Thứ Hai, 30 tháng 8, 2021

HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG BẤT HẠNH MẤT SỚM. NỖI ĐAU CỦA DÂN TỘC TA!

Nếu vị vua kiệt xuất, phi thường của dân tộc Việt Nam sống lâu thêm chục tuổi thôi, thì có lẽ đất nước đã sớm vươn lên về nhiều mặt, và biết đâu đã bước sang một trang hoàn toàn mới, với những tiến bộ từ rất sớm.

Quang Trung Hoàng Đế không chỉ là nhà quân sự lỗi lạc bậc nhất trong lịch sử nước ta, là vị tướng bách chiến bách thắng mà ngài còn là một nhà chính trị xuất sắc. Từ sau chiến thắng huyền thoại Tết Kỷ Dậu, vua Quang Trung có những chính sách cải cách với tầm nhìn vượt thời gian khiến cho những hậu bối sau này khi nghiên cứu về thời đại của ngài phải thốt lên: Giá như vua Quang Trung sống lâu hơn.

Tư tưởng và chính sách mà vua Quang Trung đã ban bố chúng ta dễ dàng nhận thấy có bốn cái “đầu tiên” mà có lẽ phải hai trăm năm sau chúng ta mới đạt được sau khi phải đi qua nhiều cuộc trường kỳ với bao xương máu.

Thứ nhất, Quang Trung là người đầu áp dụng một nền giáo dục phổ thông cho dân chúng. Ngài cho mở trường học khắp các thôn xã. Những nơi nào không thể mở trường học thì mượn đình chùa làm nơi dạy dỗ.

Điều này, như chúng ta đã biết, mãi cho đến 1945, khi cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời thì mới có được thành tựu “trẻ em ai cũng được đến trường”.

Thứ hai, vua Quang Trung là người đầu tiên đã thực hiện một cuộc cách mạng dân tộc là dùng chữ Nôm trong tất cả các chiếu biểu, văn thư hành chính, tài liệu học tập. Ngài đã biến chữ Nôm thành văn tự chính thức của quốc gia.

Cũng như trên, chỉ khi chữ viết ngày nay của chúng ta được công nhận là chữ Quốc ngữ thì Việt Nam ta mới thực sự có được bộ văn tự chính thức, thêm một lần nữa sau chữ Nôm như thời đại Tây Sơn, mà không phải sử dụng chữ Hán.

Thứ ba, vua Quang Trung là vị vua đầu tiên có tư tưởng và cho thực thi việc thông quan buôn bán, giao thương tự do với nhà Thanh ở cửa khẩu và thương buôn phương Tây ở các hải cảng. Đó là thời đại thương nghiệp phồn thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến nước ta.

Sau khi nhà Nguyễn lên thay, việc giao thương rất bị hạn chế, cho đến khi quân Pháp vào Việt Nam ta, nhưng đó không phải là nền thương nghiệp của một đất nước tự chủ nữa. Và có lẽ cho đến khi cấm vận kinh tế được dỡ bỏ năm 1994, chúng ta mới lại tiếp bước vua Quang Trung.

Thứ tư, thời đại Quang Trung là một thời đại ngoại giao vàng son. Từ xưa chưa có một vị vua nào tỏ vẻ lấn áp Trung Hoa như vua Quang Trung. Ngài với tư tưởng “các dân tộc bình đẳng” đã không thân hành đi đón sắc phong của vua Càn Long, hủy bỏ tục cống người vàng hàng năm cho Trung Hoa để “đền mạng Liễu Thăng” có kể từ thời vua Lê Thái Tổ.

Lại thêm một lần nữa, thành tựu của Tây Sơn bị gián đoạn bởi nhà Nguyễn. Các vua Nguyễn từ thời Gia Long chấp nhận sự không bình đẳng với nhà Thanh. Và cũng phải đợi đến khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, dân tộc ta mới trở lại vị thế bình quyền với các quốc gia khác.

Tướng Vũ Văn Dũng khi nghe tin Quang Trung băng hà, làm thơ khóc:

Năm năm dấy nghiệp tự thôn nông
Thời trước, thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hào Ðường, Tống hết khoe hùng.

Thật vậy, nếu vị vua kiệt xuất, phi thường của chúng ta sống lâu thêm chục tuổi thôi, thì có lẽ nước Việt ta đã sớm vươn lên về nhiều mặt, và biết đâu đã bước sang một trang hoàn toàn mới, với những tiến bộ từ rất sớm. Nếu nhà Vua sống thêm chục tuổi thì bên trong ổn định tình hình làm cơ sở vững chắc để Bắc phạt, lấy lại Lưỡng Quảng. Dòng họ của tướng Vũ Văn Dũng vẫn còn tờ chiếu của Vua, cử tướng Võ Văn Dũng đi sứ sang gặp Càn Long, cầu hôn công chúa, gã cho vua Quang Trung và xin lại đất Lưỡng Quảng. Thực chất là chọc giận Càn Long để tìm đường Bắc phạt. Sau khi phá 5 vạn quân Xiêm tại Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 và đánh tan 29 vạn quân Thanh năm 1789. Vua Càn Long và cả người Xiêm La sợ Vua Quang Trung như sợ cọp. Trẻ con Tàu, Xiêm không dám khóc đêm khi nghe tên Quang Trung...Quân Lục doanh và kể cả Bát Kỳ Mãn Thanh cũng chẳng là đối thủ của quân Tây Sơn...

Nhưng lịch sử không có chữ nếu, và sự ra đi của Hoàng Đế Quang Trung khi còn rất trẻ, ở tuổi 39, mãi mãi là niềm tiếc nuối khôn cùng của hậu nhân. Quang Toản nối nghiệp cha nhưng còn non dại. Thái sư Bùi Đắc Tuyên chia bè, kết đảng, các tướng tàn sát lẫn nhau. Tây Sơn tự hủy diệt mình chứ không phải Nguyễn Ánh tài ba. Vua Quang Trung mất sớm. Đó là nỗi đau của dân tộc và cũng là tiếc nuối khôn nguôi của hậu nhân về viễn cảnh một Đại Việt hùng cường và quật khởi./.

(fb Mai Ngọc Quý)

Có thể là hình ảnh về 1 người, tượng đài và ngoài trời

THÂN TÌNH.

Gọi là của ít lòng nhiều.
Một chút thôi, gửi bao nhiêu thân tình.
Việt Nam đất nước quê mình.
Cùng giàn bầu bí nhân sinh ấy mà.

Miền Nam máu thịt chúng ta.
Dịch Covid, cả nước nhà âu lo.
Một trận chiến đầy cam go.
Cách ly mục đích để cho an lành.

Dịch bệnh chắc sẽ qua nhanh.
Toàn Dân chung sức đồng hành Đảng ta.
Ngày mai có lẽ không xa.
Việt Nam ơi! lại vang ca khải hoàn.



DẪN ĐẦU.

Cuối cùng nhất cũng về ta.
Cảm ơn tất cả tham gia bình bầu.
Kết quả Việt Nam dẫn đầu.
Phần thi của đội để sau hãy bàn.
-----------------------------------------
KẾT THÚC BÌNH CHỌN ĐỘI QUÂN VĂN HOÁ VIỆT NAM LỘI NGƯỢC DÒNG DẪN ĐẦU BẢNG TỔNG SẮP
4 giờ 00 sáng 31-8, cuộc bình chọn kết thúc và hệ thống bình chọn đóng lại với kết quả: Đội tuyển Việt Nam dẫn đầu với 3,55 điểm; tiếp đó thứ nhì là Lào với 3,06 điểm; thứ ba là Nga với 3,04 điểm; thứ 4 là Myanmar với 3,03 điểm; tiếp đó là Serbia (2,94);Armenia (2,42); Azerbaijan (2,41);Sri Lanka (2,38); Trung Quốc (2,22)...
Không có mô tả ảnh.

