếu thời, khi được nghe các vị tiền bối luận bàn về phương thức cứu nước, cứu dân; được thôi thúc bởi thực tiễn phong trào yêu nước của nhân dân và sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp. Sự kiện đó thể hiện thiên tài trí tuệ và nhãn quan chính trị sắc bén của Nguyễn Ái Quốc trước những thử thách khắc nghiệt của vận nước và sự biến chuyển của thời đại. Đó là quyết định mang tính nhân văn sâu sắc, nhằm vươn tới một chân trời mới, đưa đất nước hội nhập vào trào lưu tiến hoá của nhân loại, hướng tới giải phóng triệt để con người khỏi sự áp bức về mặt dân tộc, sự bóc lột về mặt giai cấp và sự nô dịch về mặt tinh thần.

Bản lĩnh Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, ngay từ quá trình tìm đường cứu nước, đã khởi đầu một hướng đi mới cho dân tộc Việt Nam, mà Ô. Manđenxtam cảm nhận “như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”./ 

Yêu nước ST.

Cảnh giác với chiêu dẫn dụ quen thuộc để “biến khách thành chủ, biến chủ thành khách” khi Trung Quốc tuyên bố sẽ khai thác khí ngoài Biển Đông

 

Cảnh giác với chiêu dẫn dụ quen thuộc để “biến khách thành chủ, biến chủ thành khách” khi Trung Quốc tuyên bố sẽ khai thác khí ngoài Biển Đông

 Trong bối cảnh, các nước Đông Nam Á sẽ mở rộng nhập khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) khi nguồn khí đốt tự nhiên trong nước ngày càng cạn kiệt, thì mới đây Tổng công ty dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) cho biết, sẽ đưa giàn khai thác "Biển sâu số 1" ra Biển Đông để khai thác khí tự nhiên ngay trong tháng 6 này.

Nhìn nhận từ cả góc độ kinh tế và ngoại giao, nhà nghiên cứu kinh tế Bùi Ngọc Sơn, Viện Nghiên cứu Chính trị và Kinh tế thế giới cảnh báo các nước trong khu vực phải tỉnh táo trước chiêu bài dẫn dụ của nước này.

"Trong mọi tính toán, nước nào cũng luôn nhìn vào những lợi thế để thực hiện tham vọng của mình. Ở đây lợi thế là các nước trong khu vực đang thiếu khí, Trung Quốc có thể khai thác và có thể bán rẻ cho các quốc gia trong khu vực. Đó là chiêu bài quen thuộc mà nước này thường sử dụng để dẫn dụ các nước mắc câu. Vì thế, phải hết sức tỉnh táo, không tham miếng mồi rẻ, dễ để mắc bẫy", ông Sơn chỉ rõ.

Ông Sơn lưu ý, trong các mối quan hệ quốc tế, việc khai thác tài nguyên ở khu vực nào, vùng biển nào, thuộc chủ quyền của quốc gia nào rất quan trọng. Quốc tế luôn coi trọng các mối quan hệ ngoại giao trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt các quy định luật pháp đã được Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển công nhận. Vì điều này, các nước thực hiện khai thác dầu, khí trên Biển Đông cũng phải thực hiện theo các quy định của luật pháp, tôn trọng quyền, chủ quyền của nước sở tại.

"Không vì anh có tiềm năng, có khả năng khai thác thì anh muốn khai thác ở khu vực nào cũng được. Cũng không vì anh có khả năng khai thác thì các quốc gia khác sẽ phải nhập dầu, khí của anh. Tham lợi cá nhân dựa trên việc xâm hại quyền và lợi ích của quốc gia khác, bất chấp các quy định luật pháp quốc tế là rất không ổn.

Chúng tôi có thể thiếu khí và có thể sẽ có người khai thác được để bán. Tuy nhiên, giao dịch mua - bán phải dựa trên việc tuân thủ các nguyên tắc pháp luật quốc tế và phải nằm trong khu vực chủ quyền của các nước có quyền ký kết hợp đồng để thực hiện việc khai thác đó", ông Bùi Ngọc Sơn nhấn mạnh.

Ông Sơn nói thêm, tham vọng của Trung Quốc không đơn thuần chỉ là muốn khai thác khí và bán cho các nước trong khu vực. Khai thác khí chỉ một trong những mục tiêu nằm trong ý đồ “độc quyền khai thác tài nguyên” trước khi “độc chiếm Biển Đông” mà họ đã định vị bằng “đường chín đoạn” (đường lưỡi bò) phi lý.

