Vận dụng
những bài học kinh nghiệm từ hoạt động của “Đường Hồ Chí Minh trên biển” trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc giai đoạn
hiện nay.
Nhân kỷ niệm 60
năm ngày mở tuyến vận tải chiến lược này (23/10/1961 -
23/10/2021), VietnamNet trân trọng giới thiệu bài viết: “Đường Hồ Chí Minh
trên biển và bài học về xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay” của
Đại tá Chu Văn Lộc, Viện Chiến lược Quốc phòng (Bộ Quốc phòng).
Năm 1959, để đáp
ứng yêu cầu đấu tranh cách mạng miền Nam, cùng với việc mở tuyến chi viện chiến
lược trên bộ vượt dãy Trường Sơn (Đoàn 559), Trung ương Đảng Lao động Việt Nam
quyết định mở tiếp tuyến chi viện chiến lược đường biển. Tuy nhiên, do khó khăn
về điều kiện phương tiện cũng như nguồn nhân lực, nên tuyến chi viện bằng đường
biển chưa thành công. Sang năm 1960, cùng với phong trào Đồng khởi Bến Tre,
phong trào cách mạng của các tỉnh đồng bằng Nam Bộ chuyển mạnh lên thế tiến
công và trở thành cao trào đồng khởi rộng khắp. Mỹ - chính quyền Sài Gòn tìm
mọi cách đối phó, chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961
- 1965).
Để đáp ứng yêu
cầu vận chuyển vũ khí, hàng hóa chi viện cho chiến trường Nam Bộ và cực Nam
Trung Bộ, ngày 23/10/1961, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết thành lập
Đoàn vận tải biển 759 có nhiệm vụ “mua sắm phương tiện, vận chuyển các loại
hàng tiếp tế cho chiến trường miền Nam bằng đường biển”. Việc quyết định mở
tuyến vận tải chiến lược trên biển và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực
hiện trong điều kiện địch tổ chức ngăn chặn, phong tỏa rất gắt gao là một quyết
định đúng đắn, thể hiện tầm nhìn, bản lĩnh và tài thao lược của Đảng, quân đội
và nhân dân ta. Đó vừa là sự kế thừa và phát triển lên tầm cao mới truyền thống
chống ngoại xâm của dân tộc, đồng thời là sự sáng tạo độc đáo, tạo nên những
giá trị nghệ thuật quân sự đặc sắc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Trong những ngày
đầu hoạt động, kinh nghiệm và hiểu biết của ta về vận tải biển chưa nhiều; cùng
với đó là sự đánh phá ác liệt của địch gây cho ta bao khó khăn, nhưng với
phương châm hoạt động bí mật bất ngờ, thần tốc, táo bạo, sử dụng linh hoạt
nhiều loại tàu thuyền, nhiều cung, nhiều tuyến vận tải khác nhau, các địa
phương ven biển miền Nam, chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã nhận được
sự chi viện trực tiếp của miền Bắc, tạo nên sức mạnh và niềm tin to lớn cho các
lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Nam. Khi tuyến đường vận tải biển
được khai thông, Đoàn 759 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện động viên, biểu
dương cán bộ, chiến sỹ và căn dặn cần rút kinh nghiệm các chuyến đi, tiếp tục
vận chuyển nhiều vũ khí cho đồng bào miền Nam đánh giặc, để Bắc - Nam sớm sum
họp một nhà.
Trong suốt 14
năm (1961 - 1975) thực hiện vận chuyển chiến lược bằng đường biển chi viện cho
chiến trường miền Nam, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 759 (sau này là Đoàn 125 Quân
chủng Hải quân) cùng với nhân dân các tỉnh duyên hải có tuyến đường đi qua đã
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chuyển 152.760 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật,
thuốc chữa bệnh từ miền Bắc vào miền Nam; chiến đấu hàng trăm trận với máy bay
tàu chiến của Mỹ và quân đội Sài Gòn.
Cùng với vận tải
hàng quân sự, Đường Hồ Chí Minh trên biển còn đảm đương một sứ mệnh vô cùng
quan trọng, đó là đưa đón hơn 80.026 lượt cán bộ, chiến sỹ, trong đó có hàng
trăm cán bộ trung, cao cấp của Đảng, quân đội từ miền Bắc vào miền Nam và từ
miền Nam ra miền Bắc, kịp thời bổ sung cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy
chiến đấu trên chiến trường miền Nam. Chiến công và thành tích đó đã góp phần
quan trọng vào thắng lợi chung của toàn dân tộc, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho
ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Ngày nay, Đảng
và nhân dân ta đang tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động. Hòa
bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng còn nhiều khó khăn,
thách thức: sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp
tục diễn ra dưới nhiều hình thức tác động tiêu cực đối với môi trường kinh tế,
chính trị, quốc phòng, an ninh... Ngay tại khu vực Đông Nam Á, việc tranh chấp
chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo, diễn ra căng thẳng, phức tạp. Sự ổn
định, tự do an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước
những thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột.
