Thứ Năm, 28 tháng 10, 2021

Giữ vững độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

 Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, trong thời đại ngày nay. Đó cũng chính là lôgíc phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam và vị thế Việt Nam trước thế giới. Nhận thức và hành động theo sự lựa chọn và theo hệ giá trị đó, từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Qua hơn 75 năm giành, giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt 35 năm đổi mới, với hệ giá trị đó, Đảng ta xứng đáng tiêu biểu cho bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Tỏ rõ tính độc lập tự chủ trong đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta ra khỏi tình trạng đói nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; có quan hệ đối ngoại ngày càng rộng mở, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đó là sự khẳng định về tính đúng đắn tuyệt đối của Đảng và Nhân dân ta lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với Việt Nam không chỉ là mục tiêu, là nhu cầu, là cương lĩnh hành động, là ngọn cờ hiệu triệu, mà còn là động lực, là niềm tin sắt son của dân tộc Việt Nam ta. Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự gắn kết hai sức mạnh thành một sức bật mới; là cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau.

Đã qua hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ ba của một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt của cộng đồng quốc tế. Thế giới đã chứng kiến bao cảnh đau thương của nhiều dân tộc ở châu Phi, ở Trung Đông, dù đã giành được độc lập nhưng đất nước bị hoang tàn bởi các xung đột chia rẽ nội bộ và sự can thiệp từ bên ngoài. Ngay một số nước dù có độc lập dân tộc nhưng việc tranh giành giữa các lực lượng chính trị trong nước làm cho tình hình luôn nóng bỏng, cuộc sống của nhân dân không được bình yên. Vậy nên, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với xu thế toàn cầu hóa, với tất cả mặt tích cực và tiêu cực, bất trắc; dù cho ai đó bị lóa mắt bởi những bộ áo cánh sặc sỡ của chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lý tưởng, là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiếp tục giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới.

Xóa tan mưu đồ xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết quân - dân của thế lực thù địch bằng hành động của Người chiến sỹ trong thời bình

 Quân đội ta là Quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn xây dựng, củng cố, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân. Quan hệ đó trở thành nét đẹp truyền thống quý báu của Quân đội ta, tạo dựng hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chia rẽ Quân đội với nhân dân của các thế lực thù địch.

Trong thời bình, cán bộ, chiến sĩ Quân đội xác định là nhiệm vụ “chiến đấu” luôn ở tuyến đầu, chiếm trên 70% lực lượng, phương tiện của cả nước; thực sự là lực lượng nòng cốt, xung kích, có mặt kịp thời, bất chấp hiểm nguy, hỗ trợ nhân dân sơ tán, phòng, tránh, cung cấp thuốc, lương thực, thực phẩm, nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống. Tiêu biểu là các hoạt động: khắc phục hậu quả cháy rừng, mưa lũ, hạn hán, xâm nhập mặn trên các địa bàn miền Bắc, Trung, Nam; cứu nạn sập hầm Đạ Dâng (Lâm Đồng); xử lý ô nhiễm môi trường tại nhà máy Bóng đèn phích nước Rạng Đông; đất bị ô nhiễm chất độc dioxin tại sân bay Đà Nẵng; khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường biển tại các tỉnh miền Trung, v.v. Trong quá trình tham gia các hoạt động đó, nhiều cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã hy sinh cả tính mạng của mình vì cuộc sống bình yên của nhân dân. Đặc biệt, trong phòng, chống đại dịch Covid-19, các đơn vị Quân đội ngày đêm chốt chặn trên toàn tuyến biên giới; tổ chức gần 200 khu cách ly, tiến hành tiêu độc, khử trùng hàng triệu kilômét vuông tại các khu vực phát sinh dịch; thành lập các Bệnh viện dã chiến tiếp nhận, điều trị bệnh nhân; các tổ, đội cơ động phòng, chống dịch, tham gia bảo đảm an sinh xã hội cho nhân dân bị ảnh hưởng. Luôn khắc ghi trong lòng “nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”, bộ đội phải “hiếu với dân”, tất cả những việc làm của cán bộ, chiến sĩ đều thể hiện tinh thần vì nhân dân phục vụ. “Ở đâu gian khó ở đó có bộ đội”, bộ đội chủ động đến với dân trong mọi tình huống, hoàn cảnh khó khăn, đồng cam, cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với nhân dân. Càng trong khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, tình đoàn kết gắn bó máu thịt quân - dân càng tỏa sáng, càng làm cho mưu đồ xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết quân - dân trở nên lạc lõng.

Thứ Tư, 27 tháng 10, 2021

Đánh chết đồng nghiệp vì ghen

ĐỒNG NAI Hoàng Văn Bắc, 28 tuổi, thấy vợ nói chuyện với nam đồng nghiệp liền nổi cơn ghen, cầm xẻng đánh anh này tử vong. Ngày 28/10, Bắc bị Công an Đồng Nai tạm giữ để điều tra hành vi Giết người. Vợ chồng Bắc và nạn nhân đều là công nhân của công ty ở TP Long Khánh. Tối hôm qua, Bắc thấy vợ ngồi nói chuyện với nam đồng nghiệp này, nghĩ hai người có tình ý nên nổi cơn ghen. Lời qua tiếng lại một lúc, anh ta lấy xẻng đánh nam thanh niên nhiều cái vào đầu, tử vong tại chỗ. Bắc bỏ đi khỏi hiện trường nhưng bị công an bắt. Người thân cho biết, vợ chồng Bắc thường xuyên mâu thuẫn do ghen tuông. Anh ta đã làm đơn ly hôn nhưng vợ chưa đồng ý.