Do đó, không loại trừ đây chính là chiêu bài làm chủ công nghệ khai thác để độc quyền phân phối và tiến tới chi phối nguồn cung, thao túng giá cả, khiến nước khác phải lệ thuộc vào nguồn cung cấp khí từ Trung Quốc. Cũng không loại trừ âm mưu thông qua việc khai thác, cung cấp khí để từng bước khẳng định quyền, chủ quyền, từ "khách biến thành chủ, biến chủ thành khách", nhằm thôn tính vùng biển đang xảy ra tranh chấp.

Kinh nghiệm thực tế, Trung Quốc rất giỏi trong việc này, điển hình có thể nhìn từ các khoản vay nợ mà Trung Quốc cho các nước đang phát triển vay. Cũng từ các khoản nợ này, Trung Quốc đặt các nước đang phát triển trước rủi ro rơi vào "bẫy nợ" khiến họ bị ràng buộc vào những điều kiện không dễ thoát ra. Cần phải hết sức thận trọng, theo dõi sát và có phản ứng kịp thời.

Phân tích sâu hơn về mặt ngoại giao, ông Lê Việt Trường - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh - Quốc hội cho rằng, trong bối cảnh các vấn đề trên Biển Đông đã diễn biến phức tạp, sự xuất hiện giàn khoan của Trung Quốc chắc chắn sẽ làm phức tạp, căng thẳng hơn các mối quan hệ trên Biển Đông.

Vì điều này, ông Trường cho rằng các quốc gia trong khu vực cần theo dõi sát, đối chiếu theo các quy định tại Công ước luật biển 1982, nếu giàn khoan của Trung Quốc hoạt động trên khu vực thềm lục địa hoặc xâm hại vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác thì đó là những hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế cần phải lên án mạnh mẽ nhằm bảo đảm tính thực thi trên thực tế của luật pháp quốc tế.

"Mỗi một quốc gia khi muốn khẳng định được chủ quyền của mình thì phải bảo đảm được nhiều yếu tố:

Thứ nhất là phải thực hiện tuyên bố.

Thứ hai, phải thực thi các hoạt động quản lý trên thực địa.

Diễn biến trên cũng đặt ra cho các quốc gia trong khu vực cần hết sức cảnh giác, bởi khi họ đã hoàn thiện công nghệ thì cũng hoàn toàn có thể thực hiện việc khai thác trên bất kỳ khu vực vùng biển nào. Điều này dẫn tới những nguy cơ gây tranh chấp, bất ổn giữa các quốc gia với nhau về mặt quyền, chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia trên biển rất lớn, khiến tình hình Biển Đông có thể đi theo chiều hướng ngày càng xấu đi", ông Trường nói.

 

Không thể xuyên tạc công tác phòng chống dịch ở Việt Nam

Rất dễ để ngồi một chỗ chê bai, chỉ trích, xuyên tạc; và khách quan nhìn nhận, phân tích nguyên nhân, thực trạng của dịch bệnh, có thể thấy những ý kiến trên không chỉ thiếu thiện chí mà còn rất ác ý. Bởi đến nay, các đợt dịch tại Việt Nam được kiểm soát tốt, hạn chế ở mức thấp nhất số người chết, mọi trường hợp mắc bệnh đều được phát hiện, quan tâm chữa trị kịp thời. Ðời sống người dân vẫn cơ bản được duy trì bình thường giữa bối cảnh dịch bệnh. Nhìn lại năm 2020, trong khi đa số nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm, một số quốc gia còn lâm vào khủng khoảng, tỷ lệ thất nghiệp, bất bình đẳng trong xã hội gia tăng, biểu tình, bạo lực,… gia tăng, số người chết vì Covid-19 lên đến hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn người, cuộc sống có lúc gần như trì trệ, thì ở Việt Nam, kinh tế vẫn tăng trưởng đạt mức 2,9%, được xếp vào nhóm các quốc gia có mức tăng trưởng cao nhất thế giới. Sang năm 2021, trong quý I, mức tăng trưởng của nền kinh tế đạt 4,48%, cao nhất khu vực Ðông - Nam Á. 

