Thứ Bảy, 6 tháng 11, 2021

Phát huy sức mạnh đoàn kết, sự đồng lòng của nhân dân để phòng, chống và chiến thắng đại dịch

    Năm 2021, Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc còn là dịp để kịp thời động viên, khích lệ nhân dân vượt qua khó khăn, thách thức, phát huy sức mạnh đoàn kết, sự đồng lòng, chung sức của nhân dân để phòng, chống và chiến thắng đại dịch.

    Theo Hướng dẫn tổ chức Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2021 do Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam ban hành mới đây, việc tổ chức Ngày hội tiếp tục khẳng định vai trò tự quản của cộng đồng dân cư trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Thông qua Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần củng cố, tăng cường sự đoàn kết, đồng thuận của cư dân trong cộng đồng;

    Phát huy quyền làm chủ, sự gắn bó, chia sẻ, khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân trong cộng đồng; tăng cường sự gắn bó mật thiết giữa lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhân dân trong củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của mỗi địa phương và cả nước.

    Cùng với đó, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc là dịp để người dân tự đánh giá kết quả tự quản của cộng đồng; suy tôn, biểu dương các cá nhân, hộ gia đình tiêu biểu trong thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương.

    Năm 2021, trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, việc tổ chức Ngày hội còn là dịp để kịp thời động viên, khích lệ nhân dân vượt qua khó khăn, thách thức, phát huy sức mạnh đoàn kết, sự đồng lòng, chung sức của nhân dân để phòng, chống và chiến thắng đại dịch.

    Với yêu cầu “đảm bảo thiết thực, hiệu quả bằng các hình thức phù hợp, chống bệnh phô trương, hình thức không phù hợp với văn hóa dân tộc” và “thực hiện nghiêm các quy định về công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19, đảm bảo an toàn”, việc tổ chức Ngày hội được triển khai tùy vào diễn biến tình hình dịch bệnh tại địa phương.

    Đối với các địa phương tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, các hoạt động trở lại bình thường, MTTQ các cấp tập trung tuyên truyền về lịch sử, truyền thống vẻ vang của MTTQ Việt Nam; về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp; các tập thể, hộ gia đình, cá nhân tích cực hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước ở cơ sở, khu dân cư; các gương điển hình, tiêu biểu trong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 và những mô hình, cách làm hay trong phát huy vai trò tự quản của nhân dân ở cộng đồng.

    Cùng với đó, MTTQ các cấp cũng triển khai các hoạt động ở cộng đồng như đánh giá kết quả thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua ở cộng đồng dân cư, thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ thực hiện năm tới; biểu dương, khen thưởng các hộ gia đình, cá nhân tích cực đóng góp vật chất, tinh thần, ngày công xây dựng cộng đồng, nhất là trong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19;

    Tổ chức thăm hỏi và tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, các đồng chí nguyên là lãnh đạo Mặt trận qua các thời kỳ; động viên các cá nhân, hộ gia đình tiêu biểu; chia sẻ, giúp đỡ gia đình khó khăn trên địa bàn dân cư; trao tặng Nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, hộ gia đình khó khăn…

    Bên cạnh đó, tuỳ theo tình hình thực tế của địa phương, Mặt trận báo cáo xin chủ trương với cấp ủy về việc tổ chức Ngày hội được thực hiện quy mô, số lượng đại biểu phù hợp với điều kiện cụ thể của từng khu dân cư, tình hình dịch bệnh.

Đối với những địa phương tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, không đảm bảo để tổ chức Ngày hội tập trung thì tổ chức tuyên truyền bằng các hình thức phù hợp, thông qua Đài Phát thanh, truyền hình, loa phóng thanh, công nghệ thông tin (Zalo, Facebook, Viber...).

    Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã đề xuất, tham mưu để Đảng ủy chỉ đạo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tặng giấy khen biểu dương các tập thể, cá nhân, hộ gia đình tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua nhất là tham gia công tác phòng, chống dịch bệnh ở địa phương.

    Ở các khu dân cư, tổ chức vệ sinh môi trường đảm bảo khu dân cư sáng - xanh - sạch - đẹp, an toàn phòng, chống dịch bệnh; đồng thời có hình thức tặng quà phù hợp các hộ gia đình có công, hộ nghèo khó khăn, hộ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, nhất là gia đình có người thân bị mất do dịch bệnh.

    Còn tại các địa phương đang thực hiện phong tỏa, cách ly, giãn cách xã hội, MTTQ các cấp tuyên truyền, vận động, khơi dậy, phát huy tinh thần đại đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn, chấp hành nghiêm các quy định về phòng, chống dịch bệnh.

    Cùng với đó, tổ chức tốt các hoạt động nhân đạo, từ thiện, trợ giúp những gia đình, cá nhân khó khăn, tặng các phần quà đại đoàn kết, túi an sinh... không để người dân nào khó khăn không được trợ giúp; đồng thời có hình thức động viên, biểu dương, khen thưởng phù hợp đối với các tập thể, cá nhân, hộ gia đình tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua, nhất là tham gia phòng, chống dịch bệnh ở địa phương.

 


Cụ Huỳnh Thúc Kháng: Tấm gương tiêu biểu cho tinh thần đại đoàn kết vì lợi ích tối cao của dân tộc

    Tham gia Chính phủ ở tuổi 70, cụ Huỳnh Thúc Kháng dồn hết tâm lực và trí tuệ chỉ đạo giải quyết nhiều công việc nội chính quan trọng, góp phần xây dựng, giữ gìn kỷ cương xã hội, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.

    Cống hiến của cụ Huỳnh Thúc Kháng với sự nghiệp cách mạng của dân tộc

    PGS,TS Lê Văn Lợi, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bài phát biểu khai mạc và đề dẫn Toạ đàm khoa học “Huỳnh Thúc Kháng - nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng, vị lãnh đạo Nhà nước mẫu mực” hôm 30/9 đã nhấn mạnh, hiện nay toàn Đảng, toàn dân đang tích cực triển khai đưa Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vào cuộc sống, nỗ lực thực hiện những biện pháp quyết liệt phòng chống dịch Covid-19 để bảo vệ sức khỏe nhân dân, trở lại trạng thái bình thường mới.

    Với nhiều tham luận và ý kiến phát biểu trực tiếp, từ nhiều góc độ khác nhau và bằng những luận giải khoa học, toạ đàm đã tập trung luận giải làm rõ những cống hiến, đóng góp cụ Huỳnh Thúc Kháng, một chí sĩ yêu nước suốt đời phấn đấu cho nước được độc lập, dân được hạnh phúc, tự do.

    Những năm đầu thế kỷ XX, cụ Huỳnh Thúc Kháng - nhà chí sĩ yêu nước chân chính, nhiệt thành, đã có nhiều hoạt động thiết thực, góp phần mở ra một con đường cứu nước mới của dân tộc. Với những hoạt động không mệt mỏi, cụ Huỳnh Thúc Kháng – vị lãnh đạo nhà nước tài năng, là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt góp phần chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. 

    Vào cuối năm 1945 sau hai lần nhận được điện mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh Thúc Kháng từ Huế đã ra Thủ đô Hà Nội.

    Tại cuộc họp đầu tiên của Quốc hội ngày 2-3-1946, khi giới thiệu danh sách Chính phủ Liên hiệp để Quốc hội thông qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày: Bộ Nội vụ: một người đạo đức danh vọng mà toàn quốc dân ai cũng biết: cụ Huỳnh Thúc Kháng.

    Tháng 5/1946, Cụ tham gia sáng lập và được cử làm Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam.

    Tham gia Chính phủ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã dồn hết tâm lực và trí tuệ chỉ đạo giải quyết nhiều công việc nội chính quan trọng, góp phần xây dựng và giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội mới. 

    Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp (31/5/1946 - 20/10/1946), Cụ được tin tưởng giao đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước, điều hành mọi hoạt động của chính quyền cách mạng. Cuối năm 1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Đặc phái viên của Chính phủ vào Trung Bộ để giải thích đường lối kháng chiến và vận động nhân dân ủng hộ Chính phủ, ủng hộ cách mạng.

