Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2021

THỜI TRAI TRẺ TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA BÁC: Cánh chim bằng bay trên bão táp

🌿🌿🌿

Người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước với 30 năm bôn ba qua 3 đại dương, 4 châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố. Đó là quãng đời “thanh niên sôi nổi” vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai. Nhân kỷ niệm 110 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, Báo Quân đội nhân dân Điện tử xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc loạt bài phần nào ghi chép lại câu chuyện về bản lĩnh, ý chí của một người trai chí lớn đã truyền cảm hứng cho thế hệ hôm nay và mai sau…

Bến cảng Nhà Rồng và ngày 5-6-1911 là cột mốc đánh dấu hành trình Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng chúng tôi muốn cùng bạn đọc lùi lại một mốc khác, đó là mùa Thu năm 1910, khi tròn 20 tuổi, Người đã dừng chân ven bờ biển Phan Thiết. Hành trình cứu nước đã bắt đầu từ những bước chân buổi ấy…

🌿 Người thầy bất đắc dĩ và khát vọng đi xa

Phan Thiết, một ngày mùa Thu tháng 9 năm 1910. Chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành dừng chân mà lòng ngổn ngang trăm mối. Cuốn Hồ Chí Minh-biên niên tiểu sử (do Viện Hồ Chí Minh thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006) ghi: Ngày 4-12-1908, Nguyễn Tất Thành khi đang là học sinh với lòng yêu nước thương dân đã tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên và bị thực dân Pháp theo dõi. Ông Nguyễn Sinh Huy (cha của Nguyễn Tất Thành), một vị quan thanh liêm đang làm việc ở Huế cũng bị chúng khiển trách.

Sang năm 1909, Nguyễn Tất Thành theo cha, lúc đó là Phó bảng vào huyện Bình Khê thuộc tỉnh Bình Định nhậm chức tri huyện. Sau đó Người được cha gửi vào Quy Nhơn học tiếng Pháp. Những tưởng việc học hành sẽ thuận lợi nhưng chẳng bao lâu, tháng 1 năm 1910, cha Người bị triều đình bãi chức và triệu hồi về Huế. Việc học tập của Nguyễn Tất Thành nguy cơ dang dở.

Tháng 9 năm ấy, Nguyễn Tất Thành quyết định từ Quy Nhơn vào Sài Gòn. Sau này, trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Nhưng hành trình đâu dễ dàng. Đến Phan Thiết thì hết tiền, Người phải xin vào làm trợ giáo, dạy môn Thể dục tại Trường Dục Thanh, một ngôi trường tư thục nằm kề bên bờ sông Cà Ty, thành phố Phan Thiết (Bình Thuận).
Theo hồi ức của các học sinh: Thầy Thành dạy rất tận tâm, hết lòng thương yêu, chăm sóc trò. Thầy thường phổ biến cho học sinh những thơ ca yêu nước. Vừa phụ trách thể dục, thầy vừa chăm lo xây dựng tủ sách, hướng dẫn học sinh thăm phong cảnh trong vùng...

Ngoài giờ lên lớp với số tiền lương ít ỏi, theo tư liệu ghi chép chỉ vỏn vẹn 8 đồng, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý để đọc. Lần đầu tiên Người được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rousseau, Voltair, Montesquieu, càng thôi thúc Người tìm đường ra nước ngoài.

Cuối năm Canh Tuất (1910), Nguyễn Tất Thành rời Trường Dục Thanh về Sài Gòn tiếp tục con đường đã định… Năm 1960, tập sách Bác Hồ do nhiều tác giả viết in tại Hà Nội đã được Bác Hồ xem. Khi đọc, Bác nói với đồng chí thư ký:

- Bác không có ý định dừng lại Phan Thiết song đến đó thì tiền lộ phí đã cạn mới quyết định ở lại tìm việc làm để có tiền đi tiếp cuộc hành trình.

Đến Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành xin vào học một trường kỹ thuật do Pháp quản lý, dạy về hàng hải. Sau này, đồng chí Hà Huy Giáp kể lại, có lần Bác nói: "Bác đâu có ý định học thợ, nhưng trong lúc lang thang để tìm cách sang phương Tây, mà có nơi cho mình học, có cái ăn là mình vô thôi".

Ít lâu sau, Người đã tìm đến thăm cha lúc này cũng ở miền Nam. Người cha già dặn dò: "Tìm thăm cha là tốt, nhưng cái cần hơn vẫn là tìm đường cứu dân tộc". Lời dặn ấy như càng củng cố thêm khao khát tột cùng bấy lâu nay Nguyễn Tất Thành nung nấu.

🌿 Người con hiếu thảo gửi tiền cho cha khi nhận tháng lương đầu bếp ít ỏi

Ngày 2-6-1911, Nguyễn Tất Thành nộp đơn xin việc làm ở tàu Amiral Latouche Tréville, một tàu lớn vừa chở hàng, vừa chở khách, đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Marseille, Pháp. Một ngày sau, anh bắt đầu làm phụ bếp ở tàu với tên mới: Văn Ba. 

Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành từ Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn sang Pháp. Người thanh niên 21 tuổi ấy ra đi với mục đích gì? Để kiếm kế sinh nhai, hay để thoả mãn một ước mơ xa lạ nào đó của tuổi trẻ. Hơn mười năm sau chính anh đã trả lời nhà báo, nhà thơ Xô viết Osip Mandelstam:

Khi là một cậu bé ở tuổi 13, tôi lần đầu tiên đã nghe đến những từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái và tình anh em - đối với chúng tôi tất cả người da trắng đều là người Pháp. Tôi muốn tìm hiểu nền văn minh của Pháp để biết xem cái gì ẩn đằng sau những từ ấy. Nhưng ở các trường Pháp dành cho người bản xứ, người Pháp dạy như dạy con vẹt. Người ta ngăn cấm chúng tôi tiếp xúc với sách báo, không chỉ là những nhà văn mới mà ngay cả Rousseau và Montesquieu. Tôi đã làm gì? Tôi quyết định đi ra nước ngoài. Người An Nam bị xem là nông nô. Chúng tôi không chỉ bị cấm du lịch, mà còn bị cấm đi lại trong nước. Đường sắt được xây dựng cho các mục đích chiến lược riêng: trong con mắt người Pháp, chúng tôi chưa đủ trình độ để sử dụng những tuyến đường này. Tôi đã ra đi bằng đường biển. Lúc đó tôi 19 tuổi. Ở Pháp, các cuộc bầu cử đang diễn ra. Giới tư sản đang lừa phỉnh nhau’.

Rõ ràng là sự lựa chọn đi ra nước ngoài bằng đường biển của Bác Hồ là có chủ đích tìm đường cứu nước. Trả lời phỏng vấn này trùng khớp với những thông tin sau này về tiểu sử của Người.

Con tàu xuyên đại dương ngay trong tháng 6 đã ghé cảng Singapore rồi Colombo, Sa’id (Ai Cập). Ngày 6-7-1911, sau một tháng vượt biển, tàu đến nước Pháp. Ở đây, Nguyễn Tất Thành tận mắt chứng kiến ở nước Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam. Anh trăn trở: “Tại sao người Pháp không “khai hoá” đồng bào của nước họ trước khi đi “khai hoá” chúng ta”.

Làm phụ bếp trên tàu nhưng khát vọng được học tập để mở mang vẫn cháy bỏng. Ngày 15-9-1911, Nguyễn Tất Thành viết đơn gửi Tổng thống Pháp trình bày nguyện vọng muốn vào học Trường Thuộc địa. Đơn có đoạn viết: “…Tôi rất ham học. Tôi muốn sẽ trở nên có ích cho nước Pháp đối với các đồng bào của tôi, đồng thời có thể giúp họ hưởng được những ân huệ của giáo dục...”.

