Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

10 CHIẾN DỊCH THẦN KỲ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

 

1. Trận chiến trên sông Bạch Đằng (938)

Trước khi tử trận trên sông Bạch Đằng năm 938, Lưu Hoằng Tháo không thể tưởng tượng việc quân dân người Việt do Ngô Quyền lãnh đạo sẽ tận dụng quy luật thủy triều để biến những bãi cọc ngầm cắm dưới lòng sông thành thứ vũ khí hủy diệt có sức mạnh kinh hồn. Thảm bại trong trận Bạch Đằng, quân Nam Hán đã phải bỏ mộng xâm chiếm nước Việt.

 2. Chiến thắng quân xâm lược nhà Tống (1075)

Năm 1075, trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, vua quan nhà Lý đã đưa ra chủ trương "Tiên phát chế nhân", đem quân sang đất địch đánh trước để chặn thế mạnh của chúng. Lý Thường Kiệt đã chỉ huy 40.000 quân đánh các châu Khâm, Liêm trên đất Tống, hạ hàng loạt thành lũy, hủy hoại nặng nề sinh lực của quân Tống, khiến kế hoạch xâm lược của chúng bị trì hoãn, tạo điều kiện cho quân ta củng cố lực lượng và giành thắng lợi trong cuộc quyết chiến sau này.

3. Đại thắng quân Nguyên Mông (1288)

Trên sông Bạch Đằng năm 1288, chiến thuật chôn cọc gỗ kinh điển mà Ngô Quyền sử dụng 350 năm trước lại được Trần Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn tái hiện. Trong trận thủy chiến được đánh giá là lớn nhất lịch sử dân tộc này, quân Đại Việt đã đánh bại hoàn toàn quân xâm lược Nguyên Mông - đội quân thiện chiến nhất thế giới thời đó.

 4. Trận chiến tiêu diệt chiến hạm của Công ty Đông Ấn Hà Lan (1643)

Mùa hè 1643, Công ty Đông Ấn Hà Lan - thế lực hải quân hùng mạnh bậc nhất thế giới lúc đó - phái 3 pháo hạm mạnh hội quân với họ Trịnh tại sông Gianh (Quảng Bình). Trong hải trình, hạm đội này đã bị gió thổi dạt vào gần cảng Eo ở Đàng Trong (Thừa Thiên - Huế). Dù có ý kiến can ngăn vì sợ người Hà Lan, chúa Nguyễn vẫn đưa 50 thuyền chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt chiến hạm lớn nhất của kẻ thù, khiến hai chiến hạm còn lại bỏ chạy. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử người Việt chiến thắng một hạm đội châu Âu, đồng thời cũng là một sự tổn thương nặng nề đối với thanh thế của Công ty Đông Ấn Hà Lan.

 5. Cuộc Bắc tiến đại phá quân Thanh (1788)

Cuộc Bắc tiến đại phá quân Thanh do Hoàng đế Quang Trung tiến hành cuối năm 1788, đầu năm 1789 được coi là một cuộc hành quân thần tốc khó tin trong lịch sử dân tộc. Từ Phú Xuân (Huế), Hoàng đế Quang Trung chỉ mất 40 ngày (trong đó có 10 ngày dừng lại tại Nghệ An tuyển quân) đưa đại quân tiến về Thăng Long đánh đuổi quân Thanh. Do không thể tin quân Tây Sơn có thể tiến nhanh như vậy, quân xâm lược đã hoàn toàn mất cảnh giác và phải chịu sự thảm bại nặng nề.

 6. Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại (1801)

Trong trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại diễn ra giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801, quân Nguyễn đã sử dụng lối đánh tập kích thọc sâu bất ngờ và đòn hỏa công tương tự trận Xích Bích diễn ra ở Trung Hoa 16 thế kỷ trước để hủy diệt hạm đội khổng lồ, tưởng như không thể nào bị đánh bại của quân Tây Sơn. Với thất bại này, thủy quân Tây Sơn hầu như đã sụp đổ hoàn toàn, nhường cho nhà Nguyễn nắm giữ quyền kiểm soát vùng biển.

 7. Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)

Người Pháp từng tin rằng căn cứ Điện Biên Phủ là một pháo đài không thể công phá. Tuy vậy, bằng tài năng quân sự tuyệt vời của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biến niềm tin của họ trở thành sự tuyệt vọng với chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

 8. Cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968)

Trước khi cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, ngay cả những người Mỹ có trí tượng tượng phong phú nhất cũng không thể hình dung nổi cảnh các chiến sĩ Giải phóng đánh trực diện vào các địa điểm trọng yếu tại Sài Gòn như Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, đài phát thanh, bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Chiến dịch quân sự này đã gây tiếng vang lớn, tạo bước đột phá buộc Mỹ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.

 9. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (1972)

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972, lực lượng phòng không - không quân của miền Bắc Việt Nam đã làm được điều mà người Mỹ không thể tin nổi: Bắn hạ 34 “siêu pháo đài bay” B-52, đập tan hoàn toàn mưu đồ kéo dài chiến tranh của Mỹ và buộc họ phải quay trở lại bàn đàm phán tại Paris.

 10. Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975)

Cuối tháng 9/1974, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp tại Hà Nội đã đưa ra bản dự thảo kế hoạch chiến lược Chiến dịch mùa xuân 1975, dự định hoàn thành việc thống nhất 2 miền Bắc - Nam trong 2 năm 1975-1976. Tuy vậy, với tinh thần “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Mùa Xuân 1975 đã được tiến hành khẩn trương và quyết đoán, đem lại chiến thắng cuối cùng cho dân tộc vào ngày 30/4/1975./.

Nguồn; sưu tầm.

TỰ CHỈNH ĐỐN, TỰ NGĂN CHẶN

Vậy làm thế nào để thực hiện được lời Bác, giữ được chữ Liêm trong điều kiện hiện nay, Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo thấy rằng trước tiên cần phải thường rèn luyện cho đủ cả bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính. Người có cần, có kiệm thì người đó đã có tiền đề để liêm. Có liêm thì sẽ chính trực, công minh, không lợi dụng, không cá nhân riêng tư mà tất cả vì dân. Đồng thời phải có thể chế, luật pháp thật nghiêm để buộc mọi người phải liêm, nếu không liêm, phải chịu những hình phạt nghiêm khắc của luật pháp để giữ được lòng tin của nhân dân. Một nội dung quan trọng khác, theo Giáo sư. Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo, Đảng phải chú trọng giáo dục, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ có trọng trách. Trên cơ sở đưa đạo đức vào nội dung xây dựng Đảng, cần đẩy mạnh giáo dục danh dự, giáo dục liêm sỉ, giáo dục nỗi biết nhục khi rơi vào chuyện xấu xa, khuất tất. Bác Hồ nói tham nhũng, tham lam là điều đáng xấu hổ nhất, phải rèn luyện cho cán bộ, đảng viên tự thức tỉnh mình, tự răn đe và chỉnh đốn mình, tự ngăn chặn mình khi có nguy cơ làm những điều sai trái. Cuối cùng, theo Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo, phải đặt trong sự kiểm soát của dân. Đây là điều rất quan trọng, môi trường xã hội công khai, minh bạch, dân chủ, người dân có tiếng nói giúp Đảng uốn nắn cán bộ khi cán bộ có sai lầm, như vậy mới gắn Đảng với dân là một, cán bộ sẽ sống trong môi trường cần, kiệm, liên, chính. Theo Tiến sỹ Vũ Thị Kiều Phương, để chữ "Liêm" được thực hiện sâu rộng trong xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói "cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên", nhất là "cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân". Nếu cán bộ "thi đua thực hành liêm khiết" thì "sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân". Và ngược lại, người dân cũng cần nâng cao trình độ, hiểu biết, phải biết quyền hạn của mình để có thể kiểm soát được cán bộ, để "giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm", bởi "quan tham vì dân dại". Người cũng nhấn mạnh rằng, pháp luật phải "thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì". Để rèn luyện phẩm chất này, theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lý Việt Quang, Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, điều đầu tiên là tự tu dưỡng của mỗi cá nhân, tự nhận thức được đâu là cái đúng, đâu là cái sai; tiếp tục tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của con người. Theo ông Quang, có những việc vẫn cần phải nhắc đi, nhắc lại nhiều lần để tạo thành một nếp nghĩ, thói quen của mỗi cán bộ, đảng viên. Cùng với giáo dục thuyết phục, cần có biện pháp kỷ luật nghiêm minh tùy theo mức độ vi phạm để xử lý thích đáng. Đánh giá, rèn luyện, giữ liêm là cả quá trình lâu dài, vì đây là phạm trù đạo đức, đối với mỗi con người nói chung và cán bộ, đảng viên nói riêng, việc rèn luyện là cả cuộc đời. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thế Hanh (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) đây cũng là phẩm chất của nêu gương. Giữ được liêm tức là cán bộ, đảng viên đã nêu gương trước quần chúng nhân dân. Nhiều cán bộ cao cấp nhưng không tu dưỡng, rèn luyện, không giữ được liêm đã sa ngã và bị xử lý nghiêm khắc, cho thấy hơn lúc nào hết, chúng ta phải làm việc này thật quyết liệt. Không chỉ xem xét năng lực chuyên môn, trong tuyển lựa, rèn luyện cán bộ phải kiểm tra, đánh giá việc thực hiện tư cách của người cán bộ trên vị trí công tác được phân công. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Thế Hanh nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, để không còn những lỗ hổng, kẽ hở mà luồn lọt, len lách, để muốn "bất liêm" cũng không thể được, đồng thời phải tận dụng hệ thống kiểm tra, giám sát. Việc này cần được triển đồng bộ, từ nhiều lực lượng khác nhau, trong đó có vai trò quan trọng của nhân dân. Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chữ "Liêm" của con người trong xã hội, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, là vô cùng sâu sắc và ý nghĩa. Cả cuộc đời của Người là một tấm gương sáng về thực hành chữ "Liêm". Điều này khẳng định sự nhất quán từ tư tưởng tới thực tiễn cách mạng của Người về chữ "Liêm", tạo nên một nhân cách lớn - nhân cách Hồ Chí Minh.

THÊM MỘT TIẾNG NÓI VỀ BỘ MẶT THẬT CỦA VIỆT TÂN

 Ông Nguyễn Thanh Tú là con trai của ký giả Ðạm Phong - một trong năm

ký giả người Mỹ gốc Việt đã bị giết hại tại Mỹ trong những năm 80 của thế kỷ

trước khi chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân đã khẳng định: Hồi nhỏ, tôi theo

bố làm báo. Bố tôi bảo làm báo để "làm người", song tôi theo ông để học hỏi, và

vì thương bố. Lúc đó tiếng Việt của tôi không tốt, ngồi bên bố và bạn bè, họ nói

các vấn đề to tát quá, tôi càng không hiểu. Trước khi bố tôi bị giết hại, tôi đã

chứng kiến nhiều việc lắm, có việc đến hôm nay tôi vẫn không đủ can đảm để

nói ra. Trước khi chết, bố tôi có hướng dẫn tôi rất kỹ càng. Một trong những

việc đó là ông nói về "băng đảng Việt Tân", ông bảo rồi đây họ sẽ "Việt Tân hóa

truyền thông hải ngoại", họ sẽ biến truyền thông hải ngoại thành bộ máy tuyên

truyền cho họ. Ðiều bố tôi lo nhất là đồng bào trong nước không có điều kiện

tìm hiểu nên không biết mặt thật của "Việt Tân".