NGẪM!

Dịch Covid cả ở trên thế giới lẫn trong nước vẫn chưa có dấu hiệu của sự suy giảm. Số người mắc bệnh hàng ngày được cập nhật với những con số cứ tăng chóng mặt. Có nhiều nơi vẫn xuất hiện ở ngoài cộng đồng với tỷ lệ cao. Gây khó khăn cho việc giữ vùng xanh, khoanh vùng đỏ. Một ước mơ không nhỏ của ngày mai về vắc xin nội đã chưa đủ cơ hội để trở thành hiện thực như những gì báo chí thông tin rầm rộ những ngày qua.
Hai za! Tin, tin, tin về vắc xin nội xin đừng vội tin. Cứ hãy chờ ở các cơ quan chức năng thông tin chứ xin báo đừng bố cáo.
Thôi gắng cố thủ, thực hiện đủ 5K và mong một ngày không xa vắc xin của chúng ta sẽ ra lò.
Xin đừng làm mấy trò lố bịch.
Rõ là "biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe". Ngẫm nó CHÁN. Làm ơn ĐỪNG PHÁN.

Trách nhiệm của mỗi công dân giữa đại dịch

Đại dịch Covid-19 đã làm điêu đứng nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới. Trong khi đó, ở Việt Nam, chúng ta vẫn tự hào khi đã kiểm soát được khá tốt dịch bệnh. Để có được điều đó, bên cạnh sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, còn phải kể đến ý thức trách nhiệm của mỗi công dân.

Thực trạng kỳ thị người về từ vùng dịch

Kỳ thị là cụm từ chẳng xa lạ với chúng ta, qua đài báo ta được nghe về kỳ thị màu da, kỳ thị HIV... Giờ đây, trong tình hình bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, ta nghe đâu đó những câu chuyện về kỳ thị những người trở về từ vùng dịch hay tiếp xúc với người bị bệnh. Một thực trạng đáng buồn và cần lên án xóa bỏ.

Ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường từ lâu đã là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất… Những vấn nạn đó gây ra hệ quả nặng nề như: hiệu ứng nhà kính, băng tan ở hai cực, thủng tầng ozone, và biết bao động vật hoang dã ở núi rừng, biển cả không còn nơi sinh sống, đứng trên bờ vực tuyệt chủng.

Lòng bao dung

Hãy luôn bao dung cho những người đã làm cho cho bạn bị tổn thương. Bởi nóng giận hay bực tức nghĩa là tự trừng phạt mình bằng lỗi lầm của người khác. Khoan thứ, độ lượng là cách duy nhất để tìm kiếm một cuộc sống yên bình và vui vẻ.

Bản lĩnh

 “Bản lĩnh” – hai từ thật đơn giản nhưng bạn biết không, hàm chứa trong đó là cả một quá trình quyết tâm kiên cường không ngại gian khổ. Giống như một chiếc áo giáp được tôi luyện từ những nguyên liệu bền vững nhất, bản lĩnh giúp ta không còn phải lo sợ trước những cơn gió to hay những ngọn sóng dữ. Bản lĩnh là khả năng giải quyết mọi chuyện một cách bình tĩnh, thông minh và tỉnh táo.

Tác động của đại dịch COVID-19 và một số giải pháp chính sách cho Việt Nam trong giai đoạn tới