Thế nhưng nước Pháp không văn minh và bác ái như khẩu hiệu, lá đơn được quay về thuộc địa và người ta vì dị ứng với việc Người tham gia biểu tình năm 1908 đã bác bỏ nguyện vọng đó.

Giữa tháng 10 năm ấy, theo hành trình, con tàu  Amiral Latouche Tréville quay trở về Sài Gòn rồi lại ra đi. Sổ lĩnh lương tàu mà bản chụp hiện còn lưu tại Viện Hồ Chí Minh ghi rõ, Người nhận lương tại Sài Gòn, ngày 16-10-1911. Dù làm việc vất vả nặng nhọc, có thể mất mạng bất cứ lúc nào, nhưng mức lương lại rất bèo bọt. Sổ ghi, sau khi đóng tiền ăn, tiền nộp cho cai bếp, góp vào quỹ bảo hiểm cho thủy thủ người Pháp thì chỉ còn nhận được vỏn vẹn 10 franc.

Có một chi tiết thật xúc động, theo chính Hồ sơ của Chánh mật thám ghi lại: Nhận lương ít ngày thì ngày 31-10-1911, từ Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ, nhờ chuyển số tiền 15 đồng cho cha là Nguyễn Sinh Huy. Số tiền trên đã được ông Nguyễn Sinh Huy ký nhận ngày 9-11-1911.

🌿 Giọt nước mắt bác ái rớt giữa đại dương 

Bước sang năm 1912, con tàu tiếp tục hành trình đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Algeria, Tunisia, Democratic Republic of the Congo, Dahomey, Senegal, Réunion…

Đến đâu, Nguyễn Tất Thành cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Đến Dacar, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả ca nô xuống vì sóng to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi.

Cảnh tượng đó làm cho Nguyễn Tất Thành hết sức đau xót, anh khóc. Hỏi tại sao, anh buồn rầu trả lời: “Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác và vô nhân đạo”.

Anh kể lại điều anh từng trông thấy trên bờ biển Phan Rang, Phan Thiết trước lúc ra đi: “Ở ta, tôi cũng thấy những chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”.

🌿 Bóng tối dưới chân tượng nữ thần tự do 

Cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành theo con tàu đến Mỹ. Điện tín của Chánh mật thám Sài Gòn sau này ghi lại: Ngày 15-12-1912, từ New York, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ cho biết tình hình và địa chỉ của cha. Thư cho biết, anh đã gửi cho cha mình ba ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một lần trả lời.

Thời gian ở Mỹ, Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu. Nữ tác giả Josephine Stenson, một nhà sử học người Mỹ đã tự bỏ tiền túi ra để đi khắp những nơi mà Bác Hồ đặt chân tìm hiểu, sau này đã phát biểu sâu sắc về Bác Hồ tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1990) ở Hà Nội.

Bà viết: “…Tôi nghĩ ngay đến Tượng thần Tự do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và ca ngợi thần Tự do, Nguyễn Tất Thành khi đến New York cũng đã đến chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và mọi chính khách, sau khi đã đến tham quan thần Tự do đều ghi cảm tưởng bằng những lời ca ngợi Ngôi sao tỏa sáng trên vòng Nguyệt quế là ánh sáng tự do... Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem thần Tự Do nhưng nhìn xuống dưới chân tượng và ghi “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân Tượng thần Tự do và ghi lại những ý kiến trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người chứ không chiêm ngưỡng hào quang tỏa sáng từ bức Tượng thần Tự do".

🌿 Học tập khát vọng cháy bỏng 

Lao động vất vả nhưng khát vọng học tập luôn cháy bỏng trong Nguyễn Tất Thành. Cùng với bức thư gửi cho cha, anh còn gửi một bức thư cho anh trai Nguyễn Sinh Khiêm (thời kỳ này đang giúp việc vặt ở Toà Khâm sứ Trung Kỳ), nhờ xin cho vào học Trường Thuộc địa tại Pari. Nhưng kết quả không khả quan hơn, vẫn với sự kỳ thị, toàn quyền trả lời: “…ông chủ sự giáo dục Trung Kỳ, được hỏi ý kiến đã cho biết người thanh niên này đã bắt đầu học Trường Quốc học Huế, nay qua làm bồi ở Pháp, có thể tiếp tục học ở một trường tại thuộc địa trước khi có tham vọng trở thành sinh viên ở Pháp”.

Đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Pháp, sau đó sang Anh.

Đến nước Anh, lên bờ, làm gì để sinh sống là một câu hỏi quá khó khăn giữa thủ đô London hoa lệ. Nguyễn Tất Thành nhận cào tuyết cho một trường học. Công việc quá vất vả mệt nhọc, anh đành phải bỏ việc. Anh tìm được một việc khác là đốt lò. Từ 5 giờ sáng, anh đã phải chui xuống hầm để nhóm lửa, suốt ngày đổ than, thay than trong lò, sống trong cảnh tranh tối tranh sáng, ngột ngạt đáng sợ.
Nhưng cũng ngay từ những ngày đầu tiên đến nước Anh, Nguyễn Tất Thành bắt tay ngay vào việc học ngoại ngữ. Hằng ngày, sáng sớm và buổi chiều, trước và sau giờ lao động để kiếm tiền sống, anh miệt mài tự học. Hằng tuần, vào ngày nghỉ, anh học tiếng Anh với một giáo sư người Ý.

Giữa năm ấy, từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Bức thư cho thấy anh rất quyết tâm học ngoại ngữ: "Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và tháng ngày luống những chỉ lo làm việc khỏi đói, chớ chẳng học được bao nhiêu. Và cháu ước ao rằng bốn, năm tháng nữa, lúc gặp bác thì sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều…”.

🌿 Gác lại những niềm riêng 

Cuối năm 1913, việc đốt lò vất vả khiến Nguyễn Tất Thành ốm nặng, bị cảm, phải xin nghỉ việc. Bình phục, Nguyễn Tất Thành đến làm thuê ở khách sạn Drayton Court rồi sang làm phụ bếp ở khách sạn Carlton, một khách sạn sang nổi tiếng ở London, dưới sự điều khiển của vua đầu bếp người Pháp Escophier.

Hằng ngày, anh để riêng những thức ăn còn sạch sẽ, có lúc là một phần tư con gà hoặc còn nguyên cả miếng bít tết để đưa lại cho nhà bếp. Vua đầu bếp hỏi tại sao không vứt đi như những người khác, anh trả lời: "Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy". Ông ta tỏ ra cảm phục và nói: "Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy cho anh cách làm bếp, làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền".

Từ đó, Nguyễn Tất Thành được ông vua bếp đưa vào chỗ làm bánh với số lương cao hơn. Mọi người cho biết lần đầu tiên ông vua bếp làm như thế!

Nhà văn, nhà sử học, Giám đốc Trung tâm lưu trữ, Thư viện Marx, Vương quốc Anh John Callow cho rằng, chính trong thời gian ở London, Hồ Chí Minh đã đọc các tác phẩm của Marx và Engels, được in rất rẻ tại Nhà in Thế kỷ Hai mươi thuộc Đảng Dân chủ Xã hội Anh. Bốn năm ở London đã góp phần rất nhiều trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành đã từ Anh trở lại Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp, tiếp tục hành trình tìm đường cứu nước của mình.