    Trong thư Gửi toàn thể đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao.... Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời Cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.

    Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã góp phần đoàn kết nhân tâm trong nước

    Đặc biệt, đáp lại niềm tin tưởng tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quốc dân, đồng bào, trong thời gian đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước, theo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã chỉ đạo giải quyết đúng đắn nhiều công việc quan trọng về đối nội và đối ngoại của đất nước, làm thất bại những âm mưu chống phá của các lực lượng phản động, bảo vệ, giữ vững thành quả cách mạng.

    Khi được cử làm Đặc phái viên Chính phủ tại Trung Bộ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã hết sức chú trọng tuyên truyền, giải thích và động viên, kêu gọi toàn dân ủng hộ Chính phủ, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến, kiến quốc.

    Sau Cách mạng Tháng Tám, để giải quyết những khó khăn, thách thức của cách mạng, yêu cầu khách quan là phải củng cố và phát huy hơn nữa sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc. Do đó, cùng với Mặt trận Việt Minh, cần phải có một hình thức tập hợp, tổ chức lực lượng mới. Ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập tại Hà Nội nhằm tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân vào khối đại đoàn kết dân tộc. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một trong những người tham gia sáng lập và được tín nhiệm cử làm Hội trưởng Hội Liên Việt. Trên cương vị này, Cụ đã dốc hết nhiệt tâm của mình góp phần mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Trong bối cảnh những lực lượng phản động luôn tìm cách chống phá chính quyền cách mạng, ngày 16/7/1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã tổ chức cuộc họp báo tại Hà Nội nêu rõ đoàn kết là cần thiết để tập hợp lực lượng kiến thiết nước nhà, để ủng hộ ngoại giao, để xây dựng nền dân chủ cộng hòa; nhưng đoàn kết phải trên tinh thần chân thành, thật thà đoàn kết; không thể vin vào hai chữ đoàn kết mà làm những việc phi pháp, có hại đến đoàn kết toàn dân. Sự linh hoạt, khéo léo về sách lược, nhưng đầy cương trực, cứng rắn về nguyên tắc của Cụ đã góp phần giữ yên tình hình xã hội, đoàn kết nhân tâm trong nước.

 


Bài học về xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

    Vận dụng những bài học kinh nghiệm từ hoạt động của “Đường Hồ Chí Minh trên biển” trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc giai đoạn hiện nay.

    Nhân kỷ niệm 60 năm ngày mở tuyến vận tải chiến lược này (23/10/1961 - 23/10/2021), VietnamNet trân trọng giới thiệu bài viết: “Đường Hồ Chí Minh trên biển và bài học về xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay” của Đại tá Chu Văn Lộc, Viện Chiến lược Quốc phòng (Bộ Quốc phòng).

    Năm 1959, để đáp ứng yêu cầu đấu tranh cách mạng miền Nam, cùng với việc mở tuyến chi viện chiến lược trên bộ vượt dãy Trường Sơn (Đoàn 559), Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở tiếp tuyến chi viện chiến lược đường biển. Tuy nhiên, do khó khăn về điều kiện phương tiện cũng như nguồn nhân lực, nên tuyến chi viện bằng đường biển chưa thành công. Sang năm 1960, cùng với phong trào Đồng khởi Bến Tre, phong trào cách mạng của các tỉnh đồng bằng Nam Bộ chuyển mạnh lên thế tiến công và trở thành cao trào đồng khởi rộng khắp. Mỹ - chính quyền Sài Gòn tìm mọi cách đối phó, chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 - 1965).

    Để đáp ứng yêu cầu vận chuyển vũ khí, hàng hóa chi viện cho chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, ngày 23/10/1961, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết thành lập Đoàn vận tải biển 759 có nhiệm vụ “mua sắm phương tiện, vận chuyển các loại hàng tiếp tế cho chiến trường miền Nam bằng đường biển”. Việc quyết định mở tuyến vận tải chiến lược trên biển và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện trong điều kiện địch tổ chức ngăn chặn, phong tỏa rất gắt gao là một quyết định đúng đắn, thể hiện tầm nhìn, bản lĩnh và tài thao lược của Đảng, quân đội và nhân dân ta. Đó vừa là sự kế thừa và phát triển lên tầm cao mới truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, đồng thời là sự sáng tạo độc đáo, tạo nên những giá trị nghệ thuật quân sự đặc sắc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

    Trong những ngày đầu hoạt động, kinh nghiệm và hiểu biết của ta về vận tải biển chưa nhiều; cùng với đó là sự đánh phá ác liệt của địch gây cho ta bao khó khăn, nhưng với phương châm hoạt động bí mật bất ngờ, thần tốc, táo bạo, sử dụng linh hoạt nhiều loại tàu thuyền, nhiều cung, nhiều tuyến vận tải khác nhau, các địa phương ven biển miền Nam, chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã nhận được sự chi viện trực tiếp của miền Bắc, tạo nên sức mạnh và niềm tin to lớn cho các lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Nam. Khi tuyến đường vận tải biển được khai thông, Đoàn 759 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện động viên, biểu dương cán bộ, chiến sỹ và căn dặn cần rút kinh nghiệm các chuyến đi, tiếp tục vận chuyển nhiều vũ khí cho đồng bào miền Nam đánh giặc, để Bắc - Nam sớm sum họp một nhà.

    Trong suốt 14 năm (1961 - 1975) thực hiện vận chuyển chiến lược bằng đường biển chi viện cho chiến trường miền Nam, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 759 (sau này là Đoàn 125 Quân chủng Hải quân) cùng với nhân dân các tỉnh duyên hải có tuyến đường đi qua đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chuyển 152.760 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, thuốc chữa bệnh từ miền Bắc vào miền Nam; chiến đấu hàng trăm trận với máy bay tàu chiến của Mỹ và quân đội Sài Gòn.

    Cùng với vận tải hàng quân sự, Đường Hồ Chí Minh trên biển còn đảm đương một sứ mệnh vô cùng quan trọng, đó là đưa đón hơn 80.026 lượt cán bộ, chiến sỹ, trong đó có hàng trăm cán bộ trung, cao cấp của Đảng, quân đội từ miền Bắc vào miền Nam và từ miền Nam ra miền Bắc, kịp thời bổ sung cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu trên chiến trường miền Nam. Chiến công và thành tích đó đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của toàn dân tộc, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

    Ngày nay, Đảng và nhân dân ta đang tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng còn nhiều khó khăn, thách thức: sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức tác động tiêu cực đối với môi trường kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh... Ngay tại khu vực Đông Nam Á, việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo, diễn ra căng thẳng, phức tạp. Sự ổn định, tự do an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước những thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột.

    Ở trong nước, sau 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo đã và đang đặt ra những yêu cầu mới. Nhiệm vụ chi viện bảo đảm cho các hướng, các địa bàn chiến lược, trong đó trên biển, đảo là hết sức phức tạp và nặng nề. Vận dụng những bài học kinh nghiệm từ hoạt động của “Đường Hồ Chí Minh trên biển” trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc giai đoạn hiện nay, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau: 

    Một là, tổ chức nghiên cứu, quán triệt, học tập, tuyên truyền và triển khai thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, nhất là Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 18/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án hợp tác quốc tế về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030; Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về “Phát triển kinh tế biển”, đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển bền vững, giàu, mạnh từ biển, phù hợp với chuẩn mực quốc tế, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển với tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

    Hai là, xây dựng các chính sách phù hợp với điều kiện hiện nay nhằm khai thác tiềm năng và các lợi thế về biển; phát triển kinh tế gắn liền với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên các vùng biển, đảo. Mở rộng chính sách liên kết ở vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam với những nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, tạo ra những đối tác đan xen lợi ích để phát triển kinh tế biển. Thông qua đó, khẳng định chủ quyền của Việt Nam, hạn chế âm mưu lấn chiếm biển đảo của các thế lực thù địch, tạo thế và lực mới để giải quyết hòa bình các vấn đề tranh chấp trên biển, đảo với các nước có liên quan. Có chính sách thu hút, khuyến khích nhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, bảo đảm vừa phát triển kinh tế, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc. Đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển, ưu tiên du lịch và dịch vụ biển; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; nuôi trồng và khai thác hải sản; công nghiệp ven biển; năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái ven biển.