Đại dịch COVID-19 đang càn quét khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, gây nhiều tác động tiêu cực chưa từng có tiền lệ lên nền kinh tế thế giới và Việt Nam. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp để hạn chế rủi ro của dịch bệnh đối với nền kinh tế, bảo đảm tăng trưởng hợp lý, ổn định xã hội, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trong những năm tới. Cho đến nay, dịch bệnh COVID-19 vẫn đang diễn biến rất phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, tác động tiêu cực đến các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu... Tại Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2020, COVID-19 tác động lên nền kinh tế và làm cho tăng trưởng kinh tế nước ta rơi xuống mức thấp nhất trong 10 năm qua. Tưởng chừng, cơn bão đại dịch COVID-19 đã qua đi và nền kinh tế sẽ phục hồi sau giai đoạn đầy khó khăn đó, tuy nhiên sau 99 ngày không có ca lây nhiễm trong cộng đồng, những ca nhiễm vi-rút SARS-CoV-2 lại được phát hiện tại Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quảng Nam và lan ra các tỉnh, thành phố khác trong cả nước (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Đắk Lắk…), đe dọa đến tăng trưởng kinh tế, phát triển doanh nghiệp và thu nhập của người lao động. Tác động của đại dịch COVID-19 đến kinh tế thế giới Tính đến sáng ngày 23-9-2020, cả thế giới có gần 32 triệu ca nhiễm, trong đó có hơn 23,4 triệu ca đã được chữa trị khỏi, gần 1 triệu người tử vong(1). Mỹ là quốc gia có số ca nhiễm vi-rút SARS-CoV-2 lớn nhất, hơn 7,1 triệu người, tiếp đến là Ấn Độ, Brazil, Nga, Colombia, Peru… Số ca nhiễm và tử vong do vi-rút SARS-CoV-2 gây ra chưa có dấu hiệu dừng lại mà vẫn tiếp tục tăng từng ngày trên thế giới. Tại Việt Nam, sau hơn 3 tháng không phát hiện thêm ca lây nhiễm trong cộng đồng, thì những ngày cuối tháng 7-2020, những ca bệnh mới đã được phát hiện mà chưa tìm được nguồn lây bệnh. Tính cho đến ngày 23-9-2020, Việt Nam ghi nhận 1.069 ca mắc COVID-19. Sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 trên thế giới và quay trở lại tại Việt Nam mà chưa có vắc-xin điều trị được sản xuất hàng loạt buộc các quốc gia phải sử dụng các biện pháp như giãn cách xã hội, đeo khẩu trang nơi công cộng, rửa tay thường xuyên, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Đại dịch COVID-19 đang tác động mạnh mẽ lên chuỗi giá trị toàn cầu thông qua các trung tâm của chuỗi. Trong đại dịch COVID-19, các quốc gia chịu tác động nặng nề cũng là các trung tâm của mạng sản xuất toàn cầu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ. Khi đại dịch bùng nổ, các biện pháp giãn cách xã hội được thực hiện, nhiều hoạt động sản xuất tạm dừng lại. Chuỗi cung ứng bị đứt đoạn ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư, thương mại toàn cầu, từ đó làm suy giảm tăng trưởng nền kinh tế thế giới nói chung và nhiều quốc gia, khu vực nói riêng. Do tác động của COVID-19, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu năm 2020 được Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đánh giá sẽ thu hẹp “từ mức 1.540 tỷ USD năm 2019 xuống dưới 1.000 tỷ USD”. Theo dự báo của UNCTAD, năm 2021, dòng FDI sẽ giảm thêm từ 5% - 10% và có thể bắt đầu phục hồi từ năm 2022(2). Cho đến nay, dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, khả năng dòng vốn FDI phục hồi là rất mịt mờ. Thương mại toàn cầu - gắn kết chặt chẽ với chuỗi cung ứng và dòng vốn FDI toàn cầu - cũng đang chịu tác động tiêu cực từ đại dịch COVID-19. Vào ngày 4-8-2020, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dự báo thương mại toàn cầu giảm 13% trong năm 2020. Cấu trúc sản xuất toàn cầu mang tính tập trung cao độ, một số trung tâm lớn trên thế giới cung ứng đầu vào, đóng vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị và mạng sản xuất toàn cầu. Vì thế, cú sốc COVID-19 tác động đến các trung tâm sản xuất sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu. Bên cạnh đó, một số quốc gia chuyển sang “tự cung tự cấp” trong thời kỳ dịch bệnh như một biện pháp phản ứng trước đại dịch COVID-19 sẽ càng làm cho thương mại toàn cầu thêm tồi tệ(3). Đại dịch COVID-19 tác động đến hai trụ cột trong tăng trưởng kinh tế toàn cầu là thương mại và đầu tư, do đó cũng sẽ tác động làm suy giảm tăng trưởng sản lượng toàn cầu. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), ngày 24-6-2020, tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm ước giảm 4,9%. Dự báo của IMF cũng phản ánh tình hình kinh tế thế giới ngày càng tồi tệ hơn khi vào tháng 4-2020, IMF dự báo tăng trưởng thế giới giảm 3%. Dự báo của Ngân hàng Thế giới cho thấy, nền kinh tế toàn cầu thậm chí còn tồi tệ hơn, suy giảm ở mức 5,2% năm 2020. Tăng trưởng kinh tế Mỹ được IMF dự báo giảm 8%, tăng trưởng của khu vực đồng tiền chung châu Âu giảm 10,5%, Nhật Bản giảm 5,8% và Trung Quốc tăng trưởng ở mức thấp 1%. Tăng trưởng kinh tế thế giới và tại một số quốc gia, vùng lãnh thổ là bạn hàng thương mại lớn của Việt Nam suy giảm sẽ tác động trực tiếp đến thương mại, đầu tư của nền kinh tế nước ta. Tác động của COVID-19 đến việc làm toàn cầu cũng rất mạnh mẽ. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (ILO), trong quý II năm 2020, tổng số giờ làm việc toàn cầu giảm 14%, tương đương 400 triệu lao động toàn thời gian. Mức giảm việc làm toàn cầu còn mạnh hơn so với dự báo trước đó của ILO. Suy giảm việc làm bên cạnh nguyên nhân sản xuất đi xuống, còn do việc nhiều quốc gia thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội để chống sự bùng phát của vi-rút SARS-CoV-2. Đại dịch COVID-19 làm bộc lộ những điểm yếu của các tổ chức và hệ thống toàn cầu như hệ thống y tế thế giới, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được cho là phản ứng quá chậm chạp khi để dịch bệnh bùng phát. Đại hội đồng Liên nghị viện ASEAN lần thứ 41 (AIPA 41) được tổ chức theo hình thức trực tuyến tại Thủ đô Hà Nội, từ ngày 8 - 10-9-2020_Ảnh: TTXVN Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 cũng đem đến những nhìn nhận mới, rõ nét hơn về cơ hội phát triển. Chẳng hạn, trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19 và thực hiện giãn cách xã hội, các cuộc họp, học tập, hội thảo trực tuyến nở rộ ở các quy mô và cấp độ khác nhau cho thấy tiềm năng của mạng internet chưa được khai thác một cách đầy đủ từ trước đến nay. Chẳng hạn, Quốc hội Việt Nam đã có những phiên họp trực tuyến mang tính tiên phong; Đại hội đồng Liên hợp quốc tổ chức họp trực tuyến lần đầu tiên trong lịch sử vào những ngày tháng 6-2020 - thời điểm dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp khó lường; hay Đại hội đồng liên Nghị viện ASEAN họp trực tuyến trong tháng 9-2020. Nhiều trường học các cấp, nhiều cuộc họp trong và ngoài nước tiến hành trực tuyến. Điều này giúp tiết kiệm chi phí, giảm thiểu thời gian đi lại cho mọi người. Tuy nhiên, đi liền với đó, thể chế cũng cần có sự thay đổi để đáp ứng trước quá trình chuyển đổi số đó. Tóm lại, đại dịch COVID-19 là cú sốc y tế mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt lên nền kinh tế thế giới. Tăng trưởng toàn cầu và của nhiều quốc gia, khu vực ở mức âm; đầu tư và thương mại toàn cầu suy giảm; người lao động mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Trong khó khăn do dịch bệnh mang lại, cũng có những cơ hội xuất hiện, nhất là các hoạt động kinh tế - xã hội trực tuyến