 ĐỪNG VÌ DĂM BA CÁI VIEW ẢO MÀ XÚC PHẠM QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

TikTok là một mạng xã hội mang đậm tính giải trí. Với nhiều người, Tiktok rất trong sạch, lành mạnh, nhiều nội dung bổ ích, cung cấp thêm kiến thức cho mọi người. Nhưng cũng với nhiều người khác, TikTok trở thành nơi khoe thân, quảng cáo ứng dụng liên quan đến xxx, nơi công kích gây chiến giữa nhóm nhạc/ngôi sao bóng đá… Và mới đây nữa, có một Tiktoker đã sử dụng TikTok để làm một nội dung xúc phạm, hạ thấp danh dự, uy tín, hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.
TikToker này làm nội dung về việc đọc nhại từ “quân đội nhân dân” sang “quân giận nhân hai” và cuối cùng “quân hại nhân dân”. Điều đáng buồn là nội dung này được gần 100 ngàn lượt xem trên Tiktok, gần 9000 lượt yêu thích, có rất nhiều TikToker khác đã “duet” lại nội dung này với mục đích “hùa theo” và tung hô câu chuyện này.
Có một bình luận bao biện rằng chỉ là “J4F” (just for fun, có nghĩa là đùa vui) thôi mà. Nhưng người ta cũng có câu “vui có chừng, dừng đúng lúc”, không phải nội dung nào cũng được đem ra đùa vui và gắn những câu phủi bỏ trách nhiệm như for fun, just for fun, làm gì giải trí thôi mà… Video này được đăng vào nhóm “Team 2k9” và các bạn biết gì không? Tụi nhỏ lại đi thần tượng Tiktoker này vì làm nội dung vui nhộn và hài hước, có tính giải trí cao, rồi khen “gieo vần tốt”, “punchline hay ho”, xin ID để theo dõi(?) Trước khị bị xóa, video này hiện diện trong nhóm được khoảng hơn 7 giờ, thu được hơn 80 ngàn view, hàng ngàn bình luận tung hô khen hay và hơn 1000 lượt chia sẻ.
Có một bạn trẻ trong nhóm Team 2K9 bình luận rằng: “Quân đội nhân dân Việt Nam “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, đã bảo vệ Tổ Quốc và cha ông ta từ bao nhiêu năm tháng qua, cứu hộ cứu nạn miền Trung, hỗ trợ đồng bào chống dịch. Vậy mà nhiều bạn trẻ bây giờ lạ lùng, lại đi tung hô một video xúc phạm quân đội”. Một bình luận ý nghĩa vậy mà đám trẻ lại lao vào chửi là "thượng đẳng", "yêu nước online", "đứt dây thần kinh đùa"... Nặng hơn thì bị chửi là "quân đội là gì mà không được đùa", "tao chửi quân đội đấy bắt tao đi"...
Những điều trên như là một sự chứng minh rõ nét trình độ dân trí, khả năng đú bẩn và đua đòi của một đám người còn rất trẻ.
Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Hình ảnh các chiến sĩ bộ đội luôn rất thân thiện và gần gũi với nhân dân. Bao nhiêu gian khó có các anh lo, từ bảo vệ chủ quyền, cứu khổ cứu nạn, chống dịch… Khó khăn gì các anh cũng làm và không hề nề hà. Mà không hiểu sao lại bị lũ trẻ đem ra đùa cợt, giễu nại làm trò vui.
Vừa rồi, Vlogger Huy Cung tham gia lên án các nội dung/trào lưu bẩn thỉu trên TikTok, anh cho rằng những “thần tượng mạng” vẫn đang ngày càng bất chấp, mang cả chất cấm, hành vi phạm pháp lên mạng và khoe khoang điều đó. Hành vi thì ngày càng đáng báo động và gia tăng ở cả chất lượng và mở rộng sang nhiều vấn đề “rác” khác. Mà những hành vi lại được tung hô bởi hầu hết những người rất trẻ, còn ngồi trên ghế nhà trường. Vlogger Huy Cung: Có khi nào 5 năm nữa, tư duy của cộng đồng mạng sẽ lại thay đổi và đón nhận những "hảo content" này trong sự tung hô, thán phục?
Ngày nay, trào lưu viết lại lịch sử đã rất đáng ngại rồi. Ngày càng có nhiều trào lưu độc hại trên mạng xã hội, nhưng thay vì chỉ trích thì một số dân mạng lại chọn tung hô. Việc hạ thấp danh dự, uy tín, lịch sử của những người lính bộ đội cụ Hồ là rất nguy hiểm, lướt qua thì có vẻ là vui, nhưng nếu một bác thương binh, một anh chiến sĩ ở biên cương xem được và đọc được thì sẽ như thế nào? Họ sẽ nghĩ gì về giới trẻ hiện nay? Họ sẽ suy nghĩ gì về những gì họ đã và đang làm?
Nhớ là ai đó đã nói rằng, một bộ phận giới trẻ ngày nay dường như sống mà “không cần não”.
Biết là thấy rác mà khui lên thì rất thối, nhưng nếu không khui lên và dọn dẹp sạch sẽ, thì đám rác rưởi ấy vẫn còn tồn tại, từ ngày này qua tháng nọ. Từ một đám rác nhỏ thành một đám rác lớn, từ một đám rác lớn thành một bãi rác, rồi ảnh hưởng từ một vài nhà thành cả một khu phố, đến những ai ghé qua và đi lại.
Có những thứ không được đem ra đùa cợt và trêu đùa, trong đó có Quân đội nhân dân Việt Nam và những người lính bộ đội Cụ Hồ.

 

PHẢN BIỆN HAY PHẢN ĐỘNG?