    Ba là, không ngừng tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, tiếp tục xây dựng lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của của Tổ quốc vững mạnh toàn diện theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại; nòng cốt là Hải quân nhân dân Việt Nam, Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ đội Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, trọng tâm là chi bộ và vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ trên các vùng biển, đảo.

    Tổ chức điều chỉnh, bố trí và triển khai thế trận quốc phòng, an ninh, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội trên vùng biển, đảo một cách hợp lý. Kết hợp chặt chẽ giữa thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hóa trên các đảo với xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh, xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển, đảo vững mạnh, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Dân sự hóa các vùng biển, đảo vừa là cơ sở để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên, vừa là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng, an ninh trên biển. Đây là chủ trương chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước.

    Bốn là, quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng, nhất là hoạt động đối ngoại quốc phòng, hợp tác quốc tế về biển. Tôn trọng chủ quyền và lợi ích hợp pháp của các nước trên biển. Kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý, bảo vệ biển, đảo. Tham gia tốt các hoạt động giao lưu với hải quân các nước trong khu vực và trên thế giới; phối hợp hiệp đồng chặt chẽ trong tuần tra, diễn tập, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, chống cướp biển... Tích cực, chủ động phối hợp với các lực lượng thực hiện tốt nhiệm vụ giúp dân phòng, tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, chăm sóc sức khỏe, giúp đỡ nhân dân làm ăn trên các vùng biển và ổn định đời sống nhân dân trên các đảo, nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, trật tự, an ninh và phát triển kinh tế biển.

    Bên cạnh đó, cần tiếp tục phát huy truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển, nêu cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; chủ động, sáng tạo, cần kiệm trong lao động sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho bộ đội; làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, giữ vững chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

 


Trở lại 'địa chỉ đỏ' của Cách mạng Tháng Mười Nga

    Thành phố St. Petersburg, trước kia là Petrograd, từng là chiếc nôi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, sự kiện khai sinh ra nhà nước công-nông đầu tiên trên thế giới diễn ra ngày 25/10/1917 (theo lịch cũ của Nga, tức ngày 7/11/19

    Rất nhiều ngôi nhà, con phố ở thủ đô phương Bắc của nước Nga gắn với sự kiện làm rung chuyển thế giới này, cũng như với lãnh tụ của giai cấp vô sản Vladimir Ilyich Lenin và đảng Lao động Dân chủ xã hội Nga (RSDLP (B)) - đảng của những người Bolshevik. 
Chú thích ảnh
Toàn cảnh Bảo tàng Lịch sử Chính trị LB Nga ở St. Petersburg ở góc đường Bolshaya Dvoryanskaya (nay là phố Kuibyshev) và đại lộ Kronverksky.

    Ngay trước cửa Nhà ga Phần Lan, nhìn ra sông Neva là quảng trường Lenin cùng tượng đài Vladimir Ilyich Lenin khá đặc biệt. Đây là một trong những tượng đài Lenin đầu tiên ở Nga, được xây dựng năm 1926 và là một trong những tượng đài quy mô lớn đầu tiên về Người, hoàn công 3 năm sau khi vị lãnh tụ qua đời. Điểm đặc biệt là tượng đài này liên quan đến thời điểm Lenin trở về nước Nga ngày 17/4/1917 sau khi phải sống lưu vong ở Thụy Sĩ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Sau Cách mạng Tháng Hai, chính quyền Đức đã cho phép Lenin bí mật đi một chuyến tàu xuyên Đức, đi phà đến Helsinki (Phần Lan) và từ đó đi tàu trong một toa xe bịt kín đến Petrograd. Sự trở về của Lenin là động lực mạnh mẽ thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển. Chỉ một thời gian ngắn sau khi trở về Petrograd, Người đã đưa ra những “Luận điểm Tháng Tư” nổi tiếng để tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga.

    Khi về đến Nhà ga Phần Lan, Lenin được những người ủng hộ đảng Bolshevik chào đón. Nhà lãnh đạo của giai cấp vô sản Nga đã lên tháp ô tô bọc thép đi đón ông để phát biểu. Lời kêu gọi đáng chú ý nhất được Lenin lần đầu tiên đưa ra trên nóc xe bọc thép chính là “Cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới muôn năm!".

Chú thích ảnh
Tượng đài Lenin trước cửa Nhà ga Phần Lan ở St. Petersburg, mô tả thời điểm Người trở về nước Nga ngày 3/4/1917, đứng trên xe bọc thép phát biểu trước đám đông công nhân – binh sĩ.

    Tượng đài Lenin trước Nhà ga Phần Lan cao khoảng 11 m, mô tả cảnh Lenin đang vung tay phát biểu. Tượng Lenin làm bằng đồng và phần mô tả ô tô bọc thép làm bằng đá. Tượng đài được nhà điêu khắc Sergei Evseev cùng các kiến trúc sư Vladimir Shchuko và Vladimir Gelfreich sáng tác.

    Được trưng bày trên tầng 3 của bảo tàng, bên sườn phải chiếc Austin-Putiloves có sơn dòng chữ đỏ “Kẻ thù của tư bản”. Chiếc xe này được xem như biển tượng của cuộc cách mạng năm 1917. Từ tháng 1/1940 đến năm 1992, xe được trưng bày trước cửa Cung Đá cẩm thạch vốn là Bảo tàng Trung ương Lenin giai đoạn này. Năm 1939, Ủy ban tìm kiếm xe bọc thép của Lenin đã nhầm khi xác định chiếc xe bọc thép trên là chiếc xe Lenin đã đứng để phát biểu ngày 17/4/1917 tại Nhà ga Phần Lan. Tuy nhiên, đến những năm 2000, các kỹ sư cơ khí đã xác định đây chỉ là chiếc Austin y hệt như chiếc xe mà Lenin đã sử dụng khi từ nước ngoài trở về Nga. Chính sự nhầm lẫn này đã giúp chiếc xe vẫn được bảo quản nguyên vẹn cho đến nay. Năm 2017, nhân kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, chiếc Austin đã được trưng bày trước cửa Cung điện mùa Đông, điều cho thấy xe vẫn còn nguyên những giá trị lịch sử.   

Chú thích ảnh
Chiếc ôtô bọc thép Austin-Putiloves “Kẻ thù của Tư bản” tại Bảo tàng Lịch sử-Quân sự Pháo binh Nga, biển tượng của cuộc Cách mạng năm 1917.

    Trên chiếc Austin bọc thép, sau khi phát biểu trước đám đông công nhân và binh sĩ, Lenin đã đi xe đến khu dinh thự của nữ diễn viên ballet nổi tiếng Matilda Kshesinskaya ở góc đường Bolshaya Dvoryanskaya (nay là phố Kuibyshev) và đại lộ Kronverksky. Sau Cách mạng Tháng Hai, tòa nhà này do các chiến sĩ cách mạng tiếp quản và tại đây đặt trụ sở của Ủy ban Trung ương đảng Bolshevik từ tháng 3 đến tháng 7/1917. Hiện ngôi biệt thự này chính là khuôn viên Bảo tàng Lịch sử chính trị LB Nga ra đời từ năm 1919.

    Vào thời điểm đó, Khu dinh thự Kshesinskaya có thể xem như trung tâm các sự kiện cách mạng. Chính tại ngôi biệt thự này, Lenin đã đưa ra các "Luận điểm Tháng Tư" - chương trình hành động của những người Bolshevik để chuyển cách mạng dân chủ - tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thông qua giành chính quyền. Tầng hai của dinh thự, từ chiếc ban công lịch sử, Lenin và các nhà lãnh đạo Bolshevik khác thường phát biểu trước công nhân và binh sĩ Petrograd. Cũng chính tại ban công lịch sử này, Lenin đã kêu gọi công nhân và binh sĩ nhanh chóng tiến hành Cách mạng Xã hội chủ nghĩa.