Hành trình 6 năm đầu tìm hình của nước ở tuổi 20, Người đã phải trải qua đủ mọi đắng cay, một mình dặm trường nơi đất khách quê người, phải gác lại những tình cảm riêng tư như nhà sử học người Mỹ ghi lại: “…một số sĩ quan Anh-Mỹ trong đội quân của đồng minh khi sang Đông Dương đóng ở Cao Bằng có dịp tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả tập hồi ký “Tôi sống cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu khởi nghĩa”. Chúng tôi có hỏi - không phải tò mò mà trên danh nghĩa là đàn ông với nhau, tại sao Chủ tịch không lấy vợ, không lập gia đình? Hồ Chí Minh trả lời một cách chân tình và thân mật: Khi còn trẻ phải đi hoạt động cách mạng, khi giành được độc lập thì đã già, nên không dám tính chuyện đó. Trước khi tôi ra đi, tôi có yêu một người con gái, người con gái đó cũng rất yêu tôi. Nhưng phải dừng lại về chuyện yêu đương, sau nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái đó đang ở đâu, còn hay mất”.

Theo QĐND 

Phạm Văn Vông

Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) có công văn gửi lãnh đạo các Tổ chức tôn giáo đề nghị siết chặt các biện pháp phòng dịch.

 

Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) có công văn gửi lãnh đạo các Tổ chức tôn giáo đề nghị siết chặt các biện pháp phòng dịch.

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là liên quan đến ổ dịch tại điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung “Hội thánh Truyền giáo Phục hưng” với hơn 300 ca F0, ngày 4/6, Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) tiếp tục ra công văn đề nghị tạm dừng mọi sinh hoạt tôn giáo tại các cơ sở thờ tự, các điểm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung và treo biển cảnh báo tại các cơ sở, điểm nhóm nhằm thực hiện triệt để công tác phòng dịch.

Đến 15h ngày 4/6, liên quan đến ổ dịch tại điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung “Hội thánh Truyền giáo Phục hưng” (quận Gò Vấp, TP.HCM) đã có 310 F0, hơn 5.300 F1 và trên 320.000 người thuộc diện theo dõi y tế. Ngoài 20/22 quận, huyện, thành phố của Thành phố Hồ Chí Minh, đến nay đã có 15 tỉnh, thành phố có các ca F0, F1, F2 liên quan đến Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng. Cũng từ điểm nhóm này, một số tín đồ của 03 Hội thánh Tin lành khác cũng trở thành F1 và F2. Dự báo trong những ngày tới số lượng F0, F1 và người tiếp xúc với F0, F1 sẽ còn gia tăng về số lượng, phạm vi.

Công văn của Ban Tôn giáo Chính phủ nhấn mạnh: Thực tế trên cho thấy,  các biện pháp phòng, chống dịch trong một số cơ sở tôn giáo còn bất cập, đó là: một số tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo chưa thực hiện đúng tinh thần công văn số 1988/BNV-TGCP ngày 07/5/2021 của Bộ Nội vụ và hướng dẫn của chính quyền địa phương; chưa chủ động triển khai, cập nhật các văn bản hướng dẫn phòng chống dịch của cơ quan chức năng, nhất là đối với các điểm nhóm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, hoạt động nhỏ lẻ tại một số tỉnh, thành phố, dẫn đến nguy cơ lây nhiễm và bùng phát dịch bệnh.

Công văn của Ban Tôn giáo Chính (Bộ Nội vụ) phủ nêu rõ: Đối với các cơ sở, điểm nhóm có người nghi nhiễm, cần phối hợp với các cấp chính quyền để truy vết dịch tễ, khai báo lịch trình di chuyển, thực hiện cách ly theo quy định; Cập nhật thông tin chính thống, phổ biến công tác phòng, chống dịch đến các cơ sở thờ tự, điểm nhóm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng trọng điểm về dịch.

Đặc biệt, người đứng đầu, đại diện tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo, điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không chấp hành các quy định về phòng, chống dịch bệnh Covid-19, làm phát sinh dịch bệnh tại cơ sở tôn giáo, lây nhiễm trong chức sắc, tín đồ các tôn giáo và trong cộng đồng.

Đây là lần thứ hai, liên quan ổ dịch tại Hội thành truyền giáo Phục hưng, Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) có công văn gửi lãnh đạo các Tổ chức tôn giáo đề nghị siết chặt các biện pháp phòng dịch.

Trước đó, tại buổi làm việc với Ban Chỉ đạo phòng chống COVID-19 TP. HCM ngày 1/6, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu, trong thời gian 1-2 tuần TP. HCM phải dập tắt ổ dịch liên quan Hội thánh truyền giáo Phục Hưng, bằng mọi giá phải kiểm soát được. Đồng thời, rà soát lại hết 145 điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tương tự như Hội thánh truyền giáo Phục Hưng, tăng cường quản lý nhà nước chặt tại các nơi này.

 

NIỀM TIN

 Bỗng đâu cô-vít lan ra

Làm cho toàn thể dân ta oằn mình

Đảng và Chính phủ hết mình

Đêm ngày cập nhật tình hình vùng khoanh

Trẻ con khó học, khó hành

Công nhân làm việc phải đành cách ly

Muôn vàn nỗ lực chẳng bì

Mục tiêu kép giữ, cùng kỳ các năm

Chống dịch như chống ngoại xâm

Huy động lực lượng toàn dân, toàn ngành

Gia đình xa cách cũng đành

Blouse áo trắng, áo xanh quên mình

Chiến sỹ anh dũng thời bình

Lao vào vùng dịch, chẳng màng gian lao

Xúc động, thương xót, nghẹn ngào

Mồ hôi ướt đẫm giữa trời nóng thiêu

Mệt quá đi đứng liêu xiêu

Vẫn cố xét nghiệm đủ liều cho dân

Bởi vì một phút chậm chânC

Cô-vítcó thể lan tràn hiểm nguy

Máy thở, truyền dịch, ô xy

Chăm lo tiếp sức bệnh nhân khỏe dần

Cán bộ y tế chuyên cần

Ngăn vùng, dập dịch, nhường nhà cách ly

Nắng, mưa, giông bão bất kỳ

Nghe tin dịch bệnh tức thì có ngay

Bộ đội chiến sỹ hôm nay

Biên cương giữ vững, sớm ngày sát sao

Không để đối tượng vượt rào

Xâm nhập mang bệnh tràn vào quê hương

Công an kết hợp dân phòng 

Tuần tra, canh giữ đồng lòng quyết tâm 

Còn những cống hiến âm thầm

Ngòi bút tác chiến, ân cần truyền thông

Tư tưởng, ý chí mà thông

Từ trên xuống dưới, “bình tông” nhẹ nhàng 

Chúng ta quyết chẳng đầu hàng 

Một ngày tươi sáng, vững vàng non sông!

Sự lựa chọn lịch sử

         Cách đây 110 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời bến cảng Nhà Rồng bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước - con đường “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Thời gian đã lùi xa, nhưng giá trị lịch sử và thời đại của sự kiện này vẫn mang tính thời sự sâu sắc, có tầm quan trọng đặc biệt và ý nghĩa to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn hiện nay.



    Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, sống trong bối cảnh nước mất, nhà tan, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh đất nước và nỗi thống khổ của Nhân dân. Người quyết định phải tìm ra con đường mới nhằm đánh đuổi thực dân Pháp để cứu nước, cứu dân. Với lòng yêu nước nồng nàn và ý chí, khát vọng giải phóng dân tộc, ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng đi Mác xây (Pháp) mang theo khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước, để đem lại: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”.