Diễn biến hòa bình là chiến lược chống phá cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, được tiến hành thường xuyên, liên tục, trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội với những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Biện pháp mà lực lượng phản động thường vận dụng là lợi dụng những lúc khó khăn như thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng… để khoét sâu mâu thuẫn trong nội bộ, hoặc giữa lực lượng lãnh đạo và nhân dân, kích động tư tưởng bất mãn, gây biểu tình, bạo loạn, tạo cớ can thiệp, lật đổ chính quyền cách mạng, thành lập chính quyền tay sai.

Bước vào đợt dịch thứ 4, khi dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, số người nhiễm bệnh và tử vong ở Việt Nam tăng cao, một số phần tử phản động người Việt đưa ra cái gọi là “phản biện giải pháp phòng, chống Covid-19 tại Việt Nam”. Thế nhưng bản chất của nó lại là phản động. Chúng “phán” rằng: “Dịch bệnh lan rộng ở Việt Nam có nguyên nhân sâu xa là do thể chế, do một đảng lãnh đạo, là vì chống dịch theo mô hình xã hội chủ nghĩa"... Đó là cái nhìn phiến diện, cố tình chính trị hóa vấn đề chống dịch của Đảng,Nhà nước ta nhằm chia rẽ nội bộ nhân dân, chia rẽ giữa Đảng, chính quyền Nhà nước với nhân dân.

Cả thế giới đều biết Mỹ là nước tư bản chủ nghĩa, có thể chế đa nguyên, đa đảng, với dân số hơn 300 triệu người. Không những thế, Mỹ là siêu cường thế giới, có tiềm lực kinh tế, y tế rất lớn. Nhưng Mỹ lại là nước có số ca nhiễm và tử vong vì covid-19 lớn nhất thế giới. Trong khi đó, Trung Quốc là nước xã hội chủ nghĩa, dân số hơn 1,4 tỉ người (gấp gần 5 lần dân số Mỹ) nhưng so với Mỹ về ca nhiễm và tử vong vì covid-19 là: số ca nhiễm ở Mỹ hơn 46 triệu, Trung Quốc hơn 90.000; số ca tử vong ở Mỹ hơn 700.000, ở Trung quốc là hơn 4000. Đây thực sự là những con số biết nói.

Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên tiềm lực của Việt Nam còn kém xa Trung Quốc, hơn nữa bản thân đất nước Trung Quốc là một thị trường khổng lồ nên dù họ có đóng cửa với thế giới cũng ít bị ảnh hưởng. Vì vậy, kết quả chống dịch của Việt Nam đã gặp không ít khó khăn, tuy nhiên Việt Nam vẫn là điểm sáng chống dịch được thế giới công nhận. Mặc dù vậy, các thế lực thù địch cố tình lảng tránh khó khăn, chỉ vin vào số ca nhiễm và tử vong tăng cao để chống phá Đảng, Nhà nước. Không những thế, lợi dụng dịch bệnh, các đối tượng chống đối còn tổ chức tuyên truyền, huấn luyện, lôi kéo người vào các tổ chức phản động, phát triển lực lượng chống đối trong nước. Đáng chú ý, tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã tán phát “Thư kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam thả tù nhân trong đại dịch Covid-19”...Tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lợi dụng giãn cách xã hội để móc nối, lôi kéo công dân tham gia tổ chức của chúng, nhất là những người trẻ tuổi có nhận thức chính trị hạn chế, người có hoàn cảnh khó khăn, bất mãn xã hội, ảo tưởng chính trị để kích động, khoét sâu bất mãn với chính quyền, hứa hẹn “cấp phát nhà miễn phí”.

Việt Nam là nước nằm trong khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao và là nước có tiềm lực kinh tế còn hạn hẹp. Nhưng với phương châm: “Tất cả vì sức khỏe của nhân dân”, ngay sau khi phát hiện những trường hợp dương tính đầu tiên ở trong nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định, có thể hy sinh một số lợi ích kinh tế nhưng quyết tâm phải bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Đây cũng là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong gần hai năm qua. Cùng đó, chúng ta cũng đã nhanh chóng thành lập Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19; phát động toàn dân, toàn quân “chống dịch như chống giặc”. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội chỉ đạo thường xuyên, kiên quyết và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ “ngoại giao vaccine”. Nhìn lại kết quả công tác PCD Covid-19 trong thời gian qua ở Việt Nam có thể thấy, điểm mấu chốt tạo thành sức mạnh để đẩy lùi dịch bệnh chính là sự lãnh đạo thường xuyên của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, chính quyền các cấp và sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn dân. Điều này không chỉ được chúng ta khẳng định mà bạn bè quốc tế cũng đã ghi nhận.

 

Phương pháp tiếp cận vấn đề thời đại

 


Trong lịch sử đã có nhiều nhà tư tưởng bàn đến vấn đề thời đại. Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau, việc phân chia thời đại dựa vào các tiêu chí khác nhau dẫn đến quan điểm về thời đại cũng khác nhau.

- Nhà xã hội học Vicô người Italia (1668-1744) phân chia thời đại như phân chia các giai đoạn của một vòng đời: Thơ ấu, thanh niên, thành niên và cuối cùng là tuổi già

- Heghen phân chia lịch sử nhân loại thành 3 thời kỳ: Thời kỳ phương Đông, cổ đại, giecmani.

- Phurie chia lịch sử nhân loại thành 4 giai đoạn: Mông muội, dã man, gia trưởng, văn minh

- Moocgăng Người Mỹ lại chia thành 3 thời đại: Thời đại Mông muội, dã man, văn minh

- Lấy công cụ sản xuất làm tiêu chí phân chia lịch sử thành các thời kỳ: đồ đá, đồ đồng, thời đại cối xay gió, thời đại máy hơi nước, kỷ nguyên hạt nhân.

- Tiếp cận thời đại theo nền văn minh Anvin Toffler trong tác phẩm “làn sóng thứ ba” đã chia lịch sử nhân loại thành 3 nền văn minh: nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp.