Ngày 21-5 vừa qua, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor’s Global Ratings (S&P - một công ty dịch vụ tài chính có trụ sở tại Mỹ, là một trong ba cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới) ra thông báo về việc giữ nguyên hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam, đồng thời nâng triển vọng từ "Ổn định" lên "Tích cực". Cũng theo đánh giá của S&P, với mức tăng trưởng GDP năm 2020, Việt Nam thuộc nhóm cao nhất trên toàn cầu, sẽ tiếp tục duy trì ở trạng thái tốt để phục hồi vững chắc trong vòng một đến hai năm tiếp theo nhờ vào các giải pháp hiệu quả của chính phủ để kiềm chế dịch Covid-19, khẳng định vị thế là điểm đến hàng đầu ở Ðông - Nam Á về thu hút FDI, xuất khẩu tăng trưởng ổn định, nhu cầu nội địa mạnh mẽ, vị thế đối ngoại vững chắc. Cần phải nói thêm rằng, từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu đến nay, Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới đã được cả ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm thế giới (Moody’s, S&P và Fitch) đồng loạt nâng triển vọng lên mức "Tích cực". Vậy nên thiết nghĩ, thay vì tự cho mình cái quyền "đứng ngoài cuộc" để phách lối phán xét, những người có ý kiến nói trên nên đóng góp khả năng, điều kiện của bản thân để góp sức cùng Ðảng, Nhà nước và toàn dân phòng, chống Covid-19. 


Dịch bệnh không chừa một ai, sự thờ ơ, vô trách nhiệm của mỗi người đều có thể khiến tình hình trở nên phức tạp, khó kiểm soát. Vì thế, đoàn kết, tỉnh táo, bình tĩnh và đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Ðảng, Nhà nước, sẽ giúp chúng ta tăng thêm sức mạnh để giành chiến thắng trong "cuộc chiến" đặc biệt này./.

Nỗ lực và quyết tâm của Ðảng, Chính phủ cùng các tầng lớp nhân dân nhằm chống lại dịch Covid-19


Có thể thấy dù diễn biến của đợt dịch lần này hết sức phức tạp, số lượng ca mắc tăng cao, nhưng tâm thế của người dân là khá bình tĩnh, hợp tác chặt chẽ với chính quyền và cơ quan chức năng. Tại hầu hết các khu dân cư, công sở, đơn vị, trường học,… các biện pháp phòng, chống dịch bệnh được tuân thủ nghiêm túc. Việc thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15/CT-TTg (ngày 27-3-2020) và Chỉ thị 16/CT-TTg (ngày 31-3-2020) của Thủ tướng Chính phủ ở một số địa phương được chấp hành nghiêm túc, không còn tâm lý hoang mang, hoảng sợ. Tình trạng tích trữ hàng hóa lương thực, găm hàng, đầu cơ trục lợi trang thiết bị y tế cơ bản được kiểm soát. Ðồng thời, cơ quan chức năng cũng tích cực triển khai tiêm vắc-xin cho lực lượng đang ở tuyến đầu, đối tượng thuộc nhóm có nguy cơ cao,… giúp hình thành "lá chắn" ngăn chặn hữu hiệu sự lây lan của Covid-19. Ðể tăng cường nguồn lực, ngày 26-5, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký ban hành Nghị quyết 53/NQ-CP về việc thành lập Quỹ vắc-xin phòng, chống Covid-19 nhằm tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài trợ, hỗ trợ, đóng tự nguyện bằng tiền, vắc-xin của tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài, cùng các nguồn vốn hợp pháp khác cho hoạt động mua và nhập khẩu vắc-xin, nghiên cứu, sản xuất vắc-xin trong nước, sử dụng vắc-xin phòng Covid-19 cho người dân. Chủ trương này đã được nhân dân đồng tình ủng hộ, việc xã hội hóa nguồn kinh phí mua vắc-xin sẽ huy động sức mạnh của toàn xã hội, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Những ngày qua, nhiều doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân đã tích cực đóng góp kinh phí cho Quỹ, với mục đích phấn đấu để mọi người dân trong nước sớm được tiếp cận vắc-xin, tạo miễn dịch cộng đồng, ngăn chặn khả năng lây lan của dịch bệnh.


   Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, công tác phòng, chống dịch bệnh tại một số địa phương vẫn còn có biểu hiện quan liêu, thậm chí thờ ơ, thiếu trách nhiệm, một số người dân, tổ chức, vẫn còn chủ quan, phớt lờ khuyến cáo của ngành y tế, không thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch, thậm chí có hành vi vi phạm pháp luật. Cơ quan chức năng đã nghiêm khắc xử phạt nhiều trường hợp vi phạm như: không đeo khẩu trang khi ra nơi công cộng, không khai báo y tế hoặc khai báo không trung thực, đăng thông tin giả mạo, sai sự thật về dịch bệnh, tổ chức đưa người vượt biên trái phép và cư trú bất hợp pháp, không chấp hành quy định phòng, chống Covid-19 làm lây lan dịch bệnh cho nhiều người... Mới đây, liên quan chuỗi lây nhiễm phức tạp từ Hội Thánh truyền giáo Phục Hưng, ngày 29-5, Cơ quan CSÐT Công an quận Gò Vấp TP Hồ Chí Minh đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội "Lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người". Sự vào cuộc kiên quyết, nghiêm khắc của cơ quan chức năng trong xử lý các sai phạm liên quan đến công tác dịch bệnh thời gian qua là hết sức cần thiết, nếu không ngăn chặn, xử lý sớm, rất có thể từ "lỗ hổng nhỏ" sẽ phát sinh hậu quả khôn lường, gây trở ngại hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc chiến chống Covid-19 đang ngày càng căng thẳng, phức tạp.

   Nỗ lực và quyết tâm của Ðảng, Chính phủ cùng các tầng lớp nhân dân nhằm chống lại dịch Covid-19 thời gian qua đã đạt được rất nhiều kết quả tích cực, được thế giới ghi nhận. Việt Nam vừa phòng, chống, kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa bảo đảm phát triển kinh tế, các nhóm đối tượng yếu thế được quan tâm, hỗ trợ kịp thời với tiêu chí không ai bị bỏ lại phía sau. Nhưng bất chấp thực tế đó, một số người lại lên mạng xã hội để đưa ra tiếng nói lạc lõng, phủ nhận thành quả của đất nước, lợi dụng dịch bệnh chỉ trích chế độ, gieo rắc hoang mang, nghi ngờ… Có người không tìm hiểu thực tế tiêm vắc-xin phòng Covid-19 ở các nước phát triển như thế nào, việc mua vắc-xin khó khăn ra sao, vẫn cả gan viết "trong khi nhiều nước Âu, Mỹ đã tiêm vắc-xin được trên 50% dân số, họ gần đạt miễn dịch cộng đồng thì Việt Nam chúng ta vẫn đang oằn mình chống dịch", "cuộc sống của họ sắp trở lại bình thường, họ sắp sướng rồi, còn chúng ta vẫn đang chạy theo truy vết, cách ly, giãn cách xã hội", "chúng ta chỉ thắng một trận chiến, còn họ thắng cả cuộc chiến"! Thậm chí có người còn giễu cợt: "ta chống dịch hầu như/chủ yếu bằng bản lĩnh Việt Nam, sức mạnh văn hóa Việt Nam, bằng những khẩu hiệu về đồng lòng quyết tâm, sự đoàn kết, tinh thần yêu nước, truyền thống nghìn năm vào một trận này, bằng cả những chuyến bay ngạo nghễ... chứ không phải hầu như/chủ yếu bằng tri thức khoa học dịch tễ, sức mạnh của ngành bào chế dược hiện đại, các phương pháp hợp lý cho cả một quá trình...".

Dich bệnh từng bước được đẩy lùi

     Sau khi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư xuất hiện tại Việt Nam, tốc độ lây lan của dịch đã không ngừng gia tăng, trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tiếp tục sát cánh hướng tới mục tiêu ngăn chặn, khống chế và từng bước đẩy lùi dịch bệnh. 


  Theo đánh giá của các chuyên gia y tế, đợt dịch này phức tạp hơn các đợt trước bởi những nguyên nhân chủ yếu như: biến chủng vi-rút phức tạp, khả năng lây lan nhanh và mạnh, nguồn lây đa dạng, nhiều ổ dịch khó kiểm soát… Chỉ tính riêng trong hai tuần đầu khi đợt dịch bùng phát, đã có 10 cơ sở y tế phải cách ly, phong tỏa, đáng chú ý trong đó có cả bệnh viện tuyến cuối. Theo thống kê, nếu như đợt dịch đầu tiên (kéo dài 85 ngày) có 100 ca bệnh trong cộng đồng, đợt dịch thứ hai (129 ngày) có 554 ca bệnh, đợt dịch thứ ba (57 ngày) có 910 ca bệnh, thì sau 5 tuần (35 ngày), đợt dịch thứ tư đã có hơn 4.000 ca bệnh. Những con số "biết nói" này đã phần nào cho thấy mức độ căng thẳng, phức tạp của làn sóng dịch thứ tư.