    Các “Luận điểm Tháng Tư” gồm 10 điểm của Lenin rất ngắn gọn và dễ hiểu. Ý tưởng cách mạng đưa ra thực sự hấp dẫn đối với người dân bình thường, đó là chính quyền thuộc về người lao động, người nông dân nghèo, đả đảo giai cấp tư sản… Tuy nhiên, ban đầu các luận điểm này đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của những người theo chủ nghĩa xã hội ôn hòa (Menshevik) và một bộ phần chính những người trong đảng Bolshevik. Chính Ủy ban Trung ương của RSDLP (B) ban đầu cũng không ủng hộ các “Luận điểm Tháng Tư". Tuy nhiên, nhờ sức lôi cuốn và sự kiên trì của mình, trong một thời gian ngắn, Lenin đã có thể thuyết phục phần lớn các tổ chức đảng về sự cần thiết phải thông qua các luận điểm này. Nhờ vậy, hội nghị của những người Bolshevik toàn thành phố Petrograd đã thông qua "Luận điểm Tháng Tư" vào ngày 14 (27/4) và tại Hội nghị toàn Nga (tháng 4) của RSDLP (B) đã được đa số đại biểu ủng hộ.

    Ngày nay tại Bảo tàng Lịch sử chính trị LB Nga còn lưu giữ "Phòng làm việc của V.I.Lenin" cũng như  căn phòng của Ủy ban Trung ương và các ủy ban RSDLP (B). Nơi đây, khách tham quan có thể thấy các đồ dùng Lenin sử dụng trên bàn, bản sao các bản thảo của Lenin và sổ ghi chép của Người. Trên giá sách có những cuốn sách Lenin đọc khi làm việc trong dinh thự cùng rất nhiều số báo “Sự thật” (Pravda) thời kỳ đó. Khách tham quan có thể thấy biểu ngữ pháp lý đầu tiên của đảng Bolshevik, một chiếc bàn mà Yakov Sverdlov và Nadezhda Krupskaya làm việc năm 1917; hay băng rôn tự chế được nhân viên báo "Soldatskaya Pravda" sử dụng để thu tiền xuất bản số tiếp theo.

Chú thích ảnh
Quốc huy “cờ đỏ búa liềm” của Cộng hòa XHCN LB Nga, bên dưới ghi dòng chữ “Giai cấp vô sản toàn thế giới đoàn kết lại” tại Bảo tàng Lịch sử Chính trị LB Nga ở St. Petersburg.

    Bảo tàng Lịch sử chính trị LB Nga lưu giữ gần 100 năm bằng chứng về đời sống chính trị-xã hội Nga từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 21. Trong các gian trưng bày về Cách mạng Tháng Mười Nga còn chiếu các tư liệu hình hiếm hoi nhất về các phong trào Trắng và Đỏ, cũng như tái hiện khung cảnh lịch sử thời kỳ đó. Bạn cũng có thể lưu ý tới quốc huy “cờ đỏ búa liềm” của CHXHCN LB Nga, bên dưới có ghi dòng chữ “Giai cấp vô sản toàn thế giới đoàn kết lại”.

    Hơn 100 năm đã trôi qua, tuy nhiên, khi được tận mắt ngắm những hiện vật của cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, bất cứ người đảng viên nào cũng sẽ cảm thấy bồi hồi, xúc động. Và cho đến nay, tôn chỉ đoàn kết lại để mưu cầu hạnh phúc, ấm no, công bằng cho giai cấp công nhân và nông dân vẫn là một nhiệm vụ tối thượng đối với những người tập hợp dưới lá cờ của Đảng.

Cách mạng Tháng Mười Nga - Sự kiện lịch sử vĩ đại của thế kỷ XX

Chú thích ảnh


    Ngày 7/11/2020 kỷ niệm 103 năm Ngày thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại (ngày 7/11/1917 theo lịch cũ nước Nga là ngày 25/10/1917). Đây là cuộc cách mạng vĩ đại nhất của nhân loại trong thế kỷ XX. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế.

Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

    Cuối năm 1991, chủ nghĩa đế quốc đã công khai cho rằng: chủ nghĩa xã hội trên thế giới đã bị tiêu diệt, chỉ còn ở Đông Nam Á, Việt Nam là chủ yếu, Trung Quốc là quan trọng. Như vậy, Việt Nam là một trọng điểm trong “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Lập trường của họ là dứt khoát, ý thức của họ đã rõ ràng, hành động của họ là kiên quyết.
    Điểm phát triển mới trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề cập: “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”. Vì vậy, chống “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu và phải được kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống khác. Mục tiêu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta là xóa bỏ xã hội chủ nghĩa, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước mắt tập trung vào thúc đẩy tự do hóa chính trị, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dân chủ không giới hạn; thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang. Tư tưởng chỉ đạo, chủ động tiếp cận, chọn lọc và hành động, chú trọng kết hợp “Diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Hiện nay có sự phát triển mới là đánh mềm, đánh ngầm, đánh sâu, đánh hiểm.
    Về chính trị, tư tưởng: nhằm làm suy yếu Đảng, chia rẽ Đảng, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho quần chúng xa Đảng, mất phương hướng, xa rời chủ nghĩa xã hội, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đánh vào lòng tin, ý chí, làm chuyển đổi nhận thức tư tưởng của cán bộ đảng viên, nhân dân, Quân đội. Chia rẽ nội bộ Đảng, nhân dân, Quân đội, phá hoại truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Nội dung tập trung xuyên tạc, chống phá, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ hình ảnh cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lợi dụng và kích động vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền để chống chủ nghĩa xã hội. Vu cáo ta vi phạm nhân quyền, tự do dân chủ, trấn áp những người không cùng tư tưởng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
    Thủ đoạn của chúng rất xảo quyệt, tìm cách kích động vào tâm lý tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta để tạo nên tâm lý mơ hồ, hoài nghi, thiếu niềm tin, tranh thủ lôi kéo những người bất mãn, cơ hội, tạo ra những phần tử, những lực lượng đối lập bên trong, lợi dụng thông tin công khai về chống tham nhũng, buôn lậu, các tệ nạn xã hội, lợi dụng những khuyết điểm của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý để kích động tâm lý bực dọc chống đối, các thế lực thù địch chỉ ra rằng: tiền, quyền, chức và mơ hồ ảo tưởng là hai chất độc nguy hiểm nhất.
    Về kinh tế, khoa học - kỹ thuật: nhằm làm cho kinh tế xã hội nước ta ngày càng khó khăn khủng hoảng. Hướng kinh tế nước ta phụ thuộc vào bên ngoài, làm cho kinh tế quốc doanh suy yếu, kinh tế tư nhân phát triển không theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các thủ đoạn chủ yếu là dùng thủ đoạn kinh tế khuyến khích đổi mới đi theo hướng kinh tế thị trường tự do, thúc đẩy quá trình tư nhân hóa, cấm vận các kỹ thuật cao. Lợi dụng những thiếu sót, sơ hở của ta trong quản lý kinh tế để đả kích và kích động tâm lý bực dọc, bất bình. Gieo rắc truyền bá lối sống vì tiền, mua chuộc dụ dỗ khuyến khích tham nhũng, buôn lậu.
    Về an ninh xã hội, các thế lực thù địch phá hoại nhằm làm cho nước ta mất ổn định về an ninh chính trị xã hội, làm suy giảm khả năng phòng thủ đất nước và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang.
    Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thường xuyên xây dựng và phát triển lực lượng phản động trong nước và các toán vũ trang phản động lưu vong ở ngoài nước để xâm nhập, kết hợp hoạt động vũ trang với hoạt động chính trị, gây bạo loạn khi có thời cơ. Tăng cường hoạt động gián điệp tình báo trong điều kiện nước ta mở rộng quan hệ ngoại giao và kinh tế đối ngoại. Kích động gây mâu thuẫn tranh chấp đất đai, nhà cửa, gây ra những rối loạn chính trị - xã hội. Đồng thời với những thủ đoạn trên, chúng vẫn sử dụng sức mạnh quân sự để răn đe và có điều kiện, cấp bách thì tiến hành can thiệp vũ trang, chiến tranh xâm lược với quy mô và cường độ khác nhau. Các thế lực thù địch coi trọng sức mạnh tổng hợp, thực hiện kiểu chiến tranh ngầm không có chiến tuyến, không có khói súng để thực hiện mục tiêu chiến lược “Diễn biến hòa bình”.