Thời gian ở nước ngoài từ năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã xác định mục tiêu rõ ràng là tìm con đường đấu tranh đúng đắn để giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào mình. Để thực hiện được mục tiêu cao cả đó, Nguyễn Tất Thành đã phải làm nhiều nghề để sinh sống như phụ bếp trên tàu, quét tuyết, chụp ảnh, vẽ minh họa cho các báo, viết báo.v.v. Cũng qua công việc, Người thêm hiểu, đồng cảm với những người lao động cùng khổ ở khắp mọi nơi trên thế giới, rèn luyện bản thân, nuôi dưỡng ý chí tự lực, tự cường, tu dưỡng đạo đức và bản lĩnh của chiến sĩ cách mạng. Sau này, Bác Hồ tâm sự, Bác làm rất nhiều nghề để làm một nghề lớn lao, đó là nghề cách mạng.

Sau những năm tháng bôn ba khắp năm châu, bốn biển, cuối cùng, Người đã tìm được và đi theo con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin. “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc trăn trở tìm đường về nước để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam. "Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập" - Người viết thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, năm 1923. Với việc tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tập trung mọi nỗ lực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một đảng cách mạng tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam.

Ngày 03/02/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đây là bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối chính trị và về tổ chức của các phong trào yêu nước Việt Nam. Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời, theo phân tích của GS Hoàng Chí Bảo, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, "là sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước ngoặt của phong trào cách mạng Việt Nam, đây là khởi đầu dẫn tới Thời đại Hồ Chí Minh, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng triền miên về đường lối cứu nước từ cuối thế kỷ XIX đến thập niên 30 thế kỷ XX. Bước ngoặt ấy cũng là khởi đầu cho sự thay đổi số phận của dân tộc ta, là dấu mốc điển hình cho sự phát triển thành thục tư tưởng, đường lối và phương pháp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh... Sự ra đời của Đảng không chỉ khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam mà còn cho thấy những cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam".

Thực tiễn đã chứng minh, bằng con đường Bác đã chọn “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, cách mạng Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đi theo con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra; trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vận dụng phát triển, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế./.

IRAQ ĐÃ TỪNG LÀ NGƯỜI BẠN TỐT CỦA VIỆT NAM!

 IRAQ ĐÃ TỪNG XOÁ NỢ QUỐC GIA CHO VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?


Trong cuốn hồi ký Gia đình, Bạn bè, Đất nước của bà Nguyễn Thị Bình xuất bản năm 2012, bà đã viết:

“Nếu cố Tổng thống Saddam Hussein có sai lầm gì trong đối nội, đối ngoại…, có tội lỗi gì với nhân dân của ông, lịch sử của Iraq sẽ phán xét. Nhưng đối với Việt Nam, tôi nghĩ chúng ta phải biết ơn sự giúp đỡ quý báu của ông trong những năm Việt Nam vừa ra khỏi chiến tranh”.

Iraq là một trong những nước ủng hộ và giúp đỡ nhân dân ta chí tình nhất, cả về tinh thần lẫn vật chất trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu này hoàn toàn vô tư, xuất phát từ cảm tình và yêu mến Việt Nam mà không kèm theo bất cứ điều kiện nào.

Năm 1971, bà Bình (khi ấy với cương vị Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris) đã sang thăm Iraq và được đón tiếp hết sức trọng thị như một người anh hùng. Tại Baghdad hôm đón tiếp bà, quần chúng nhân dân Iraq đã đứng dọc hai bên đường vẫy cờ hoa chào đón.

Năm 1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam mở Đại sứ quán tại Iraq. Lúc đó, miền Nam đang dốc sức tập trung chiến đấu, khả năng tài chính rất hạn hẹp. Chính phủ Iraq đã trang trải cho toàn bộ hoạt động của đại sứ quán, từ trụ sở, xe cộ… cho đến tiền mặt để thanh toán cho các khoản chi tiêu hàng ngày. Đại sứ Nguyễn Quang Khai kể lại:

“Tôi còn nhớ, khi khai trương Đại sứ quán tại thủ đô Baghdad, Tổng thống Iraq lúc đó là Ahmed Hassan Al-Bakr đã gửi tặng một chiếc xe Citroen mới tinh vào loại sang trọng nhất. Còn các tổ chức quần chúng như Ủy ban Hòa bình và đoàn kết Iraq do ông Aziz Sharif làm chủ tịch, Hội Phụ nữ, Thanh niên… tổ chức quyên góp tiền, quần áo, chăn màn… gửi sang Việt Nam”.

Tháng 10-1975, bà Bình trở lại Iraq với nhiệm vụ vận động chính phủ Iraq cho Việt Nam vay dầu. Đây là nhiệm vụ không dễ dàng bởi dù bạn rất nhiệt tình, nhưng khi đi vào những vấn đề kinh tế mang tính sống còn thì họ phải tính toán kỹ.

Khi ấy, Phó chủ tịch Hội đồng chỉ huy cách mạng là Saddam Hussein đã tiếp bà. Sau khi nghe bà Bình trình bày những khó khăn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sau giải phóng, ông đã trả lời ngay:

- Chúng tôi quyết định tặng miền Nam 400 ngàn tấn dầu, coi như đây là món quà gửi nhân dân miền Nam nhân ngày chiến thắng và cho vay thêm 1,5 triệu tấn nữa.

Bà Bình như không tin vào tai mình, đến mức phải hỏi lại người phiên dịch một lần nữa thì mới biết chắc đó là sự thật.

Vào thời điểm này, ông Nguyễn Cơ Thạch (khi ấy là Thứ trưởng Ngoại giao của miền Bắc) cũng đang có chuyến viếng thăm Iraq. Và Tổng thống Saddam Hussein cũng đã quyết định cho miền Bắc vay 2 triệu tấn dầu không tính lãi.

Sau khi thống nhất đất nước năm 1976, ta chuẩn bị hợp tác với nước ngoài để thăm dò và khai thác dầu khí, còn rất thiếu kinh nghiệm đàm phán và ký kết hợp đồng, chính phủ Iraq đã cử các chuyên gia luật pháp và dầu khí giỏi nhất sang giúp ta, chỉ rõ những vấn đề cần lưu ý, tránh bị hớ trong làm ăn với các công ty dầu khí nước ngoài.

Đến năm 1979, theo hiệp định vay nợ, ta bắt đầu phải trả đợt đầu tiên cho Iraq. Nhưng ở thời điểm này, đất nước vẫn chưa thoát khỏi khó khăn, các vết thương chiến tranh chưa lành, kinh tế bị tàn phá nặng nề trong khi phải dồn sức vào một cuộc chiến tranh mới chống Pol Pot gây rối ở biên giới Tây Nam và chống quân Trung Quốc xâm lược ở biên giới phía Bắc. Việt Nam không trả được nợ cho Iraq theo hạn định.

Năm ấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã sang thăm Iraq. Chính phủ của Tổng thống Saddam Hussein một lần nữa quyết định cho Việt Nam vay 100 triệu đôla để trả số nợ đến hạn cho chính Iraq. Một quyết định có một không hai trong quan hệ giữa các quốc gia.

Những năm tiếp theo sau đó, nước ta vẫn bộn bề khó khăn, không trả được nợ cho Iraq. Trong tình hình đó, chính phủ ta đề nghị Iraq cho hoãn nợ và nhận trả nợ bằng hàng hóa và lao động, một phần nợ khác được dùng để đầu tư trở lại Việt Nam. Mặc dù đang gặp rất nhiều khó khăn do cuộc chiến vùng Vịnh, chính phủ Iraq vẫn đồng ý với đề nghị của ta.

