Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2021

Thêm bằng chứng cho thấy cuộc chiến chống tham nhũng là không có ngoại lệ, không có vùng cấm

Từ ngày 2 - 4.11, tại Hà Nội, UBKT T.Ư đã họp kỳ thứ 8. Tại kỳ họp, UBKT T.Ư đã xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với  Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 - 2021, và kết luận: Ban Cán sự Đảng Bộ Y tế đã vi phạm các nguyên tắc hoạt động của Đảng, quy chế làm việc của Ban Cán sự Đảng; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, để Bộ Y tế, Cục Quản lý dược, nhiều đơn vị, cơ sở khám chữa bệnh và cá nhân vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác xây dựng, ban hành thể chế, chính sách, trong việc cấp phép nhập khẩu thuốc, thực hiện liên doanh liên kết, đấu thầu, mua sắm thuốc, trang thiết bị y tế và vật tư tiêu hao; để nhiều cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số bị xử lý hình sự.

Theo UBKT T.Ư, những vi phạm nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng, thất thoát, lãng phí tiền, tài sản của Nhà nước, thiệt hại cho Quỹ Bảo hiểm y tế, ảnh hưởng lớn đến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức Đảng và ngành y tế.

Từ đó, UBKT T.Ư quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Y tế nhiệm kỳ 2015 - 2020, Đảng ủy Cục Quản lý dược nhiệm kỳ 2010 - 2015, Ban Thường vụ Đảng ủy Bệnh viện (BV) Bạch Mai nhiệm kỳ 2015 - 2020; Khiển trách Đảng ủy Cục Quản lý dược nhiệm kỳ 2015 - 2020.

UBKT T.Ư cũng quyết định khai trừ ra khỏi Đảng các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo BV Bạch Mai, gồm ông Nguyễn Quang Tuấn (Bí thư Đảng ủy, Giám đốc, nguyên Giám đốc BV Tim Hà Nội), ông Nguyễn Quốc Anh (nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Giám đốc) và ông Nguyễn Ngọc Hiền (nguyên Phó bí thư Đảng ủy, nguyên Phó giám đốc BV Bạch Mai); cách tất cả các chức vụ trong Đảng đối với các ông: Nguyễn Minh Tuấn (Bí thư Chi bộ, Vụ trưởng Vụ Trang thiết bị - Công trình y tế), Nguyễn Chiến Thắng (nguyên Bí thư Chi bộ, nguyên Giám đốc Ban Quản lý dự án công trình y tế trọng điểm kiêm Giám đốc Ban Quản lý dự án chuyên ngành xây dựng công trình y tế, Bộ Y tế). Bên cạnh đó, UBKT T.Ư quyết định kỷ luật khiển trách các ông: Nguyễn Trường Sơn (Ủy viên Ban Cán sự Đảng, Thứ trưởng Bộ Y tế), Nguyễn Thế Thịnh (Bí thư Chi bộ, Cục trưởng Cục Quản lý y, dược cổ truyền), Vũ Tuấn Cường (Đảng ủy viên Bộ Y tế, Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Quản lý dược) và Nguyễn Trí Dũng (Bí thư Chi bộ, Giám đốc Trung tâm mua sắm tập trung thuốc quốc gia).

UBKT T.Ư đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật Ban Cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016 - 2021 và các ông, bà: Nguyễn Thị Kim Tiến (Trưởng ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ T.Ư, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Bí thư Ban Cán sự Đảng, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế), Trương Quốc Cường (Ủy viên Ban Cán sự Đảng, Thứ trưởng Bộ Y tế - người vừa bị Cơ quan điều tra khởi tố). UBKT T.Ư cho biết sẽ tiếp tục xem xét, xử lý kỷ luật một số tổ chức Đảng và đảng viên có liên quan vi phạm, khuyết điểm đã nêu; đồng thời yêu cầu Ban Cán sự Đảng, Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Y tế chỉ đạo khắc phục các vi phạm, khuyết điểm, kiểm điểm trách nhiệm và xử lý kỷ luật đối với các tổ chức Đảng, đảng viên.

Như vậy, cho ta thấy, cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục với phương châm, quan điểm “Không có ngoại lệ, không có vùng cấm”.

Thứ Bảy, 6 tháng 11, 2021

Sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm



Để cứu nguy Phật giáo khỏi nạn diệt vong, vào ngày 25-5-1963, Ban Trị sự TW Tổng hội Phật giáo Việt Nam triệu tập 11 giáo phái và hội đoàn Phật giáo, thành lập ra Uỷ ban Liên phái bảo vệ Phật giáo, do TT.Tâm Châu làm chủ tịch, dưới sự chứng minh tối cao của HT.Thích Tịnh Khiết.

Cách mạng tháng Mười Nga - vầng dương sáng mãi

Hơn 100 năm đã qua nhưng những giá trị mà Cách mạng tháng Mười Nga để lại trong lịch sử nhân loại vẫn còn nguyên giá trị.

Cuộc cách mạng XHCN đầu tiên trên thế giới

Đầu năm 1917, nước Nga lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Quần chúng nhân dân tin rằng lúc này chỉ có một lối thoát là lật đổ chế độ Nga hoàng phản động. Tình thế cách mạng đã chín muồi, ngày 26/2/1917 (theo lịch cũ nước Nga là ngày 11/3/1917), dưới sự lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vích, công nhân tiến hành khởi nghĩa vũ trang.

Cuộc khởi nghĩa do Xô viết đại biểu công nhân và binh lính Petrograd (nay là thành phố Saint Petersburg) lãnh đạo giành thắng lợi, chế độ quân chủ chuyên chế Nga hoàng hoàn toàn sụp đổ.

Sau cách mạng dân chủ tư sản tháng 2/1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là Chính phủ lâm thời tư sản và một bên là Xô viết các đại biểu công nhân và binh sĩ, đứng đầu là Xô viết Petrograd. Trước tình hình đó, V.I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích đã xác định cách mạng Nga phải chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng XHCN.