TỘI NGHIỆP, ĐÚNG LÀ "CHÓ CỨ SỦA ĐOÀN NGƯỜI CỨ TIẾN"!

     Chiều qua, tại quảng trường ở Thủ đô Paris, một nhóm khoảng 10 - 20 người cờ vàng ba sọc biểu tình tại Pháp nhằm yêu cầu chính quyền Pháp cắt đứt quan hệ với Việt Nam, lên án Việt Nam thiếu nhân quyền, đàn áp người bất đồng chính kiến,...

Trong khi đó, cách xa chỉ vài cây số, ở Điện Versalles, Tổng thống Macron tay bắt mặt mừng với Thủ tướng Phạm Minh Chính trong thăm chính thức Cộng hòa Pháp trong chuyến công du châu Âu đầu tiên trên cương vị Thủ tướng. Trong buổi tiếp đón đầy trọng thị, Tổng thống Pháp đánh giá cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong khu vực; mong muốn làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Pháp, cảm ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã hỗ trợ khẩu trang y tế cho nhân dân Pháp trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát trong năm 2020.

Và để tỏ rõ tấm thiện tình, Tổng thống Macron thông báo Pháp hỗ trợ thêm cho Việt Nam 400.000 liều vaccine qua kênh song phương và 970.000 liều vaccine qua cơ chế COVAX, nâng tổng số vaccine Pháp hỗ trợ cho Việt Nam lên hơn 2 triệu liều, minh chứng cho tinh thần hợp tác, hỗ trợ nhau vượt qua dịch bệnh. 

Chết dở, anh em chính quyền Pháp làm thế này phí công anh em ba que quá, mất công hô hào chống đối cả ngày không được nước nôi gì cả.

Ps: Cụ nào bên Tây Ban Nha nói câu "chó cứ sủa, đoàn người cứ tiến", sao mà triết khúc, sâu cay đến vạn đời./.


Môi Trường ST.

Căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi” trong một bộ phận quan chức thời nay

    Thực ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng thích khen. Vì lời khen không chỉ là một trong những nghệ thuật giao tiếp để động viên, khích lệ nhau vươn lên trong cuộc sống mà còn là một phương thức giáo dục tinh tế, hiệu quả trong học tập, lao động, công tác. Nhưng điều quan trọng là phải khen đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, đúng đối tượng thì lời khen mới có giá trị. Còn nếu khen một cách tràn lan, gặp đâu khen đấy, khen không xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhất là cấp dưới thường xuyên dành cho cấp trên những lời “ngọt như mía lùi” thì đó không phải là lời khen, mà thực chất là sự nịnh nọt, ton hót-một thái độ ứng xử không phù hợp với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

    Đến nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hiện nay, nếu ai tinh ý và chịu khó quan sát, lắng nghe thì trong các cuộc trò chuyện, có thể thấy một hiện tượng là quần chúng thích nói ý tứ cho vừa lòng lãnh đạo, cấp dưới hay “vuốt ve” cấp trên, nhân viên ưa nói tốt về thủ trưởng... Trong giao tiếp đời thường là vậy và trong sinh hoạt đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như vậy.

    Còn tồn tại hiện tượng trên một phần vì cấp dưới mang tâm lý cả nể những người có tuổi tác, chức sắc, vị thế công tác hơn mình; nhưng phần khác, cũng do tâm lý thích, thậm chí ham mê, ưa chuộng lời khen của những người có chức quyền. Mà khi cấp dưới khen thì nhiều khi là “khen cho được việc”, cố khen cho “mát mặt” cấp trên, chứ chưa hẳn là khen đúng lòng mình. Hay nói cách khác, đó là những lời khen mang tính chất “hối lộ tinh thần” hơn là lời khen thật sự ý nghĩa.

    Không những vậy, một số quan chức còn lợi dụng báo chí, truyền thông để ca ngợi, tung hô mình vào những thời điểm "nhạy cảm", như: Đại hội, bầu cử, được bổ nhiệm chức vụ mới… Tinh vi hơn, có quan chức bỏ ra những khoản kinh phí “không hề nhỏ” để duy trì, “nuôi dưỡng” một bộ phận làm truyền thông chuyên nghiệp chỉ để “lăng xê”, đánh bóng tên tuổi cá nhân mình trong xã hội. 

Cán bộ, đảng viên cần giữ đạo khiêm nhường, tự trọng, cương trực

    Trong những năm tháng bao cấp, dư luận vẫn râm ran câu nói “Thật thà thường thua thiệt/ Lươn lẹo lại lên lương” nhằm ám chỉ những kẻ “mồm năm miệng mười", "đầu môi chót lưỡi” ngon ngọt với cấp trên thì dễ bề được ưu tiên thăng tiến, lên cấp, nâng lương. Nhưng cha ông ta cũng có câu “Mật ngọt chết ruồi” với hàm ý khuyên răn, cảnh tỉnh ai đó chỉ thích nghe những lời lẽ quyến rũ, giọng điệu ngọt ngào mà giả dối của người khác thì tự mình sa vào tình thế nguy hiểm lúc nào không hay.

    Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức quyền mà luôn sống, sinh hoạt, làm việc trong sự “bủa vây” của những lời khen hào phóng, mỹ miều, giả tạo của những người xung quanh và cấp dưới, thì theo ngày ngày, tháng tháng, họ rất dễ bị ảo tưởng về chính mình. Từ đó, những biểu hiện gia trưởng, quan liêu, độc đoán cũng sẽ dần “lớn lên” trong thái độ, tư tưởng, tính cách của họ. Đó cũng là tiền đề để hình thành, tạo ra “uy tín giả”-một “cái bẫy” có thể làm quan chức tự sụp đổ ngay dưới chân mình!

    Cổ kim đông tây đã đúc kết, những người có chức sắc, vị thế xã hội mà bỏ ngoài tai những lời trung thực, khảng khái và lại ưa thích những lời tâng bốc, tung hô, nịnh nọt thì rất dễ bị ảo tưởng về quyền lực, từ đó có những hành xử thiếu minh mẫn, nhân văn, thậm chí vùi dập những người cương trực. Thế nên, Tuân Tử-một trong những triết gia cổ đại lừng danh của Trung Quốc đã tự răn mình và cũng là nhắc nhớ các bậc quân tử đời sau: “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất lên án thói tâng bốc, xu nịnh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10-1947, một trong những căn bệnh của một bộ phận cán bộ, đảng viên được Bác sớm chỉ ra và cảnh báo là: “Bệnh xu nịnh, a dua; ưa người ta tâng bốc, khen ngợi mình”. Bác cũng phê phán những cán bộ, đảng viên sống ba phải, không có lập trường, chính kiến rõ ràng: “Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Những người như thế không xứng đáng là người lãnh đạo, dìu dắt, giáo dục quần chúng.

    Để không mắc vào “cạm bẫy” ưa xu nịnh và chữa trị được căn bệnh “thích được đề cao, ca ngợi”, một trong những việc cần làm hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ gìn đức tính cương trực, tự trọng, khiêm nhường. Cương trực để không bị "mê hoặc" bởi “cái bả” ca tụng của nhiều cán bộ, nhân viên cấp dưới lúc nào cũng có thể “rót lời đường mật” vào tai mình. Tự trọng để biết phân biệt đâu là điều hay lẽ phải cần lắng nghe, coi trọng, đâu là lời khen vờ vĩnh, giả tạo cần tránh xa, loại bỏ. Khiêm nhường để không tự ảo tưởng về mình mà luôn có ý thức học tập, rèn luyện, bồi đắp những phẩm chất giá trị tích cực, nhân văn, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách bản thân và sống giản dị, gần gũi với tập thể nơi công tác và với cộng đồng nơi cư trú.