- Tiếp cận theo dân tộc,  quốc gia -  dân tộc

Đây là cách tiếp cận lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm bản vị. Cách tiếp cận này đã căn cứ vào sự đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia dân tộc đang diễn ra phổ biến trên thế giới hiện nay để khẳng định: thời đại ngày nay là thời đại của lợi ích quốc gia dân tộc.

- Tiếp cận theo hình thái kinh tế - xã hội

Tiếp cận thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội là phương pháp tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã vạch ra cơ sở khách quan khoa học để xem xét phân chia thời đại, đó là: “Trong mọi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra, - cả hai cái đó cấu thành cơ sở lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”[1].

+ Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã đưa ra tiêu chí tổng hợp để xem xét thời đại gồm: LLSX, QHSX, CSHT và KTTT, tức toàn bộ các yếu tố cấu thành nội dung của thời đại từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Hơn nữa, lý luận hình thái kinh tế - xã hội còn chỉ rõ đối với xã hội có giai cấp, giai cấp nào là giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của một thời đại, là động lực xã hội chủ yếu chi phối sự vận động của thời đại đó.

+ Với cách tiếp cận trên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân kỳ lịch sử xã hội loài người đến thế kỷ XIX thành 4 hình thái kinh tế - xã hội là: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và rút ra kết luận hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa tất yếu sẽ ra đời, nhân loại sẽ bước sang thời đại mới - thời đại cộng sản chủ nghĩa.

Phương pháp tiếp cận vấn đề thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội là cách tiếp cận khoa học, vì nó xuất phát từ những cơ sở vật chất khách quan.  

=> Song cần lưu ý thời đại và hình thái kinh tế - xã hội là 2 khái niệm khác nhau, chúng có quan hệ chặt chẽ, nhưng không đồng nhất. Đó là: hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cấu thành thời đại; còn thời đại là thời kỳ hình thành, phát triển và bắt đầu ngự trị của một hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ nhất trong khi vẫn còn sự tồn tại của các hình thái kinh tế - xã hội thấp hơn. Hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ nhất chính là đặc trưng cho tính chất và xu hướng phát triển của một thời đại.

=> Đảng ta thống nhất với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phương pháp tiếp cận thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội, bởi đó là cách tiếp cận khoa học để hiểu thực chất thời đại trên các mặt cơ bản của đời sống xã hội. Tuy nhiên Đảng ta không tuyệt đối hóa phương pháp tiếp cận thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà có sự kế thừa, tiếp thu những yếu tố hợp lý từ các cách tiếp cận khác để nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn vấn đề thời đại nói chung, thời đại ngày nay nói riêng.



[1] C .Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 21, tr.11.

 

ĐỂ "THANH BẢO KIẾM" NGÀY CÀNG SẮC BÉN!

Thời gian gần đây, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng chủ trương tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, rơi vào suy thoái, biến chất, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng.

Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tồn đọng, phức tạp kéo dài đã lần lượt được đưa ra ánh sáng và xử lý đúng người, đúng tội. Hàng loạt cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước như bí thư, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, bộ trưởng, thứ trưởng, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, đến Ủy viên Bộ Chính trị vi phạm nghiêm trọng kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đã bị xử lý nghiêm minh. Ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực, việc thi hành kỷ luật cán bộ được tiến hành công khai, đúng pháp luật; không còn “trên nóng, dưới lạnh”, “vùng cấm, ngoại lệ”; với quyết tâm chính trị làm trong sạch Đảng thì việc kỷ luật một số cán bộ, đảng viên cũng như “chặt cành để cứu cây”, giúp  nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trước yêu cầu mới. Cũng qua đó, thực hành kỷ luật Đảng đã giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành.

Đặc biệt, đối với Quân đội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương để "Thanh bảo kiếm" bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân sẽ ngày càng sắc bén!

Quá độ dân số ở Việt Nam

 


- Quy mô dân số ở Việt Nam đã tăng liên tục từ khoảng hơn 30 triệu lên 96 triệu từ năm 1960 – 2019. Hiện nay dân số Việt nam là 96.208.984 người (Nam: 47.881016; Nữ: 48.327.932, Đứng thứ 3 khu vực sau Inđônễia, PhiLípphin, đứng thứ 15 thế giới. Mật độ dân số là 290 người/km2, tăng 31người/km2 so với năm 2009 (Philippin 363người/km2; Xinh ga po 8.292 người/km2 (việt Nam đứng thức 3 khu vực đông nam á). Đồng bằng sông Hồng: 1.060 người/km2; Đông Nam Bộ:757 người/km2; Trung Du và Miền núi Băc Bộ: 132 người/km2; Tây Nguyên 107 người/km2

- Tốc độ tăng quy mô dân số ở nước ta có xu hướng chậm dần do mức sinh giảm liên tục trong giai đoạn 1960-2005

Số con trung bình của một phụ nữ giảm từ khoảng 7 con/1960, xuống còn 2.1 con (mức sinh thay thế) vào năm 2005.

Tổng hộ dân cư 26.870.079 tăng 4,4 triệu hộ so với năm 2009. Bình quân mỗi hộ có 3,6 người thấp hớn 0,2 người/hộ so với năm 2009. Tỷ lệ tăng bình quân số hộ dân là 1,8%/năm, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với gia đoạn 1999-2009 (là giai đoạn có số hộ dân cư thấp nhất trong vòng 40 năm qua)

Mức sinh thay thế là mức sinh mà một đoàn hệ phụ nữ trung bình có vừa đủ số con gái để “thay thế” họ trong quá  trình tái sinh sản dân số; tương ứng với tổng tỷ xuất sinh TFR)/ trên số con trung bình là 2,10 con/phụ nữ

-Quá độ dân số ở Việt Nam bắt đầu vào từ khoảng cuối những năm 1950 và kéo dài cho đến năn 2005

-Từ năm 2005 đến nay, mức sinh biến động không đáng kể và dao động quoanh mức sinh thay thế

Con số trung bình của phụ nữ ở Việt Nam giai đoạn 2005-2019

 

2005

2007

2008

2009

2010

2012

2013

2016

2017

2019

2,11

2,09

2,07

2,03

2,00

1,99

2,05

2,10

2,09

2,09

 

Phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thông qua các phương tiện truyền thông, các thế lực phản động thiếu thiện chí, thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị đã tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng, qua đó hạ thấp vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với chế độ.

Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị đẩy mạnh thực hiện, ngày càng quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành với quan điểm “không có vùng cấm”, “không có hạ cánh an toàn” và đã đạt được những kết quả rõ rệt; được người dân đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Mặc dù vậy, kết quả đấu tranh chống tham nhũng cũng là chủ đề mà các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị lợi dụng để công kích, xuyên tạc, bôi nhọ nhằm thực hiện các mưu đồ “diễn biến hòa bình”. Chúng đưa ra những luận điệu xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, như: Tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong một thể chế mà không có tư pháp độc lập, toà án xử theo lệnh của Đảng không thể chống được tham nhũng. Hoặc bản thân bộ máy đẻ ra tham nhũng, cái lò này đẻ ra tham nhũng thì phải vứt cái lò đẻ ra tham nhũng này đi, chứ không phải đốt những kẻ tham nhũng; bởi không bao giờ đốt hết được cả.

Luận điệu cho rằng “tham nhũng là sản phẩm của chế độ, thể chế chính trị ở Việt Nam” là một sự quy chụp, xuyên tạc, vô căn cứ. Nhà nước pháp quyền XHCN là thống nhất, trong đó, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân cấp, phân quyền với chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Tòa án xét xử dựa trên hành vi, chứng cứ phạm tội, chứ không phải “xét xử theo lệnh của Đảng” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thực chất luận điệu xuyên tạc này nhằm tuyên truyền, cổ xúy cho nhà nước tam quyền phân lập.

Việc Đảng lãnh đạo hoạt động kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay là tất yếu, khách quan, dựa trên cơ sở lý luận, thực tiễn rõ ràng và đầy đủ. Bởi lẽ, việc không kiểm soát được quyền lực sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, sự “tha hóa quyền lực” và sự lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ thường đi liền với tham nhũng. Nếu không có giải pháp kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và đấu tranh tranh phòng, chống tham nhũng hữu hiệu thì hệ quả sẽ hết sức nghiêm trọng, sẽ tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức yếu kém, làm mục ruỗng hệ thống chính trị, thậm chí đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Công tác phòng, chống tham nhũng không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”, không có “đặc quyền” đối với bất kỳ ai. Với quan điểm rõ ràng, cụ thể đó, luận điệu: “Phòng chống tham nhũng đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực”; “Đảng không thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng”... là hoàn toàn sai lầm và vô căn cứ. Việc xử lý cán bộ, công chức, đảng viên tham nhũng, vi phạm pháp luật là hết sức cần thiết, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Phương châm phòng, chống tham nhũng mà Đảng ta đề ra là: Phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, hay bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng. Trên cơ sở đó, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng; tạo bước chuyển biến rõ rệt nhằm giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cất lên những tiếng nói lạc lõng, cố tình xuyên tạc, bóp méo, làm sai lệch vấn đề, định hướng dư luận với mục đích xấu. Do đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần nhận diện đúng những âm mưu, thủ đoạn tinh vi đó, giữ vững quyết tâm cao trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay. Mỗi tổ chức, cá nhân phải nhận thức phòng, chống tham nhũng là cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, kiên quyết phòng, chống với tinh thần thẳng thắng, quyết liệt. Phòng chống tham nhũng bằng cả cơ chế, chính sách và hệ thống kiểm soát quyền lực... Có như vậy, tham nhũng, lợi ích nhóm mới bị đẩy lùi và không còn cơ hội để tồn tại. Đồng thời, phải luôn tỉnh táo trước các âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này.

 

Nhận thức về thời đại có tác dụng gì

 


 Về mặt lý luận

V.I. Lênin đã từng chỉ rõ và nhấn mạnh rằng chỉ trên cơ sở hiểu đúng thời đại, “chúng ta mới có thể định ra đúng đắn sách lược của chúng ta; và chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước nọ”[1]               

Như vậy, theo V.I. Lênin, việc nhận thức đúng thời đại mang ý nghĩa trọng đại ở tầm chiến lược đối với con người, nhất là đối với những người cách mạng, bởi lẽ:

Thứ nhất, hiểu đúng thời đại, tức là nắm bắt được bản chất, quy luật, xu hướng vận động phát triển tất yếu của thời đại - đó là cơ sở khoa học, là điều kiện tiên quyết để những người cách mạng định ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn trong cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ trật tự xã hội cũ lỗi thời lạc hậu, xây dựng một xã hội mới tiến bộ hơn.

Thứ hai, hiểu đúng thời đại, nắm bắt được quy luật chung, đặc điểm chung, cơ bản của thời đại còn là cơ sở để những người cách mạng tiến hành vận dụng sáng tạo quy luật chung vào đặc thù của một nước cụ thể, tức là “cá biệt hóa” cái chung vào cái riêng phù hợp với “những đặc điểm chi tiết” của từng nước, tránh được sự giáo điều kinh viện.

Bởi lẽ, lịch sử của nhân loại đã khẳng định không thể có mô hình phát triển chung cho mọi quốc gia dân tộc, vì sự phát triển của mỗi nước, ngoài bị chi phối bởi quy luật chung, còn chịu sự quy định của các quy luật đặc thù và đặc điểm truyền thống văn hóa riêng của từng quốc gia dân tộc cụ thể.