Tối ngày 3/4/1917, theo lịch cũ nước Nga là 16/4/1917), Lenin về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Nga. Đêm 24/10/1917 (theo lịch cũ nước Nga là 6/11/1917), khởi nghĩa vũ trang nổ ra ở Thủ đô Petrograd. Ngày 25/10/1917 (theo lịch cũ nước Nga là 7/11/1917), các lực lượng khởi nghĩa đã làm chủ tình hình ở Petrograd, trừ Cung điện Mùa Đông và một vài nơi. Tới 2h10’, rạng sáng 26/10/1917, Cung điện Mùa Đông được giải phóng, các bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời bị bắt giữ. Cuộc khởi nghĩa vũ trang tại Petrograd kết thúc thắng lợi.

Ngày 25/10/1917 (theo lịch cũ nước Nga là 7/11/1917) đã được ghi vào lịch sử là ngày thắng lợi của Cách mạng XHCN tháng Mười vĩ đại. Lần đầu tiên trên thế giới, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, liên minh công nhân, nông dân và binh lính Nga đã đồng loạt đứng lên, lật đổ chế độ Nga hoàng, lập ra Nhà nước Xô viết - nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Thắng lợi của cách mạng cũng mở ra con đường cách mạng vô sản cho giai cấp công nhân ở các nước tư bản, nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Ánh sáng soi đường cách mạng Việt Nam

Từ sau Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào cách mạng ở mỗi nước, trong đó có Việt Nam, trở thành một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.

Người cũng đã tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam từ chính bản Luận cương của V.I Lê-nin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người nêu rõ: “Chỉ có đi theo con đường Cách mạng tháng Mười - con đường duy nhất đúng đắn - cách mạng Việt Nam mới giành được độc lập, tự do thực sự”. Người cũng đã chuẩn bị các điều kiện để thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam dựa trên các nguyên tắc xây dựng đảng kiểu mới của V.I Lê-nin. Ngay khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng đã khẳng định đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, coi đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam.

Dưới ánh sáng soi đường của học thuyết Mác – Lê-nin, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân lật đổ chế độ phong kiến và đập tan ách thống trị của bọn thực dân, làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại. Đảng cũng đã lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược, viết nên bản hùng ca Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Tiếp đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân kiên cường chiến đấu, làm nên khúc tráng ca đại thắng mùa xuân 1975, thống nhất đất nước.

Sau sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch chống phá quyết liệt, mưu toan phủ nhận mọi thành quả Cách mạng tháng Mười Nga. Những âm mưu, thủ đoạn chống phá CNXH của các thế lực thù địch trong nhiều thập kỷ qua càng làm nổi bật tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của cuộc Cách mạng XHCN tháng Mười Nga vĩ đại.

Nhận thức sâu sắc những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm sau các sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng ta đã kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ. Nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt là: Đổi mới trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì CNXH.

Ngày nay, tình hình thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp và chứa đựng những yếu tố khó lường, song học thuyết Mác - Lê-nin và dấu ấn lịch sử của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vẫn luôn tỏa sáng, là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đẩy mạnh công cuộc CNH - HĐH và hội nhập quốc tế, vững bước đi lên xây dựng CNXH - con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn.

Đứa con… cuối cùng!



Đứa con cuối cùng Mẹ cho đất nước 

Khí thế sục sôi Tổ quốc gọi tên 

Những đứa con từ khoai bãi lúa chiêm

Khiến quân giặc phải đảo điên khiếp vía.

Cách mạng tháng mười Nga - ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam

Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại mở ra kỷ nguyên mới cho nhân loại bước vào thời đại độc lập dân tộc và CNXH. Với Việt Nam, Cách mạng tháng Mười Nga là ngọn đuốc soi đường đi đến thắng lợi.

Sau Cách mạng tháng Mười vĩ đại, dân tộc Nga lại phải trải qua 2 thảm họa lớn, song đã vượt qua ngoạn mục. Phát xít Đức xâm lược làm trên 26 triệu người dân Liên Xô hy sinh, hầu hết các thành phố bị tàn phá, kinh tế kiệt quệ, quân Đức đánh vào cách Thủ đô Matxcơva 30 km… Với sức mạnh đoàn kết dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Liên Xô đã đánh bại phát xít Đức, giải phóng đất nước, cứu loài người khỏi thảm họa phát xít.

Rồi đến thời kỳ “cải tổ” do sai lầm về đường lối, sự phản bội của những kẻ cơ hội chính trị, tiêu biểu là M.Gorbacher và B.Xeltrin cùng với sự chống phá của kẻ thù đã khiến Liên Xô từ một cường quốc, trụ cột của phe CNXH và phong trào hòa bình, tiến bộ thế giới sụp đổ, sa vào đường hầm, tưởng không lối thoát. Phương Tây hí hửng, ngày 25/11/1999, Tổng thống Mỹ Bill Clintơn tuyên bố: “Kẻ thù số 1 của Mỹ đã bị xóa sổ. Nhiệm vụ tiếp theo của chúng ta là làm tan rã nước Nga… bằng mọi cách phải tách được các nước cộng hòa ra khỏi Liên bang Nga, duy trì một nước Nga nhỏ và yếu nằm trong quyền kiểm soát của Hoa Kỳ”.

Trước tình thế đó, dân tộc Nga, dân tộc đã làm nên Cách mạng tháng Mười, lại một lần nữa hồi sinh. Ngày 31/12/1999, Đuma quốc gia Nga lật đổ B.Xeltrin, giao Quyền Tổng thống cho Vladimia Putin. Bằng nhãn quan chính trị và lòng yêu nước nồng nàn, V.Putin đã đi nước cờ đầu tiên đập tan cuộc nổi dậy của lực lượng chống đối ở Chechnya. Ông được tín nhiệm bầu làm Tổng thống thứ hai của nước Nga mới.