Anh Nguyễn Thanh Tú cho biết: Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đã

phải đóng góp biết bao nhiêu tiền, nhưng băng đảng "Việt Tân" lấy cả chục triệu

USD của chung để biến thành của riêng. Tôi muốn tuổi trẻ ở Việt Nam - trong

đó có những người rất dễ trở thành “con mồi” của băng đảng Việt Tân, thấy rằng

đó là một tổ chức băng đảng chứ không phải đảng phái chính trị gì cả.

Mặc dù Việt Tân và các thế lực thù địch luôn tìm cách chối bỏ bản chất khủng

bố, chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam nhưng theo các quy định

của pháp luật Việt Nam và quốc tế, đủ cơ sở khẳng định Việt Tân chính là tổ

chức khủng bố.

Bộ Công An khẳng định: Việt Tân là tổ chức khủng bố, do đó, người nào

có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ,

nhận tài trợ của Việt Tân; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do Việt Tân tổ

chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của Việt Tân… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài

trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

ĐẢNG LO CHO DÂN - NHÌN TỪ CHUYỆN VACCINE

 Ngày 8-3 vừa qua, tham dự buổi tiêm vaccine Covid-19 đầu tiên của Việt

Nam tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương (Hà Nội), Tiến sĩ Kidong Park,

Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam đã đánh giá: Những mũi tiêm phòng đầu

tiên này đánh dấu chiến lược chống dịch đúng đắn của Việt Nam. Việt Nam

cũng đã ghi tên mình vào chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử nhân loại. Hiện

nay, nguồn cung cấp vaccine Covid-19 trên toàn cầu hiện vẫn chưa đủ để đáp

ứng nhu cầu được chủng ngừa của tất cả mọi người, chiến lược tiêm chủng mà

Việt Nam đã xây dựng là rất đúng đắn, phù hợp với đánh giá, tư vấn của WHO.

Chiến lược đúng đắn của Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn của

một đảng biết lo cho dân mà sinh thời Bác Hồ từng căn dặn: “...Chính sách của

Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu

dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu

dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi”.

Khó khăn, thách thức do đại dịch Covid-19 đặt ra là chưa từng có trong

lịch sử nhân loại cũng như lịch sử Đảng ta. Đại hội XIII của Đảng cũng là lần

đầu tiên, danh từ "Covid-19" xuất hiện trong văn kiện đại hội. Cũng chưa bao

giờ tại một đại hội của Đảng diễn ra nhiều cuộc họp bên lề ngay tại nơi tổ chức

đại hội để bàn giải pháp cấp bách khi làn sóng Covid-19 thứ 3 xuất hiện tại Việt

Nam. Trong những quyết sách lớn được quyết định tại đại hội, có một quyết

định kịp thời, đúng đắn, công bố ngay ở phiên bế mạc sáng 1-2. Quyết sách ấy

đã trở thành một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm (nhiệm vụ thứ 2), được ghi trong

nghị quyết Đại hội XIII: "Tập trung kiểm soát đại dịch Covid-19, tiêm chủng đại

trà vaccine Covid-19 cho cộng đồng...".

Có thể nói đây là một quyết định đúng đắn, mang tính lịch sử và đầy trách

nhiệm, thể hiện bản lĩnh, tầm nhìn của một đảng biết lo cho dân khi mà trong

điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, nhận thức về vaccine Covid-19 còn

khác nhau. Với quyết định đó, Đảng, Nhà nước đã đưa Việt Nam vào danh sách


không nhiều quốc gia trên thế giới sớm chủ trương tiêm vaccine Covid-19 đại

trà cho toàn dân.

BỐN ĐỨC CƠ BẢN CỦA NGƯỜI CÁN BỘ

Bàn về chữ Liêm, theo Tiến sỹ Vũ Thị Kiều Phương (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Liêm là "không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa, thì không tham gì hết"; là "không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ"; là "chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống"; là "không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân". Thậm chí "Liêm" còn được Người bàn trong một trước tác chuyên biệt về các đức tính cần, kiệm, liêm, chính "Cần Kiệm Liêm Chính" viết năm 1949. Trong đó, cần, kiệm, liêm, chính có mối quan hệ rất mật thiết với nhau, là tiền đề của nhau. Người có chỉ rõ sự khác biệt giữa "Liêm" của "ngày xưa" với "Liêm" của ngày nay. Nếu như ngày xưa "Liêm" chỉ để nói đến "những người làm quan không đục khoét dân", "trong sạch, không tham lam", thì ngày nay "Liêm" có nghĩa rộng hơn và "mọi người đều phải Liêm". Và "Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm", bởi "có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh ra tham lam. Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất Liêm". Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không phải cứ thực hiện các nội dung "Liêm" như thế là đã có "Liêm". Thực hiện "Liêm" như vậy mới chỉ là "Liêm một nửa". Để "Liêm" thật sự hoàn chỉnh thì không phải chỉ mình thực hiện "Liêm", mà còn phải giúp người khác cũng thực hiện được "Liêm". Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo - người đã dành hơn 30 năm cuộc đời mình để nghiên cứu, sưu tầm, chia sẻ những câu chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh, thấy rằng Bác không chỉ là một nhà tư tưởng mà còn là một nhà đạo đức học. Lý thuyết đạo đức của Bác là đạo đức cách mạng, quy tụ vào có bốn giá trị, đó là: Cần, kiệm, liêm, chính. Như Bác gọi đó là bốn đức để làm Người. Có đủ cần, kiệm, liêm, chính mới chí công vô tư được, mới vô ngã, vị tha được, mới có thể đứng ngoài vòng danh lợi để suốt đời vì nước, vì dân được. Bác nói cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức cơ bản để làm Người, phải đủ cả bốn đức mới là con người hoàn toàn, thiếu một đức thì không thành người. Nhưng ở đời thì nhân vô thập toàn, không ai là hoàn toàn cả, cho nên muốn có đủ bốn đức thì suốt đời phải rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân mà Bác gọi là chống giặc nội xâm ngay ở trong lòng. Bác còn hình dung đây là cuộc chiến đấu suốt đời mà sẽ có không ít sự đau đớn ở trong lòng. Suy nghĩ về chữ Liêm trong quan hệ đạo đức của Bác, Giáo sư. Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo phân tích liêm là kết quả của cần và kiệm, có cần, có kiệm thì mới liêm được, mà có liêm thì mới chính được. Vậy liêm ở đây là liêm khiết, trong sạch không có gì tư túi, khuất tất, bất minh. Liêm gắn liền với chính. Chính vì thế khi trừng trị tham nhũng, Bác chỉ thị là trừng trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai, bất kể chúng ở cương vị nào. Bây giờ Đảng đang thực hiện lời Bác là không có ngoại lệ là vì thế. Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo đánh giá chữ Liêm rất quan trọng, nhất là đối với người có chức, có quyền. Có liêm tức là liêm khiết, không tham nhũng, có liêm mới trong sạch, quang minh chính đại. Chữ Liêm gần như là thước đo về đạo đức, nhưng đồng thời cũng là thước đo về bản lĩnh của con người, nhất là khi có chức, có quyền. Điều đó càng đúng trong điều kiện hiện nay khi mà hằng ngày, hằng giờ con người bị cám dỗ bởi đồng tiền vật chất của kinh tế thị trường. Trước đây rèn luyện và bảo vệ, phát huy chữ Liêm đã khó, trong điều kiện ngày nay càng khó hơn bởi vì cuộc sống đã thay đổi, hằng ngày hằng giờ, người ta nghĩ tới lợi ích, nhất là lợi ích vật chất, thì chữ Liêm đúng là thách thức đối với cán bộ, đảng viên nói chung, nhất người có chức vụ. Chức vụ càng cao, càng đứng trước những thách thức rất nghiệt ngã của chữ Liêm - Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo đánh giá.

Bác bỏ thông tin sai lệch về tình hình nhân quyền của Việt Nam

Ngày 11-3-2021, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời

câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước báo cáo của tổ chức

Freedom House cho rằng Việt Nam tiếp tục thuộc nhóm quốc gia “không có

quyền tự do”, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết: Chính

sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là thúc đẩy quyền con người, trong đó

có các quyền tự do cơ bản được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 cũng như

nhiều văn bản pháp luật liên quan. Trong những năm qua, Việt Nam không

ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật để triển khai nhiều biện pháp cụ

thể, đảm bảo tốt hơn quyền con người, quyền công dân, tích cực tham gia hợp

tác quốc tế về quyền con người.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nêu một ví dụ điển hình là trong khuôn

khổ Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ lần thứ III của Hội đồng

Nhân quyền Liên hợp quốc vào năm 2019, các nước quan tâm đã tham gia đông

đảo tại phiên họp. Đại đa số ý kiến các nước đã đánh giá cao nỗ lực và thành

tựu, ủng hộ cách tiếp cận của Việt Nam, cũng như là đưa ra các kiến nghị có tính

chất xây dựng./.

 

Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá cao Quỹ vắc xin phòng Covid-19

Với sáng kiến Quỹ vắc xin phòng Covid-19, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến chống "giặc Covid-19".

Quỹ vắc xin phòng Covid-19 chính thức ra mắt vào tối 5/6, nhằm huy động tổng hợp nguồn lực đóng góp xã hội để chia sẻ với ngân sách nhà nước, phục vụ cho hoạt động mua, nhập khẩu vắc xin và nghiên cứu, sản xuất vắc xin trong nước.

Vắc xin phòng Covid-19 được sử dụng cho người dân trên nguyên tắc đảm bảo sự tự nguyện đóng góp, hoạt động công khai, minh bạch và đúng quy định của pháp luật. Tính đến 16h ngày 4/6, Quỹ vắc xin phòng Covid-19 đã tiếp nhận được khoảng 264,8 tỷ đồng, hơn 8.700 USD và hơn 2.700 EUR.

Với sáng kiến Quỹ vắc xin phòng Covid-19, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của nhân dân trong cuộc chiến chống "giặc COVID-19".

Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá cao Quỹ vắc xin phòng Covid-19 - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Tối 5/6, Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu kêu gọi nhân dân đồng lòng ủng hộ Quỹ vắc xin phòng Covid-19 (Ảnh: Quốc Chính).