Cuộc gặp cuối cùng

Hơn 20 năm sau, đến năm 2002, mặc dù hết sức cố gắng nhưng ta vẫn chưa trả hết nợ cho bạn. Tháng 2-2002, bà Nguyễn Thị Bình đề nghị chính phủ ta cho phép thăm Iraq với lý do bà sắp nghỉ hưu và trước khi nghỉ, bà muốn gặp lại người bạn cũ Saddam Hussein để nói đôi lời với ông về món nợ chưa trả được này.

Lúc đó, đã có nhiều ý kiến đã phản đối cho rằng ta vừa ký Hiệp định thương mại BTA với Mỹ, trong khi quan hệ giữa Mỹ và Iraq đang hết sức căng thẳng, liệu chuyến đi có gây khó khăn cho quan hệ Việt - Mỹ đang trên đường cải thiện hay không? Nhưng cuối cùng, bà Bình vẫn lên đường.

Sau 22 năm trở lại, bà Bình vẫn là thượng khách của chính phủ Iraq. Bà được Tổng thống Saddam Hussein tiếp đón thân mật tại tòa lâu đài Al-Faw(3) gần sân bay quốc tế Baghdad. Trong buổi trò chuyện thân mật, bà Bình bộc bạch:

- Năm 1975, tôi thăm Iraq, Tổng thống đã quyết định cho Việt Nam vay dầu, lúc đó chúng ta còn rất trẻ. Đến bây giờ chỉ còn vài tháng nữa là tôi nghỉ hưu mà chúng tôi vẫn chưa trả được hết nợ cho Iraq. Tôi cảm thấy trong lòng không vui.

Nghe đến đây, Saddam Hussein nói ngay:

- Mong bà về nghỉ bình yên, giữ gìn sức khỏe và không phải suy nghĩ gì cả. Từ giờ phút này trở đi, giữa chúng ta không có nợ nần gì với nhau nữa.

Bà Bình một lần nữa lại không tin vào tai mình, quay sang hỏi lại đại sứ Nguyễn Quang Khai (khi ấy đang kiêm vai trò thông dịch viên):

- Khai, em hỏi lại xem có đúng Tổng thống Saddam Hussein nói như vậy không?

Rất nhanh ý, biết bà Bình có thể chưa hiểu hết ý của mình, ông Saddam nói tiếp:

- Tôi không biết con số cụ thể Việt Nam còn nợ Iraq bao nhiêu. 5 giờ chiều nay, tôi sẽ cử Phó tổng thống Taha Yassin Ramadan đến dinh thự bà đang ở để ký Biên bản thỏa thuận xóa toàn bộ số nợ này.

Đúng 5 giờ chiều, Phó tổng thống Taha Yassin Ramadan cùng một số quan chức cao cấp trong chính phủ Iraq đem một Biên bản thỏa thuận đã được đánh máy sẵn. Bản thỏa thuận chỉ có vài dòng với nội dung ngắn gọn đại ý thế này: Theo chỉ thị của Tổng thống Saddam Hussein, từ hôm nay, ngày… tháng 10 năm 2002, chính phủ Iraq quyết định xóa toàn bộ số nợ cho Việt Nam. Số tiền nợ trước ngày này chưa trả được sẽ dùng để đầu tư vào các dự án liên doanh giữa hai nước tại Việt Nam.

Việc ký kết diễn ra hết sức đơn giản trên một chiếc bàn nhỏ trong phòng khách của dinh thự mà Tổng thống Saddam dành cho bà Bình ở trong thời gian thăm Iraq. Ký xong, Phó tổng thống Taha Yassin Ramadan đã đích thân lái xe đưa bà Bình đi thăm thành phố Baghdad.

Một năm sau, Mỹ và đồng minh phát động cuộc chiến chống Iraq. Tháng 12-2003, Tổng thống Saddam Hussein bị bắt. Ba năm sau, ngày 30-12-2006, ông bị xử t.ử sau một phiên tòa chớp nhoáng được tổ chức bởi chính phủ mới tại Iraq do Mỹ thành lập.

***

Một câu chuyện kỳ lạ. Một thứ tình cảm thân tình không thể chối bỏ, bởi việc xóa một số nợ lớn như vậy chỉ có thể xảy ra giữa những người anh em hết sức thân thiết trong gia đình. Trong khi đó, chính Iraq đang gặp rất nhiều khó khăn do bị cấm vận và đang trong tình trạng chiến tranh với các nước phương Tây.

Không những vậy, trải qua những biến động lớn trong nước lẫn quốc tế, các chế độ đến rồi đi… nhưng chính quyền mới của Iraq sau chính quyền của Tổng thống Saddam Hussein vẫn tôn trọng, thừa nhận và gìn giữ Thỏa thuận này.

Như thường lệ, chúng tôi luôn thể hiện niềm tự hào dân tộc, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời đấu tranh với những quan điểm sai trái và cung cấp thông tin chính xác cho công lý và sự thật.

Yêu nước ST.

Đừng tự đánh mất bản thân

 

Thời gian qua, Đảng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, kiên quyết xử lý những cá nhân, dù là ở cương vị hay vị trí nào, nếu mắc sai lầm khuyết điểm, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, gây thiệt hại cho đời sống kinh tế, xã hội. Và qua hoạt động đấu tranh này, nhằm “sàng lọc”, loại bỏ các cá nhân không còn giữ vững được phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên để làm trong sạch nội bộ Đảng, củng cố niềm tin vào Đảng. Lợi dụng vào mục tiêu mà nội dung cốt lõi là nhằm xây dựng Đảng không ngừng trong sạch vững mạnh, xứng đáng với sứ mệnh được dân tộc giao phó. Các phần tử thù địch, đối tượng chống đối lợi dụng thổi phồng sự việc, “đưa đẩy” vấn đề theo hướng khác, “lối nhìn trái chiều”, đánh lạc hướng của dư luận.

Cũng thời gian gần đây, ở một số địa phương, người dân do nhận thức chưa đầy đủ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Bên cạnh đó, thực trạng ở một số nơi có tình trạng cán bộ trong quá trình tổ chức thực hiện chủ trương về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là vấn đề về quy hoạch đô thị, quy hoạch vùng kinh tế đã có những sai sót nhất định. Những thiếu sót, sai lầm trong quản lý các dự án, nhất là vấn đề đất đai, chưa kịp khắc phục, sửa chữa, để tình trạng khiếu kiện kéo dài, gây nhức nhối trong đời sống xã hội. Các thế lực thù địch, đối tượng phản động đã lợi dụng, kích động, thậm chí cung cấp tiền, kinh phí xúi bẩy người dân gây điểm nóng, tạo ra một số hoạt động mang tính chất chống đối chính quyền. Từ những hoạt động tạo điểm nóng như thế này, các thế lực thù địch, đối tượng phản động rêu rao, làm ầm lên là sự đối đầu giữa chính quyền và nhân dân, là sự bất tín của chính quyền và sự mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ.

Để xảy ra tình trạng trên, có nhiều nguyên nhân, song ở một góc độ nào đó, phải thừa nhận là, những yếu kém, tồn tại trên có một phần từ chính đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp tạo ra. Nhưng bản chất sự việc, mức độ sai phạm, nội dung, hình thức xử lý như thế nào và ra sao lại là vấn đề rất cần có sự tỉnh táo và nhìn nhận khách quan và toàn diện. Nếu chỉ đọc, nghe, xem sẽ dẫn đến có cái nhìn thiếu khách quan, làm sai lệch tính chất của vấn đề xảy ra. Khi đã có cái nhìn thiếu khách quan, không đầy đủ rồi vội vàng phát ngôn, viết bài hay nhận xét, đánh giá về sự vật hiện tượng sẽ dẫn đến những sai lầm mà không thể nào bào chữa. Và khi đó, chính là đã tự đánh mất bản thân mình.