   Nhằm đối phó với đợt dịch mới diễn biến phức tạp, khó lường, Chính phủ đã có những điều chỉnh kịp thời, đưa ra nhiều giải pháp cấp bách, quyết liệt để phòng, chống với phương châm "tổng tiến công toàn lực, toàn diện, mạnh mẽ và hiệu quả hơn nữa, với quyết tâm cao hơn, với nỗ lực lớn hơn, với hành động quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, tập trung cao hơn nữa nhưng phải có trọng tâm trọng điểm để khoanh vùng, dập dịch, ổn định tình hình nhanh hơn nữa". Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, các địa phương và ngành chức năng đã đẩy nhanh công tác truy vết, xét nghiệm tầm soát, sàng lọc nguồn bệnh, kịp thời khoanh vùng và dập dịch; tăng cường biện pháp phòng, chống dịch trong cộng đồng, thúc đẩy áp dụng công nghệ để hỗ trợ kiểm soát, truy vết nguồn lây. "Cuộc chiến" đặc biệt chống kẻ thù mang tên Covid-19 với nhiều phương thức linh hoạt, phù hợp tình hình thực tiễn đã nhanh chóng được triển khai ở nhiều địa phương. Trong "cuộc chiến" này không ai được phép đứng ngoài cuộc, hay lơ là, chủ quan, vì rất có thể sự vô ý thức, thiếu trách nhiệm của một vài người sẽ có thể khiến cho nỗ lực của cả một tập thể bị đổ xuống sông, xuống bể. Chứng kiến những gì đã và đang diễn ra tại Bắc Giang, Bắc Ninh, chúng ta càng thấu hiểu hơn điều đó. Trong nắng nóng cao điểm của mùa hè, các nhân viên y tế, quân đội, công an... từ trung ương đến địa phương... đã chung tay, hỗ trợ, phối hợp khá nhịp nhàng trong triển khai các công việc phòng, chống dịch bệnh. Ðể kịp thời tiếp sức, "chia lửa" với đồng nghiệp tại các điểm nóng của dịch bệnh, nhiều tình nguyện viên là nhân viên y tế, sinh viên các trường đại học y, đại học điều dưỡng,… từ nhiều tỉnh, thành phố như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Thừa Thiên Huế, TP Hồ Chí Minh,… đã lên đường vào tâm dịch. Nhờ vậy, dù diễn biến dịch phức tạp, lây lan nhanh nhưng về cơ bản đến nay đã được khống chế, nằm trong vòng kiểm soát.

TIỀN ĐỒ CỦA MỖI NGƯỜI NẰM TRONG TIỀN ĐỒ CỦA CÁCH MẠNG, CỦA DÂN TỘC



Câu nói trên trích trong bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại hội chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất được tổ chức từ ngày 31 tháng 5 đến ngày 05 tháng 6 năm 1956, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 354 đại biểu là chiến sĩ thi đua và đại diện cho các đơn vị tiên tiến thuộc ngành thương nghiệp cả nước.

Lời của Bác, khẳng định lợi ích của dân tộc phải được đặt lên trước lợi ích của cá nhân. Thực tiễn đã chứng minh, nước độc lập thì ai cũng được tự do; nếu mất nước thì ai cũng làm nô lệ. Cách mạng giải phóng dân tộc giành được thắng lợi, không chỉ dân tộc được giải phóng mà các giai cấp, tầng lớp trong xã hội cũng được giải phóng. Quan điểm đó đã góp phần khơi dậy, phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân và cả cộng đồng đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Quan điểm trên của Người, tiếp tục được Đảng ta vận dụng vào đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam; toàn bộ hoạt động của Đảng đều xuất phát và phục vụ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, phai nhạt lý tưởng cách mạng, quá coi trọng đến lợi ích cá nhân, đã và đang làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, thì việc nắm vững những quan điểm của Người về đặt lợi ích chung của dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân có giá trị thực tiễn sâu sắc; là nội dung, phương hướng rèn luyện đạo đức của mỗi người theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.

Quân đội ta là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn thấm nhuần lời dạy của Bác về việc phải biết đặt lợi ích của đất nước lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân, kiên định với mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng và Bác đã lựa chọn; quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nêu cao ý chí, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; luôn chủ động tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến  bình" của các thế lực thù địch; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H. 2011, t. 10, tr. 334.