Đánh giá cao sáng kiến của Việt Nam

Theo các tính toán, để đạt được miễn dịch cộng đồng, Việt Nam cần có 150 triệu liều vắc xin phòng Covid-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người dân. Tổng kinh phí ước tính hơn 25.000 tỷ đồng. Cùng với đó, dịch bệnh được dự báo chưa thể kết thúc sớm, "sống chung với dịch bệnh" trở thành yêu cầu thường trực, hiệu lực của vắc xin lại không kéo dài, việc tiêm vắc xin phải tiến hành định kỳ. Tất cả những điều này đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn trong khi đất nước còn nhiều khó khăn, ngân sách hạn hẹp. Mỗi đóng góp của người dân vào Quỹ vắc xin phòng Covid-19 đều hướng tới mục tiêu cuộc sống an toàn hơn của bản thân, gia đình, cộng đồng và cả xã hội.

Trong bối cảnh như vậy, việc thành lập Quỹ vắc xin phòng Covid-19 kêu gọi mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tự nguyện tham gia đóng góp, tài trợ, hỗ trợ cho Quỹ vắc xin phòng Covid-19. Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá cao sáng kiến này của Việt Nam.

Theo Tiến sỹ Kidong Park, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam, việc huy động các nguồn lực để nâng cao khả năng tiếp cận vắc xin phòng Covid-19 của Chính phủ Việt Nam rất kịp thời, phù hợp với sáng kiến vắc xin toàn cầu. Chính phủ Việt Nam rất nỗ lực để huy động nguồn lực từ ngân sách nhưng thực tế vẫn cần nhiều nguồn lực hơn nữa. Việc Chính phủ quản lý và sử dụng công bằng, hiệu quả nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp tư nhân sẽ mang lại giá trị mới cho chiến lược ứng phó với Covid-19.

"Chính sự đoàn kết này sẽ giúp Việt Nam chấm dứt đại dịch. Hy vọng Việt Nam sẽ tiếp tục là một ví dụ cho cách tiếp cận toàn dân trong việc kết thúc đại dịch", Tiến sỹ Kidong Park nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, ông Kamal Malhotra, Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam cho rằng: "Đây là một sáng kiến hay, là điều Liên hợp quốc đã ủng hộ trong nhiều tháng nay".

Dưới góc độ của Liên hợp quốc, ông Kamal Malhotra cho rằng chỉ nên có một quỹ ở tầm quốc gia, đặt dưới dự giám sát tổng thể và sự chỉ đạo của Chính phủ, thay vì có nhiều quỹ cạnh tranh nhau. Dịch Covid-19 được coi là điều chưa có tiền lệ trong 1 thế kỷ qua, là tình huống khẩn cấp quốc gia cho bất cứ thể chế nào. Chỉ có Chính phủ mới đủ tầm và năng lực điều phối quỹ này.

Đẩy nhanh tiếp cận vắc xin cho người dân

Chúc mừng Chính phủ Việt Nam ra mắt Quỹ vắc xin phòng Covid-19, bà Carollyn Turk, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết, việc tiêm vắc xin phòng Covid-19 nhanh và hiệu quả là biện pháp cần thiết và quan trọng để đảm bảo an toàn cho người dân, thúc đẩy phục hồi kinh tế. Bà Carollyn Turk tin tưởng, Chính phủ Việt Nam đang có bước đi đúng đắn trong việc đẩy nhanh tiếp cận vắc xin cho người dân.

Bà Caitlin Wiesen, Trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam cho biết, UNDP đã thực hiện một nghiên cứu về trải nghiệm của người dân về dịch Covid-19. "Kết quả cho thấy sự ủng hộ thực sự rộng khắp của người dân Việt Nam đối với các quyết sách phòng, chống dịch Covid-19 của Chính phủ".

Bên cạnh đó, theo bà Caitlin Wiesen, mức độ lan tỏa và ủng hộ của người dân Việt Nam với các quyết sách của Chính phủ cao ở mức đặc biệt so với các nước khác trên thế giới. Do đó, bà tin tưởng, tất cả mọi người dân, đặc biệt các doanh nghiệp, người có tiềm lực tài chính sẽ đồng lòng ủng hộ lời kêu gọi của Chính phủ, tích cực tham gia đóng góp vào Quỹ vắc xin phòng Covid-19.

Chia sẻ về sáng kiến thành lập Quỹ vắc xin phòng Covid-19 của Việt Nam, Đại sứ Giorgio Aliberti, Trưởng Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam cho rằng, việc lập quỹ là một phần quan trọng trong chiến lược tổng thể ứng phó với dịch Covid- 19 của Việt Nam. Đồng thời, Đại sứ tin tưởng, trong chiến lược này, Chính phủ Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc huy động và kết nối các nguồn lực. "Điều này cho thấy, Chính phủ đã nắm bắt được đầy đủ về nhu cầu, cần phải có những bước đi nhanh hơn nữa. Đây là điều rất tích cực", Đại sứ Giorgio Aliberti chia sẻ.

TỰ RĂN, TỰ RÈN

Trước tiên phải thấy rằng đạo đức của cán bộ, đảng viên không phải tự nhiên mà hình thành, như cách nói của Người, đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống, mà do tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ hằng ngày để phát triển, củng cố, như "ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong". Theo lời Người, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, việc rèn luyện đạo đức cách mạng là yêu cầu nội tại, thường xuyên, liên tục. "Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào, thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít...". Liêm và giữ được Liêm, trước hết phải là quá trình tự thân. Muốn bền chặt, vững chãi, hẳn phải từ gốc, đó là nhận thức, tình cảm, là quyết tâm của chính mỗi người khi hiểu về chữ Liêm và tôi rèn để có Liêm. Cuộc sống vốn nhiều cám dỗ, đặc biệt khi mở ra cơ chế thị trường, những tác động trái chiều cũng từ đó ùa theo, len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội. Đất nước hơn 30 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu vô cùng tự hào, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến những biến động đáng lo ngại về đạo đức, lối sống và nhận thức của con người, trong đó có một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ đây đã nảy sinh những tư tưởng, ý thức, tiêu chí đạo đức đi ngược lại với những giá trị truyền thống của dân tộc. Quan hệ chủ yếu, xuyên suốt trong cơ chế thị trường là hàng hóa - tiền tệ, đồng tiền đã đi vào mọi hoạt động xã hội, cả trong đời sống tinh thần, trong quan hệ gia đình. Điều này đã có những tác động không nhỏ tới tâm tư, tình cảm của con người, đưa tới những thay đổi mà hệ lụy của nó là hình thành những tư tưởng, suy nghĩ, hành động không còn theo chuẩn mực truyền thống đã có, những tiêu cực, trái chiều từ đó nảy sinh trong xã hội. Đâu đó xuất hiện thói khoe khoang, sống xa hoa, vương giả, đâu đó là thái độ cửa quyền, sách nhiễu, gây khó khăn cho người dân trong giải quyết công việc, đâu đó là sự thờ ơ, vô cảm trước những thói hư, tật xấu trong xã hội... Những hiện tượng này xuất hiện không ít trong cuộc sống, có tác động, ảnh hưởng không tốt tới những giá trị chuẩn mực trong xã hội. Để Liêm, điều căn bản, sâu xa nhất là nhận thức, hiểu rõ được tầm quan trọng, từ đó mới có hành động đúng. Người cán bộ, đảng viên phải giữ Liêm bằng bản lĩnh và sự tỉnh táo, trọng danh dự, nhân phẩm của mình hơn vinh hoa phù du. Muốn Liêm và giữ Liêm, mỗi cán bộ, đảng viên phải giác ngộ, tự tu dưỡng và rèn luyện. Nó bắt nguồn từ những việc rất nhỏ trong cuộc sống, trong công việc, trong cách ứng xử. Đó là làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình trong thừa hành công vụ, là dám đấu tranh, lên án với những hành vi sai trái, vụ lợi, là loại bỏ ham muốn tiền bạc, giàu sang bất chính, là sống khiêm nhường, không khoe khoang hợm hĩnh, không bợ trên nạt dưới, không vòi vĩnh, tranh thủ để tư lợi cho mình và người thân... Rèn luyện để giữ Liêm là cả quá trình, đòi hỏi mỗi cá nhân phải luôn răn mình, nhẫn nại và nỗ lực, phải nêu cao chữ Liêm để giữ được thanh danh, từ đó bồi đắp thêm niềm tin của người dân với cán bộ công quyền. Việc tự tu dưỡng, rèn luyện không hề dễ dàng mà cần kiên định và quyết tâm, như ví von của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài thơ Nghe tiếng giã gạo (Tập thơ Nhật ký trong tù): Gạo đem vào giã bao đau đớn/Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/Sống ở trên đười người cũng vậy/Gian nan, rèn luyện mới thành công. Điều này đang càng trở nên cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết bởi như Người dặn: “mọi thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu”. Cán bộ chính là mắt xích quan trọng, là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể, Nhân dân, “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”.

CHIẾC ÁO CỦA NGƯỜI CON GÁI ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH

 

          Một hôm, sau bữa cơm chiều mùa hạ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng gia đình đang ngồi hóng mát trước sân nhà, đồng chí Ca, trung tá, thư ký của Đại tướng đến chơi, thấy chị Hà (con gái lớn của Đại tướng) mặc chiếc áo công nhân màu xanh có miếng vá ở vai, đồng chí Ca buột miệng nói:

          - Con gái Đại tướng mà mặc áo vá à?

          Biết nói đùa, Đại tướng cười, thân mật nói lại

          - Dân mặc áo vá, vì sao con gái Đại tướng không mặc áo vá được? Đồng chí đùa thế là các cháu sinh hư.

          Câu nói thật giản dị, nhưng quá sâu sắc. Thể hiện rõ không có sự phân cách về đời sống giữa gia đình cán bộ và gia đình dân. Đó cũng là bài học cho những ai nuông chiều con cái quá mức (muốn gì được nấy) đòi hưởng thụ cao hơn, thoát ra ngoài cuộc sống bình thường của người dân, hậu quả sẽ tác hại khôn lường....!