Bằng các thủ đoạn bao vây kinh tế và thông qua giới chính trị phản bội, Mỹ tiếp tục âm mưu làm tan rã Liên bang Nga, đặc biệt là xóa bỏ truyền thống lịch sử và thành quả của Cách mạng tháng Mười Nga. Trước tình hình đó, V.Putin tuyên bố: “Những ai không thấy luyến tiếc về sự sụp đổ của Liên Xô, người đó không có trái tim, còn những ai muốn khôi phục Liên Xô y nguyên, người đó không có khối óc”. Nước Nga đã quyết định phục hồi một số biểu tượng thời Xô viết, như tiếp tục sử dụng lá cờ đỏ của Hồng quân Liên Xô, tiêu ngữ ngôi sao Xô viết và Quốc ca Liên bang Nga trên nền nhạc Quốc ca Liên Xô. Đặc biệt, phục hồi truyền thống lễ duyệt binh hoành tráng mừng chiến thắng vệ quốc vĩ đại đánh thắng phát xít Đức trong chiến tranh thế giới thứ II.

Với một đất nước có nhiều sắc tộc, nhiều nước cộng hòa và hàng trăm đảng phái chính trị, Tổng thống V.Putin đã đề ra mục tiêu phải thống nhất quốc gia, giữ vững nền độc lập với bộ máy nhà nước nắm quyền lực quản lý tập trung, thống nhất từ Trung ương đến các nước cộng hòa, cho đến cơ sở.

Về KT-XH, nước Nga đã vận dụng mô hình tiến bộ của thế giới có sáng tạo đó là: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội có sự quản lý của Nhà nước”. Trong đó chính sách xã hội được quan tâm hàng đầu của nền kinh tế quốc dân. Những nội dung cơ bản của mô hình này đã được đưa vào các văn kiện chiến lược trung hạn và dài hạn của nước Nga trong những năm 2002-2010, 2010-2015, 2015-2020, đã vận hành trong thực tiễn mang lại kết quả rất khả quan.

Nga khôi phục được nền kinh tế sụp đổ do thời kỳ “cải tổ” để lại với thiệt hại gấp 2,5 lần so với thiệt hại trong đại chiến thế giới II, không những thế, nền kinh tế còn có bước phát triển vượt bậc. Xuất khẩu nông sản, vũ khí và thiết bị quân sự, quốc phòng, các sản phẩm công nghệ cao hàng đầu thế giới; phấn đấu đưa đất nước Nga đứng vào tốp 10 các nước phát triển.

Thông điệp Liên bang Nga năm 2020 nhấn mạnh: “Nước Nga là một quốc gia có chủ quyền. Đối với nhân dân Nga chủ quyền là vô điều kiện”. Đuma Quốc gia Nga đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1993, trong đó có nhiều nội dung quy định rõ việc bảo vệ chủ quyền của Liên bang Nga.

Về quân sự, Nga chủ trương phát huy truyền thống quân đội Xô viết, xây dựng lý thuyết quân sự mở, đặc trưng của nước Nga. Các lực lượng vũ trang Nga thực sự tinh nhuệ, thiện chiến, được trang bị vũ khí hiện đại, hoàn toàn mới; có khả năng đánh trả mọi cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí thông thường, vũ khí hạt nhân, vũ khí công nghệ cao, đưa nền quốc phòng nước Nga hùng mạnh vào bậc nhất thế giới.

Nước Nga mới sau hơn 20 năm phục hưng đã phát huy sức mạnh dân tộc và kế thừa thành quả Cách mạng tháng Mười, không chỉ làm thất bại các âm mưu của Mỹ và thế lực thù địch hòng làm tan rã Liên bang Nga, mà còn phục hưng nước Nga trở lại thành một cường quốc của thế giới, có thể đánh thắng mọi kẻ thù như lời hô vang của Tổng thống V.Putin ở lễ duyệt binh trọng thể kỷ niệm 76 năm chiến thắng phát xít: “Truyền thống nước Nga bất diệt, chiến thắng và chiến thắng!”.

Với Việt Nam, Cách mạng tháng Mười Nga là ngọn đuốc soi đường đi đến thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi tìm đường cứu nước bắt gặp được Cách mạng tháng Mười và sự ra đời của Liên Xô. Người đã vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam để đề ra đường lối cách mạng, thành lập Đảng Cộng sản, tổ chức lực lượng chớp thời cơ giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám.

Trong suốt hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Liên Xô hùng cường là chỗ dựa tin cậy, viện trợ vô tư góp phần quan trọng vào thắng lợi của Việt Nam. Sự sụp đổ của Liên Xô là tổn thất lớn đối với cách mạng Việt Nam, nhưng qua đó, Việt Nam cũng rút ra được bài học để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và chế độ XHCN.

Ngày nay, quan hệ Việt - Nga bước sang giai đoạn mới. Nga là đối tác chiến lược toàn diện, hợp tác Nga - Việt đi vào chiều sâu trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế và quốc phòng. Dân tộc Việt Nam mãi biết ơn và đi theo con đường Cách mạng tháng Mười, tiếp tục xây đắp mối quan hệ Việt - Nga với tình nghĩa thủy chung và hiệu quả thiết thực trong quá trình phát triển của hai dân tộc.

Thông điệp về khát khao phát triển

 Ngày 05/9, Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội nước ta do Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dẫn đầu bắt đầu chuyến tham dự Hội nghị các Chủ tịch Quốc hội thế giới lần thứ 5 (WCSP 5) tại Áo, thăm làm việc với Nghị viện châu Âu (EP), Vương quốc Bỉ và thăm chính thức Phần Lan. Đây là sự kiện chính trị quan trọng, nhằm truyền tải thông điệp về đất nước Việt Nam với một Quốc hội hành động, tích cực hợp tác đa phương, có chính sách đối ngoại rộng mở, khát khao phát triển, nỗ lực vươn lên trong đại dịch. Chuyến đi còn nhằm thể hiện sự coi trọng của Quốc hội Việt Nam với Nghị viện châu Âu và nghị viện các nước đối tác.