    Một việc không thể không nhắc lại là các cấp ủy, tổ chức đảng nói chung, cán bộ lãnh đạo nói riêng cần tiếp tục coi trọng và duy trì thường xuyên, nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, mỗi người cần thể hiện rõ tinh thần trung thực, thẳng thắn, công tâm, đồng thời bày tỏ thái độ trân trọng, bảo vệ cái đúng, cái tốt; phê phán kịp thời cái xấu, cái sai; kiên quyết đấu tranh loại bỏ lề thói xu nịnh, a dua, “mũ ni che tai”, “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, góp phần vừa giữ vững và nâng cao kỷ cương, kỷ luật của tổ chức đảng, vừa xây dựng môi trường văn hóa giao tiếp ứng xử lành mạnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.

 


Ngăn group chat thành “thiên đường” phát tán tin giả

    Cùng với sự phát triển của mạng xã hội cũng như những ứng dụng gọi điện, nhắn tin miễn phí như Zalo, Viber… là sự ra đời của những group chat (nhóm những người trong cùng một nền tảng ứng dụng có thể tương tác và trò chuyện với nhau).
    Gần đây, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, khi nhiều địa phương phải giãn cách xã hội nghiêm ngặt, ai ở đâu thì ở yên đó, hình thức giao tiếp thông qua group chat càng bùng nổ. Hiện nay, việc một cá nhân sở hữu từ vài nhóm đến hàng chục, thậm chí hàng trăm group chat khắp các ứng dụng là chuyện bình thường. Có group chat chỉ vài người nhưng cũng có group chat đến hàng chục, hàng ngàn người, nhất là trong những cộng đồng dân cư tập trung như khu chung cư.
    Bên cạnh rất nhiều ưu điểm như tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin, hỗ trợ lẫn nhau, gắn kết tình nghĩa cộng đồng khu dân cư…, những group chat nói trên cũng trở thành “thiên đường” để phát tán, lan truyền những tin tức giả, độc hại. Nói không ngoa, group chat đã trở thành những “xóm nhà lá” thời 4.0. Qua lan truyền người này sang người kia, từ nhóm này đến nhóm kia theo dạng “nghe nói”, “nghe đồn”, từ một thông tin không rõ nguồn gốc, dần dà trở thành những cơn “địa chấn” dẫn dắt cảm xúc, gây hoang mang, thậm chí phẫn nộ trong cộng đồng.
    Những ngày qua, nhan nhản những tin nhắn hoặc hình ảnh chụp màn hình một tin nhắn nào đó đại loại “người nhà đang ở ABC cho biết chuyện XYZ (đa phần đều mang tính tiêu cực hoặc mang tính cảnh báo nguy hiểm không đúng sự thật) được gửi tràn lan trong các group chat như thế. Quản trị viên một nhóm cư dân trên ứng dụng Zalo tại một khu căn hộ cho biết, mặc dù đã đưa vào nội quy và thường xuyên nhắc đi nhắc lại nhưng mỗi ngày anh xóa không biết bao nhiêu những tin nhắn lan truyền không có kiểm chứng như thế từ cư dân. Điều nguy hiểm là dạng lan truyền này tạo nên ảnh hưởng rất lớn bởi được chia sẻ từ những mối quan hệ quen biết thân tình nên thường tạo ra sự tin cậy rất cao.
    Do vậy, dù mức độ ảnh hưởng không hề kém việc phát tán, lan truyền trên các trang mạng xã hội nhưng việc lan truyền, phát tán thông tin, nhất là tin độc hại, tin giả trong các group chat, rất khó để cơ quan chức năng phát hiện, xử lý nếu không nói gần như không thể! Do tính khó phát hiện, khó xử lý này mà hình thức group chat hiện đang được không ít phần tử phản động, các hội nhóm mang màu sắc tâm linh sử dụng triệt để nhằm tuyên truyền sai lệch, kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
    Rõ ràng, dù biết rằng với không gian mạng mở vô tận như hiện nay, việc kiểm soát triệt để những thông tin xấu, độc hại phát tán trên các nền tảng mạng xã hội nói chung cũng như group chat nói riêng là rất khó nhưng cũng cần nhận diện một cách nghiêm túc mặt trái của nó để từ đó đưa ra các giải pháp hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả có thể mang đến cho cộng đồng và xã hội. Đặc biệt, ý thức của mỗi cá nhân chính là “phòng tuyến” cực kỳ quan trọng trước vấn nạn tin giả, tin độc hại ngày càng tràn lan như hiện nay. Hãy tỉnh táo và có trách nhiệm trước mỗi thông tin muốn chia sẻ. Đừng lan truyền những thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là những thông tin góp phần gây hoang mang, hoảng loạn cho cộng đồng.
    Giữa những ngày cả nước phải hứng chịu sự tổn thương đến gần như quỵ ngã bởi đại dịch Covid-19, hãy lan tỏa cho nhau niềm tin, động lực để cùng nỗ lực vượt qua thời đoạn khắc nghiệt và khốc liệt này.


Cảnh giác với “Thuyết âm mưu chính trị” của các thế lực thù địch

    Hiện nay, các thế lực thù địch không ngừng chống phá nước ta trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng – an ninh, đối ngoại... với nhiều thủ đoạn, phương phương thức khác nhau, bản chất là Thuyết âm mưu chính trị, sử dụng thông tin sai lệch để chống phá Việt Nam.
    Theo thống kê của Cục An ninh Điều tra - Bộ Công an, từ năm 2004 đến nay, cơ quan an ninh điều tra các cấp đã tiến hành điều tra, xử lý gần 150 vụ án làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, với hàng trăm đối tượng có hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 11 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đáng chú ý là trong thời gian tổ chức các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc vào các giai đoạn 2005 - 2006 (Đại hội X), 2010 - 2011 (Đại hội XI), 2015 - 2016 (Đại hội XII), 2020 (Đại hội XIII), số lượng vụ án làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam có xu hướng tăng nhanh, trung bình 15 vụ án mỗi giai đoạn.
    Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung, Internet nói riêng, đã và đang tồn tại hàng trăm kênh đài, trang mạng khác nhau như: kênh RFA, VOA, BBC, RFI, YouTube; trang “Dân làm báo”, “Thông luận”, “Boxit”, “Đàm chim Việt”, “Quê mẹ”, “Việt Nam thời báo”, “Mẹ Nấm”… thường xuyên đăng tải, phát tán các thông tin xấu, độc chống phá Việt Nam.
    Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, chỉ tính từ đầu năm 2020 đến trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII, Bộ đã gỡ bỏ gần 400 trang giả mạo, 4.500 tin xấu độc trên Facebook và 30.000 video xấu độc trên Youtube. Số lượng gỡ bỏ thông tin xấu độc của Facebook năm 2020 tăng 30 lần so với năm 2017. Số video xấu độc được gỡ bỏ trên Youtube năm 2020 tăng 8 lần so với năm 2017. Tỷ lệ tin xấu độc về các đồng chí lãnh đạo chủ chốt năm 2017 lên tới trên 70% thì nay chỉ còn dưới 3%.
    Những thông tin sai lệch của các đối tượng thù địch, phản động được đăng tải, phát tán tập trung tuyên truyền vào một số nội dung trọng điểm như: phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta. Chúng thường xuyên phê phán, đả kích hệ tư tưởng của Đảng và xã hội ta lạc hậu lỗi thời; bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức “tự phong”, là người “tiếm quyền” của nhân dân, Đảng “chỉ biết đến lợi ích của Đảng”, là “Đảng đầu hàng”, “bán nước, làm tay sai”, “lệ thuộc” vào Trung Quốc; Cương lĩnh của Đảng ta, nhất là Cương lĩnh thông qua tai Đại hội XI (2011) là “giáo điều, bảo thủ”, là “ảo tưởng”... Tiếp đến, tung tin bôi nhọ, xuyên bạc, bịa đặt nhằm gây mất lòng tin của nhân dân vào phẩm chất, uy tín và năng lực lãnh đạo của những người lãnh đạo cấp cao trong Đảng, Nhà nước ta. Các trang mạng thường xuyên đăng tải những bài viết xuyên tạc, bịa đặt với mục đích chia rẽ tinh thần đoàn kết nội bội trong Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng xuyên tạc công cuộc chống tham nhũng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta. Thông qua các trang mạng xã hội, những phần tử xấu tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam.
    Hoạt động của các thế lực thù địch khi đăng tải, phát tán những thông tin sai lệch trên không gian mạng nói riêng, trong không gian địa lý của Việt Nam nói chung đã và đang tác động xấu đến công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Nó làm suy giảm niềm tin của một bộ phận quần chúng nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng; đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất an ninh chính trị, trật tự xã hội, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Nói cách khác, các thế lực chống phá nước ta đang thực hiện thuyết âm mưu chính trị ở Việt Nam với những “câu chuyện bịa đặt, hư cấu”; những thông tin sai lệch, xấu độc được lan truyền trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhằm thực hiện mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng CNXH của nước ta.
    Vì vậy, để khắc chế âm mưu, thủ đoạn của các thế lực chống phá trong việc sử dụng thông tin sai lệch, đồng thời đánh bại thuyết âm mưu chính trị đó, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp như quán triệu sâu sắc, thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam về phòng chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối nước ta. Trong đó, đặt trọng tâm vào việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Luật An ninh mạng. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35, đồng thời phối hợp với các ban, bộ ngành (đặc biệt là Bộ Công an và Bộ Thông tin & Truyền thông), đơn vị, địa phương  tham gia công tác đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch.
    Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận và nghiệp vụ về phòng chống quan điểm sai trái, thù địch nói chung, xử lý thông tin sai lệch nói riêng. Huy động các chuyên gia, nhà khoa học, phóng viên, đảng viên ưu tú,... nghiên cứu làm rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, phương thức thực hiện của thuyết âm mưu và thuyết âm mưu chính trị. Từ đó đăng tải những tin bài phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, bọn phản động, cơ hội chính trị. Đồng thời, vạch trần bản chất xấu, độc trong thuyết âm mưu chính trị của chúng. Kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ những thông tin sai lệch, xấu độc của các thế lực chống đối nước ta. Chúng ta phải luôn luôn xác định thông tin sai lệch là “linh hồn” của thuyết âm mưu chính trị, là công cụ hữu hiệu nhất mà các thế lực thù địch sử dụng để chống phá Việt Nam. Vì vậy, cắt đứt chuỗi phát tán, lan truyền thông tin xấu độc, sai lệch là cách thức hiệu quả nhất trong phòng chống quan điểm sai trái, thù địch,...
Có thể thấy, những quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối, phản động, cơ hội chính trị nhằm vào nước ta trong thời gian qua về bản chất giống như một Thuyết âm mưu chính trị, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng CNXH của nước ta. Chúng lựa chọn “thông tin sai lệch” làm “át chủ bài” trong quá trình hiện thực hóa Thuyết âm mưu chính trị đó. Với việc in ấn, phát tán và đăng tải thông tin sai lệch, xấu độc, các thế lực chống đối đã và đang gây ra không ít khó khăn cho chúng ta trong công cuộc bảo vệ Đảng, Nhà nước và Tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, với sự đoàn kết, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, chúng ta từng bước bóc tách, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của chúng, đồng thời “khai tử” Thuyết âm mưu chính trị của chúng đối với Việt Nam.