                                                                                                HB: 05 


NÊU GƯƠNG PHẢI TRỞ THÀNH TRIẾT LÝ SỐNG CỦA XÃ HỘI

Sinh thời, Chủ tịch luôn coi trọng công tác cán bộ bởi Người luôn coi "cán bộ là cái gốc của mọi công việc". Vì thế Người luôn quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ "vừa hồng, vừa chuyên". Một trong những cách thức, biện pháp mà Người luôn nhắc tới khi xây dựng đội ngũ cán bộ đó là "nêu gương". Đề cao tính hiệu quả của nêu gương trong lãnh đạo, nhất là trong công tác tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người cho rằng: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chí Hiếu (Tạp chí Cộng sản) sức thuyết phục mạnh mẽ trong tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ nói luôn đi đôi với làm, dù việc lớn hay việc nhỏ, tự mình phải làm gương trước. Tấm gương nói đi đôi với làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ quan niệm của Người, từ lòng dạ trong sáng, chính tâm, thật sự vì dân, vì nước. Người khuyên mọi người sống trong sạch, không ham tiền tài, danh vọng, không cậy quyền thế mà đục khoét của dân. Cuộc sống giản dị, trong sạch của Bác thật sự là tấm gương sáng để cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền phải tự soi lại mình. Nhấn mạnh tới yêu cầu đặt ra hiện nay là thực hiện noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng những hành động cụ thể, thực chất và thiết thực, tránh rơi vào "bệnh" hình thức, thành tích hoặc thực hiện theo kiểu cho có phong trào một cách đại khái, qua loa, chiếu lệ, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Chí Hiếu cho rằng, cần phải nhận thức rõ việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải việc làm cao siêu, to tát, mà rất gần gũi, thiết thực, gắn với nhiệm vụ chính trị và sinh hoạt hằng ngày. Phương châm thực hiện cần quán triệt ở đây là "trên trước, dưới sau", "trong trước, ngoài sau", học đi đôi với làm theo, chú trọng việc làm theo bằng những hành động và việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng vấn đề nêu gương. Theo Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo, Bác không chỉ tâm nguyện mà Bác còn hành động. Cả cuộc đời Bác không màng danh lợi, ở ngoài vòng danh lợi để có thể toàn tâm, toàn ý vì dân. Bác nhấn đi nhấn lại rằng, chúng ta phải là đầy tớ, công bộc trung thành, tận tụy của dân, Bác còn dạy là nói ít, làm nhiều, chủ yếu là hành động, lời nói đi đôi với việc làm, đã nói thì phải làm. Muốn nêu gương trước hết chủ thể nêu gương ấy phải gương mẫu, trung thực, trách nhiệm, phải có đức hy sinh, tức là có động cơ sống trong sáng, vì dân, vì nước, không có gì riêng tư. Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh, nêu gương không chỉ là vấn đề nhận thức, mà còn là hành động, hai nội dung phải nhất quán với nhau, nói đi đôi với làm. Quy định số 08 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, được người dân đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. Bày tỏ sự đồng tình với việc ban hành bản Quy định này, Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo cho rằng, phải triển khai những giải pháp đồng bộ, trong đó điều đầu tiên là phải nâng cao nhận thức, phải xây dựng, giáo dục về liêm sỉ, danh dự, giáo dục sự biết tự phê phán, tự cảnh tỉnh mình khi làm những điều xấu xa, không xứng đáng. Lương tâm và danh dự rất quan trọng, nhất là đối với người lãnh đạo. Đi cùng với việc giáo dục nâng cao nhận thức, rất cần dựa vào nhân dân để kiểm tra, giám sát và siết chặt kỷ cương, luật pháp, các quy định, quy chế của cơ quan, đơn vị. Bàn luận về tầm quan trọng của việc nêu gương trong bối cảnh hiện nay, Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Quang Liêm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nêu một thực tế, khi con người ở tình huống gay cấn, nguy cấp, sẽ dễ bộc lộ những phẩm chất vượt trội, thực sự xứng đáng là tấm gương. Trong cuộc sống bình an, hình như nhu cầu trở thành tấm gương và việc nêu gương không rõ ràng. Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa đóng góp to lớn của nêu gương, theo Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Quang Liêm, cần giáo dục cho mọi người hành động nêu gương phải trở thành ý thức tự nhiên, sự rèn luyện thường xuyên, trở thành triết lý sống của xã hội, một triết lý luôn luôn mong muốn tử tế, tốt đẹp hơn. Việc nêu gương phải bền bỉ, phải trở thành việc làm thường xuyên. Trong Lời kêu gọi thi đua ngày 1/8/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh "Tưởng lầm rằng thi đua chỉ nhất thời. Thật ra thi đua là phải trường kỳ". Công tác thi đua, xây dựng các tấm gương, nêu gương và lan tỏa hình ảnh đẹp của các tấm gương cần được thực hiện với tâm thế phấn khích, liên tục, không được đánh trống bỏ dùi - ông Nguyễn Quang Liêm nêu quan điểm. Đưa ra những phân tích, nhìn nhận về những tác động mặt trái, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Minh Trưởng, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng nhấn mạnh biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong nội bộ Đảng là phải đoàn kết chặt chẽ, đẩy mạnh việc quán triệt, học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. "Mỗi cán bộ, đảng viên, người đứng đầu, bằng việc nêu gương, trước hết là nêu gương về tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, gương mẫu đi đầu trong công việc; hoàn thành nhiệm vụ, nói đi đôi với làm, thường xuyên học tập nâng cao trình độ, kiên quyết chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân... Đó là cơ sở để giữ vững ổn định chính trị, phát triển đất nước, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người đi xa: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư", trở thành tấm gương sáng cho quần chúng học tập, noi theo".

 

Tỉnh táo với chiêu bài xét lại lịch sử của các thế lực thù địch

Thời gian gần đây các thế lực thù địch với sự tiếp sức của các thế lực phản động trong nước đưa ra những chiêu bài thâm độc, khơi dậy trào lưu xét lại lịch sử, xét lại cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; với những chiêu trò rất tinh vi, xảo quyệt, cả âm thầm lẫn rầm rộ, công khai trên các phương tiện truyền thông và không gian mạng, nhằm tác động vào nhận thức của thế hệ trẻ theo cách “mưa dầm thấm lâu”, gây nghi ngờ và hiện thực hóa mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
 
Chiến thắng ngày 30/4/1975 - mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc Việt Nam (Ảnh: Tư liệu)
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta được ghi dấu bằng lớp lớp những chiến công oanh liệt, hiển hách và những thành tựu to lớn trên con đường xây dựng, phát triển. Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lịch sử dân tộc được viết tiếp bằng thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đó là những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dân tộc, mang tầm vóc quốc tế và có tính thời đại sâu sắc. Đặc biệt, chiến thắng ngày 30/4/1975 đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi, là biểu tượng về sự đoàn kết, anh dũng chiến đấu để giành độc lập, thống nhất đất nước với việc đánh bại đế quốc Mỹ, cường quốc hùng mạnh nhất thế giới. Ngày 30/4 là ngày hội thống nhất non sông, là sự kiện lịch sử trọng đại có tầm ảnh hưởng quốc tế vô cùng to lớn và tính thời đại sâu sắc trong thế kỷ XX, đó là thắng lợi của chính nghĩa trước bạo lực cường quyền là biểu tượng sáng ngời của ý chí bất khuất, khát vọng hòa bình, tự do của dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ, đó là lịch sử, là lịch sử thì hiện hữu sự thật không thể nào thay đổi được.

Thế nhưng, núp dưới cái bóng của phương pháp luận nghiên cứu khoa học, nhiều đối tượng phản động trong và ngoài nước đã cổ súy cho phong trào “lật sử”, “ngụy sử” theo xu hướng xét lại lịch sử, thực chất là xuyên tạc, cố tình làm sai lệch ý nghĩa, vai trò của sự kiện hoặc nhân vật lịch sử, phủ nhận lịch sử, khoét sâu, thổi phồng sai lầm, khuyết điểm. Chúng  tập hợp những ý kiến, phát biểu của những người có “uy tín”, “vị thế” nhưng có quan điểm, chính kiến trung dung, thậm chí trái với đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương, luật pháp của Nhà nước; tích hợp, dẫn dắt những quan điểm, tư tưởng đối lập, sai lầm về chính trị từ những kẻ tạo dựng là “nhà khoa học”, “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, giả danh, đăng tải các bài viết với thủ đoạn “đánh giá lại một cách khách quan”; một số tổ chức phản động ở hải ngoại đưa ra luận điệu “Việt Nam không nên kỷ niệm 30/4 nếu muốn hòa hợp dân tộc”... mục đích cuối cùng của chúng là làm lung lay niềm tin của Nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là với thế hệ trẻ, từ đó lôi kéo, xúi giục, cổ súy cho tư tưởng đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Lịch sử Việt Nam là những trang sử hào hùng của quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trải qua nhiều năm chiến tranh đã khiến một số tư liệu, dữ kiện lịch sử bị mai một, không phải giai đoạn lịch sử nào cũng được ghi chép đầy đủ và phong phú. Với sự phát triển của khoa học, nhu cầu tìm hiểu kỹ càng về quá khứ là nhu cầu chính đáng, nhưng lợi dụng khoa học để xuyên tạc và làm sai lệch lịch sử là hành vi đáng lên án, chỉ có những đối tượng không có tâm trong sáng, không vì sự phát triển chung của đất nước, không vì lợi ích quốc gia, dân tộc; những luận điệu này, chắc chắn, sẽ là tiếng nói lạc lõng trong  thời đại mới.

Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, mỗi người cần có sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nêu cao niềm tự hào, trách nhiệm phát huy truyền thống hào hùng đó và viết tiếp những trang sử mới. Nhận diện đúng các luận điệu xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, không để bị lôi kéo, mắc lừa bởi những thông tin bôi đen, xuyên tạc, bịa đặt.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, tỉnh táo phát hiện, chủ động đấu tranh ngăn chặn các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, xung kích trên mặt trận phòng, chống “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; góp phần bảo vệ những giá trị lịch sử đã “trường tồn” gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng của dân tộc ta, bảo vệ Đảng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chấn chỉnh hiện tượng tiêu cực trong hoạt động báo chí