MINH TIẾN st

Bằng ý chí và niềm tin, “Từ Thành phố này Người đã ra đi”...

Nay chúng ta có đến lại Bến Nhà Rồng, xem lại nơi mà 109 năm trước, sáng ngày 4/6/1911, người thanh niên yêu nước mang tên Văn Ba đã xuống chiếc tàu Latousetrvel, rồi sáng ngày hôm sau, con tàu nhổ neo đưa Người ra đi tìm con đườngcứu nước. Nơi đây, vẫn như đọng lại những hình ảnh xưa, khi Người đã vào Sài Gòn với đất trời phương Nam. Những ngày Tháng 5 lịch sử này, chúng tôi hành hương về ngôi trường Dục Thanh do các nhà yêu nước từ đầu thế kỷ trước sáng lập, thăm lại ngôi trường cổ kính nhất nhì này ở vùng Nam Trung bộ, không ai không khỏi xúc động. Đây là ngôi trường nằm trung tâm của Thành phố Phan Thiết hiện nay. Đứng lặng hồi lâu, ngắm lại bộ tràng gỗ đã khá cũ kỹ đến hơn trăm năm, bên chiếc bàn đơn sơ ấy, giá sách gọn gẽ, ngăn nắp ấy, đã mang đậm dấu ấn thời gian 110 năm của ngôi trường cổ kính nhất nhì đất miền Nam. Khi ta được nhìn những bức ảnh cổ của ngôi trường về cảnh trí xưa vẫn còn lưu lại nơi đây, hình ảnh người thanh niên Nguyễn Tất Thành từng là một thầy vào những ngày đầu năm 1910 lại hiện lên dung dị và giáo thực sự đáng kính. Lúc đó, từ Huế vào đây, Người được cụ Trương Gia Mô (bạn thân cụ Nguyễn Sinh Sắc) trong tổ chức Liên Thành Thơ Xã giúp đưa vào dạy học tại trường Dục Thanh - tỉnh lỵ cũ của đất Phan Thiết từ xưa. Một góc Trường Dục Thanh ngày nay - nơi thầy giáo Nguyễn Tất Thành từng dạy học. Trước đó, thưở còn là học sinh tại trường Quốc học Huế, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trực tiếp chứng kiến bao thăng trầm của cảnh cố đô Huế, các triều vua quan Huế đang cảnh suy tàn; cũng như đất nước ta vào lúc đầu thế kỷ XX đang suy tàn trong vòng nô lệ, lầm than. Những ý thức làm người, kiến thức được học từ trường Quốc học Huế đã nung nấu ý chí và quyết tâm cho Người trở thành một thầy giáo chú tâm giảng giải những điều nhân - nghĩa, mà lịch sử đất nước ta đã thấm hiểu sâu cho những học sinh tại trường Dục Thanh. Ngôi trường Dục Thanh được ra đời năm Bính Ngọ - 1906, là ngôi trường vào loại đầu tiên đất Phan Thiết; do các nhân sĩ Liên Thành Thương Quán sáng lập, như: Trần Lệ Chất, Hùynh Thúc Kháng Phan Chu Trinh, Nguyễn Qúy Anh… đều là những nhà nho nổi tiếng của Liên Thành Thơ xã, có ảnh hưởng lớn ở vùng Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Các tư liệu sử học ghi lại: Vào những năm đầu thế kỷ XX, khi cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp sắp bước vào lần thứ 3, hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, cụ Trần Lệ Chất, một nhà nho yêu nước ở Nam Trung Bộ đứng ra chiêu hiền, lập ra Hội Liên Thành Thơ xã, tại Nhà Võ Ca đình làng Phú Tài, tỉnh lỵ Phan Thiết lúc đó. Khi thành lập xong, các ông cho mở các lớp dạy chữ Hán và Pháp văn, chương trình do những nhà nho yêu nước đảm trách. Các lớp học được dạy vào mỗi buổi tối do các trợ giáo Nguyễn Hiệt Chi - quê Hà Tĩnh - dạy Hán văn; ông Phán sự Lệ Chất, phụ trách dạy Pháp văn. Tất cả sách học đều do phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục biên khảo, chú giải, mà người trực tiếp gửi vào Phan Thiết là ông Đình nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ, người giao thân chí thiết của cụ Trần Lệ Chất đích thân mua gữi cho trường Dục Thanh. Dạy làm người ở trường Dục