như bán hàng trực tuyến, học trực tuyến, họp trực tuyến và thậm chí có những doanh nghiệp có kế hoạch dài hạn cho nhân viên làm việc trực tuyến tại nhà. COVID-19 đang đẩy nhanh quá trình ứng dụng và cho ra đời những sản phẩm mới từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đại dịch đem đến cho thế giới những khó khăn, thách thức; nhưng đồng thời cũng đem đến cơ hội. Quốc gia nào biết tận dụng cơ hội sẽ có khả năng vươn lên mạnh mẽ sau đại dịch. Và ngược lại, quốc gia nào không tận dụng tốt cơ hội sẽ gặp nhiều khó khăn trong thời kỳ “hậu COVID-19”. Tác động của Đại dịch COVID-19 đến nền kinh tế Việt Nam Qua 35 năm đổi mới (1986 - 2020), nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tăng trưởng kinh tế luôn ở mức dương, có nhiều năm tăng trưởng đạt mức cao trên dưới 8%; tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống 11,3% năm 2009 và chưa đến 4% vào năm 2019; thu nhập người dân được cải thiện rõ rệt, đời sống người dân nâng cao. Tuy nhiên, trong hơn 3 thập niên đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nhiều lần chịu tác động bởi các cú sốc bên ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và cú sốc dịch tễ vào năm 2020. Khác với 2 cú sốc trước là về tài chính - tiền tệ, cú sốc COVID-19 lần này chưa từng có tiền lệ, tác động mạnh mẽ lên nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Mặc dù đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu. Đối với yếu tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh. Trong khi đó, các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc) cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh và thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tế suy giảm, kéo theo sự sụt giảm về cầu nhập khẩu, trong đó có hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2019 và nếu loại trừ yếu tố giá thì còn giảm mạnh hơn, ở mức 5,3% (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,5%). Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2019. Những mặt hàng thiết yếu đối với cuộc sống như lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng; nhưng những mặt hàng như may mặc, phương tiện đi lại, văn hóa phẩm, giáo dục… chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các biện pháp giãn cách xã hội có tốc độ giảm. Cũng trong 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm tới 18,1% so với cùng kỳ năm 2019; doanh thu du lịch lữ hành giảm tới 53,2% - đây là lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng nhất bởi dịch bệnh COVID-19 và từ việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội. Đối với cầu đầu tư, 6 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016 - 2020, trong đó khu vực nhà nước tăng 7,4%; khu vực ngoài nhà nước tăng 4,6% và khu vực FDI giảm 3,8%. Trong 6 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực nhà nước tăng 3%, khu vực ngoài nhà nước tăng 16,4% và khu vực FDI tăng 9,7%. Như vậy, nhu cầu đầu tư của 2 khu vực: khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI sụt giảm trong 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư khu vực FDI giảm mạnh nhất, từ tăng trưởng 9,7% 6 tháng đầu năm 2019 xuống tăng trưởng âm 3,8% so với cùng kỳ năm 2020; tăng trưởng vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước sụt giảm từ 16,4% 6 tháng đầu năm 2019 xuống còn 7,4% năm so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, điểm sáng duy nhất là vốn đầu tư của khu vực nhà nước tăng từ 3% 6 tháng đầu năm 2019 lên 7,4% so với cùng kỳ năm 2020. Trong thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn và tổng cầu suy giảm, Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế sự suy giảm của tổng cầu. Đối với nhu cầu bên ngoài cũng có sự suy giảm, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó khu vực kinh tế trong nước có kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 11,7%; khu vực FDI (kể cả dầu thô) giảm 6,7%. Điểm đáng lưu ý, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế trong nước tăng 10,8% và khu vực FDI (kể cả dầu thô) tăng 5,9%. Như vậy, khu vực kinh tế trong nước vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu tăng trên 10%; khu vực FDI có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2020 giảm và năm 2019 tăng, do đó làm cho kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế tăng vào năm 2019 và giảm vào năm 2020. Thực trạng này cho thấy kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI và đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực đến đầu tư và chuỗi giá trị toàn cầu cũng đang tác động đến xuất khẩu của nền kinh tế nước ta. Nhìn chung, do ảnh hưởng đại dịch COVID-19, cầu của nền kinh tế (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu) bị sụt giảm, từ đó làm suy giảm hoạt động sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế. Các biện pháp của Chính phủ đang triển khai hiện nay chủ yếu hướng tới kích thích tổng cầu và phục hồi sản xuất. Đối với yếu tố cung, đại dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào và lao động. Chẳng hạn, trong ngành công nghiệp ô-tô, do linh kiện đầu vào khan hiếm cùng với thực hiện giãn cách xã hội nên các doanh nghiệp sản xuất ô-tô trong nước như Honda, Nissan, Toyota, Ford, Hyundai… phải tuyên bố tạm dừng sản xuất, chỉ đến khi thời kỳ giãn cách xã hội kết thúc và chuỗi cung ứng được kết nối trở lại, các doanh nghiệp sản xuất ô-tô mới quay trở lại hoạt động. Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước ngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu. Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút. Ở góc độ xã hội, COVID-19 tác động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và người lao động. Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020), “trong tháng 12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3%. Tỷ lệ này tăng lên tới 50,7% trong tháng 4-2020. Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,8% vào tháng 12-2019 lên 6,5% vào tháng 4-2020”. Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số và hộ gia đình có lao động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịu tác động từ dịch bệnh lớn hơn. Cũng theo kết quả điều tra của UNDP và UN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của các hộ gia đình dân tộc thiểu số trong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng 25,0% và 35,7% so với mức tháng 12-2019. Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần lượt ước tính khoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa. Trong tháng 4 và tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tính chỉ tương đương 25,1% và 43,2% so với mức của tháng 12-2019. Những con số này lần lượt là 30,8% và 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư”. COVID-19 tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại, lao động, việc làm và thu nhập của người lao động. Tuy nhiên, đứng trước cú sốc này, Nhà nước nhanh chóng thực hiện các giải pháp mạnh, trước hết là để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh, sau đó là để phát triển kinh tế. Các giải pháp đã chứng tỏ thành công bước đầu khi khống chế được dịch bệnh, không để lây lan trong cộng đồng trong thời gian dài (trên 3 tháng) và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, nhất là hoạt động du lịch cũng đang bắt đầu trên con đường khởi sắc trở lại trước khi dịch bệnh bùng phát lần nữa vào cuối tháng 7-2020. Giải pháp chính sách cho giai đoạn tới Nước ta đang chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm giai đoạn 2011 - 2020 và xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2045, hướng đến xây dựng Việt Nam trở thành nước hùng cường, thịnh vượng. Yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; thực hiện chuyển đổi số nền kinh tế đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết vì đó là cách thức để nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, đuổi kịp các nước đi trước và đạt được tầm nhìn xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 xuất hiện vào năm cuối thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 và khả năng sẽ ảnh hưởng đến một vài năm đầu của giai đoạn 2021 - 2030 đang đặt ra những thách thức mới không lường trước được. Đây là cú sốc bất ngờ làm nền kinh tế chệch khỏi đường ray đang trên đà phát triển kể từ năm 2012. Vì thế, để nền kinh tế nhanh chóng quay trở lại quỹ đạo phát triển bình thường mới, cú sốc dịch bệnh “vô tiền khoáng hậu” này cần được xử lý kịp thời, không để kéo dài và không để các vấn đề phát sinh trong thời kỳ dịch bệnh tồn đọng dai dẳng, kéo chậm tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Để hướng đến mục tiêu dài hạn, Chính phủ cần có giải pháp giúp nền kinh tế trong thời gian sắp tới vừa phát triển kinh tế, vừa ổn định xã hội, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Trước tác động của đại dịch COVID-19 lên nền kinh tế, Chính phủ nhanh chóng đưa ra các chính sách tiền tệ, tài khóa, an sinh xã hội nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của cú sốc COVID-19. Thứ nhất, gói chính sách tiền tệ - tín dụng nhằm cơ cấu lại, giãn - hoãn nợ và xem xét giảm lãi đối với tổng dư nợ chịu ảnh hưởng. Thứ hai, gói cho vay mới với tổng hạn mức cam kết khoảng 300.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi hơn tín dụng thông thường từ 1% - 2,5%/năm. Thứ ba, gói tài khóa (giãn, hoãn thuế và tiền thuê đất, giảm một số thuế và phí) với tổng giá trị 180.000 tỷ đồng. Thứ tư, gói an sinh xã hội 62.000 tỷ đồng cho hơn 20 triệu lao động và đối tượng yếu thế… (xem Bảng 1). Các gói hỗ trợ cho các chủ thể trong nền kinh tế đang được triển khai và chưa thể đánh giá đầy đủ hiệu quả ngay được. Nền kinh tế chưa kịp hồi phục từ đợt sóng COVID-19 lần thứ nhất khi cả nước thực hiện giãn cách toàn xã hội vào tháng 4-2020 thì vào cuối tháng 7-2020, những ca lây nhiễm vi-rút trong cộng đồng bùng phát mạnh trở lại đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Mục tiêu vừa phát triển kinh tế, vừa phòng chống dịch tốt đang trở nên khó khăn, thách thức hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, mục tiêu này không phải là bất khả thi với sự quyết tâm của Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ban, ngành, địa phương và sự chung tay, góp sức của toàn thể người dân cả nước trong cuộc chiến chống sự lây lan của vi-rút SARS-CoV-2. Để thực hiện nhiệm vụ kép vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế, ổn định xã hội đầy khó khăn, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau: Thứ nhất, nhanh chóng khoanh vùng, xét nghiệm trên diện rộng để tiến tới hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Hạn chế những hoạt động có sự tương tác đông người (du lịch, lễ hội, quán bar…), nhất là tại những điểm nóng về dịch bệnh. Cần tuyên truyền để người dân thực hiện các biện pháp phòng, chống sự lây lan của vi-rút như đeo khẩu trang, hạn chế tụ tập đông người nơi công cộng, rửa tay thường xuyên. Thứ hai, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công theo mục tiêu Thủ tướng Chính phủ đặt ra, gắn trách nhiệm giải ngân đầu tư công cho người đứng đầu; các bộ, ban, ngành, địa phương cần đồng hành, phối hợp chặt chẽ nhằm tháo gỡ nút thắt để có thể nhanh chóng giải ngân đầu tư công, vừa kích thích tổng cầu trong ngắn hạn, vừa tạo ra năng lực cho nền kinh tế nhằm tăng trưởng trong dài hạn. Thứ ba, khu vực FDI - xét cả về đầu tư trực tiếp nước ngoài và kim ngạch xuất khẩu - trong 6 tháng đầu năm 2020 có tăng trưởng âm, điều này là do tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 lên nền kinh tế thế giới, làm đứt chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực. Tuy nhiên, khu vực kinh tế trong nước có tăng trưởng đầu tư giảm nhưng kim ngạch xuất khẩu tăng vẫn tương đối tốt. Đối với khu vực này, Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ (miễn, giảm thuế, giãn nộp bảo hiểm xã hội, giảm lãi suất…) cho các doanh nghiệp trong nước trước các khó khăn và cú sốc tiêu cực từ bên ngoài. Thứ tư, lao động tự do, hộ kinh doanh, người nhập cư, người dân tộc thiểu số chịu tác động từ dịch bệnh COVID-19 nặng nề hơn so với các nhóm đối tượng khác, vì thế gói hỗ trợ Chính phủ đang triển khai cần tháo gỡ điểm nghẽn để nguồn lực hỗ trợ tìm đến được đúng các địa chỉ chịu tổn thương nhất từ dịch bệnh. Thứ năm, cú sốc dịch tễ chưa có tiền lệ này cho thấy hệ thống y tế và giáo dục của Việt Nam cần được củng cố và có những thay đổi căn bản. Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất y tế và giáo dục nhằm ứng phó hiệu quả trước các cú sốc y tế trong tương lai. Quan trọng hơn, cơ sở vật chất y tế và giáo dục cần được thay đổi để tận dụng thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (ví dụ như học online) nhằm thích nghi tốt trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Thứ sáu, trong nền kinh tế tương thuộc lẫn nhau, sự suy giảm tăng trưởng hay đứt gãy chuỗi cung ứng bên ngoài sẽ gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế và hoạt động sản xuất trong nước. Tuy nhiên, phụ thuộc quá mức vào khu vực FDI (trong đầu tư và xuất khẩu) sẽ tạo nên rủi ro lớn cho nền kinh tế khi gặp phải các cú sốc bên ngoài. Trong tình hình này, Việt Nam cần tư duy và nhìn nhận lại mô hình phát triển để tạo nên mô hình có sự cân bằng và liên kết tốt hơn giữa các động lực của tăng trưởng, các khu vực kinh tế. Thứ bảy, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thông qua các hiệp định thương mại tự do là xu thế tất yếu, tuy nhiên nền kinh tế cũng sẽ phải đương đầu với nhiều cú sốc từ bên ngoài hơn. Xây dựng một nền kinh tế mạnh là cần thiết, nhưng việc xây dựng một nền kinh tế có tính thích nghi cao, có sức chống chịu tốt trong một thế giới diễn biến phức tạp, khó lường sẽ cần thiết hơn. Điều này đòi hỏi phải có tầm nhìn, chiến lược nhằm phát triển lực lượng doanh nghiệp trong nước có tính gắn kết, có sức cạnh tranh và thực sự là những trụ cột cho nền kinh tế trong tương lai. Thứ tám, đại dịch COVID-19 đặt nền kinh tế nước ta trước những thách thức vô cùng to lớn, đồng thời đem lại những cơ hội. Cú sốc này góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số của nền kinh tế; lợi ích to lớn trong ứng dụng các thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại được nhìn nhận rõ nét hơn, sản phẩm mới xuất hiện và phát triển rộng rãi. Các xu thế này đòi hỏi phải có sự thay đổi thể chế, quy định nhằm thúc đẩy nền kinh tế số phát triển. Các giải pháp trên vừa là ứng phó cấp bách; vừa mang tính căn cơ lâu dài, nhằm giúp nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn và quay trở lại đường ray phát triển hướng đến mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường và thịnh vượng trong tương lai./.