Từ khi quan niệm của một số nước phương Tây cho rằng trong đời sống xã hội, báo chí có vai trò như “quyền lực thứ tư” (sau quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) được du nhập, một số người làm báo ở Việt Nam đã nhầm tưởng, tự thấy đã có trong tay một “quyền lực” ghê gớm, và lạm dụng “quyền lực” này để rồi bị tha hóa, biến chất khi chạy theo mục đích “phi báo chí”, xa rời nghĩa vụ, trách nhiệm xã hội - nghề nghiệp. Hiện tượng đó nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ tạo ra những hệ lụy về mặt xã hội, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của những người làm báo chân chính. Thời gian qua, việc cơ quan chức năng và cơ quan chủ quản báo chí phải cảnh cáo, thu hồi thẻ nhà báo, khởi tố, bắt giam phóng viên vì hành vi lừa đảo, tống tiền doanh nghiệp, ép ký kết hợp đồng quảng cáo... đã không chỉ dừng lại ở một vài hiện tượng đơn lẻ mà đang trở thành “điểm đen” đáng lo ngại. Và thí dụ gần nhất là đầu tháng 8-2019, hai phóng viên của một tờ báo và một tạp chí trung ương có trụ sở tại Hà Nội đã bị lực lượng chức năng của TP Hà Nội và tỉnh Hà Tĩnh khởi tố, bắt tạm giam vì có hành vi tống tiền. Có thể thấy, sai phạm của một số người làm báo đã và đang tác động tiêu cực tới uy tín, hình ảnh của cộng đồng nghề nghiệp, phần nào khiến bạn đọc có cái nhìn và đánh giá sai lệch về báo chí cũng như đội ngũ người làm báo; đặc biệt, qua các mạng xã hội Facebook, Youtube... ý kiến tiêu cực của một số người làm báo và đánh giá tiêu cực về báo giới đang có nguy cơ lây lan. Bởi trên không gian mạng, thay vì đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch, phòng, chống nạn tin giả (fake news), định hướng hoặc trấn an dư luận trước thông tin sai lạc, không thể kiểm chứng... thì một số người làm báo lại bẻ cong ngòi bút, chém gió, phát ngôn tiêu cực, làm nhiễu loạn dư luận, gây khó khăn cho cơ quan chức năng... Đến hiện tại, khó có thể phủ nhận trên thực tế, vì đã nếm trải tiền lệ xấu diễn ra trước đó, mà tâm lý ngại nhà báo, không muốn tiếp xúc hay dây dưa với phóng viên như đã trở thành cảm xúc thường trực của không ít cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khi phải nghe điện thoại, tiếp nhận giấy giới thiệu, thư điện tử,... từ cơ quan báo chí. Như để đánh đổi, “luật im lặng” sẽ giúp họ không phải đối mặt với chiến dịch “truyền thông đen”, “truyền thông bẩn”. Còn khi một chiến dịch như vậy nhắm vào doanh nghiệp kinh doanh nghiêm túc, hiệu quả thì “chờ được vạ thì má cũng sưng”, doanh nghiệp vẫn phải méo mặt khi thông tin sai lệch liên tục được đăng tải, chia sẻ, bình luận. Đó là chưa nói, không rõ có liên hệ nào không (?), nhưng khi một chiến dịch truyền thông thiếu trong sáng được tổ chức dựa trên phát ngôn thiếu trách nhiệm của một vài cá nhân nhân danh đại diện cho một cơ quan chức năng nào đó thì hậu quả tiêu cực còn tăng lên hơn nhiều. Đó là trường hợp của Cơ sở Kinh doanh và Chế biến thực phẩm Việt (Viet Foods), sau khi bị “dính đòn oan” thì đã thiệt hại cỡ 100 tỷ đồng, sản xuất chỉ đạt 10% công suất thiết kế, công nhân phải nghỉ việc, hàng tồn kho vì không tiêu thụ được, bị trả lại, đối tác viện cớ không thanh toán nợ. Gần hơn là sự kiện liên quan Công ty cổ phần Con Cưng năm 2018, sau khi được minh oan, doanh nghiệp này cũng lâm cảnh “bầm dập” như đánh giá của báo chí. Đáng lo ngại là sau khi sự việc rõ ràng, một số tờ báo lẫn phóng viên viết bài vẫn vô can, dù trước đó họ đã nhân danh chống tiêu cực để công bố bài viết quy chụp, hùa theo dư luận, tiến công doanh nghiệp... Các chiến dịch “truyền thông đen”, “truyền thông bẩn” đứng sau là một số người làm báo đang diễn biến hết sức phức tạp. Những người này tỏ ra khéo léo trong việc lôi kéo, xúi bẩy đồng nghiệp đứng cùng “chiến tuyến” với họ. Trong đó, phổ biến nhất là kiểu tổ chức chiến dịch tẩy chay doanh nghiệp với động cơ rất thiếu trong sáng, gồm cả hành vi chống lại pháp luật. Ngày 11-8 vừa qua, bài viết trên trang cá nhân của nhà báo B.N.H khiến nhiều bạn đọc phải bất ngờ và đau lòng vì một nhóm tự mệnh danh “báo chí sạch” đã công khai tẩy chay một trang thông tin điện tử sau khi đăng bài viết về Hà Văn Nam - bị cáo trong vụ án gây rối trật tự công cộng tại trạm BOT Phả Lại (Hải Dương). Được biết, những người đứng sau fanpage “báo chí sạch” chủ yếu là cây bút tai tiếng, có người đã từng bị cơ quan báo chí kỷ luật, buộc thôi việc. Trên “báo chí sạch” và facebook cá nhân của số người này, dưới chiêu bài “đấu tranh, chống tiêu cực”, họ thường xuyên đăng tải thông tin chưa xác thực, thiếu kiểm chứng. Họ còn cố gắng huy động một số cây bút biến chất tham gia nhằm gây sức ép lên các phiên tòa, đến việc điều tra của cơ quan chức năng. Lạm dụng vai trò nghề nghiệp, một số người làm báo còn tự cho phép mình mạt sát, hạ bệ người khác. Một số người còn lợi dụng tranh cãi riêng tư để thực hiện hành vi phá hoại, đe dọa doanh nghiệp. Như cách đây không lâu, từ chuyện lời qua tiếng lại giữa một ca sĩ và một cá nhân khác quanh tấm ảnh trên facebook, phong trào tẩy chay nghệ sĩ này nhanh chóng bùng nổ. Dưới sự dẫn dắt của một số người làm báo, bỗng chốc một mâu thuẫn cá nhân đã trở thành màn “đấu tố”, “đánh hội đồng”. Chiến dịch này lên đến đỉnh điểm khi một nữ “nhà báo tự do” kêu gọi cộng đồng mạng ngưng sử dụng những mặt hàng, dịch vụ của doanh nghiệp nào mời ca sĩ này làm đại diện hình ảnh. Như vậy, “chỉ vì ghét cái thái độ” của ca sĩ mà có người làm báo sẵn sàng đẩy doanh nghiệp vào tình thế khó khăn. Việc cố tình vùi dập thương hiệu, nhãn hàng chỉ vì lý do rất vớ vẩn “không thích” đã được một số người tự xưng nhà báo thực hiện, khiến dư luận không phải không có lý khi đặt ra nghi ngại rằng phải chăng đó là bước tiếp theo nhằm thực hiện chiêu trò che giấu lợi ích nhóm? Việc một số người làm báo tung tin giả, làm nhiễu loạn thông tin, đưa ra nhận định gây hoang mang, làm dư luận bức xúc cũng đang là hiện tượng có xu hướng gia tăng, dễ thấy nhất là trên mạng xã hội và các trang tin điện tử có xu hướng “lá cải”. Chạy theo lượng người xem (view) và đánh giá (rating), một số cơ quan báo chí, người làm báo không ngần ngại tung ra bài viết có nội dung và hình thức phản cảm. Ngôn từ dung tục cùng hình ảnh và vi-đê-ô chứa cảnh bạo lực, khiêu dâm trở thành công cụ được những người này khai thác triệt để, nhắm vào số bạn đọc hiếu kỳ, nhẹ dạ, cảm tính. Thông tin xoay quanh nạn nhân các vụ bê bối và vụ án với nhiều giả thuyết, bình luận hàm hồ, thiếu bằng chứng được đăng tải liên tục, gây khó khăn cho các cơ quan chức năng và lực lượng điều tra trong khi xác minh, truy tìm hung thủ. Gần nhất, cái chết thương tâm của em học sinh lớp một Trường tiểu học Gateway ngay lập tức được những kẻ “khóc thuê” biến thành cơ hội tung ra hàng loạt tin vịt hay thuyết âm mưu... nhằm gây sốc để thu hút người đọc. Một số tờ báo còn không e ngại khi đăng tải clip về sự kiện mà hình ảnh em học sinh không được làm mờ, hay cảnh báo độc giả. Đồng thời, fanpage và nhóm mang tên “tẩy chay Trường học Gateway” và “Tẩy chay Gateway” với sự tham gia của không ít nhà báo cũng nhanh chóng xuất hiện, chủ yếu lượm lặt, đăng tải các bài viết từ đủ mọi nguồn trên mạng. Các thành viên quản lý fanpage, nhóm này còn thường xuyên bịa đặt rằng mình đang bị lực lượng an ninh đe dọa vì họ đã dám thẳng thắn đi tìm sự thật. Tổn thất sinh mạng trong sự vụ ở Trường tiểu học Gateway là điều đau lòng không ai muốn, nhưng khi vụ án vẫn trong quá trình điều tra mà báo chí cố gắng đào bới thông tin, kết luận vội vã, thậm chí cố làm rùm beng là khoét sâu nỗi đau, nếu không nói là bất nhẫn. Tình trạng này khiến nhiều người không khỏi ngao ngán liên tưởng đến sự vô trách nhiệm của một số tờ báo trong trọng án “sát hại nữ sinh giao gà” xảy ra đầu năm 2019. Cùng với những quy định của pháp luật, sự tăng cường quản lý của các cơ quan chức năng, việc Hội Nhà báo Việt Nam ban hành “Quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo” và “Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam”, đã góp phần giúp sinh hoạt báo chí có bước chuyển biến nhất định. Nhiều sai phạm đã được xử lý, bài viết kém chất lượng, sai sót đã kịp thời được đính chính. Nhưng dường như việc thi hành kỷ luật và chế tài xử phạt tại một số nơi vẫn chưa nghiêm, chưa thật sự quyết liệt cho nên còn thiếu tính răn đe, chưa ngăn chặn kịp thời được số người làm báo có biểu hiện tha hóa. Một số cơ quan báo chí vẫn còn dung túng cho sai phạm của phóng viên. Một nhà báo đã viết trên Facebook: “khi phóng viên hư hỏng, vì hù dọa, tống tiền doanh nghiệp nhưng không bị xử lý nghiêm minh thì chúng ta phải trả giá rất đắt - đánh mất niềm tin của người đọc và đồng nghiệp”. Trước bối cảnh tình hình trong nước và thế giới đang chuyển biến ngày càng đa dạng theo chiều hướng nhanh chóng nhưng không kém phần phức tạp, vai trò và trách nhiệm của người làm báo phải được ngày càng nâng cao. Mỗi người làm báo cần có ý thức nghiêm túc về trách nhiệm xã hội của mình, từ đó nỗ lực nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, kiên quyết nói “không” với tiêu cực, phát hiện điều tốt đẹp, biểu dương những tổ chức, cá nhân, địa phương có việc làm tích cực, “ích nước lợi dân”, đấu tranh với hiện tượng tiêu cực, tham gia bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trên không gian mạng... góp phần củng cố niềm tin của xã hội đối với báo chí nước nhà. Đặc biệt, nỗ lực, quyết liệt để triển khai, phối hợp thực hiện thành công Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời tăng cường hiệu quả công tác quản lý báo chí, nghiêm khắc xử lý các hành vi vi phạm để xây dựng nền báo chí phát triển đúng hướng và lành mạnh.