Thanh Tài liệu lưu trữ của người Pháp để lại tại Kho Lưu trữ Quốc gia II – Cục Lưu trữ Quốc gia cho chúng ta biết, tại ngôi trường cổ kính này còn lưu giữ nhiều sách, thư án cũ, từ đầu thế kỷ XX. Nay ta vào vẫn thấy Phòng Ngọa Sào – tức nơi đích danh người thanh niên Nguyễn Tất Thành từng đến đọc sách, nghiên cứu các tài liệu người Pháp đang có ở Đông Dương lúc đó, để mở mang nhận thức, khi về đây làm thầy giáo. Phòng Ngọa Sào trên căn gác gỗ, tuy nhỏ và hẹp so với nay, song từ hơn 110 năm trước, các căn phòng này đã là nơi sinh ra bao ý tưởng yêu nước cho những nhà nho trẻ, vừa đến dạy học tại ngôi trường có chí hướng tân tiến về cách dạy và học. Học sinh những năm đầu thành lập, đến từ nhiều tỉnh ở Nam Trung Bộ, Nam Bộ ra khá đông, chia làm 4 lớp học. Năm cao nhất, trường có 102 học sinh, học từ lớp đệ nhất, đến đệ tứ, với các chương trình độc lập do trường mở. Tại trường, nay còn lưu lại những kỷ niệm về Người, khi từ Huế vào khoảng tháng 9 -10/1910, và Người đã lưu lại đây dạy học đến tháng 2/1911 khi vào Sài Gòn. Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy chữ Quốc ngữ và Hán văn, nhiều lúc thêm tiếng Pháp. Khi về đây, Người đề nghị các vị quản lý trường, mở môn thể dục - thể thao, và chính Người trực tiếp dạy học sinh môn học mới mẻ và hứng thú này cho các em. Về lại thăm trường, bên dòng sông xanh, nhìn căn phòng cũ Bác từng ở, đọc sách, và những kỷ vật đã cũ, mà trước tháng 2 năm 1911, Người đã rèn luyện ý chí từ trang sách, tài liệu của trường, để rồi quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, mới thấy những kỷ vật đó thấm đẫm với Người lúc là thầy giáo dạy những học trò Nam bộ biết học chữ, tu chí làm người. Học trò vào học tại đây, phải chịu nội quy học tập rất nghiêm, cho tất cả 4 lớp từ lớp nhất, nhì đến lớp đệ tam, đệ tứ. Mỗi sáng, từ 6 giờ sáng, học trò dậy tập bài tập thể dục, sau bài tập thể dục cuối ngày xong, học sinh xếp hàng đi vào lớp ngay ngắn từng người. Vào lớp rồi, tất cả học sinh phải xếp tay vòng trước ngực hát cao giọng Bài ca Ái Quốc, do Nhà chí sĩ Phan Chu Trinh sáng tác năm 1907. Đây là bài hát thuộc lòng cho mỗi môn sinh trước khi vào đây. Lời bài hát là: Nước Nam ta từ thời Hồng Lạc; Mấy ngàn năm khai phá đến nay. Á Âu riêng một cõi này; Giống vàng ta cũng xưa nay một loài. Vuông mấy dặm, ba mươi mấy vạn; Nào bạc vàng nhan nhản thiếu chi. Đồng tươi, ruộng tốt tư bề; Có điều lợi đất, ai bì được đâu![1] Mỗi khi cả lớp ca xong, thầy giáo mới rung chuông, các môn sinh mới được ngồi xuống bắt đầu buổi học. Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy ở trường mấy tháng, song học trò ai cũng quý mến với đức tính ham hiểu biết, gợi mở rộng ra các kiến thức khi truyền dạy nhiều môn học mà kiến thức những bài học từ lớp Nhất, đến đệ Tứ luôn được Thầy giáo Thành đưa lại sự hứng thú cho học sinh. Trở về nơi Người đi tìm chân lý cho non sông, cho dân tộc Việt Nam Đầu năm 1911, thầy giáo Nguyễn Tất Thành được cụ Trương Gia Mô giúp đỡ để đi vào Sài Gòn. Đầu tiên vào, ở tại căn nhà anh Lê Văn Đạt, ở xóm Rạch Bần, là số nhà 185/1 đường Cô Bắc - Quận 1 nay. Có một chi tiết, mà nay ta về thăm trường Dục Thanh, nhìn thấy bức ảnh của người đánh xe ngựa đưa Người ra ga xe lửa đi Sài Gòn - cụ Võ Văn Trang, một người chuyên được các nhân sĩ Liên Thành