Ngôi sao chỉ đường cho cách mạng Việt Nam

 Cách mạng Tháng Mười đã diễn ra cách đây hơn 100 năm nhưng tầm ảnh hưởng của nó vượt mọi không gian, thời gian, dẫn dắt các quốc gia trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Mười - cuộc cách mạng của lòng dân, là động lực và hình mẫu cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Cuộc cách mạng của lòng dân

 Có sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng là rất cần thiết và quan trọng nhưng chưa đủ mà cần tập hợp, tổ chức và vận động được nhân dân ủng hộ và tham gia đường lối của Ðảng. Vì vậy, xây dựng được đội quân chính trị và vũ trang hùng hậu từ quần chúng nhân dân tham gia cách mạng, thực hiện các nhiệm vụ của cuộc cách mạng cũng là một bài học quan trọng làm nên thành công của Cách mạng Tháng Mười.

Pascaline: Máy tính cơ học đầu tiên trên thế giới


Ba máy tính cổ bí ẩn nhất của nhân loại - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Máy tính cơ học Pascaline do ông phát minh (Ảnh: Ds-wordpress/Wikimedia Commons).

Pascaline còn được gọi là máy số học, máy tính đầu tiên của nhân loại do Blaise Pascal, nhà toán học và triết học người Pháp phát minh trong thời gian từ năm 1642-1645.

Blaise Pascal được nhiều người coi là một trong những nhà khoa học vĩ đại của Cách mạng Khoa học, xây dựng lý thuyết về mọi thứ, từ xác suất toán học đến khoa học khí quyển. Ông cũng có đóng góp lớn cho lĩnh vực máy tính thông qua Pascaline, được nhiều người coi là máy tính số học cơ học đầu tiên của nhân loại.

Pascaline hình chữ nhật với một giao diện dựa trên bánh xe quay, sản phẩm khá đơn giản, dùng cho việc cộng trừ các số liệu thông qua một giao diện. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian 10 năm, Pascal đã sản xuất 50 máy giống nhau để phân phối cho nhiều người ở châu Âu dùng cho mục đích thương mại. Ban đầu, Pascal tạo ra Pascaline để hỗ trợ cha mình trong việc tính toán thuế khi ông làm việc tại thành phố Rouen của Pháp.

Vào thời điểm đó, bàn tính được sử dụng để tính toán nhưng rất chậm. Pascaline được ra đời cho mục đích này, nó có dạng hình hộp chữ nhật dài khoảng 30 m và cao 8 cm. Bàn tính bao gồm một loạt các viên đá mà người dùng phải di chuyển từ bên này sang bên khác để có thể đếm hiệu quả. Trên đỉnh máy có 8 đĩa quay được chia theo số lượng đơn vị mà mỗi đĩa hoạt động. Trong mỗi đĩa có tổng cộng hai bánh xe, phục vụ cho việc xác định số lượng mà một cái hoạt động trong mỗi bánh. Trên mỗi đĩa có một số, thay đổi theo cách đặt từng bánh xe. 

Sự ra đời của Pascaline là nguồn cảm hứng cho các nhà phát minh tương lai để tạo ra cơ chế tính toán số học mới. Đặc biệt, Pascalina được coi như tiền thân chính của các cơ chế phức tạp hơn, giống như các máy tính hiện đại. Nó được xem là bước tiến quan trọng đối với hoạt động của CPU trong máy tính ngày nay. Quá trình tương đương kỹ thuật số với các chức năng tự động cơ học của Pascaline là điều cho phép CPU hoạt động với tốc độ đáng kinh ngạc. Vì vậy, theo nghĩa thực tế, Pascaline tương đương với một đơn vị xử lý số học, một trong những thành phần cơ bản nhất của bộ xử lý máy tính hiện đại ngày nay.

“Cách mạng Tháng Mười Nga là một sai lầm của lịch sử” - luận điệu lố bịch

 

Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vĩ đại, có tầm vóc lịch sử và hiệu ứng xã hội rộng lớn, sâu sắc nhất trong đời sống nhân loại hơn 100 năm qua. Vậy mà, có một số người lại không ngừng tung ra các chiêu trò hòng phủ nhận lịch sử và giá trị của cuộc Cách mạng này. Đó là luận điệu lố bịch, cần kiên quyết phê phán, bác bỏ.

Họ cho rằng: “Cách mạng Tháng Mười Nga là một sai lầm của lịch sử”(!). Để tăng tính thuyết phục cho luận điệu này, các luận cứ được họ tung ra là: Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là “cuộc nổi dậy mang tính chất Nga thuần túy”; “một cuộc bạo động phản dân chủ”; một “cuộc đảo chính” nhằm “tiếm quyền” lãnh đạo của giai cấp tư sản và việc thiết lập Nhà nước công - nông Xô viết là “đi chệch” quy luật phát triển chung của xã hội loài người; Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ là “quái thai của lịch sử”, là một sự “đẻ non”, v.v. Vậy sự thật là như thế nào?

Trước hết, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là kết quả hợp quy luật của sự phát triển tư tưởng và thực tiễn đấu tranh trong suốt quá trình lịch sử của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. “Sai lầm của lịch sử” mà họ gán cho Cách mạng Tháng Mười là ngay từ đầu, nó đã không đúng với lý luận của Mác - Ăngghen, thể hiện qua nhận thức của V.I. Lênin và Đảng Bônsêvích, nên nó là “quái thai” của tiến trình lịch sử nước Nga và thế giới. Cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ luận điệu này. 