Qua đây cho thấy “Sự nhận thức sai lệch về thời đại chắc chắn đưa lại những tổn thất cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho sự nghiệp giải phóng của các dân tộc và sự nghiệp giải phóng con người”[2].

 Về mặt thực tiễn

Thực tiễn trên bình diện quốc tế hiện nay đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề bức thiết, có liên quan trực tiếp đến sự cần thiết phải nhận thức thời đại ngày nay, nổi lên là 3 vấn đề lớn sau đây:

Một là, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội đang tạm thời lâm vào thoái trào, trong khi đó chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng điều chỉnh, thích nghi để phát triển. Chủ nghĩa xã hội không còn tồn tại với tư cách là một hệ thống thế giới như trước đây mà chỉ còn lại một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba...

Trước thực tế này, đã có không ít người, thậm chí có cả người cách mạng cũng tỏ ra hoang mang, dao động, dẫn đến từ bỏ mục tiêu lý tưởng; còn kẻ thù của chủ nghĩa xã hội thì lớn tiếng cho rằng thời đại ngày nay vẫn là thời đại của chủ nghĩa tư bản!

Hai là, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đưa loài người bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của sự phát triển xã hội dựa trên cơ sở nền kinh tế tri thức

Từ sự biến đổi này, đã xuất hiện quan điểm cho thời đại ngày nay không phải là thời đại của chủ nghĩa tư bản và cũng không phải là thời đại của chủ nghĩa xã hội, mà là thời đại “hậu công nghiệp”, thời đại “văn minh tin học”, “văn minh trí tuệ”...

Ba là, vấn đề giai cấp và dân tộc, nhất là lợi ích quốc gia dân tộc đang nổi lên và diễn ra hết sức phức tạp. Các nước đã và đang thực hiện ưu tiên đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu trong xử lý các quan hệ quốc tế.

=> Căn cứ vào đặc điểm này, nhiều người đã cho rằng thời đại ngày nay là thời đại của quốc gia dân tộc chứ không còn là thời đại quốc tế vô sản.

Với những biến đổi nhanh chóng và phức tạp trên của đời sống quốc tế, để nhận thức đúng bản chất của thời đại ngày nay, đòi hỏi chúng ta phải có cách tiếp cận khoa học về thời đại.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, NXB. Tiến bộ, Matxcowva, 1980, tập 26, tr. 174.

[2] .Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại hiện nay, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.124.

 

NỮ CHIẾN SỸ GIẢI PHÓNG CANH GIỮ TÙ BINH NGỤY QUÂN TRONG CHIẾN DỊCH LAM SƠN 719( MẶT TRẬN ĐƯỜNG 9- NAM LÀO 1971)

 

Sau 45 ngày chiến đấu, Quân Giải phóng tuyên bố diệt 2 lữ đoàn (Lữ đoàn dù 3 và Lữ 147 thủy quân lục chiến), 1 trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 1, Sư đoàn 1) và 5 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 39 biệt động quân, Tiểu đoàn 8 - Lữ 1 Dù, Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 3, Tiểu đoàn 2 và 4 của Trung đoàn 2 - Sư đoàn 1), 4 thiết đoàn (4, 7, 11 và 17), 8 tiểu đoàn pháo (3 tiểu đoàn pháo của Sư đoàn 1, 2 tiểu đoàn pháo của Dù, 1 tiểu đoàn pháo của lữ 147, 1 tiểu đoàn pháo của biệt động quân và 1 tiểu đoàn pháo của lữ kỵ binh không vận). Đánh thiệt hại nặng Sư đoàn Dù, Sư đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn thủy quân lục chiến. Bắt sống 1.142 tù binh, lần đầu bắt sống toàn bộ chỉ huy của một lữ đoàn đối phương.

Một tướng Mỹ nhận xét: "Chiến dịch Lam Sơn đã phá hủy mất phần tinh nhuệ nhất của QLVNCH và trở nên nghiêm trọng, bất lợi hơn nhiều so với điều mà người ta tưởng lúc đó. Việc điều khiển chiến dịch của chúng ta rất tồi. Toàn bộ vai trò và chỉ đạo yểm trợ của Mỹ không hoàn tất được vì sự quan liêu của Lầu Năm góc... Đây là một thử thách thực sự của chương trình "Việt Nam hóa". Lầu Năm góc đã từ chối không để người Mỹ tham gia vào chiến dịch. Sự yểm trợ mà Nam Việt Nam đã quá quen thuộc và đang mong đợi được tiếp tục, đến đây đã bị cắt đứt...".

Tướng Nguyễn Cao Kỳ đánh giá: Đem một đội quân quen "lệ thuộc phần lớn vào quân đội khác về chỉ huy, về vũ khí và ngay cả chiến lược "để nhào nặn thành" mới" và tách ra độc lập tác chiến như kiểu Lam Sơn 719 rất khó mà địch nổi đối phương"


Quá độ dân số trong quá trình hiện đại hóa

 

 

- Hiện đại hóa là thời kỳ quá độ các xã hội nông nghiệp chuyển đổi lên các xã hội công nghiệp

- Hiện đại hóa tác động đến dân số qua 2 giai đoạn

Giai đoạn đầu của hiện đại hóa: cách mạng CN chỉ tác động làm tăng nhanh quy mô dân số trong giai đoạn đầu của nó khi có tác động làm cho mức chết giảm xuống nhanh chóng)

+ Trong xã hội nông nghiệp truyền thống, khi năng xuất lao động thấp và trình độ khoa học chưa phát triển cả mức sinh và mức chết đều rất cao