Ở trong nước,
sau 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của
đất nước ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống
phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ chủ quyền biển,
đảo, thềm lục địa của Tổ quốc và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các
vùng biển, đảo đã và đang đặt ra những yêu cầu mới. Nhiệm vụ chi viện bảo
đảm cho các hướng, các địa bàn chiến lược, trong đó trên biển, đảo là hết sức
phức tạp và nặng nề. Vận dụng những bài học kinh nghiệm từ hoạt động của “Đường
Hồ Chí Minh trên biển” trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để góp phần bảo vệ
vững chắc Tổ quốc giai đoạn hiện nay, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một
số nội dung cơ bản sau:
Một là, tổ
chức nghiên cứu, quán triệt, học tập, tuyên truyền và triển khai thực hiện
thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về
biển, đảo, nhất là Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành
Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 18/5/2020 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt đề án hợp tác quốc tế về phát triển bền vững kinh tế
biển Việt Nam đến năm 2030; Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về “Phát triển kinh
tế biển”, đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển bền vững, giàu, mạnh từ
biển, phù hợp với chuẩn mực quốc tế, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển
với tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn
định để phát triển đất nước.
Hai là, xây
dựng các chính sách phù hợp với điều kiện hiện nay nhằm khai thác tiềm năng và
các lợi thế về biển; phát triển kinh tế gắn liền với xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên các vùng biển, đảo. Mở
rộng chính sách liên kết ở vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam với những
nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, tạo ra những đối tác đan xen
lợi ích để phát triển kinh tế biển. Thông qua đó, khẳng định chủ quyền của Việt
Nam, hạn chế âm mưu lấn chiếm biển đảo của các thế lực thù địch, tạo thế và lực
mới để giải quyết hòa bình các vấn đề tranh chấp trên biển, đảo với các nước có
liên quan. Có chính sách thu hút, khuyến khích nhân dân ra đảo định cư lâu dài
và làm ăn dài ngày trên biển, bảo đảm vừa phát triển kinh tế, vừa làm nhiệm vụ
bảo vệ vùng biển của Tổ quốc. Đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về
các ngành kinh tế biển, ưu tiên du lịch và dịch vụ biển; kinh tế hàng hải; khai
thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; nuôi trồng và khai thác
hải sản; công nghiệp ven biển; năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển
mới. Phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp, khu
đô thị sinh thái ven biển.
Ba
là, không ngừng tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, tiếp tục xây dựng
lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của của Tổ quốc
vững mạnh toàn diện theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và hiện
đại; nòng cốt là Hải quân nhân dân Việt Nam, Cảnh sát biển Việt
Nam, Bộ đội Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững
mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng,
trọng tâm là chi bộ và vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng
viên làm nhiệm vụ trên các vùng biển, đảo.
Tổ chức điều
chỉnh, bố trí và triển khai thế trận quốc phòng, an ninh, kết hợp phát triển
kinh tế - xã hội trên vùng biển, đảo một cách hợp lý. Kết hợp chặt chẽ giữa
thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hóa trên các đảo với xây dựng thế trận quốc
phòng, an ninh, xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển, đảo vững mạnh, đủ khả
năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Dân sự hóa các vùng biển, đảo vừa là
cơ sở để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên, vừa là tiền đề để xây
dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng, an
ninh trên biển. Đây là chủ trương chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng đối với
sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước.
Bốn
là, quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng, nhất là hoạt
động đối ngoại quốc phòng, hợp tác quốc tế về biển. Tôn trọng chủ quyền và lợi
ích hợp pháp của các nước trên biển. Kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh
chấp, bất đồng trên biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp
quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Kết hợp chặt
chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế,
quốc phòng trong quản lý, bảo vệ biển, đảo. Tham gia tốt các hoạt động giao lưu
với hải quân các nước trong khu vực và trên thế giới; phối hợp hiệp đồng chặt
chẽ trong tuần tra, diễn tập, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, chống cướp biển... Tích
cực, chủ động phối hợp với các lực lượng thực hiện tốt nhiệm vụ giúp dân phòng,
tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, chăm sóc sức khỏe, giúp
đỡ nhân dân làm ăn trên các vùng biển và ổn định đời sống nhân dân trên
các đảo, nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, trật tự, an ninh và
phát triển kinh tế biển.
Bên cạnh đó, cần
tiếp tục phát huy truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển, nêu cao ý thức độc
lập, tự chủ, tự lực, tự cường; chủ động, sáng tạo, cần kiệm trong lao động sản
xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần cho bộ đội; làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, giữ vững chủ quyền biển,
đảo thiêng liêng của Tổ quốc.