Bất cứ một sự vật hiện tượng nào xảy ra cũng đều có nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử. Muốn có được nhận xét đánh giá không chỉ đòi hỏi phải nắm rõ quá trình diễn biến xảy ra sự vật hiện tượng, bản chất của vấn đề và tính chất, mức độ, phạm vi ảnh hưởng đối với đời sống, kinh tế, xã hội. Hiểu đúng, chính xác sự vật hiện tượng xảy ra nhưng vẫn chưa phải đã có thể đưa ra những nhận xét đánh giá. Bởi, những ý kiến của bản thân cá nhân luôn là ý kiến chủ quan, trong khi những đánh giá, nhận xét lại chịu tác động, ảnh hưởng và tiếp nhận từ những thông tin sai lệch, có chủ đích.

Trước những diễn biến của đời sống xã hội; trước những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, việc tiếp nhận các thông tin không chỉ phải chính xác mà đòi hỏi phải có bản lĩnh, bình tĩnh để xem xét sự vật, hiện tượng. Nhất là khi đưa ra những ý kiến, nhận xét, đánh giá cũng cần phải xác định bản thân ở vị trí như thế nào, những phát ngôn ảnh hưởng đến lợi ích của dân tộc, đất nước và nhân dân ra làm sao. Lợi ích của dân tộc, của đất nước và nhân dân luôn là mục tiêu tối thượng. Đừng để tự đánh mất bản thân, rơi vào vòng xoáy ma trận từ các thông tin xuyên tạc, âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, đối tượng phản động. Tất cả mọi thất bại của cá nhân đều bắt đầu từ sự đánh mất mình trước những tác động, biến cố và không làm chủ được bản thân. Và thất bại đau đớn nhất chính là để rơi vào sự lừa dối, vòng xoáy từ những âm mưu thủ đoạn của các thế lực, đối tượng để trở thành người đi ngược lại lợi ích của dân tộc và nhân dân./.

TMT.05.6

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tự chính mỗi cá nhân

 

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực chất là quá trình thay đổi lập trường tư tưởng, mục tiêu, ý chí, bản chất cách mạng của người cộng sản. Là quá trình từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, từ bỏ lợi ích giai cấp và lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích cá nhân làm trọng. Hay nói một cách khác, “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” là quá trình thay đổi về chất cộng sản trong mỗi cá nhân. Khi cá nhân ấy giữ vị trí nhất định trong bộ máy, nó sẽ làm thay đổi hệ tư tưởng của cả một tổ chức. Trong thực tế cách mạng Việt Nam hiện nay, đó chính là sự thay đổi trong quan điểm, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Sự thay đổi này đưa tới những hành động đi ngược lại, thậm chí chống lại quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự suy thoái từ bên trong, là quá trình tự biến đổi về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi cá nhân theo chiều hướng đi ngược lại lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc. Chủ thể của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ là cán bộ, đảng viên mà ở tất cả mọi cá nhân. “Tự diễn biến” là quá trình thẩm thấu từng ngày, từng hoạt động của các chủ thể. “Tự chuyển hóa” là đích đến, là hệ quả của “tự diễn biến” của mỗi cá nhân, tổ chức. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Do đó, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của mỗi cá nhân đều có tác động, ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến sự phát triển của mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Ngày 30 tháng 10 năm 2016, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nghị quyết đã chỉ rõ, nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; về đạo đức lối sống; về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Ở 3 nội dung chính, biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mỗi nội dung trong Nghị quyết chỉ rõ có 9 biểu hiện nhận biết. Một vấn đề đặt ra là: Nguyên nhân chính từ đâu dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của mỗi cá nhân.

Trong thế giới vật chất, bất cứ một sự vật, hiện tượng nào xảy ra đều có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Song, nguyên nhân khách quan chỉ đóng vai trò quan trọng; nguyên nhân chủ quan mới giữ vai trò quyết định. Những tác động khách quan chỉ tác động, ảnh hưởng, nhưng chủ quan, chính bản thân chịu sự tác động ấy mới là yếu tố quyết định sự tác động đó ảnh hưởng đến tư tưởng, nhận thức, hành vi của chính cá nhân đó như thế nào.

Đấy chính là quá trình chỉ diễn ra ở tự chính bản thân mỗi cá nhân. Từ những yếu tố khách quan do sai lầm trong thực hiện các chính sách xây dựng chế độ xã hội từ các nước có chung nền tảng tư tưởng. Những khó khăn trong đời sống; những tiêu cực của một bộ phận cán bộ về phẩm chất, đạo đức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, chức trách được giao. Từ nhận thức không đầy đủ, sai lệch; không phân biệt được đúng, sai, để các đối tượng thù địch, chống đối lôi kéo, chệch hướng về tư tưởng, ý chí, bản lĩnh, phẩm chất. Bắt đầu từ nhận thức sai, từng bước dẫn đến phai nhạt lý tưởng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu của giai cấp, dân tộc; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào hệ tư tưởng nền tảng của Đảng. Từ đó, xa rời tôn chỉ, mục đích; không kiên định con đường giai cấp và dân tộc đã lựa chọn; “nói theo” phụ họa cho những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Từ nhận thức sai trái đó, không chấp hành nghiêm các nguyên tắc của tổ chức; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; “dĩ hòa vi quý”, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân; không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. Đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích giai cấp, dân tộc, tất cả bắt đầu từ nhận thức rồi từ đó, cá nhân tự đánh mất bản lĩnh, ý chí, mục tiêu, những phẩm chất nội tại trong mỗi cá nhân. Nếu bản lĩnh vững vàng, giữ vững ý chí, lập trường, kiên định mục tiêu thì dẫu tác động khách quan bên ngoài có như thế nào vẫn không thể dẫn đến sự diễn biến, chuyển hóa của bản thân. Sự nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cá nhân đó giấu sau vỏ bọc người của tổ chức, của chính quyền hay “trong vai người hiểu biết” rồi như “vết dầu loang”, tác động đến các cá nhân khác xung quanh.

Tất cả những thay đổi về xa rời tư tưởng, bản lĩnh, ý chí, mục tiêu đều tự bản thân của mỗi cá nhân. Trước những diễn biến phức tạp, tư tưởng phải vững vàng; trước những tác động xấu, bản lĩnh càng phải cao; trước thách thức, ý chí càng phải lớn và trước khó khăn, mục tiêu càng phải kiên định. Đây không chỉ là yêu cầu tính chiến đấu, chất cách mạng, mà đó còn là sự tự “miễn dịch” với những gì tác động xấu, khách quan từ bên ngoài. Đó là quá trình tự rèn luyện, tự ý thức, tự xây dựng bản lĩnh, nhân cách với quyết tâm cao, là sự khẳng định sự đúng đắn từ nhận thức đến hành động của người cách mạng chân chính.

TMT.05.6

Cảnh giác với những “mỹ từ” giả dối

 

Thời gian qua, khi Đảng, Nhà nước xử lý các trường hợp sai phạm của một số cán bộ, trên các trang mạng xã hội, chúng ta thấy xuất hiện nhiều “lời nói đẹp”, đồng tình với những việc làm trên. Rồi có nhiều trường hợp, khi một số người dân vi phạm pháp luật, chống người thi hành công vụ, họ lại đưa ra những từ ngữ “có cánh”, thể hiện cái nhìn nhân văn, chia sẻ và bênh vực cho những sai phạm đó. Họ dùng rất nhiều “mỹ từ” và có đến hàng trăm lý do bao biện cho những cá nhân mắc sai phạm.