“Thuyết âm mưu” về vacxin Covid-19


Cuộc chiến chống dịch Covid-19 ở Việt Nam đang vô cùng khó khăn khi virus nguy hiểm này tấn công vào các bệnh viện, khu công nghiệp và công sở. Số liệu thống kê số ca nhiễm covid-19 từ ngày 27/4 đến nay đã hơn 5000 ca bệnh, gần gấp đôi số ca nhiễm của các đợt trước. Chiến lược phòng, chống Covid-19 được Chính phủ xác định dựa trên ba trụ cột là: “5K- Khoa học công nghệ - Vacxin”. Vì vậy, các cơ quan, doanh nghiệp đang thường trực để thương lượng mua số lượng vacin đủ tạo miễn dịch cộng đồng cũng như đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàn vacxin “Made in Vietnam”. Vacxin Covid-19 trở thành con bài ngoại giao chiến lược khi “cầu” nhiều hơn “cung”. Hàng triệu người Việt Nam đang mong mỏi được tiêm vacxin nhưng số ít lại tỏ ra nghi ngờ thậm chí là tẩy chay vacxin Covid-19.

“Thuyết âm mưu” về vacxin Covid-19 nghĩ rằng vacxin này không an toàn, sẽ có những tác dụng phụ và sẽ bị cách ly y tế sau khi tiêm. Các bài viết cố tình thổi phòng và thêu dệt tác dụng phụ của vacxin khi cho rằng tiêm vacxin là tự đưa virus vào người. Về bản chất, vacxin là virus đã được làm yếu nhưng không phải là virus sống nên không thể nhiễm bệnh mà còn tạo ra những kháng thể bảo vệ con người. Các loại vacxin đều có thể gây ra phản ứng phụ không chỉ là vacxin Covid-19 ở mức nặng, nhẹ khác nhau nhưng đều an toàn với cơ thể.

Một số quan điểm định kiến với vacxin cho rằng: “mình đã sống an toàn đến từng này tuổi, dại gì tự mang nguy cơ bệnh tật vào người”. Đây là kiểu suy diễn “thầy bói xem voi” chỉ nhìn vào tính tiêu cực và thảm họa hóa vấn đề.

Xin lưu ý rằng: các chuyên gia y tế trên thế giới, các quốc gia ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á hay những người đứng đầu tổ chức tôn giáo đều khẳng định: chỉ có tiêm vacxin thế giới mới vượt qua đại dịch và trở lại cuộc sống bình thường mới. Tiêm chủng là cách phòng ngừa tốt nhất để phòng ngừa dịch bệnh như Mỹ, Israel, Vương quốc Anh,…và hàng trăm quốc gia trên thế giới đang làm. Do đó, những định kiến và nghi ngờ tác dụng của vacxin chỉ là sự bao biện cho sự sợ hãi và bất lực của bản thân trước cuộc sống.

 Nếu bạn không tiêm vacxin, bạn có nguy cơ bị bệnh và lây lan cho người thân. Vậy bạn quyết định tiêm hay không tiêm vacxin ngừa Covid-19?

 

Ý Đảng - lòng Dân, nhân tố quyết định mọi thắng lợi

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đã xác định mục tiêu cụ thể phấn đấu đến năm 2030: Trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thuộc nhóm trên của các nước có thu nhập trung bình cao; Đến năm 2045: Trở thành nước công nghiệp hiện đại, có thu nhập cao, mục tiêu này đòi hỏi chúng ta phải phát huy mạnh mẽ sức sáng tạo, ý chí và khát vọng phát triển, sức mạnh toàn dân tộc. Để làm được việc này chúng ta phải luôn khắc sâu và thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cách mạng phải có Đảng lãnh đạo và phải lấy Dân làm gốc.

Hiện nay, tỉnh ta đang tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Dự thảo báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng nhằm phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn Dân; đây cũng là dịp thể hiện sâu sắc sự gắn bó giữa ý Đảng và lòng Dân. Do vậy, mỗi địa phương, đơn vị cần phải thật sự chú trọng làm tốt công tác này để qua đó phát huy dân chủ, tập hợp trí tuệ của đảng viên và nhân dân góp ý với Đảng, qua đó tiếp thu được những ý kiến tâm huyết, xác đáng, hợp lý, có tính xây dựng đối với các văn kiện của Trung ương và Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh, thể hiện sâu sắc mối quan hệ gắn bó mật thiết của ý Đảng lòng Dân.      

COI TRỌNG TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG

Coi trọng trách nhiệm nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về “muốn người ta theo mình thì phải làm gương trước” và “một tấm gương sáng bằng hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu gương vừa là trách nhiệm vừa là giải pháp quan trọng để vận động quần chúng nhân dân theo Đảng làm cách mạng. Nêu gương là giải pháp để hướng dẫn mọi người thực hiện các nhiệm vụ đặt ra. Nêu gương tạo nên mối quan hệ gần gũi, gắn bó giữa cán bộ với nhân viên, đảng viên với quần chúng và qua đó góp phần xây dựng Đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương trong sạch, vững mạnh. Vai trò của nêu gương rất lớn. Vì vậy, cần đặc biệt quan tâm đến vai trò nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, như Kết luận 01 của Bộ Chính trị đã nêu ra. Đảng ta đã xác định nêu gương là một trong 5 phương thức lãnh đạo của Đảng. Nêu gương là thực hiện vai trò lãnh đạo, tính tiên phong, gương mẫu “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” trong Đảng và từ trong Đảng lan tỏa ra toàn xã hội. Tại Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Quy định 08 xác định nội dung nêu gương gồm 8 điểm về “xây” và 8 điểm về “chống”, trong đó nhấn mạnh các mối quan hệ với tổ chức, với mình và với nhân dân. Thực hiện Quy định 08 về trách nhiệm nêu gương là yêu cầu chung đối với tất cả cán bộ, đảng viên, công chức trong mọi công việc, trong các mối quan hệ, trong đó có việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện Kết luận số 01, về nội dung nêu gương cần nhấn mạnh thêm một số điểm sau: Một là, cần đề cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong học tập và làm theo Bác. Hơn ở đâu hết, trong việc nêu gương học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu là hết sức quan trọng để cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân noi theo. Nội dung nêu gương của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã được Kết luận 01 nêu khá cụ thể, bao gồm: “…phải thể hiện tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thật sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể; luôn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, toàn diện, công tâm, công khai, minh bạch, chính xác, chống cục bộ địa phương, bè phái trong công tác cán bộ. Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, mẫu mực về nhân cách, lối sống; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành; không tham nhũng, không bị chi phối bởi lợi ích nhóm, không để người nhà, người thân lợi dụng vị trí công tác để vụ lợi. Nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh”. Hai là, nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần cụ thể, thiết thực, thể hiện trong các công việc sau: Cán bộ lãnh đạo cần nêu gương đầu, thể hiện trong thái độ của mình đối với việc học tập và thực hiện Chỉ thị, Kết luận của Trung ương về học tập và làm theo Bác. Cùng một buổi học tập chuyên đề, sinh hoạt tư tưởng về thực hiện Chỉ thị, cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu thực sự nghiêm túc, thực sự quan tâm, thực sự gương mẫu sẽ có tác dụng rất tích cực đến chất lượng học tập cũng như sinh hoạt chuyên đề và ngược lại. Cán bộ, đảng viên nêu gương, làm trước trong đăng ký và thực hiện các nội dung đăng ký làm theo Bác. Một công việc cụ thể được làm trước bởi cán bộ lãnh đạo, cán bộ, đảng viên vì lợi ích chung không chỉ mang lại lợi ích lớn cho tập thể, cơ quan, đơn vị, mà còn tác dụng kích thích, thúc đẩy, lan tỏa trong tập thể, góp phần hình thành các phong trào tự giác học tập và làm theo Bác. Nội dung cụ thể của nêu gương cần thực hiện theo Quy định 08, bao gồm 8 điểm trong xây và 8 điểm trong chống. Ba là, trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần chú trọng đến xây bao gồm: Đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghiên cứu, nắm vững hệ thống các nguyên tắc cơ bản và kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có lập trường tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, chính kiến rõ ràng trước những vấn đề mới, khó, phức tạp, nhạy cảm. Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia - dân tộc và mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Không làm bất cứ việc gì có hại cho Đảng, cho đất nước và nhân dân. Lấy ấm no, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Đối với công việc được giao là thực hành phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, hiệu quả; thực sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể. Chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả công tác cải cách hành chính, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ. Sẵn sàng nhận và nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ khi được phân công. Tâm huyết, tận tuỵ với công việc. Tích cực giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp, bức xúc, tồn đọng kéo dài; chủ động, kịp thời xử lý có hiệu quả các tình huống khẩn cấp, đột xuất, bất ngờ trong địa phương, lĩnh vực mình phụ trách. Tích cực thực hiện quy định về phân cấp, phân quyền và kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chủ động thực hiện chủ trương thí điểm của Trung ương; khuyến khích mô hình, cách làm mới, hiệu quả. Năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; tìm tòi, đổi mới, phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, ngành, lĩnh vực do mình phụ trách. Giữ vững nguyên tắc, dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ kế cận. Chủ động, tích cực phát hiện, thu hút, trọng dụng người có đức, có tài, khát khao cống hiến. Bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp của Đảng, vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối với bản thân, cần nêu gương trong không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành. Nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình; thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh; không tranh công đổ lỗi. Dũng cảm nhận khuyết điểm và trách nhiệm. Chủ động xin từ chức khi thấy mình không còn đủ điều kiện, năng lực, uy tín để thực hiện nhiệm vụ. Về mối quan hệ giữa học tập, làm theo và nêu gương trong thực hiện Kết luận 01 của Bộ Chính trị khóa XIII, cần chú trọng những nội dung sau: Về nhận thức, cần thấy rõ mối quan hệ hữa cơ giữa học tập, làm theo và nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và hành động, giữa học và hành, giữa lời nói và việc làm, thể hiện trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, trước hết là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu từ Trung ương đến cơ sở. Cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không là việc học tập chính trị đơn thuần, mà là nghiên cứu, quán triệt hệ thống các quan điểm lý luận, tư tưởng nền tảng của Đảng, vận dụng phương pháp luận Hồ Chí Minh để vào giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Quán triệt quan điểm học đi đôi với hành, học tập để vận dụng và làm theo. Học tập không phải là tầm chương, trích cú. Làm theo không là giáo điều, máy móc, nguyên xi, bắt chước mà là sự vận dụng sáng tạo những quan điểm lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp luận Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Tổng kết thực tiễn phong phú của công cuộc đổi mới kết hợp với nghiên cứu lý luận để phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, làm theo tư tưởng, phương pháp Hồ Chí Minh một cách thiết thực nhất trong trong giai đoạn hiện nay. Thực sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động nói đi đôi với làm, trong đó nêu gương vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quần chúng, vừa là giải pháp để tổ chức thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với công việc và mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân, theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Việc làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là thực hiện học đi đôi với hành trong tư tưởng của Người. Cần có nội dung, phương thức, phương pháp phù hợp để việc làm theo có hiệu quả thiết thực, được tiến hành thường xuyên, liên tục, tránh căn bệnh hình thức. Chủ trương học tập gắn liền với làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có từ rất sớm và đã góp phần làm nên những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử. Ngay sau khi Bác mất (ngày 2/9/1969), Đảng và Nhà nước ta đã đề ra khẩu hiệu hành động rất sát thực là “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Khẩu hiệu đó đã lôi cuốn sự tham gia của tất cả các tầng lớp trong xã hội, trong các phong trào “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Thi đua hai tốt”…, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến “chống Mỹ, cứu nước”; giúp đất nước vượt qua những khó khăn, những tình huống ngặt nghèo trước đổi mới; thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong hơn 35 năm qua… Trong việc học và làm theo Bác, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị 06-CT/TW ngày 7/11/2006 của Bộ Chính trị khóa X lần đầu tiên yêu cầu về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thực tiễn, kết quả thực hiện cuộc vận động đã khẳng định yêu cầu và sự cần thiết phải gắn bó giữa học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các Chỉ thị 03- CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII đã thống nhất và nhấn mạnh thêm yêu cầu phải gắn bó giữa học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nhắc lại bài học về việc làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm qua, để thấy rõ vai trò to lớn và trách nhiệm tổ chức thực hiện có hiệu quả việc làm theo Bác trong giai đoạn mới. Nội dung làm theo đầu tiên và cơ bản nhất của tổ chức đảng, chính quyền đoàn thể chính trị ở các cấp là gắn học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị; trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Xây dựng chương trình hành động cụ thể, sát hợp thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ở cơ quan, đơn vị địa phương, trong đó, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nguồn lực, động lực quan trọng để thực hiện. Quan tâm đến việc thực hiện có hiệu quả các khâu đột phá chiến lược, tập trung giải quyết 6 nhóm vấn đề trọng tâm trong Nghị quyết Đại hội XIII; từng địa phương cơ quan đơn vị phát hiện, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc trong thực tiễn để thúc đẩy nhanh hơn việc thực hiện Nghị quyết. Trong tổ chức thực hiện, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần đồng bộ giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Quan tâm đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phê phán, xử lý nghiêm những việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, liên tục, không ngừng, không bị tác động bởi bất cứ tổ chức, cá nhân có hành vi không lành mạnh nào. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần phải gắn với chức trách, nhiệm vụ, vị trí việc làm cụ thể, không thể chung chung. Nội dung học tập có thể chung, giống nhau, nhưng liên hệ và việc làm cần phải cụ thể gắn với nhiệm vụ của từng người. Cấp ủy, tổ chức đảng phải hướng dẫn và tổ chức đăng ký làm theo Bác của mỗi người, phù hợp với công việc của họ, có kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng kịp thời… Cùng với tăng cường giáo dục nhận thức về những giá trị đạo đức, tinh thần, văn hóa cho cán bộ, đảng viên, công chức, cần nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực, đồng thời khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh. Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức biên soạn những tài liệu phù hợp để vừa tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, vừa hướng dẫn việc làm theo, cung cấp tài liệu cho các chi bộ triển khai thực hiện từ cơ sở và đẩy mạnh tuyên truyền trong xã hội…