Cảnh giác với quan điểm “liên minh” trong giải quyết tranh chấp chủ quyền

    Lợi dụng chuyến thăm của phái đoàn cấp cao Hoa Kỳ đến Việt Nam vào tháng 8/2021, đặc biệt là lời tuyên bố của Phó Tổng thống K. Harris về việc Hoa Kỳ mong muốn nâng tầm mối quan hệ đối tác toàn diện hiện nay giữa hai nước lên đối tác chiến lược. Trên mạng xã hội tràn ngập những lời kêu gọi Đảng, Nhà nước ta thiết lập liên minh với Hoa Kỳ, để họ giúp ta bảo vệ chủ quyền, đồng thời lên án chính sách “4 không” về quốc phòng ở nước ta. Các đối tượng cho rằng chính sách “4 không” như trên là “tự trói tay chân mình”, các đối tượng tìm cách hô hào, cổ suý tư tưởng phải dựa dẫm, lệ thuộc vào các nước khác, đặc biệt là các quốc gia phương Tây.

    Đầu tiên có thể khẳng định chính sách đối ngoại của Đảng ta là sự kế thừa và tiếp nối chính sách đối ngoại từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, với chủ trương nhất quán là “đa dạng hóa và đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại”, “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
    Xét về chính sách quốc phòng, từ lâu, Đảng, Nhà nước ta thực hiện chủ trương “bốn không”, bao gồm: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để chống nước kia và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách quốc phòng nói trên là phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước, phù hợp với lịch sử dựng và giữ nước và tình hình thực tiễn của Việt Nam. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, được thực hiện xuyên suốt và có ý nghĩa sống còn đến sự tồn vong của dân tộc. Xuất phát từ các nguyên nhân sau:
    Thứ nhất, bàn về chính sách quốc phòng của Việt Nam, chúng ta cần nhìn nhận một cách toàn diện, đầy đủ. Về mặt lịch sử, trải qua quá trình đấu tranh dựng và giữ nước, sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường luôn là nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Nội dung đó đã thấm nhuần vào trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của tinh thần “tự lực tự cường” trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong buổi đầu tìm tòi con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mặc dù rất khâm phục các sĩ phu yêu nước, nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra những hạn chế trong con đường cứu nước của các bậc tiền bối. Cụ Phan Chu Trinh yêu cầu thực dân Pháp cải lương, “Việc này chẳng khác nào xin giặc rũ lòng thương”, Cụ Phan Bội Châu hi vọng Nhật nước ta đuổi Pháp cũng chẳng khác gì “Đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Thực tiễn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ khi một bộ phận cán bộ, quần chúng Nhân dân có biểu hiện trong chờ vào sự giúp đỡ của nước bạn, trước tình hình đó Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Do vậy, ý thức tự lực tự cường phải đước đặt lên hàng đầu, xuyên suốt,  đặc biệt là trong thời điểm thế giới có những diễn biến phức tạp, lợi ích đan xen như hiện nay.
    Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn của các khối liên minh và các mối quan hệ liên minh trên thế giới hiện nay. Sự kiện ba nước Mỹ, Úc và Anh công bố quan hệ đối tác 3 bên (AUKUS) đã gây ra những chia rẻ sâu sắc đến với các quốc gia được xem là “đồng minh”. Theo đó, Mỹ và Anh sẽ giúp Úc sở hữu hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Hiệp định AUKUS có nhiều mục đích khác nhau, nhưng trong đó ai cũng hiểu là để kiềm chế Trung Quốc là mục tiêu chính. Thế nhưng, không phải Trung Quốc mà Pháp lại đang là nước phản ứng rất mạnh mẽ, bởi một hợp đồng kinh tế hàng chục tỷ đô la của Pháp đã bị “cướp” trắng bởi những đồng minh thân thiết nhất. Ngoại trưởng Drian tuyên bố một cách giận dữ “Việc từ bỏ dự án tàu ngầm... là hành vi không thể chấp nhận được giữa các đồng minh và đối tác". Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là một hợp đồng béo bở bị mất vào phút chót. Đó là việc nước Pháp bị “đâm sau lưng” bởi các quốc gia đồng minh có cùng lợi ích. Từ sự việc trên, có thể thấy mối quan hệ giữa các “đồng minh” cũng sẽ bị lung lay bởi sức hấp dẫn của “đồng tiền”. Do vậy, việc hi vọng và đặt hết niềm tin vào “Đồng minh” đó là một canh bạc mạo hiểm, mà hậu quả nhiều khi phải đánh đổi bằng lợi ích, chủ quyền quốc gia dân tộc.
    Hay sự kiện Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough cũng để lại nhiều bài học sâu sắc cho việc giải quyết mối quan hệ với các nước lớn và các tranh chấp. Philippines có Hiệp ước các lực lượng thăm viếng với Mỹ, hiệp định này cho phép hàng ngàn quân Mỹ tới Philippines tập trận, bên cạnh đó là những lời hứa bảo đảm an ninh, chủ quyền cho Philippines, nhưng khi Trung Quốc có hành động xâm chiếm bãi cạn Scarborough vào năm 2012, Mỹ không giữ lời hứa gây áp lực buộc Trung Quốc rời khỏi bãi cạn mà làm ngơ để trung Quốc chiếm trọn và Tổng thống Philippines, Duterte đe dọa hủy Hiệp ước với Mỹ và yêu cầu Mỹ giải thích lý do để Philippines “mất lãnh thổ vào tay Trung Quốc”.
    Bàn về mối quan hệ giữa các nước, Cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill từng có câu nói để đời: “Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Đó là một kiến giải gợi lên cho chúng ta những suy nghĩ nghiêm túc về đường lối ngoại giao giữa các nước trên thế giới.
    Ba là, những luận điệu cho rằng có thể dựa vào Mỹ để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông có lẽ họ đã quên đi quá khứ cay đắng khi Mỹ đã cố ý phớt lờ để mặc Trung Quốc tấn công quân đội Việt Nam Cộng hòa và xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, Ngoại trưởng Mỹ Kissinger khi đó đã lật lọng tuyên bố “Mỹ không có lập trường trong việc tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này”. Bản chất “con buôn” của Mỹ sẽ không bao giờ thay đổi dù được che lấp bởi nhiều mỹ từ, hay biểu hiện ở hình thức này hay hình thức khác.
    Hiện nay, Việt Nam và Mỹ đã bình thường hóa quan hệ, hai nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, gần đây là trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, không vì vậy mà khi quan hệ với Mỹ, chúng ta mơ hồ, ảo tưởng, hy vọng về “lòng tốt” của Mỹ. Trên các diễn đàn quốc tế “có vẻ” như Mỹ có thái độ ủng hộ Việt Nam, tuy nhiên thực tế chưa bao giờ và không bao giờ Mỹ “tử tế” đối với Việt Nam. Nếu có, chỉ là nhằm thực hiện chiến thuật trong quan hệ ngoại giao mà thôi. Biểu hiện rõ nét nhất là việc Mỹ đã nuôi dưỡng và cưu mang những đối tượng phản động gốc Việt, cụ thể là tổ chức khủng bố Việt Tân, tiến hành các hoạt động chống phá nước ta; thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam. Do đó, chúng ta cần xây dựng bản lĩnh, tinh thần cảnh giác cách mạng, không dao động trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, tin tưởng tuyệt đối vào chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta.               