Trước vấn đề trên, buộc lòng người xem, người nghe, người đọc phải đặt ra câu hỏi. Tại sao với cán bộ có sai phạm, bị pháp luật xử lý nghiêm thì họ lớn tiếng ủng hộ và đồng tình, thậm chí còn kêu gọi mọi người lên án những cán bộ có sai phạm? Còn đối với những người bình thường, không phải là cán bộ, khi có hành vi vi phạm pháp luật, thì lại tỏ thái độ cảm thông, bênh vực một cách rất “nhân văn”. Có phải chăng, ẩn đằng sau những điều đó là cả một “âm mưu” và cái tâm không trong sáng?

Trước hết, phải nói cho rõ. Nhà nước của chúng ta là Nhà nước pháp quyền, quản lý, điều hành đất nước bằng pháp luật. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không chỉ cán bộ mà kể cả người dân cũng đều phải chấp hành và thực hiện theo đúng hiến pháp và pháp luật đã quy định. Với cán bộ, thậm chí có những điều không quy định trong pháp luật, nhưng vẫn phải chấp hành nghiêm. Đó là những quy định của tổ chức “về những việc không được làm”. Không những thế, còn phải nêu cao ý thức trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu, tính chiến đấu của người công chức, hưởng lương trong bộ máy Nhà nước. Với người dân lại khác, ngoài chấp hành những quy định trong luật ra thì đều được tự do thực hiện những điều pháp luật không quy định mà không chịu bất cứ yếu tố tác động nào khác.

“Pháp luật bất vị thân”, dân cũng như cán bộ, ai sai đều phải xử lý. Sai đến đâu, xử lý đến đó. Tự do và dân chủ không gì khác là sự bình đẳng trước pháp luật và ai làm đúng pháp luật thì được pháp luật bảo vệ. Dẫu có thể được che đậy bằng những ngôn ngữ, “mỹ từ” đẹp đẽ đến đâu thì cũng không thể giấu được “cái tâm không trong sáng”. Và nó vẫn là sự giả dối, ẩn giấu đằng sau sự “nhân văn”, vẻ “nhân đạo” mà những đối tượng thù địch, chống đối Nhà nước vẽ ra, nhưng thực chất là đang đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân.

TMT .05.6

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Giá trị trường tồn của dân tộc Việt Nam

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Giá trị trường tồn của dân tộc Việt Nam

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta với khởi nguồn là hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ.

Rời Bến cảng Nhà Rồng, 110 năm về trước, người thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành ra đi với một hoài bão lớn, nung nấu một quyết tâm cháy bỏng là giành “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu.”

Cuộc ra đi này kéo dài 30 năm để rồi khi tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc, Người đã trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, để có được cơ đồ như ngày hôm nay.

Nhìn lại sự kiện lịch sử quan trọng ngày 5/6/1911 - Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đánh giá, hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác đem đến những bài học lớn, trong đó có một bài học vô cùng quan trọng về mục đích và động cơ. Xuất phát từ mục đích vĩ đại, một động cơ cao thượng, Bác đã nung nấu quyết tâm ra đi. Bác tìm đường cứu nước chỉ vì dân, cứu nước để cứu dân, yêu nước để thương dân. Đây cũng là bài học về đạo đức Người để lại cho nhân dân.

“Nhờ có đạo đức như thế Bác mới có sức mạnh tinh thần để vượt qua mọi thử thách, khó khăn, kể cả hiểm nguy, những thử thách sống còn, trải nghiệm được những thành bại trong thời điểm khắc nghiệt của lịch sử. Bài học đạo đức hiện nay rất quan trọng, gợi ý cho chúng ta trong vấn đề đặc biệt chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, văn hóa theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,” Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo khẳng định.

Cũng theo Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo, cuộc ra đi tìm đường cứu nước của Bác không chỉ để lại bài học về đạo đức, đó còn là bài học về học thuyết và lý luận. Bác đã khảo sát các học thuyết chủ nghĩa trong suốt 30 năm bôn ba xứ người để cuối cùng nhận ra, chủ nghĩa chân chính nhất để theo đuổi là chủ nghĩa Marx-Lenin. Người hiểu rõ, nếu không có lý luận tiên phong dẫn đường thì không thể làm tròn sứ mệnh tiên phong của Đảng lãnh đạo cầm quyền.

Bài học thứ ba mà theo Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo là rất quan trọng, đó là Bác ra đi tìm đường cứu nước để sớm tiếp cận tư tưởng đổi mới, tư tưởng hội nhập để phát triển. Đến nay, bài học này đã được thực tiễn chứng minh tính đúng đắn.

“Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững thì không có cách nào khác là phải tiếp cận đến xu thế toàn cầu hóa. Điều này đã trở thành phổ biến. Việt Nam đã và đang ngày càng chủ động hội nhập sâu vào đời sống thế giới, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn nhiều lĩnh vực khác. Chính con đường hội nhập ấy giúp chúng ta có điều kiện tiếp cận tinh hoa nhân loại, biến sức mạnh ngoại sinh thành sức mạnh nội sinh để phát triển bền vững. Tư tưởng đổi mới hội nhập của Bác bắt đầu từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước đến nay vẫn còn nguyên giá trị,” Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo nhận xét.

Liên hệ về mặt lý luận giữa hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác với bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhân 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh với chủ đề: “Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,” Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cho rằng Hồ Chí Minh trở thành một nhà tư tưởng cách tân, sáng tạo và đổi mới từ rất sớm. Người tiếp thu chủ nghĩa Marx-Lenin một cách sáng tạo, không giáo điều, không biệt phái. Muốn đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững được con đường phát triển của Việt Nam, không có cách nào khác là phải học tập bản lĩnh sáng tạo của Hồ Chí Minh. Điều này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài viết của mình.

Đánh giá về giá trị, ý nghĩa của cuộc hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác trong bối cảnh hiện nay, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Đình Phong, chuyên gia cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định thành quả của đất nước ta ngày nay bắt đầu từ hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác.

Sau 10 năm kể từ khi bắt đầu hành trình ra đi của mình, năm 1921, đến với Chủ nghĩa Marx-Lenin, Bác đã giải quyết được sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối của dân tộc ta khi đó; đặc biệt là khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định được vai trò lãnh đạo của Đảng. Từ đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã có một Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tập hợp để tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối.

Nhấn mạnh khát vọng giải phóng, khát vọng phát triển trong tư tưởng, hành động của Bác, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Đình Phong cho rằng những khát vọng này xuyên suốt từ lúc Bác ra đi đến khi Bác trở về dẫn dắt nhân dân Việt Nam đến với con đường giải phóng dân tộc. Theo đó, trong toàn bộ hành trình ra đi tìm đường cứu nước, khát vọng giải phóng luôn cháy bỏng trong tim Người.

Khi trở về, Người lồng ghép khát vọng đó với khát vọng phát triển đất nước. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang ở thời kỳ đỉnh cao nhất, ngày 17/7/1966, Bác đã viết Lời kêu gọi: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song người Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!."

Tư tưởng đó, khát vọng đó đã được thể hiện trong suốt 4 năm Người viết di chúc, từ năm 1965 đến 1969. Bác từng viết: “Còn non, còn nước còn người
Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay
."

Bác cũng khẳng định những khát vọng đó trong mong muốn cuối cùng của mình: “Ðiều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Ðảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới."