Đối thoại, nhưng đối diện với… chính mình!

Đối thoại, phản biện, tranh luận một cách dân chủ, công khai, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, xưa nay vẫn là con đường ngắn nhất, văn minh và tiến bộ nhất, nhưng vô cùng khó khăn, thậm chí tranh đấu sinh tử để phát hiện sự thật, chân lý và tiếp cận, bảo vệ sự thật và chân lý. Song hành với đối thoại là con người luôn đối diện với… chính mình, tự vấn để hoàn thiện mình, phát triển tư tưởng của mình! Đó là một phần tất yếu cốt tử làm nên bản chất và sinh khí tự nhiên của một tư tưởng, một chủ thuyết phát triển, rộng ra là của tính quy luật và quy luật của cuộc sống xã hội loài người; và, đến lượt mình của chính mỗi người! Sự thật, dù bị chôn sâu dưới đất, nói như người Hy Lạp cổ đại, cũng làm cho cỏ cây phải biết nói, huống hồ chân lý, huống chi Con Người! Bởi, đối thoại là khởi nguồn tự nhiên của chính cuộc sống! Đó là tấm gương phản chiếu sức sống xã hội, thước đo của nền dân chủ, của nhân cách, trí tuệ và bản lĩnh Người! Và, tới lượt nó, đối diện với… chính mình lại là nền móng của đối thoại bình đẳng, tôn trọng nhau, cùng tìm đến sự thật, phát hiện và hành động theo chân lý. Đối diện với chính mình để làm nên tư chất, nhất là tư thế đối thoại. Cả hai cùng tỏa sáng! Lịch sử phát triển của nhân loại từ xưa nay đều xác tín rằng, người ta có thể hy sinh vì chân lý chứ không chấp nhận sự thật bị thói giả dối phỉ báng và khắc chế, chân lý bị cường quyền hạ nhục và chà đạp! Và, danh dự trước sự thật và chân lý thông qua đối thoại, tranh luận là vô giá, thiêng liêng và cần được tôn trọng vô điều kiện! Đó là cái căn bản làm nên vị thế và sức mạnh dẫn dắt của tư tưởng, vai trò mở đường của tư tưởng, của lý luận. Làm trái đi là bôi nhọ sự thật, hạ nhục chân lý và rốt cuộc tư tưởng, lý luận tự hạ nhục chính mình! Và, như thế, nhất định mọi tư tưởng, mọi lý luận bị xâm phạm và xã hội không thể tránh khỏi bạc nhược, lạc đường và thất bại! Tới lượt mình, mỗi cá nhân tất tự bại vong trong đối thoại, nếu thiếu đối diện… với chính mình! Vì nó không chỉ đòi hỏi từ nhu cầu mỗi người mà rộng ra là đối với mọi thể chế. Làm trái đi, thì vô luận, bất cứ một tư tưởng nào, một lý luận của nền chính trị nào cũng nhất định tự chuốc lấy sự bạc nhược, thậm chí què quặt, bại vong; và tới mỗi cá nhân, cũng tự đánh mất mình. Tất cả được báo trước, một cách cũng tự nhiên! Không có đối thoại, tranh luận sẽ không hình thành gương mặt tư tưởng và tư tưởng tỏa sáng, dù là mỗi cá nhân. Và, khi dân tộc không có tư tưởng riêng thì không thể có được một sự phát triển nào xứng đáng cả. Những tư tưởng gia, lý luận gia làm nên nền tư tưởng, lý luận! Đối thoại là động lực căn bản phát triển tư tưởng, lý luận và sự trưởng thành của mỗi dân tộc chân chính; thước đo gương mặt tư tưởng của mỗi nhân cách tư tưởng khả sỉ. Tự đối diện với… chính mình để chuẩn bị, để tu chính mình, nhằm đối thoại và khẳng định mình, phát triển tư tưởng cá nhân, xã hội và phát triển cuộc sống. Ông cha ta trải đã bao đời, vì thế, cố gắng nâng niu và bảo vệ vô điều kiện sự thật, thậm chí hy sinh tới giọt máu cuối cùng vì lẽ phải và chân lý. Bao nhiêu gương mặt tư tưởng tiền nhân và hôm nay đối thoại và luôn đối diện với… chính mình đã góp phần làm nên gương mặt tư tưởng quốc gia, kiến tạo và phát triển vị thế và sức mạnh Việt Nam ta độc lập, đang làm nền móng cho nền tư tưởng nước nhà phát triển một cách dân chủ, pháp quyền, tự do và bền vững. Vì, đó là con đường chân chính để các tư tưởng gia, lý luận gia xuất hiện và dân tộc tự mình làm giàu thêm lương tri, trí tuệ và nhân văn trong đại cuộc bảo vệ mình, đất nước trở nên hùng mạnh, bất khuất và góp phần phát triển tư tưởng loài người một cách đa dạng nhưng thống nhất. Đó chính là lối đi để mỗi người tự khẳng định tư tưởng, cốt cách và bản lĩnh cá nhân mình, lương tâm và hành động của mình, sẵn sàng đối thoại, vì đồng bào, vì Tổ quốc và nhân quần! Cổ nhân nói: Khởi thủy là hành động. Hành động lúc này, là lắng nghe, cần trải lòng mình để lắng nghe và thấu hiểu, biết tự mình đối diện với… chính mình, để cầu thị đối thoại! Vì, không gì tệ hại bằng bệnh giả điếc không muốn nghe. Cả năm, thậm chí nửa nhiệm kỳ, có vị đại biểu dân cử lánh, thậm chí trốn không gặp dân. Điều đó còn xấu xa hơn tệ vô cảm, lãnh cảm, ghê sợ hơn cả thói vô lương tâm. Vì sao có lắm người thờ ơ, ngoảnh mặt trước tiếng oán thán của đồng bào lúc đau khổ, không ít kẻ cam tâm nghểnh ngảng trước tiếng gọi thao thiết của vận mệnh núi sông khi lâm nguy, lắm kẻ lại bịt tai cố tình không thấy lời khẩn cứu ở vào bước ngoặt sống chết của muôn dặm sơn hà xã tắc… trong khi họ chỉ nhăm nhăm cố giữ quyền lực và vơ vét kim tiền? Họ có bao giờ đối diện với… chính mình và tự vấn mình không? Nếu có, sao chửa thấy họ xấu hổ, khi lên mặt rao giảng về đạo lý trên đời? Họ tự mình bịt mắt bịt tai, giả đò mù điếc. Người xưa nói, nếu không biết xấu hổ thì không thể thành Người được. Họ có thể dối được một người, thậm thụt với trăm người, chứ không thể dối được và dám đối thoại với muôn dân! Thế thì liêm sỉ để đâu, lại còn dám lên mặt dạy dỗ đồng bào, muối mặt thao thao tán hão về vận nước, lòng dân được nữa! Thân phận, tính cách như thế liệu ai gần và gần được những ai mà đối thoại? Hành động lúc này, tự mình là rèn rũa, thái độ khiêm cung, giữ vững và tỏa rộng cái khí chất của mình, trước hết là chính khí, cốt khí, linh khí trước và trong đối thoại để kiếm tìm sự thật, kỳ vọng chân lý! Chính khí ấy là sự cương trực khi đối thoại. Lịch sử xác tín rằng, các bậc tiên hiền do tính tình cương trực, chính nghĩa, nhân nghĩa và đạo đức, khi chúng hợp lại, có thể lấp đầy khắp trời và đất, khiến cho ma quỷ phải nể sợ mà tránh xa. Cổ nhân nói: Hạo nhiên chính khí thiên địa vĩnh tồn, là như thế! Huống chi ở đây là đối thoại! Bao người dối trên lừa dưới, bao kẻ nay phải mai trái, gió chiều nào che chiều ấy, cốt giữ thân mình lại dám khua môi múa mép cả gan luận bàn về nghĩa sĩ, trung thần. Họ có đối diện với… chính mình và tự vấn mình không? Nếu có thì vì sao mà bao người cong queo, dối trá, hèn nhát lại dám vênh mặt tự cho mình là ngay ngắn, trung trực, tận tâm vì dân, xả thân vì nước(!)