Về mặt lý luận, bất cứ một cuộc cách mạng nào muốn nổ ra thành công đều phải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan; giữa tình thế và thời cơ cách mạng. Trong quá trình nghiên cứu sự vận động, phát triển của xã hội tư bản ở giai đoạn tự do cạnh tranh, C. Mác và Ph. Ăngghen cho rằng, cách mạng vô sản “sẽ đồng thời xảy ra ở trong tất cả các nước văn minh, tức là ít nhất, ở: Anh, Mỹ, Pháp và Đức”1. Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lênin đã phân tích bản chất của chủ nghĩa đế quốc, phát hiện quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản và dự báo: “chủ nghĩa xã hội có thể thắng lợi trước hết là trong một số ít nước tư bản chủ nghĩa hoặc thậm chí chỉ trong một nước tư bản chủ nghĩa”2. Thực tiễn lịch sử cho thấy, Cánh mạng Tháng Mười Nga nổ ra trong điều kiện khác với điều kiện C. Mác đã dự báo, nhưng lại nổ ra ở nơi mà giai cấp công nhân và Đảng Bônsêvích Nga đã chuẩn bị đầy đủ lực lượng và là nơi tình thế cách mạng đã chín muồi. Điều này không phải sai với lý luận chủ nghĩa Mác, mà chỉ là sự phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới.

Về mặt thực tiễn, Cách mạng Tháng Mười Nga đã diễn tiến đúng với quá trình vận động tự nhiên của lịch sử. Song, tình thế và thời cơ để cách mạng nổ ra và giành thắng lợi là vô cùng ngắn ngủi, chỉ trong đêm 24 rạng ngày 25 tháng Mười năm 1917. Đây là thời điểm vô cùng quan trọng và nhạy cảm về phương diện chính trị pháp lý. Bởi, sau Cách mạng dân chủ tư sản Tháng Hai 1917, nước Nga xuất hiện hai chính quyền song song tồn tại: Chính phủ lâm thời tư sản và Xô viết các đại biểu công nhân, binh sĩ, đứng đầu là Xô viết Petrograd. Ngày 24 tháng Mười, Chính phủ lâm thời tư sản tuyên bố sẽ áp dụng mọi biện pháp để tiêu diệt cuộc khởi nghĩa ở Petrograd. Trước tình hình cực kỳ khẩn trương và nghiêm trọng đó, V.I. Lênin chủ trương phải tiến hành khởi nghĩa ngay trong đêm ngày 24 tháng Mười, lật đổ Chính phủ lâm thời tư sản, bảo vệ các Xô viết đại diện. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã chứng minh sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác về cách mạng vô sản của V.I. Lênin và Đảng Bônsêvích Nga vào thực tiễn nước Nga lúc đó; về nghệ thuật chớp thời cơ tài tình của  V.I. Lênin và Đảng Bônsêvích Nga.

Thứ hai, Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra trang sử mới đối với nước Nga và mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Trên bình diện giai cấp, Cách mạng Tháng Mười Nga thuộc phạm trù cách mạng vô sản, được dẫn dắt bởi hệ tư tưởng của giai cấp công nhân. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga là thắng lợi của hệ tư tưởng giai cấp công nhân trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Với thắng lợi này, Nhà nước Xô viết - Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới được lập ra; đưa nhân dân Nga từ thân phận nô lệ thành người làm chủ; mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga - kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nó còn mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, cổ vũ các cuộc cách mạng trên thế giới đi vào con đường cách mạng vô sản. Giai cấp công nhân bước lên vũ đài chính trị với tư cách là giai cấp trung tâm của thời đại, “hạt nhân” của phong trào cách mạng thế giới.

Trên bình diện dân tộc, Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra và tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; giải phóng các dân tộc phụ thuộc đế quốc Nga, biến nước Nga Sa hoàng từ chỗ là “nhà tù của các dân tộc” trở thành một liên bang mà ở đó các dân tộc đều bình đẳng, hợp tác và cùng tiến bộ. Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ là động lực cổ vũ các dân tộc thuộc địa đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc mình, mà còn thúc đẩy phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tiếp theo tinh thần của Cách mạng Tháng Mười Nga, nhiều dân tộc trên thế giới đã vùng lên giải phóng khỏi chế độ quân chủ, phát xít, thực dân, đế quốc, phá vỡ từng mảng lớn và tiến tới làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân, đế quốc thiết lập; xây dựng chế độ xã hội mới do người lao động làm chủ. Với Cánh mạng Tháng Mười Nga, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, quyền tự quyết của các dân tộc được thực hiện.

Trên bình diện quốc tế, Cách mạng Tháng Mười Nga đã vượt ra ngoài biên giới nước Nga, làm “rung chuyển thế giới”. V.I. Lênin khẳng định: “Tấm gương Nga chỉ ra cho tất cả các nước thấy một cái gì hoàn toàn căn bản về tương lai tất yếu và gần đây của họ”3, “một số đặc điểm cơ bản của cuộc cách mạng của ta không phải ở ý nghĩa địa phương, ý nghĩa đặc biệt - dân tộc, ý nghĩa riêng cho nước Nga mà có ý nghĩa quốc tế,... nó có tính tất yếu lịch sử là sẽ tái diễn trong phạm vi quốc tế”4. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga cùng với sự lớn mạnh của Liên Xô, đã phá vỡ thế độc tôn của chủ nghĩa tư bản, làm cho nó không còn là hệ thống duy nhất trên thế giới. Đặc biệt, sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa được hình thành, đã làm thay đổi căn bản cục diện thế giới, mở ra thời kỳ đấu tranh với những mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Một trật tự thế giới “hai cực” được hình thành với một bên là hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu đã tạo thế cân bằng giữa các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới với các thế lực đế quốc; chấm dứt thời kỳ “làm mưa làm gió” của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc khác.

Rõ ràng, Cách mạng Tháng Mười Nga không phải là một hiện tượng thuần Nga, càng không phải là sản phẩm được tạo ra từ “sự cuồng nhiệt của ý chí chủ quan, không tưởng” của một cá nhân nào đó như các thế lực thù địch thường rêu rao, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, mưu toan xóa bỏ ảnh hưởng và tầm vóc vĩ đại của cuộc Cách mạng này. Đúng như Chủ tịch Thượng viện Nga, Sergei Mironov, viết trên tờ Nước Nga, ngày 31/10/2007, rằng: khi đánh giá Cách mạng Tháng Mười Nga, nếu “bỏ định ngữ “vĩ đại” là không đúng, vì Cách mạng Tháng Mười Nga, xét theo cả về quy mô và tầm ảnh hưởng đối với các tiến trình trên thế giới, là một cuộc cách mạng vĩ đại”.