Lý giải câu chuyện vì sao Bác thành công trên hành trình tìm đường cứu nước, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Đình Phong cho rằng hành trình tìm đường cứu nước của Bác thể hiện tính độc lập, tự chủ, sáng tạo. Ngay từ thời đó, Bác đã phát hiện ra một điều rất căn cốt trong sự thất bại các phong trào cứu nước. Những sỹ phu yêu nước khi đó đều mang tư tưởng ỷ lại vào một lực lượng từ bên ngoài. Với bản lĩnh, tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, một tầm nhìn, sự mẫn cảm chính trị, Bác thấy rằng không thể dựa vào ai được mà phải tự dựa vào mình.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Đình Phong cũng nhắc đến một chi tiết đặc biệt, tháng 9 năm 1905, cậu bé Nguyễn Tất Thành, khi lần đầu tiên đặt chân đến trường tiểu học Pháp-bản xứ, được biết đến khẩu hiệu: Tự do-Bình đẳng-Bác ái, đã mang trong mình một mối hoài nghi. Sự hoài nghi này là có căn cứ bởi, nhìn đâu trong xã hội lúc bấy giờ cũng chỉ có sự áp bức, bóc lột, chế độ phong kiến nô lệ hiện hữu. Mối hoài nghi đó ngày càng lớn dần, để rồi, ở tuổi 21, người thanh niên mang tên Nguyễn Tất Thành quyết định ly hương, tìm kiếm câu trả lời.

Trả lời câu hỏi vì sao Bác chọn nước Pháp, Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cho rằng Bác đi về phương Tây, trực tiếp đến nước Pháp - quốc gia của những tên thực dân đã đến xâm lược Việt Nam - để tìm hiểu, vì Bác hiểu rõ, phải đánh đổ thực dân mới giải phóng được dân tộc mình. Việc chọn đường đi của Bác là một bản lĩnh sáng tạo. Bác khám phá một hướng đi hoàn toàn mới, không lệ thuộc, không nhắc lại những tư tưởng cũ, cũng không lặp lại đường mòn lối cũ.

Bên cạnh đó, không chỉ chọn đúng hướng đi mà Bác còn chọn đúng cách đi bằng lao động, bằng vô sản hóa. Thông qua lao động bằng nhiều nghề khác nhau, từ phụ bếp trên tàu viễn dương, thợ ảnh, phục vụ khách sạn, phóng viên... Bác học tập, đấu tranh để cuối cùng trở thành một lãnh tụ của dân tộc, một vĩ nhân của thế giới.

“Bác Hồ của chúng ta là một người cộng sản đích thực và chân chính nhưng cũng là một người dân tộc, một người yêu nước vô hạn. Giữa dân tộc với cộng sản, ở Bác là một hình mẫu của sự hài hòa. Chính điều ấy cho thấy hiệu ứng rất lớn của Hồ Chí Minh là giá trị trường tồn của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp ngày nay của chúng ta,” Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Đình Phong khẳng định, khi Bác Hồ đến với chủ nghĩa Marx-Lenin, Bác đã có sự so sánh, nghiên cứu giữa các học thuyết, chủ nghĩa, tư tưởng khác nhau. Bác đi đến tận ngọn nguồn của nền văn minh lúc đó và cuối cùng nhận thấy rằng, chỉ có Chủ nghĩa Marx-Lenin là chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất. Bởi vì chủ nghĩa đó đã và sẽ giúp thực hiện sự giải phóng các dân tộc thuộc địa.

Thực tế lịch sử đã cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt lựa chọn đúng con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam. Trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin, kiên định với mục tiêu giành độc lập, tự do cho nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau 30 năm bôn ba hải ngoại, ngày 28/1/1941, đã trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng đi hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trải qua biết bao gian khó, hy sinh, dân tộc Việt Nam, dưới ánh sáng dẫn đường của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chỉ đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã thoát khỏi ách áp bức nô lệ, đánh đuổi kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập tự do, xây dựng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong ước.

Tại nhiều hội nghị, diễn đàn quan trọng, hay trong các cuộc gặp gỡ đông đảo cử tri, nhân dân, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: "Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay." Nhận định đó đã chính thức được đưa vào văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tự hào về thành quả đã đạt được, nhưng giữ vững và phát huy những thành quả đó, đưa đất nước tiếp tục bứt phá, vươn lên, đó là mong muốn, là khát vọng của từng người dân đất Việt.

Lớn lên ở Thành phố mang tên Bác, tự hào có ngày sinh trùng với ngày sinh của Bác (19/5), Nguyễn Minh Hiếu, sinh viên năm cuối ngành Chính trị học, Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Lý luận trẻ của Học viện, đã cùng Ban Chủ nhiệm tổ chức cho các thành viên Câu lạc bộ tham gia cuộc thi trực tuyến tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác; các buổi sinh hoạt, học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đăng ký thực hiện các nội dung học tập Bác trong cuộc sống hàng ngày... Sinh viên Nguyễn Minh Hiếu cho rằng trách nhiệm của thế hệ trẻ Việt Nam là nỗ lực học tập, cống hiến cho công cuộc xây dựng, phát triển Tổ quốc, sao cho xứng với tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ở góc độ là giảng viên trẻ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khu vực II, đồng thời cũng là Phó Bí thư Đoàn Thanh niên của Học viện, Thạc sỹ Nguyễn Hữu Hoàng chia sẻ: Ngay từ nhỏ, bản thân anh đã thích nghiên cứu, tìm hiểu các câu chuyện liên quan đến Bác Hồ. Sau này, khi tham gia làm công tác giảng dạy, anh có cơ hội nghiên cứu sâu hơn về nội dung này. Anh luôn mong muốn lan tỏa những điều mình đã tìm hiểu, nghiên cứu được đến đoàn viên thanh niên hay các học viên của mình.

Anh Hoàng cho biết: “Để lan tỏa những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua Đoàn Thanh niên Học viện đã tham mưu cho Ban Giám đốc Học Viện thực hiện nhiều cuộc thi cũng như các chương trình giao lưu để lại tiếng vang trong Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương.

Tiêu biểu như Cuộc thi Hành trình theo chân Bác thu hút hơn 600 cán bộ, công chức, viên chức tham gia; hay Hội thi 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh… thông qua hình thức sân khấu hóa. Để các thí sinh có kiến thức, có chất liệu khi triển khai bài thi của mình, Đoàn trường đã tổ chức những hành trình về nguồn tại nhà số 5 ở Châu Văn Liêm (quận 5), Bến Nhà Rồng…

Sống và làm việc, gắn bó với Thành phố Hồ Chí Minh, anh Hoàng cảm nhận được sự thay đổi từng ngày của một thành phố năng động, luôn đi đầu cả nước trong nhiều phong trào. Tự hào khi bản thân cũng có những đóng góp nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của Thành phố, anh Hoàng luôn tâm niệm, học Bác chính là tự rèn luyện bản thân mỗi ngày; tự trau dồi, hoàn thiện mình, đó là làm tốt vai trò, trách nhiệm của một người thầy, một cán bộ Đoàn, một nghiên cứu sinh…

Từ Nguyễn Tất Thành đến Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh, hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Người là hành trình để dân tộc Việt Nam bước ra ánh sáng, trở thành một quốc gia độc lập, vững mạnh, từng bước sánh vai với các cường quốc năm châu, một hành trình vì dân vì nước.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta với khởi nguồn là hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng to lớn; thể hiện một giá trị trường tồn của một nhân cách vĩ đại - Hồ Chí Minh./.