NỘI DUNG, NHIỆM VỤ HỌC TẬP TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Thực hiện Kết luận 01, về nội dung, nhiệm vụ học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cần quan tâm đến các điểm chính sau: Trước hết, cần quán triệt và tạo được sự thống nhất trong nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, được hình thành trong quá trình vận dụng các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng giải phóng dân dân tộc ở Việt Nam và các nước thuộc địa đầu thế kỷ XX. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Từ tư tưởng ban đầu “trước làm cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng thế giới”, trên nền tảng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tiếp tục phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh”, định hướng lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, trong hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, tư tưởng Hồ Chí Minh đã được vận dụng và phát triển sáng tạo, với nhiều nội dung mới, cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động trong công cuộc đổi mới sáng tạo của Đảng và nhân dân ta hiện nay. Bởi vậy, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là những bài học chính trị đơn thuần, một chương trình học phải trải qua để có chứng chỉ, bằng cấp, mà quan trọng nhất là phải hiểu biết sâu sắc các nguyên lý cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp luận khoa học và cách mạng Hồ Chí Minh, xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng lý luận vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn công tác, sản xuất, chiến đấu, xây dựng Đảng… Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải kết hợp chặt chẽ lý luận với thực tiễn, tăng cường tổng kết thực tiễn, cùng với nghiên cứu lý luận để tiếp tục phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng hệ tưởng lý luận về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, định hướng lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần thiết phải thấy rõ sự thống nhất hữu cơ của ba bộ phận cấu thành này trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ sự chắt lọc những giá trị tư tưởng, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, các nguyên lý lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, trải nghiệm qua hoạt động thực tiễn cách mạng vô cùng phong phú của Hồ Chí Minh. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự tiếp thu những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của văn hóa phương Đông và phương Tây, của tư tưởng đạo đức cộng sản, hình thành nên những giá trị đạo đức Hồ Chí Minh, như vị trí, vai trò của đạo đức, những chuẩn mực đạo đức cơ bản của con người Việt Nam mới và những nguyên tắc thực hành đạo đức. Đạo đức Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tư tưởng đạo đức và hành vi đạo đức của Người. Tiếp theo, sự thống nhất giữa tư tưởng và đạo đức trong con người Hồ Chí Minh đã tạo nên phong cách Hồ Chí Minh, từ phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách lãnh đạo, phong cách giao tiếp, đến phong cách sống hài hòa, gắn bó với thiên nhiên, với mọi người, “thương yêu tất cả chỉ quên mình”. Bởi vậy, học tập Bác cần có nội dung toàn diện, đồng bộ, cả tư tưởng, đạo đức, phong cách. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là để xây dựng, rèn luyện lý tưởng, đạo đức, lối sống, nên không phải chỉ một lần, một lúc, trong một công việc, mà phải thường xuyên liên tục, lâu dài, tự giác, trong công việc hàng ngày, để “lòng ta trong sáng hơn” như nhà thơ Tố Hữu đã viết. Trong học tập, cần nắm vững nội dung và hiểu rõ những giá trị, ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng, của cách mạng Việt Nam được cụ thể hóa trong mỗi giai đoạn cách mạng, đồng thời là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy nội lực, hình thành và nuôi dưỡng ý chí, khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, sánh vai với cường quốc năm châu. Cũng như trong thực tiễn lịch sử các giai đoạn trước, hiện nay tư tưởng Hồ Chí Minh là sức mạnh tinh thần to lớn, giúp chúng ta vượt qua khó khăn, thử thách hoàn thành mục tiêu “kép”: phòng chống dịch bệnh COVID-19 và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có tư tưởng về xây dựng Đảng cách mạng chân chính, tư tưởng tất cả vì nhân dân của Hồ Chí Minh. Học và làm theo Bác không chỉ để mỗi đảng viên xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam và sự tin cậy của nhân dân, mà qua đó, góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống tham nhũng tiêu cực, xây dựng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ hơn nữa giữa Đảng với dân, để Đảng xứng đáng “là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” như lời căn dặn trong bản Di chúc bất hủ của Bác.