Thứ ba, ngày nay, mặc dù thế giới có nhiều biến động, đổi thay, nhưng Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn giữ nguyên giá trị “vạch thời đại”, vẫn là niềm cổ vũ cho những người có lương tri với khát vọng về một thế giới tươi đẹp. Trong thế kỷ XX, lịch sử loài người đã trải qua hai sự kiện chấn động tại nước Nga, có liên quan trực tiếp tới chủ nghĩa xã hội: (1). Cách mạng Tháng Mười Nga; (2). Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, Liên Xô tan rã. Chúng ta vui mừng trước sự kiện thứ nhất bao nhiêu, thì lại càng đau buồn cho sự kiện thứ hai bấy nhiêu.

Năm 2005, trong Thông điệp Liên bang, Tổng thống Nga V. Putin khẳng định: “Liên Xô tan rã là tai họa chính trị nghiêm trọng nhất của thế kỷ XX. Đối với nhân dân Nga, đó là một bi kịch thực sự”. Lợi dụng “tai họa” và “bi kịch” này, các thế lực thù địch lại tấu lên điệp khúc phủ nhận “Bài ca Tháng Mười” với những tuyên bố về sự “kết thúc lịch sử” của chủ nghĩa Mác - Lênin, “sự cáo chung” của chủ nghĩa xã hội hiện thực; phủ nhận nội dung và tính chất của thời đại từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; cổ xúy cho chế độ tư bản là sự phát triển “tận cùng của lịch sử”, v.v. Song, sức sống của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn nguyên giá trị. Giá trị, sức sống đó vẫn tiếp tục được khẳng định qua sự nghiệp đổi mới, cải cách và phát triển ở các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba; qua sự phục hồi và hoạt động của phong trào cộng sản quốc tế. Tiêu biểu cho phong trào này là phong trào cách tả ở Mỹ La tinh - khu vực được coi là “sân sau” của Mỹ, đã tuyên bố quyết tâm “vượt qua chủ nghĩa tư bản”, xây dựng đất nước theo mô hình “chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ XXI”.

Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa lịch sử, nó cung cấp những giá trị to lớn định hướng cho quá trình hiện thực hóa lý tưởng cộng sản trên thế giới. Theo đó, “Tất cả các dân tộc đều đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ”5. Hiện nay: “Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có bước phát triển mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”6. Những luận cứ khoa học này góp phần bác bỏ những luận điệu sai lầm về tính “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản và phủ nhận Cách mạng Tháng Mười Nga.

Quan điểm xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trrên lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay

 Xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích Nhân dân; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và nhằm mục đích cao nhất là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc phải gắn chặt với việc làm chủ thông tin, chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thức, chính thống; gắn với khả năng “miễn dịch”, sức đề kháng của cán bộ, đảng viên, Nhân dân trước những tác động của thông tin sai lệch, xuyên tạc; gắn với việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Nhận diện những thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

Thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là những thông tin lệch chuẩn, không đúng với bản chất vấn đề, không đúng với thực tế vốn có; những thông tin bị bóp méo, cố tình phản ánh sai sự thật với dụng ý xấu; là những thông tin do chủ thể phán tán thêm thắt, thổi phồng, bóp méo, bịa đặt, bớt xén hoặc tách những thông tin đó ra khỏi bối cảnh của nó với mục đích làm cho người tiếp nhận hiểu sai bản chất sự vật, hiện tượng, quá trình xã hội và những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực tiễn công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới nêu rõ: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Do đó, để xử lý những thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay cần quán triệt một số quan điểm sau đây:

Một là, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, lợi ích của quốc gia - dân tộc và lợi ích của nhân dân

Khi xác định một thông tin nào đó là sai lệch, xuyên tạc, chúng ta phải dựa vào và lấy tiêu chí đánh giá là lập trường, quan điểm, lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, cương lĩnh của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, lợi ích của quốc gia - dân tộc, xem đó là căn cứ cao nhất để xử lý, nếu những thông tin đó trái ngược với những tiêu chí nêu trên thì đó được coi là thông tin sai lệch, xuyên. Có như vậy, khi giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, xử lý triệt để thông tin sai lệch, xuyên tạc của các thế lực thù địch, chúng ta mới thật sự bảo vệ, giữ vững được nền tảng tư tưởng, lý luận.

Hai là, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước

Đấu tranh phản bác và xử lý các thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt cần phải dựa trên cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý bằng pháp luật, Nhân dân làm chủ. Trong đó, trách nhiệm, sứ mệnh, chức năng của từng bộ phận cụ thể như sau:

Thứ nhất, trách nhiệm của Đảng:

- Ban hành và lãnh đạo việc tổ chức thực hiện các chủ trương, quan điểm, nghị quyết, quy định, văn bản lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc vừa có tầm nhìn chiến lược, lâu dài, vừa có tính thiết thực, hiệu quả.

- Xây dựng, kiện toàn bộ máy tổ chức các cơ quan thực hiện công tác xử lý; phát triển, đào tạo, bồi dưỡng; hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ các lực lượng tham gia xử lý.

- Lãnh đạo việc xây dựng các lực lượng tham gia đấu tranh mang tính toàn diện, tinh nhuệ.

- Lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia vào việc phát hiện, nhận diện, phản bác, đấu tranh, xử lý triệt để các thông tin sai lệch, xuyên tạc.

Thứ hai, trách nhiệm của Nhà nước:

- Cụ thể hoá các chủ trương, quan điểm, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng thành các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc.

- Tạo hành lang pháp lý và điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc xử lý xuất phát từ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và phải phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Nâng cao vai trò định hướng thông tin của các cơ quan báo chí chính thống và vai trò của các nhà báo trong việc phê phán, phản bác thông tin sai lệch, xuyên tạc.