 


Vị đại tướng tạo khí thế mới cho nền nông nghiệp nước nhà

Tuy thời gian được Đảng giao trực tiếp phụ trách mảng nông nghiệp và nông thôn không dài, nhưng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có những cống hiến quan trọng, góp phần tạo nên luồng gió mới trên đồng ruộng miền Bắc, xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc trong những năm tháng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nhớ lại những năm 1960, bình quân ruộng đất tính theo đầu người của miền Bắc khoảng 3 sào Bắc Bộ, tức khoảng trên 1000m2. Khi đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn nhắc đến khẩu hiệu “phá xiềng 3 sào”. Ông đã rất chú trọng vấn đề bảo vệ, khai hoang mở rộng diện tích canh tác, đặc biệt là diện tích cấy lúa, hạn chế tốc độ tăng dân số và sử dụng hợp lý quỹ đất nông nghiệp.

Trong lịch sử và tâm trí của hàng triệu con người Việt Nam còn in đậm phong trào “Gió Đại Phong”, một mô hình nông nghiệp thời chống Mỹ mà đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã dày công tổng kết và chỉ đạo.

Đại Phong huyện Lệ Thủy, Quảng Bình là một hợp tác xã ban đầu chỉ có 24 hộ và 24 mẫu ruộng. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nêu khẩu hiệu “phá xiềng 3 sào” đồng thời giúp hợp tác xã quản lý tốt, phân công lao động hợp lý, vừa khuyến khích khai hoang, vừa tăng cường thâm canh tăng vụ phát triển nghề phụ, xã viên đoàn kết một lòng.

Chỉ trong 3 năm đã phát triển thành hợp tác xã cấp cao với 455 hộ và 1.113 mẫu ruộng, cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển, đời sống xã viên ngang với mức trung nông. Đồng chí đã tổng kết rút kinh nghiệm phổ biến cho các hợp tác xã khác.

Sáng kiến thi đua “Học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong” được Đảng và Bác Hồ chấp thuận, gần 2 tháng sau khi phát động, đã có hơn 1000 hợp tác xã đăng ký thi đua học tập Đại Phong.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Đó là một phong trào rất tốt và rất mạnh mẽ, nó chứng tỏ tinh thần hăng hái, lực lượng to lớn và khả năng dồi dào của đông đảo nông dân ta”. 


Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (phải) tại Hợp tác xã nông nghiệp Đại Phong (1961). 

 

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh rất quan tâm đến thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng luôn chú ý tới việc phân phối sản phẩm, nâng cao đời sống nông dân. Đồng chí cho rằng, sản xuất và phân phối là những khâu quan trọng và có liên quan mật thiết đến nhau.

Theo ông, cần nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc vấn đề phân phối để điều chỉnh những chỗ chưa hợp lý nhằm khuyến khích sản xuất phát triển. Đây là lợi ích kinh tế của người lao động, nếu không được thực hiện tốt sẽ triệt tiêu một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc dân.

Nhiều địa phương thời bấy giờ chủ trương “vắng chợ đông đồng” thì đồng chí chủ trương “chợ nông thôn nó cần phải có, đó là thực tế khách quan kinh tế của ta”, “kinh tế phụ gia đình có tác dụng hỗ trợ”. Đồng chí cho rằng kinh tế hợp tác xã và kinh tế gia đình có quan hệ mật thiết với nhau, chi phối tương tác nhau cùng phát triển theo một tỷ lệ hợp lý.

Năm 1962 khi đánh giá về phong trào hợp tác hóa, bên cạnh cái hay của cách làm ăn tập thể, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã thẳng thắn chỉ ra một số khuyết điểm lớn, kéo dài của phong trào làm hạn chế đáng kể hiệu quả làm ăn của hợp tác xã.

Ông cũng đi sâu nghiên cứu, phân tích kỹ tình hình cần chú ý ở nước ta khi tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp, đó là: Ta tiến hành hợp tác hóa với vốn cơ sở vật chất, kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu, ruộng đất ít. Ông đề ra phải “phá xiềng 3 sào” để tạo điều kiện mới cho sức sản xuất. Lao động nông nghiệp cần phải phân bổ lại cho hợp lý.

Ông rất coi trọng xây dựng chế độ hợp tác mới ở nông thôn trên ba mặt là: Cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh cũng nhận định, xóa đói giảm nghèo, tăng hộ giàu trong nông thôn sau cải cách ruộng đất là một xu thế phân hóa tích cực, đúng đắn. Những tư tưởng lớn của đồng chí Nguyễn Chí Thanh đối với nông dân, nông nghiệp nước ta đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

 


Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tham gia tăng gia sản xuất tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam (1966). 

 Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong bài viết về mặt trận nông nghiệp giai đoạn 1960-1963 đã nhấn mạnh: “Khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh rời Thủ đô Hà Nội vào chiến trường miền Nam, hơn 10 triệu nông dân (miền Bắc) trong hợp tác xã nông nghiệp đã phấn đấu đưa sản lượng nông nghiệp đến năm 1963 cao hơn hai lần so với năm 1939, là năm phát triển nhất thời thuộc Pháp và trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Các hợp tác xã có vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhờ có nó, chúng ta phát triển và củng cố được nông thôn- một địa bàn chiến lược rộng lớn nhất của căn cứ địa miền Bắc – tạo nên sự nhất trí cao về chính trị và tinh thần của cả miền Bắc, động viên và tổ chức được hàng triệu thanh niên ra tiền tuyến, đảm bảo hậu phương quân đội, hậu phương chiến tranh ngày càng vững mạnh.

Đến khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc, nó là cơ sở vững mạnh bảo đảm thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không”. 

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã sống một cuộc đời giản dị và gần gũi, đúng như Tố Hữu đã viết về ông “sáng trong như ngọc một con người”. Từ một vị tướng cầm quân đánh giặc, ông đã hoàn thành trọng trách lãnh đạo một ngành kinh tế trọng yếu của đất nước, có liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân, đó là mặt trận nông nghiệp.