Thương Quán tin tưởng chuyên chở đi - về. Chính cụ là người đã đón thầy giáo Thành lúc từ Huế vào, và cũng là người đã đánh xe ngựa đưa thầy giáo Nguyễn ra ga xe lửa, vào Sài Gòn. Trong chuyến đi này, cụ Võ Văn Trang còn là người cất giữ 9 (chín) đồng bạc Đông Dương do chính thầy giáo Nguyễn Tất Thành gửi cụ, để trả bớt lại cho Liên Thành Thương Quán lúc chia tay Trường. Đó là một ngày tháng 2 năm 1911, thầy giáo Nguyễn Tất Thành trước khi vào Sài Gòn. Ông Nguyễn Quý Anh, phụ trách phân cuộc Liên Thành thương quán ở Sài Gòn, chỉ đạo ông Phạm Phú Hữu (cháu nội quan đại thần triều đình Huế Phạm Phú Thứ) chi 27 đồng bạc Đông Dương để trao cho Nguyễn Tất Thành làm lộ phí. Nhận tiền, Nguyễn Tất Thành do dự một hồi rồi chỉ nhận 18 đồng còn 9 đồng gửi lại. Thấy vậy, ông Võ Văn Trang với lòng xúc động và kính trọng đã nhận giữ và gửi trả lại bằng 9 đồng bạc giấy cho ông Phạm Phú Hữu nộp vào quỹ Liên Thành thương quán. Cũng từ tháng 5/1911 người cha của Người, cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, cũng đã từ quan Tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định - giã từ chốn quan trường, cũng lên đường vào Nam. Lịch sử căn nhà số 5 Châu Văn Liêm, quận 5 nay vẫn còn ghi, sáng ngày 4/6 Người tạm biệt ngôi nhà này, để đến làm chân phụ thợ bếp cho tàu Đô đốc Latousestơrevila. Và sáng ngày 5/6/1911 đã đi vào lịch sử dân tộc ta, như một dấu ấn không bao giờ phai nhạt trong trái tim mỗi con người Việt Nam. Khi ra đi, Người chỉ có hai bàn tay trắng, hai bàn tay của lòng yêu nước, hai bàn tay con người lao động lầm than dưới hầm tàu, để vượt qua bao dông bão, vượt qua bao cám dỗ, vượt qua bao ngặt nghèo cảnh tù đày… nhằm để 30 năm mới mang về cho dân tộc con đường cứu nước chính đáng nhất. Xem lại những tư liệu tại trường Dục Thanh, có một mối liên quan rất hiện hữu từ ý chí và niềm tin đã đưa Người quyết chí ra đi và vững bước trên mọi chân trời bốn biển, năm châu. Suốt 30 năm trời sau năm 1911 đó, Người đã từ một lao động nghèo, một ký giả nghèo cùng sống, cùng đấu tranh, cùng hòa mình vào bao cuộc đời cần lao, với các tổ chức yêu nước khắp năm châu, để đi đến tìm ra một chân lý chính đáng nhất - đó là chân lý của độc lập và tự do. Cũng vào mùa Xuân sau đó 30 năm, vào tháng 2-1941 Người đã trở về Tổ quốc tại Fắk Bó - Cao Bằng, để cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo toàn diện cuộc cách mạng cho dân tộc Việt Nam - đưa đến những chiến thắng sáng ngời của toàn dân tộc. Đó là, phải đánh đuổi cho được những tên đế quốc to, mạnh nhất thế giới xâm lược nước ta. Những đại thắng mùa Xuân vào năm 1954,1975, thực hiện thành công ước mơ, hoài bão của Người khi ra đi tìm đường cứu nước. Đó cũng là chân lý mà Người mang lại: Độc lập - Tự do - Bình đẳng - Bác ái cho toàn dân tộc, nhân dân ta./.

“Bắt mạch” thủ đoạn lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí

Xã hội hiện đại, báo chí có vai trò quan trọng trong việc truyền tải các quan điểm, ý chí của Nhà nước và tiếng nói của nhân dân, là công cụ của tự do biểu đạt. Ngày nay, tự do ngôn luận, tự do báo chí có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của từng cá nhân và cộng đồng, được coi là một phần biểu hiện quyền bình đẳng, dân chủ, có tác động thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.