Thứ ba, trách nhiệm của Nhân dân: Đoàn kết, tích cực tham gia vào “thế trận nhân dân” toàn diện để có thể phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ, phê phán, tảy chay và có thể “tự miễn dịch” trước các thông tin sai lệch, xuyên tạc.

Ba là, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc phải gắn chặt với việc làm chủ thông tin, chủ động cung cấp thông tin chính thống, khách quan, chân thực, chính xác, kịp thời

Mục đích của các thông tin sai lệch, xuyên tạc là nhằm tạo ra khoảng trống về tư tưởng, trên cơ sở đó, họ đưa hệ tư tưởng tư sản và các tư tưởng xa lạ, phản cách mạng, lạc hậu vào ý thức của Nhân dân. Do đó, để ngăn chặn mục đích, thủ đoạn của các thế lực thù địch, chúng ta phải làm chủ trận địa thông tin, kịp thời sàng lọc, phân tích, nhận diện, phân loại, đánh giá mức độ, tính chất của thông tin sai lệch, đồng thời tích cực, chủ động và thường xuyên cung cấp thông tin chính thống, chính thức, khách quan, chân thực đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế nhằm ổn định tình hình dư luận xã hội. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc gỡ bỏ, phản bác, ngăn chặn thông tin sai lệch, xuyên tạc, tin đồn nhảm, xấu, độc… với nhóm chuyên gia viết bài phản bác, đấu tranh và chia sẽ, quảng bá rộng rãi với tần suất và quy mô thích hợp.

Bốn là, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc cần gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ

Các thông tin sai lệch, xuyên tạc tìm đến các đối tượng có biểu hiện suy thoái để tác động và biến họ trở thành những người phản bội lại sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân. Khi đã “tự chuyển hoá” thành phần tử đối lập, họ tìm đến, tiếp cận những thông tin sai lệch, xuyên tạc để phát tán, làm tăng thêm nguy cơ phá hoại về tư tưởng, lý luận. Do đó, đấu tranh xử lý các thông tin sai lệch, xuyên tạc phải gắn liền với việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” từ trong nội bộ. Xem việc thực hiện hai nội dung này là tiền đề, điều kiện của nhau để “xây” và “chống” có hiệu quả cao.

Năm là, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc gắn liền với giáo dục khả năng “miễn dịch” của cán bộ, đảng viên, Nhân dân, nhất là giới trẻ trước tác động của thông tin sai lệch, xuyên tạc

Mục đích, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm tuyên truyền các thông tin sai lệch, xuyên tạc ngày càng tinh vi, phức tạp. Do đó, để tạo thế chủ động, hạn chế, triệt tiêu tác động tiêu cực của thông tin sai lệch, xuyên tạc, đẩy lùi, hạn chế và đi đến triệt tiêu mục đích của các thế lực thù địch, Đảng, Nhà nước ta cần chủ động giáo dục hình thành “sự miễn dịch”, sức đề kháng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là các đối tượng trọng yếu mà các thế lực thù địch nhắm vào. Đồng thời, xem đó là cách thức hữu hiệu nhất để tự bảo vệ và làm vô hiệu hoá mọi dòng thông tin xấu, độc, mọi tác động tiêu cực từ các thông tin sai lệch, xuyên tạc. Để có được “sự miễn dịch” đó, cần phải nâng cao nhận thức, niềm tin và khả năng vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, giáo dục về đường lối, chính sách, pháp luật, giáo dục nâng cao nhận thức về bản chất, tác hại và sự cần thiết phải đấu tranh, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc, giáo dục về các quy tắc và văn hoá ứng xử…

Những quan điểm nêu trên là một thể thống nhất, bao quát và có ý nghĩa chỉ đạo việc xác định và thực hiện mục tiêu, xây dựng và phát triển các chủ thể, các lực lượng, phân tích và lựa chọn nội dung, phương pháp, cách thức, giải pháp xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam./.

Nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo nhìn từ góc độ pháp luật quốc tế và Việt Nam

 Thời gian qua, một số tổ chức và cá nhân luôn tìm cách sử dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền. Luận điệu mà họ đưa ra là vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân; đòi tách tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước, yêu cầu chính quyền không kiểm soát, kiểm duyệt các tôn giáo, cho phép tôn giáo được tự do hoạt động.

Họ nêu ra các vấn đề rằng, “nhiều văn bản pháp luật Việt Nam về tôn giáo, dân tộc không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Thậm chí, họ còn trắng trợn phê phán, xuyên tạc “Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”; “là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”.

Đồng thời họ còn cho rằng, Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng không thực hiện. Trong các Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế hàng năm do Cục Dân chủ, nhân quyền và lao động, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố đều nêu nội dung: “Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”. Trong các báo cáo này còn nêu ra “các biện pháp hạn chế tự do tôn giáo”, “các trường hợp lạm dụng tự do tôn giáo…, một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu…”.

Các đối tượng còn tuyên truyền, chỉ trích, vu cáo “chính quyền Việt Nam cấm đoán nhiều tổ chức, hệ phái tôn giáo hoạt động” và “kiểm soát chặt chẽ” hoạt động của các tổ chức tôn giáo đã được Chính phủ công nhận, “cấm mục sư Tin lành đi lại truyền đạo, cấm con em những người theo đạo đến trường”, yêu cầu chính quyền “chấm dứt sự phủ quyết đối với việc bổ nhiệm các giám mục Công giáo” (thực tế, Vatican đã thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam về việc bổ nhiệm giám mục ở Việt Nam phải được Nhà nước Việt Nam chấp thuận).

Trong vấn đề đào tạo chức sắc tôn giáo, các đối tượng vu cáo “chính quyền hạn chế một cách “độc đoán” về số lượng sinh viên được phép đào tạo thành linh mục”.

Một số tổ chức, cá nhân trên các danh nghĩa khác nhau đã gặp gỡ, tiếp xúc số chức sắc, tín đồ có tư tưởng cực đoan, quá khích trong các tôn giáo như: Thích Không Tánh (Phật giáo), Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Nguyễn Hồng Quang (Tin lành), Hứa Phi (Cao Đài),... để hậu thuẫn, kích động, hỗ trợ cho số này tiến hành hoạt động vi phạm pháp luật.