Quỹ vaccine phòng COVID-19 là quỹ của sự nhân ái, tinh thần đoàn kết

Tối 5/6, tại Nhà hát lớn Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dự lễ ra mắt Quỹ vaccine phòng COVID-19. Cùng dự sự kiện này có các đồng chí: Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Đỗ Văn Chiến, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; các Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Bình Minh, Lê Minh Khái, Lê Văn Thành; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; đại diện một số tỉnh, thành phố; đại diện các tầng lớp nhân dân, dân tộc, tôn giáo, vùng miền và các cá nhân, đại diện các doanh nghiệp có đóng góp cho Quỹ vaccine phòng COVID-19. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc, trong năm 2021, Việt Nam cần 150 triệu liều vaccine phòng COVID-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người dân, với tổng kinh phí ước tính hơn 25 nghìn tỷ đồng. Chính phủ quyết định thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 với mục tiêu tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài trợ, hỗ trợ, đóng góp cả ở trong nước và ngoài nước để cùng với nguồn lực ngân sách Nhà nước thực hiện hiệu quả “chiến lược vaccine” gồm mua, nhập khẩu vaccine, chuyển giao công nghệ nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước để tiêm chủng cho người dân. Tính đến chiều 5/6, Quỹ vaccine phòng COVID-19 đã tiếp nhận 1.036 tỷ đồng và cam kết ủng hộ 6.600 tỷ đồng. Phát biểu tại lễ ra mắt, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, trong thời gian qua, với sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự hưởng ứng, đồng tình, trách nhiệm của toàn thể nhân dân với phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, Việt Nam đã được ghi nhận là điểm sáng trên thế giới về thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, dịch COVID-19 ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp chống dịch theo phương châm mới “5K+vaccine” và ứng dụng công nghệ rộng rãi để thực hiện được “mục tiêu kép” vừa chống dịch và phát triển kinh tế. Trong đó, tiêm vaccine là giải pháp căn cơ, lâu dài, mang tính chiến lược và quyết đinh để thoát khỏi đại dịch. Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh, lịch sử dựng nước và giữ nước đã chứng minh, khi đất nước ta gặp khó khăn, tinh thần đoàn kết, sức dân là vũ khí tối tân nhất, sắc bén nhất để chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù và viết nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc, như Bác Hồ kính yêu đã căn dặn: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Trong cuộc chiến chống COVID-19, sự đồng lòng của nhân dân là chìa khóa mở cánh cửa lớn để chúng ta thoát ra khỏi đại dịch và trở về cuộc sống bình thường. Truyền thống “Thương người như thể thương thân” hay “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” đã hun đúc trong mỗi người con đất Việt và gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này. Truyền thống ấy càng tỏa sáng mỗi khi đất nước chúng ta gặp khó khăn như chiến tranh, thiên tai, bão lũ, dịch bệnh… Chính vì vậy, sự chia sẻ, trách nhiệm, cảm thông của Nhân dân với Nhà nước là nhân tố quan trọng để tin rằng Quỹ vaccine phòng COVID-19 sẽ nhận được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài. Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định, Nhà nước ta đã nỗ lực gỡ bỏ mọi khó khăn vướng mắc về cơ chế, sử dụng tổng hợp mọi nguồn lực để chúng ta có vaccine sớm nhất tiêm miễn phí cho toàn dân. Đồng thời chia sẻ, dù chúng ta rất nỗ lực nhưng nguồn vaccine trên thế giới cũng hạn chế và họ sẽ ưu tiên cho những quốc gia có tình hình dịch bệnh phức tạp, lây lan nhanh hơn chúng ta. Việc thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 là một chủ trương của Đảng, Nhà nước thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị để huy động nguồn lực xã hội thực hiện công tác phòng, chống dịch. Cuộc chiến với COVID-19 bằng vaccine phải đi đường dài, phải tiêm cho nhân dân hàng năm. Đảng, Nhà nước hiểu và trân trọng mọi đóng góp của người dân, doanh nghiệp không kể ít hay nhiều đều xuất phát từ tấm lòng, từ trái tim, từ trách nhiệm với cộng đồng, từ sự chia sẻ với Nhà nước nên đảm bảo quản lý, giám sát hoạt động của Quỹ minh bạch và đúng tôn chỉ, mục đích, đúng pháp luật để phục vụ cho sức khỏe, hạnh phúc của nhân dân. Thủ tướng nhấn mạnh, nhân dân đã hiểu được sự cố gắng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị bằng trí tuệ, bằng ý chí, sự kiên cường, sự quyết liệt và sự đồng cam cộng khổ, đồng lòng của nhân dân để chúng ta đã đi qua đại dịch hơn 1 năm qua một cách kiên cường, bền bỉ, vẽ nên mảng màu xanh an toàn trên bản đồ thế giới nhuốm màu đỏ, màu vàng sự sợ hãi lây nhiễm và tang tóc của đại dịch đã gây ra trên thế giới. Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng, đất nước ta còn khó khăn, Đảng và Nhà nước đã và đang cố gắng nhưng cần sự chung tay góp sức bằng tấm lòng và trái tim của cả cộng đồng, xã hội. Thủ tướng thay mặt Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, kêu gọi toàn thể nhân dân đồng lòng cùng chống dịch. Vì mỗi đóng góp đều có ý nghĩa cho sự an toàn hơn cho bản thân, gia đình, cho cộng đồng và cả xã hội. Thủ tướng xúc động nói, Quỹ vaccine là quỹ của sự nhân ái, của tinh thần đoàn kết, của niềm tin, của trái tim kết nối trái tim để chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn, góp phần tạo nên một Việt Nam chiến thắng, để một lần nữa chúng ta lại ghi danh, viết nên lịch sử chiến thắng vẻ vang của dân tộc - chiến thắng đại dịch COVID-19. Thủ tướng cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể nhân dân, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đồng lòng, đồng hành và chia sẻ để cùng nhau chiến thắng đại dịch, để nhân dân được sống trong ngôi nhà lớn - Việt Nam an toàn, mạnh khỏe và thịnh vượng. Ngay tại lễ ra mắt, nhiều tổ chức, cá nhân đã trao tiền ủng hộ Quỹ vaccine phòng COVID-19. Trong đó, có học sinh, cán bộ hưu trí, chức sắc tôn giáo đã dành một phần thu nhập, tiết kiệm để ủng hộ Quỹ như cụ Nguyễn Mạnh Tường 82 tuổi, cán bộ hưu trí ngành đường sắt; em Lê Đức Hiếu, học sinh Trường Trung học phổ thông Phạm Hồng Thái, Ba Đình, Hà Nội; Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Tổng Giám mục Nguyễn Chí Linh, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam… Có nhiều doanh nghiệp trao hàng trăm tỷ đồng góp vào Quỹ như: Công ty Golf Long Thành ủng hộ 500 tỷ đồng, Tập đoàn Vingroup 480 tỷ đồng; Tổng Công ty Viễn thông Quân đội - Viettel 450 tỷ đồng; Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam mỗi đơn vị 400 tỷ đồng… Sự chung tay, góp sức kể trên thể hiện tấm lòng và trách nhiệm của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ, các tổ chức, doanh nghiệp, doanh nhân trong cả nước vì sức khỏe mỗi người, vì cộng đồng, vì quốc gia, dân tộc, với tinh thần đoàn kết quốc tế, chung tay đẩy lùi đại dịch COVID-19 ở mỗi quốc gia và toàn cầu.

Sáng kiến lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 của Việt Nam được đánh giá cao

Quỹ vaccine phòng COVID-19 được phát động vào ngày 31/5 và chính thức ra mắt vào tối 5/6, nhằm huy động tổng hợp nguồn lực đóng góp xã hội để chia sẻ với ngân sách nhà nước, phục vụ cho hoạt động mua, nhập khẩu vaccine và nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước. Vaccine phòng COVID-19 được sử dụng cho người dân trên nguyên tắc đảm bảo sự tự nguyện đóng góp, hoạt động công khai, minh bạch và đúng quy định của pháp luật. Tính đến 16 giờ ngày 4/6, Quỹ vaccine phòng COVID-19 đã tiếp nhận được khoảng 264,8 tỷ đồng, hơn 8.700 USD và hơn 2.700 EUR. Với sáng kiến Quỹ vaccine phòng COVID-19, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của nhân dân trong cuộc chiến chống "giặc COVID-19". Đánh giá cao sáng kiến của Việt Nam Theo các tính toán, để đạt được miễn dịch cộng đồng, Việt Nam cần có 150 triệu liều vaccine phòng COVID-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người dân. Tổng kinh phí ước tính hơn 25.000 tỷ đồng. Cùng với đó, dịch bệnh được dự báo chưa thể kết thúc sớm, "sống chung với dịch bệnh" trở thành yêu cầu thường trực, hiệu lực của vaccine lại không kéo dài, việc tiêm vaccine phải tiến hành định kỳ. Tất cả những điều này đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn trong khi đất nước còn nhiều khó khăn, ngân sách hạn hẹp. Mỗi đóng góp của người dân vào Quỹ vaccine phòng COVID-19 đều hướng tới mục tiêu cuộc sống an toàn hơn của bản thân, gia đình, cộng đồng và cả xã hội. Trong bối cảnh như vậy, việc thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 kêu gọi mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tự nguyện tham gia đóng góp, tài trợ, hỗ trợ cho Quỹ vaccine phòng COVID-19. Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam đánh giá cao sáng kiến này của Việt Nam. Theo Tiến sỹ Kidong Park, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam, việc huy động các nguồn lực để nâng cao khả năng tiếp cận vaccine COVID-19 của Chính phủ Việt Nam rất kịp thời, phù hợp với sáng kiến vaccine toàn cầu. Chính phủ Việt Nam rất nỗ lực để huy động nguồn lực từ ngân sách nhưng thực tế vẫn cần nhiều nguồn lực hơn nữa. Việc Chính phủ quản lý và sử dụng công bằng, hiệu quả nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp tư nhân sẽ mang lại giá trị mới cho chiến lược ứng phó với COVID-19. "Chính sự đoàn kết này sẽ giúp Việt Nam chấm dứt đại dịch. Hy vọng Việt Nam sẽ tiếp tục là một ví dụ cho cách tiếp cận toàn dân trong việc kết thúc đại dịch", Tiến sỹ Kidong Park nhấn mạnh. Đồng quan điểm, ông Kamal Malhotra, Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam cho rằng: "Đây là một sáng kiến hay, là điều Liên hợp quốc đã ủng hộ trong nhiều tháng nay". Dưới góc độ của Liên hợp quốc, ông Kamal Malhotra cho rằng chỉ nên có một quỹ ở tầm quốc gia, đặt dưới dự giám sát tổng thể và sự chỉ đạo của Chính phủ, thay vì có nhiều quỹ cạnh tranh nhau. Dịch COVID-19 được coi là điều chưa có tiền lệ trong 1 thế kỷ qua, là tình huống khẩn cấp quốc gia cho bất cứ thể chế nào. Chỉ có Chính phủ mới đủ tầm và năng lực điều phối quỹ này. Đẩy nhanh tiếp cận vaccine cho người dân Chúc mừng Chính phủ Việt Nam ra mắt Quỹ vaccine phòng COVID-19, bà Carollyn Turk, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết, việc tiêm vaccine phòng COVID-19 nhanh và hiệu quả là biện pháp cần thiết và quan trọng để đảm bảo an toàn cho người dân, thúc đẩy phục hồi kinh tế. Bà Carollyn Turk tin tưởng, Chính phủ Việt Nam đang có bước đi đúng đắn trong việc đẩy nhanh tiếp cận vaccine cho người dân. Bà Caitlin Wiesen, Trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam cho biết, UNDP đã thực hiện một nghiên cứu về trải nghiệm của người dân về dịch COVID-19. "Kết quả cho thấy sự ủng hộ thực sự rộng khắp của người dân Việt Nam đối với các quyết sách phòng, chống dịch COVID-19 của Chính phủ". Bên cạnh đó, theo bà Caitlin Wiesen, mức độ lan tỏa và ủng hộ của người dân Việt Nam với các quyết sách của Chính phủ cao ở mức đặc biệt so với các nước khác trên thế giới. Do đó, bà tin tưởng, tất cả mọi người dân, đặc biệt các doanh nghiệp, người có tiềm lực tài chính sẽ đồng lòng ủng hộ lời kêu gọi của Chính phủ, tích cực tham gia đóng góp vào Quỹ vaccine phòng COVID-19. Chia sẻ về sáng kiến thành lập Quỹ vaccine phòng COVID-19 của Việt Nam, Đại sứ Giorgio Aliberti, Trưởng Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam cho rằng, việc lập quỹ là một phần quan trọng trong chiến lược tổng thể ứng phó với dịch COVID- 19 của Việt Nam. Đồng thời, Đại sứ tin tưởng, trong chiến lược này, Chính phủ Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc huy động và kết nối các nguồn lực. "Điều này cho thấy, Chính phủ đã nắm bắt được đầy đủ về nhu cầu, cần phải có những bước đi nhanh hơn nữa. Đây là điều rất tích cực", Đại sứ Giorgio Aliberti chia sẻ.

  VÌ CHÚNG TÔI LÀ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Với hàng ngàn xuất ăn mỗi ngày, chúng ta không động viên, khích lệ, cảm ơn họ thì cũng đừng phụ công, đừng làm họ buồn đấy nhé.
Cơm cách ly chúng tôi nấu bằng cả tấm lòng, chúng tôi đã ko ngần ngại dịch bệnh và sự an nguy của bản thân và cái thời tiết khắc nghiệt này để nhảy vào tâm dịch cùng mọi người, để cho người dân có những bữa cơm ngon, canh ngọt và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ngoài ra chúng tôi còn phải vận chuyển những xuất cơm đến các khu vực cách ly. Việc làm đó giúp cho nhân dân có thêm sức khỏe để chiến thắng được dịch bệnh. Chúng tôi vẫn vui vẻ và mỉm cười trong khi bộ quần áo chúng tôi mặc trên người gần như được tắm mồ hôi.
Chúng tôi hy sinh vất vả đó là vì nhân dân, vì cộng đồng không mảy may kêu than và đòi hỏi một điều gì. Vì vậy Tôi mong các bạn, hãy trân trọng tình cảm của chúng tôi đã dành cho các bạn mà thực hiện chống dịch theo mọi chỉ thị của Chính phủ, chấp hành tốt các khuyến cáo nhắm ngăn ngừa sự lây lan bảo vệ cộng đồng.
Chúng tôi là Quân đội nhân dân.