+ Khi xã hội bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước hết làm mức chết giảm, trong khi đó, mức sinh vẫn ở mức cao, nên đã dẫn tới bủng nổ dân số, làm tăng nhanh quy mô dân số

Mức chết giảm là do:

>Xã hội bước vào quá trình CNH-HĐH năng xuất lao động trong sản xuất nông nghiệp được nâng cao nhờ áp dụng KHKT; sản lượng lương thực tăng lên đã cơ bản đẩy lùi các nạn đói và cải thiện chế độ dinh dưỡng, góp phần  giảm tỷ lệ tử vong

>Với các thành tựu y học (thuốc kháng sinh, vắc xin tiêm chủng) giảm nmạnh tỷ lệ tử vong của các nhóm dân số đặc biệt là trẻ em

Giai đoạn tiếp theo của hiện đại hóa: Sau khi mức chết đã giảm mạnh, mức sinh cũng có xu hướng giảm theo tương tự.

Nguyên nhân: (giảm con số trung bình trên 1 bà mẹ:

>Phổ cập giáo dục là bắt buộc trong xã hội hiện đại

> Đi học làm tăng độ tuổi kết hôn của thế hệ cha mẹ

> Con cái đi học làm tăng chi phí tài chính của cha mẹ, không hỗ trợ cha mẹ tăng thu nhập

> Việc sinh nhiều con không có lợi về mặt kinh tế

> Các yếu tố xã hội khác: di dân, mong muốn và khẳ năng tìm kiếm việc làm ổn định dẫn đến tuổi kết hôn, tuổi sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh đều tăng lên, dó đó có tác động làm mức sinh giảm mạnh

- Bản chất của quá độ dân số là khi các xã hội chuyển từ thời kỳ có cả mức sinh và mức chết đều cao sang thời kỳ mức sinh và mức chết đều thấp

+ Ở hầu hết các nước đang phát triển trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đã thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình nhằm thúc đẩy giảm mức sinh nhanh hơn, bởi vì mức sinh tương đối cao trong thời kỳ đó đã cản trở nghiêm trọng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội ở các quốc gia này. Hàn Quốc và Sinh ga po là những quốc gia đã sớm thực hiện thành công chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (đạt mức sinh thay thế trong những năm đầu của thập niên 1980. Đây là một yếu tố quan trọng góp phần đưa hai nước này trở thành những con Rồng (kinh tế) của Châu Á từ những năm 1980

 

100 NĂM NGÀY SINH THƯỢNG TƯỚNG, GS, NGND HOÀNG MINH THẢO.

 

100 năm Thầy giáo già.

Tướng Hoàng Minh Thảo xông pha chiến trường.

Người Thầy sáng mãi tấm gương.

Từ chiến trường đến giảng đường lưu danh.

 

Trở tay chuyển bại sang thành.

Đều nhờ mưu, kế mới giành thế trên.

Hoàng Minh Thảo - mãi gọi tên.

Ngàn năm hậu thế không quên ơn Thầy.

 


Quan niệm về thời đại

 


Thời đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử xã hội, phân biệt những nấc thang phát triển của xã hội loài người.[1]

 Thời đại, được tiếp cận ở đây là từ góc độ triết học - chính trị - xã hội, nghĩa là đi từ điểm xuất phát con người làm nên lịch sử và tổ chức nên đời sống xã hội của mình; lịch sử nhân loại là một quá trình phát triển hết sức lâu dài, quanh co, phức tạp bắt đầu từ mông muội, dã man tới văn minh, hiện đại như ngày nay. Bằng tư duy lý luận, con người có thể nhận thức được quá trình lịch sử của mình.

Để làm rõ sự khác nhau của những nấc thang xã hội, cần chỉ rõ: Nền tảng vật chất, bản chất, bộ mặt và quy luật vận động phát triển của chế độ chính trị - xã hội.

 Thời đại, thực chất là sự phân kỳ, chia các nấc thang lịch sử xã hội loài người. Theo V.I. Lênin, thời đại còn là thời kỳ, giai đoạn lịch sử; từ đó có thể tiến hành phân chia thời đại lớn thành các thời đại nhỏ, thành các thời kỳ, giai đoạn cụ thể trong đó. Chẳng hạn, có thể phân chia thời đại tư bản chủ nghĩa thành các giai đoạn: tư bản tự do cạnh tranh, tư bản độc quyền và tư bản hiện đại ngày nay.

- Sự phân chia lịch sử thành các thời đại khác nhau, không phải một cách chủ quan, tùy tiện theo ý muốn của con người mà là dựa trên những dấu hiệu, những đặc điểm bản chất của nó, nghĩa là phải dựa trên những tiêu chuẩn (tiêu chí) khách quan, khoa học để phân chia. Qua đó có thể phân biệt được sự khác nhau về chất của các thời đại, các nấc thang lịch sử khác nhau.



[1]  Hội đông Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2010, tr. 200.

CẦN NHẬN THỨC sÂU SẮC VỀ THỜI ĐẠI NGÀY NAY

 


Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới với đầy biến động, phức tạp và diễn biến nhanh chóng, khó lường đã phản ánh vào ý thức tư tưởng con người, dẫn đến sự hình thành các quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thời đại ngày nay. Vì vậy, việc nhận thức đúng bản chất, xu hướng vận động, phát triển tất yếu của thời đại là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược không chỉ đối với chúng ta, mà còn đối với mọi quốc gia, dân tộc trong việc lựa chọn con đường phát triển sao cho phù hợp với xu thế khách quan của thời đại.

Nhận thức sâu sắc về thời đại ngày nay góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ tư duy, năng lực vận dụng vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở tầm chiến dịch, chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở thời kỳ cách mạng mới.