? Vì sao lắm kẻ lẻo mép cao giọng về những chuyện “trung ngôn”, trung trực, nhưng lại dấm dúi dập vùi bao lời nói thật nhưng “nghịch nhĩ” họ? Họ im lặng đã đành, nhưng thử hỏi, họ giữ cương quyền ấy mà như thế thì người tốt còn trông cậy họ vào đâu được nữa!? Thân danh méo mó, tính cách lươn lẹo, công nghiệp tẻo teo như thế, nếu có còn tí nào liêm sỉ, mà dám ngẩng mặt, thế thì đối thoại vào đâu được nữa! Cốt khí ấy là sự bất khuất trong đối thoại. Rằng, “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”, tức giàu sang mà không hoang dâm, nghèo hèn mà không đổi chí khí, gặp quyền thế không chịu khuất phục. Có được như thế thì không gì có thể cản được; người không có cốt khí thì khó được an nhiên. Bao tấm gương các bậc sứ thần tiên liệt nước nhà còn đó, dù tan xương nát thịt không sợ, chỉ mong quốc thể quyết không bị làm nhục, trước bất kỳ ai, chẳng đã làm cho lắm kẻ khiếp nhược, trời đất nhân gian còn cảm động đến tận bây giờ đó sao. Huống chi ở đây là đối thoại. Họ có biết không và đối diện với… chính mình không? Vì thế mà bao người hèn hạ rắp mưu “ngậm máu phun người”, “đâm bị thóc, chọc bị gạo” mà không biết nhục trước nhẽ thường “Quân tử tuyệt giao ố ngôn bất xuất” (Người quân tử không bao giờ gặp nữa thì đừng nói lời đáng cười); bao kẻ “miệng nam mô” lại lăm le đi nẻo tăm tối chiếm những chốn “Niết bàn” vì ngập mắt vì xôi oản, thủ sẵn “một bồ dao găm” mà toan chà đạp lên cả giáo lý thiêng liêng, thậm chí cả những bậc đức cao vọng trọng(!). Chữ Lễ, trong họ, phỏng đã chết rồi, nói gì chữ Dũng! Người ta có thể bôi nhọ thân xác chứ không bôi nhọ được tư tưởng! Đối thoại đã bị bóp chết trong tay họ. Hình hài xộc xệch, cốt cách chẳng định, hành xử lại vô nhân vô pháp thế, thử hỏi ai trong số ấy còn hồn còn vía để cả gan dám đối thoại với ai đây?! Linh khí ấy là sự thông hiểu khi đối thoại. Tự rèn cho mình cái đức có thể thấy điều người khác chửa thấy, có thể nghĩ được điều người khác chửa kịp nghĩ, biết được điều mà người khác còn chửa biết. Đối với việc, thì thấu lý đạt tình, đối với người thì đối đãi trân trọng, ý hợp tâm đầu. Nếu được như thế thì ngõ hầu bất kể cuộc đối thoại nào, dù là với ai, đều làm chủ, thì tất chẳng không lạ! Thế sao bao kẻ thân mang tiếng chữ nghĩa, nhưng kỳ thực chỉ giỏi “đạo văn” lừa đời, đường đi thì chỉ toàn những “cửa sau” lén lút, lại dương dương tự đắc cho mình là giỏi giang “là một, là riêng”(!), bản lĩnh trường văn trận bút “là thứ nhất”(!), rồi xem gầm trời “mục hạ vô nhân” nhưng nguyên vẹn là những tay “đạo văn”, “đạo vị” (ăn trộm chức vụ)(!)? Vì thế, mà bao người trộm cắp được cái “ghế” làm phách với thiên hạ nhưng tính khí thất thường, “yêu nên bụt, ghét ra ma”, đại ngôn huênh hoang hợm hĩnh “một tấc tới giời” để che giấu cái sở học từ chương, sơ thiển, cộng thêm cái bản tính “bán giời không văn tự”, cái thói ỷ thế “con ông cháu cha” nên việc kia cắt đặt thì đụng đâu tan đấy, hành xử thì khiếm lễ, vô luân khiến người tốt tới mấy cũng lắc đầu, hiền sĩ ngậm miệng rũ áo bỏ đi, không thèm ngoái cổ. Sao họ cố mà chửa thấy cái điều, rằng “nhân nào quả nấy”; rằng “oan có đầu nợ có chủ”, rằng “gieo gió tất gặt bão”? Họ có tự vấn mình không? Đức vốn mỏng, lại vô liêm vô sỉ như thế, tai họa phát tác từ ngôi cao trộm được, nếu giữ được toàn mạng là may, thì liệu có còn có gan mà đòi phách lối, đối thoại với người?! Hành động lúc này là mài sắc dũng khí, cao hơn là giữ lấy hào khí đối thoại. Có thể sẵn sàng với mọi việc, cởi mở, tôn trọng với mọi người cần đối thoại, cầm lên được thì bỏ xuống được, không câu nệ tiểu tiết, càng không thể nhụt chí trên đường tiến về phía sự thật, chân lý, dù thế nào cũng không thể suy xuyển khí chất hào sảng của mình. Đối thoại gì hay đối thoại với ai cũng chân thành và khiêm cung! Thế mà bao kẻ trước gian nguy thì “miệng hùm gan sứa”, “ngậm miệng ăn tiền”, trước sự xấu xa thì “bưng tai bịt mắt”, “sống chết mặc bay”, trước người hiền thì giở giọng tỵ hiềm, “vu oan giá họa”, “đan giậm giật giàm”, xúc xiểm sau lưng,… Họ có tự mình đối diện… với chính mình không? Lúc đương giữ chức quyền thì thủ thế “mũ ni che tai”, giữ miếng “im lặng là vàng”, lén lút “sân trước sân sau”, “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ…” nhưng khi quốc gia gặp biến, lại đóng chặt cửa, núp trong nhà mình mà tụng ca ẩn sĩ tề gia:“Anh hùng khứ quốc bất thuyết kỳ danh” (Anh hùng đi khỏi nước không bàn chuyện công danh), đau đáu trông nom gia sản, nơm nớp ôm mớ kim tiền cuỗm từ quốc khố, ra vẻ làm người ngay ngắn mà không biết cái quả báo nhãn tiền gõ cửa. Chỉ đáng những “anh hùng rơm”, những “mảnh gương tày liếp”… thì ai dám tin, ai dám soi vào được nữa! Hình như sên ốc, lòng như nọc rắn, tham lam vô sỉ tới mức vô đạo vô thiên như thế, nếu sự xấu hổ có thể làm chết con người, thì thử hỏi họ còn đâu thân xác để mà mở miệng đối thoại trên đời được nữa?! Tất cả điều đó mới chỉ là nhẽ cần, quyết chưa là điều đủ. Vì, khi đối thoại, chỉ đối diện với người khác, với vạn sự, ấy mới chỉ là một nửa, dù thành kính lắng nghe, tôn trọng nhau, dù nỗ lực biết bao nhiêu, trong đối thoại hay hóa giải, dù hào khí, chính khí hay linh khí kia, đều đã có thừa. Nhưng, sao chưa toại? Khởi thủy là hành động! Phải chăng, hành động lúc này, cái quyết định đối thoại thành công cũng là cái khó nhất nhưng thường khi bị xem khinh là, đối diện với… chính mình!? Vả chăng, xưa nay, thành bại của cổ nhân và không ít người bây giờ, lại nằm ở chính chỗ yếu chí tử này. Đúng. Đức Phật nói: Chiến thắng vĩ đại nhất của con người là chiến thắng chính mình. Thân kia chưa tu sao lăm le đòi khiển nhân, trị quốc? Kiêu ngạo hay tự ti thì đã tự mình chuốc lấy thất bại một nửa rồi! Núi cao thường giấu ngọn, bông lúa chín thường cúi đầu, hồ sâu thường lặng sóng, hành động là tiếng nói mạnh hơn tất cả. Đó là tuyệt đỉnh của đối thoại, của tự mình đối diện… với chính mình! Chỉ có tự mình biết làm muối mới mong ướp mặn được người khác! Vì thế, trước mỗi người, mỗi việc, thì thường trực phải nghiêm cẩn tự xét mình, nghiêm cách đối diện… với chính mình, tự mình sang sửa muôn điều, nhưng thiển nghĩ cốt giữ lấy năm nhẽ sơ giản: Một- Những gì đi từ trái tim mình tự chúng sẽ đi con đường ngắn nhất tới những trái tim người; Hai- Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe; Ba - Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, vậy mới thật là biết; Bốn - Khiêm cung, tự trọng, bể dù sâu, núi dù cao mấy, cũng qua; Năm - Biết mình biết người mọi sự tất thành! Thiển nghĩ, được như thế, thì sao dung mạo chẳng từ trên xuống dưới, thần thái kể từ trong ra ngoài đều toát ra cái khí chất của người hòa thuận, hòa ái, hảo tâm nhưng chứa đầy khí phách, dám làm dám chịu, cương nhu hợp các, tự tôn mà không kiêu ngạo, không thể bị trộn lẫn, lại thật sự hào sảng, hành vi thì khiêm cung, ung dung tự tại mà không phải yếm thế, thúc thủ, thì người đối diện làm sao mà không kính nể, trân trọng cho được. Ấy chính là đại khí vậy! Đối diện nghiêm cách với… chính mình không chỉ tạo nên vị thế của mình, để đối thoại thành công, mà hóa giải vạn sự khó khăn sẽ nhẹ hơn cả “nửa lông hồng”, thậm chí bất thuyết tự nhiên thành! Trái thế, tất bại!