Khi những đối tượng này có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý (bắt, giam giữ, truy tố, tù giam), họ thường có phản ứng quyết liệt để bênh vực, bảo vệ họ như: Phản đối, lên án ta đàn áp tôn giáo, yêu cầu ta phải trả tự do cho những người mà họ gọi là “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân lương tâm”.

Quản lý Nhà nước về tôn giáo là yêu cầu khách quan

Thực tế cho thấy, không thể có quyền tự do tôn giáo tuyệt đối. Xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ, được sắp xếp theo cơ cấu nhất định. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Do vậy, các tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật. Việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới

Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động tôn giáo cũng phải tuân thủ luật pháp như: Điều 26, Luật của Cộng hòa Pháp về tách Giáo hội khỏi Nhà nước quy định: “Việc tụ tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự kiểm soát của các cơ quan chính quyền có chức năng gìn giữ trật tự công cộng. Ở những nơi chuyên vào việc thờ tự và thực hành nghi lễ tôn giáo cấm việc hội họp có tính chất chính trị”. Điều 27 quy định: “Các nghi lễ, các cuộc rước tôn giáo tiến hành bên ngoài khu vực nhà thờ và việc kéo chuông phải tuân theo những quy định của chính quyền tỉnh, thành phố”.

Luật pháp Cộng hòa Bỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với những giáo sĩ có hành vi và lời nói xúc phạm tới Chính phủ, luật pháp, sắc lệnh của nhà vua cũng như đối với các hoạt động của chính quyền.

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, giáo sĩ cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự như công dân khác trong trường hợp vi phạm hiến pháp, pháp luật. Cũng ở Đức, các giám mục Thiên chúa giáo khi nhậm chức phải tuyên thệ: “Tôi xin thề và hứa sẽ tôn trọng Chính phủ hợp hiến. Chiểu theo nghĩa vụ phải quan tâm tới lợi ích của Nhà nước Đức trước bất kỳ sự gì khả dĩ tác hại tới lợi ích đó”.

Ở Mỹ, hoạt động của các tổ chức tôn giáo được quản lý theo luật pháp của các bang. Luật của các bang quy định về hoạt động tôn giáo có những điểm khác nhau về chi tiết, song nhìn chung đều dựa trên yêu cầu thống nhất trong toàn liên bang như: Việc đăng ký thủ tục bắt buộc đối với các tổ chức tôn giáo trong toàn liên bang, lệ phí phải nộp cho chính quyền về việc đăng ký là 15 đô la; các cơ quan chính quyền của bang trực tiếp thi hành việc giám sát các hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn hành chính của bang. Chỉ sau khi được chính quyền xem xét, đồng ý cho phép thành lập thì các tổ chức tôn giáo mới được phép hoạt động và có tư cách pháp nhân.

Ở Nhật Bản, Luật về các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân quy định rõ: Các cấp chính quyền quản lý các tổ chức tôn giáo là Bộ Văn hóa, tỉnh, huyện. Các tổ chức tôn giáo đều phải đăng ký ở Bộ Văn hóa và chỉ sau khi đã được đăng ký mới được hoạt động tại nơi đặt văn phòng của tổ chức đó.

Tôn trọng tôn giáo, tín ngưỡng và bảo đảm trên thực tế

Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân được đảm bảo. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo, trong đó đều khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân”; “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”; “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”...

Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo như Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, Nghị định số 162/NĐ-CP ngày 31/12/2017 về biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng tôn giáo... Trong các văn bản pháp luật này đều khẳng định Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

Điều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đa dạng, được Đảng, Nhà nước bảo đảm hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

Cùng với sự mở cửa, phát triển của đất nước, tôn giáo ở Việt Nam có sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ, đa dạng hơn. Năm 1990, Việt Nam có 6 tôn giáo, 3 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, cùng với một số loại hình tín ngưỡng dân gian gắn với các dân tộc.

Từ năm 2003, thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà nước đã công nhận tư cách pháp nhân cho 15 tổ chức tôn giáo thuộc 6 tôn giáo với khoảng 19 triệu tín đồ (chiếm 23,5% dân số). Đến năm 2020, đã có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, khoảng 26,5 triệu tín đồ, sinh hoạt tôn giáo ở 29.660 cơ sở thờ tự.

Về chức sắc, năm 1990, nước ta có khoảng 38 nghìn chức sắc, nhà tu hành, đến nay tăng lên 61,2 nghìn chức sắc, 147,1 nghìn chức việc (tổng số chức sắc, chức việc khoảng 208,3 nghìn), trong đó tăng nhanh và nhiều nhất là chức sắc Phật giáo và đạo Tin lành.

Trước năm 2003, trung bình hằng năm có khoảng 7 nghìn lượt người tốt nghiệp hoặc hoàn thành các khóa đào tạo chức sắc do các tôn giáo tổ chức, nhưng từ 2003 đến năm 2018, trung bình hằng năm có khoảng 15 nghìn lượt người (tăng 215%).

Với 56 cơ sở đào tạo của các tôn giáo hiện có (gấp 3 lần so với năm 1990), cùng với nhiều hình thức đào tạo đa dạng, linh hoạt, tăng cường các hình thức đào tạo ngắn hạn, cả ở trong nước và ở nước ngoài (đối với các tôn giáo ngoại nhập, có quan hệ quốc tế như Công giáo, đạo Tin lành, Phật giáo, Hồi giáo) nên hàng ngũ chức sắc, chức việc tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được đào tạo bài bản, nâng cao trình độ và uy tín, vai trò, ảnh hưởng đối với quần chúng tín đồ, không chỉ trong đời sống tinh thần mà cả trong đời sống xã hội.

Lợi dụng tôn giáo để chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền là hoạt động xuyên suốt của những tổ chức, cá nhân và quốc gia thiếu thiện chí với Việt Nam. Trong khi thực tiễn là Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.