 

 

 

10 CÁI NGU ĐIỂN HÌNH CỦA BỌN CHỐNG PHÁ

 

1. Cái ngu kinh điển nhất: Xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Bác Hồ, trong khi cả thế giới và cả kẻ thù đều kính trọng và ca ngợi Người.

2. Cái ngu kinh tởm: Gân cổ, chày cối cho rằng chiến tranh Việt Nam là "Nội chiến" trong khi lờ đi việc lúc cao điểm có tới nửa triệu lính Mỹ ở Việt Nam, 58 ngàn lính Mỹ chết ở Việt Nam, Bom pháo Mỹ tống vào thành cổ Quảng Trị thôi đã bằng 6 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima. Bị đánh tơi bời mới "Việt Nam hoá chiến tranh"..

3. Cái ngu đáng phỉ nhổ: Việt Nam Cộng Hòa là tay sai do Mỹ dựng lên, đã khước từ nguyện vọng thống nhất của nhân dân, đàn áp giết hại bao nhiêu đồng bào, nhưng các nhà "dân chủ" cho rằng đó là 1 nhà nước "đầy ắp dân chủ, căng tràn tự do"...

 

4. Cái ngu tệ hại: Phủ nhận sạch trơn mọi công lao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

5. Cái ngu đáng.kinh ngạc: Nguỵ tạo chứng cớ, bịa đặt để xuyên tạc. Từ Văn bản "chặn Facebook" đến clip "đảo chính ở Việt Nam", rồi thì suốt ngày dùng ..tiết lợn bôi lên người để la lối "công an đánh"...!!!

6. Cái ngu..Phi phàm: Cứ ai chửi đảng, chửi nhà nước một câu thì suy tôn ngay thành "anh hùng", "nữ hào kiệt, thành "người con của sông núi", thành "nhân sỹ" bất kể đó là thành phần bệnh hoạn như Lý Tống hay giang hồ như Chí Đức, máu trên máu dưới như Bùi Hằng. Thậm Chí là những kẻ giết người như Đặng Ngọc Viết, u mê như Phương Uyên (với bọn này, chỉ ai giơ cờ Mỹ hay cờ ba que mới là yêu nước, còn ai đứng dưới cờ đỏ sao vàng đc cả thế giới công nhận thì đều..ko yêu nước.!!!

7. Cái ngu bệnh hoạn: Ỉa chảy hay táo bón đều là tại đảng và nhà nước" đó là lý lẽ của các nhà dân chủ cuội, bất kể là việc con trâu nó có sừng hay việc con voi nó có vòi thì họ đều quy cho trách nhiệm thuộc về đảng và nhà nước...

8. Cái ngu đáng cười: Miệng nói dân chủ, nhưng thực tế chẳng hiểu dân chủ là gì, hỏi dân chủ là gì thì câu trả lời dài hay ngắn thì chung quy cũng là "giống như..nước ngoài ấy"???

Chẳng khác gì hỏi fan cuồng JAV rằng nghệ thuật là gì thì nhận được câu trả lời "giống JAV ấy"...

9. Cái ngu đáng nguyền rủa: Biểu tình phản đối VN gia nhập WTO, dâng thỉnh nguyện thư kiến nghị Hoa Kỳ và phương Tây cấm vận VN, kích động chiến tranh Việt - Trung, "cầu cho Trung Quốc đánh Việt Nam" và nhiều trò phản quốc tương tự..

10. Cái ngu nhất trong các thể loại ngu: Ngu mà không biết mình ngu.

Nguồn st:

 

 

 


CỘNG ĐỒNG MẠNG ĐANG YÊU CẦU NHÀ NƯỚC BẮT TRẦN ĐÌNH SỬ TRẢ TIỀN ĐÀO TẠO VÀ 20% BẢO HIỂM NHÀ NƯỚC ĐÓNG THUẾ CHO ÔNG TA

 

Trên mạng xã hội nhiều năm qua xôn xao việc giáo sư Trần Đình Sử đã trở thành kẻ chống lại chế độ, chống Nhà nước ra mặt khi ông này đạt được đỉnh cao trí thức từ tiền của dân và công của Đảng bỏ ra đào tạo thành 1 giáo sư, nhà giáo nhân dân.

Trần Đình Sử là một học sinh bên kia vị tuyến 17 thời Mỹ xâm lược Việt Nam và được Cách Mạng đưa ra Bắc cả gđ, được cho ăn học chu toàn, đưa ra nước ngoài đào tạo để về phụng sự Tổ quốc khi hoàn thành cuộc Cách Mạng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Giáo sư Trần Đình Sử được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 2002, Nhà giáo Nhân dân năm 2010, được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì, Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục.Thế nhưng, Bộ giáo dục vẫn không hề để ý những phát ngôn đầy tiêu cực chống Đảng, Nhà nước. Mới đây được làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định bộ sách Giáo khoa lớp 1 đang gây tranh cãi trong những ngày vừa qua.

Trên mạngxã hội, Trần Đình Sử luôn tuyên truyền Chế độ Cộng sản đã từng nuôi dưỡng ông là 1 "chế độ thối nát nhất trong các chế độ", xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lê Nin, chủ nghĩa Mác.

Một kẻ ăn cháo đá bát như Trần Đình Sử đã trở thành tâm điểm, gây phẫn nộ cả cộng đồng yêu nước Việt Nam. Đa số họ yêu cầu Nhà nước bắt Trần Đình Sử hoàn trả toàn bộ số tiền Nhà nước chi ra để đào tạo, nuôi dưỡng ông và bắt trả toàn bộ lương hưu trong số 20% Nhà nước đóng thế theo luật Lao động.

Cộng đồng mạng xã hội còn đề nghị UBKT cấp trên xác minh khai trừ khỏi Đảng, đề nghị Hội đồng Nhà nước tước danh hiệu Nhà giáo nhân dân đối với Trần Đình Sử.