Cẩn trọng với 'nấm độc' thông tin


Tin giả trên mạng xã hội làm nhiễu loạn môi trường thông tin, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến cuộc chiến chống dịch Covid-19

Theo cơ quan chức năng, từ thời điểm xuất hiện dịch Covid-19 đến nay, đã có hàng triệu tin, bài, clip liên quan đến dịch bệnh được đăng tải trên các trang mạng xã hội; trong đó có nhiều tin đồn thất thiệt, tin giả với nội dung sai sự thật, gây hoang mang dư luận.


Giật gân, câu like


Ngày 29-8, Trung tâm Xử lý Tin giả Việt Nam (VAFC) đã phát hiện trên mạng xã hội lan truyền thông tin "Vừa rồi đồng nghiệp của tôi nhận được một cuộc gọi hỏi rằng anh ấy đã được tiêm phòng chưa. Nếu anh ta đã được tiêm phòng, hãy nhấn phím 1; nếu anh ta chưa được tiêm phòng, nhấn phím 2. Kết quả là anh ta nhấn phím 1, điện thoại bị chặn và thông tin ngân hàng trực tuyến và thẻ thanh toán swk thường xuyên sử dụng của anh ta đều được chuyển...". Qua kiểm tra, xác minh từ cơ quan chức năng, VAFC khẳng định nội dung thông tin trên là giả mạo. VAFC khuyến cáo người dân và cộng đồng mạng không chia sẻ tin giả nêu trên. Vụ việc đang được chuyển cơ quan chức năng xem xét, xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.


Vừa qua, Công an quận Tân Phú, TP HCM đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn Lân (SN 1974; ngụ quận Tân Phú) về hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Ông Lân đã sử dụng tài khoản Facebook cá nhân đăng dòng trạng thái với tiêu đề "Một shipper buồn nhất thế giới và một thằng bán gas quá rảnh" kèm theo hình ảnh nhân viên cơ sở mai táng đang chuẩn bị giao hũ cốt trong giỏ nhựa tại hẻm 42 Âu Cơ, phường Phú Trung, quận Tân Phú. Bài viết đã thu hút rất đông sự quan tâm của cộng đồng mạng với hơn 2.900 lượt like, 780 bình luận, 1.300 lượt chia sẻ, trong đó có cả số đối tượng chống đối, phản động trong và ngoài nước. Qua điều tra ban đầu, ông Lân thừa nhận hành vi và cam kết không tái phạm, chỉnh sửa các tin, bài đã đăng trước đó và chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Thông tin bịa đặt về tình hình dịch Covid-19, xuyên tạc các chủ trương, chính sách, giải pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội, cung ứng lương thực - thực phẩm và hàng hóa thiết yếu cũng như các biện pháp chống dịch của TP HCM trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội cũng thường xuất hiện trên mạng xã hội.


Mới đây, Công an huyện Bình Chánh đã xử phạt Lý Minh Vỹ (SN 1982) về hành vi đưa tin trên nhóm Facebook "Tôi là dân Vĩnh Lộc" không đúng sự thật. Vỹ khai nhận do trong thời gian giãn cách xã hội ở nhà rảnh nên đăng tải nội dung "Bắc thang lên hỏi ông trời, chứ tiền hỗ trợ có đòi được không" với mục đích... cho vui. Trong khi trước đó, Vỹ đã được nhận 1,5 triệu đồng tiền hỗ trợ đợt 1 từ chính quyền địa phương.

Thận trọng khi tiếp nhận thông tin

Công an TP HCM nhận định trong thời gian qua, lợi dụng diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, nhiều cá nhân đã đăng tải những thông tin sai sự thật, giật gân, câu like trên trang mạng xã hội. Hằng ngày, hằng giờ, đủ tin đồn thất thiệt, tin giả trên mạng lan truyền với tốc độ nhanh chóng. Những tin giả này len lỏi, gây hoang mang, làm lung lay niềm tin, làm méo mó suy nghĩ và nhận thức, dẫn đến những hành động không đúng của người dùng mạng xã hội. Nếu coi tin giả là nấm độc trên môi trường mạng thì đằng sau các nút like, share và comment chính là thái độ, nhận thức và văn hóa ứng xử của chính mỗi người dùng.


Công an TP HCM khuyến cáo người dân cần bình tĩnh, thận trọng trước những luồng thông tin trên mạng xã hội; không chia sẻ thông tin không chính thống; không lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng gây hoang mang dư luận. Người dân nên tìm hiểu và cập nhật thông tin chính thống tại các cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước và các cơ quan báo, đài chính thống. Đối với các hành vi thông tin sai sự thật, xuyên tạc tình hình liên quan đến công tác phòng chống dịch Covid-19, Công an TP HCM sẽ nhanh chóng điều tra, truy xét và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.


Nhìn nhận về việc chia sẻ thông tin giả mạo trên mạng, luật sư Lưu Tấn Anh Toàn (Giám đốc Công ty Luật Lưu Vũ) nói: "Bằng các biện pháp nghiệp vụ, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, không khó để cơ quan công an tìm ra kẻ tung tin ẩn danh trên mạng để xử lý. Không chỉ người tung tin giả bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà người góp phần chia sẻ thông tin cũng bị xem xét nếu gây hậu quả nghiêm trọng".


Theo luật sư Lưu Tấn Anh Toàn, Quyết định 874/QĐ-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông nêu rõ người dùng mạng xã hội phải tuân thủ những quy tắc ứng xử chung: tôn trọng, tuân thủ pháp luật; lành mạnh; an toàn, bảo mật thông tin và trách nhiệm.


Ngoài ra, điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP cũng quy định phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân.

Hải Đăng ST

GIỌNG ĐIỆU CỦA NHỮNG NGƯỜI MANG TÂM ĐỊA ĐEN TỐI


          Từ khi đại dịch COVID -19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân đã được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng bỏng tại các địa phương. Thế nhưng trên mạng xã hội, Internet, một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, những kẻ bất mãn mang tâm địa đen tối cố tình cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, những vidio, clip... bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Một số kẻ đã đăng phát trên mạng xã hội những bài viết có nội dung suy diễn, chủ quan, phiến diện cố tình xuyên tạc chủ trương đưa Quân đội, Công an vào tham gia phòng, chống đại dich COVID-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Đáng lưu ý, trong một bài viết trên BBC tiếng Việt, có kẻ vẫn nhai lại luận điệu cho rằng việc huy động Quân đội tham gia chống đại dịch COVID-19 là trái Hiến pháp, pháp luật. Từ những lập luận mù mờ, suy diễn một chiều chúng rêu rao rằng việc sử dụng Quân đội là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh.

          Khi quân đội huy động các loại phương tiện kể cả máy bay, tàu thủy để vận chuyển lương thực - thực phẩm vào phía Nam giúp nhân dân thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch, thì có kẻ lại hoài nghi nói rằng: số lương thực – thực phẩm ấy phục vụ cho mấy nghìn quân ăn còn chưa đủ lấy đâu ra mà cung ứng, hỗ trợ nhân dân… Trên RFA (Đài Á Châu Tự Do), trong bài viết: “Chống dịch như chống giặc: Kẽm gai, quân đội, công an, pháo đài … sẽ còn thêm gì nữa?” khi bàn về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân, có kẻ cho rằng: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”. Tác giả bài viết này lý giải: “Bộ đội, công an vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa…”. Khi xem những hình ảnh bộ đội đi chợ giúp dân, mang từng bao gạo, hộp mỳ tôm, chai dầu ăn, chai nước mắm.... đến trao tận tay từng nhà dân, có kẻ lại nói rằng quân đội “làm màu”, “đánh bóng”, “mỵ dân”...

          Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; hạ thấp uy tín của Quân đội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội, chia rẽ tình đoàn kết giữa Quân đội với nhân dân.