Thứ Bảy, 18 tháng 12, 2021

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và yêu cầu bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay

 

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và yêu cầu bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay

Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đặt ra cho Đảng ta vô vàn thách thức. Các thế lực thù địch, phản động ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện, bằng mọi biện pháp, hòng phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong giai đoạn hiện nay; phủ nhận tính hợp pháp và tính chính đáng của Đảng; làm phai nhạt niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; gây mất an ninh tư tưởng, chính trị, trật tự, an toàn xã hội; phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội, cản trở sự nghiệp cách mạng nước ta.

Những luận điệu công kích, chống phá của các thế lực thù địch, phản động rất đa dạng, song về cơ bản, tập trung theo hai hướng:

Thứ nhất, phủ nhận, hạ thấp vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Các thế lực thù địch, phản động viện dẫn lý do thời đại máy hơi nước và chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã kết thúc, nhường chỗ cho thời đại của các cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thời đại của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Chúng xuyên tạc rằng ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lê-nin không bắt kịp và phản ánh đúng sự phát triển của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ hiện đại; cả ba vị lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đều xuất phát từ bối cảnh lịch sử của phương Tây, vì vậy, lý luận của các ông không thể giải quyết được các vấn đề có tính lịch sử và thời đại của các nước phương Đông, nhất là ở Việt Nam. Họ còn xoáy sâu vào những hạn chế mang tính lịch sử trong quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, để công kích và xuyên tạc, như dự báo chưa chính xác về việc nổ ra cách mạng vô sản trong thời đại của mình (chủ yếu là quan điểm của C.  Mác và Ph. Ăng-ghen); đánh giá không đầy đủ về sức sống tương đối lâu dài của chủ nghĩa tư bản, dự đoán quá sớm về tiến trình chiếm lĩnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới; chưa đánh giá đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng của vấn đề dân tộc trong quan hệ với lợi ích giai cấp; hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn chưa đầy đủ...

Để chỉ ra sự phi lý của những luận điệu phủ nhận và xuyên tạc nêu trên, cần thấy rõ rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hệ thống tri thức thuộc ngành khoa học xã hội, khoa học nhân văn, vì thế, nó mang đặc trưng tích lũy, kế thừa, chứ không mang đặc trưng thay thế như những tri thức thuộc ngành khoa học - kỹ thuật và công nghệ. Do vậy, nói chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời là một sự quy chụp không có căn cứ. Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ hiện đại ngày nay vốn không thể xóa bỏ được những mâu thuẫn cố hữu của chủ nghĩa tư bản; ngược lại, nó làm cho những mâu thuẫn đó càng thêm sâu sắc. Điều này được biểu hiện cụ thể trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại, như mâu thuẫn giữa tư bản và lao động tiếp tục tồn tại và gia tăng, khoảng cách giàu - nghèo mở rộng, phân phối của cải không công bằng, nạn thất nghiệp tăng lên, nhiều vấn đề xã hội trở nên trầm trọng... Trong khi đó, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, ở xã hội xã hội chủ nghĩa, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ sẽ góp phần nâng cao năng lực, phẩm chất và cơ hội phát triển tự do, toàn diện cho con người, đồng thời là cơ sở cho việc thực hiện nguyên tắc phân phối xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ngoài ra, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một học thuyết mở, luôn tiếp nhận những thành tựu lý luận mới và không ngừng hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Do đó, trách nhiệm của các đảng cộng sản, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin gắn với điều kiện, đặc điểm của quốc gia, dân tộc mình, khắc phục những hạn chế lịch sử của nó do tính thời đại chi phối...

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động tập trung tấn công tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều phương diện. Họ xuyên tạc rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không có tư tưởng của riêng mình hoặc tư tưởng của Người không được coi là một hệ thống. Dựa vào những luận điểm của Người có tính bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin và bao hàm sự kế thừa những giá trị tư tưởng tiến bộ của nền cộng hòa Pháp và Mỹ, các thế lực thù địch, phản động quy kết rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản. Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng về đấu tranh giai cấp, về cách mạng xã hội chủ nghĩa, không mang bản chất mác-xít, thậm chí đối lập với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trên thực tế, đây là một sự xuyên tạc vô căn cứ, bởi tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện lịch sử của Việt Nam, là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lê-nin với giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Chủ nghĩa Mác  - Lê-nin trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được chuyển hóa thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, sinh động, giàu tính thực tiễn, có giá trị dẫn đường cho thành công của cách mạng Việt Nam.

Hiện nay, trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo đất nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, bởi vậy, sự phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thực chất là hành vi chính trị chống Đảng. Do đó, đấu tranh trên trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng, trước hết, không gì khác hơn là bảo vệ đến cùng những thành quả tư tưởng, lý luận mà C.  Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công nghiên cứu, đúc kết và kiểm nghiệm trong thực tiễn. Muốn vậy, chúng ta cần nêu cao nhận thức và thực hiện những yêu cầu cơ bản như sau:

1- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên, khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thi đua lao động, hoàn thành mọi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Áp dụng phương châm: “Lấy thành tựu phát triển kinh tế - xã hội làm chỗ dựa vững chắc cho nền tảng tư tưởng của Đảng”. Bởi lẽ, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ có thể tồn tại và phát triển khi đem lại những giá trị thực tiễn cho cách mạng Việt Nam, và đến lượt mình, những giá trị thực tiễn của cách mạng nước ta lại góp phần rất quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

2- Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, giáo dục và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần tuyên truyền, phổ biến rộng rãi những giá trị đích thực của các nguyên lý, luận điểm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin và Chủ tịch  Hồ Chí Minh; đồng thời, bổ sung, làm rõ thêm những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là các chuyên gia đầu ngành trong hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận. Bản thân những nhà nghiên cứu mác-xít, những người làm công tác lý luận nên nghiên cứu nghiêm túc và kỹ lưỡng những tác phẩm nguyên bản của C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin..., từ đó phát hiện những vấn đề mới, cách tiếp cận mới để giải quyết bài toán thực tiễn của xã hội hiện đại đang đặt ra; tránh lối nghiên cứu “tầm chương trích cú”, kinh viện, và áp dụng lý luận vào thực tiễn một cách máy móc, thiếu sáng tạo, làm cho chủ nghĩa Mác  - Lê-nin ngày càng bị xơ cứng, xa rời thực tiễn.

3- Tăng cường đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch. Nâng cao ý thức, trách nhiệm chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân; phát huy ý thức tự giác, hành động tích cực và trách nhiệm tự thân của mỗi người trong đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục và hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận. Quan tâm nghiên cứu các học thuyết chính trị ngoài mác-xít trên tinh thần vừa phê phán, vừa tiếp thu những giá trị hợp lý của các học thuyết ấy, nhằm góp phần phát triển, bổ sung và làm phong phú thêm cho hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và giải quyết tốt hơn những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Tránh lối tư duy máy móc, giáo điều chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến mức xem đó là vùng “cấm kỵ”, không thể bổ sung, phát triển được gì nữa; hoặc đóng cửa, biệt lập với các trào lưu tư tưởng tiến bộ khác, làm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng mất dần sức sống, sức chiến đấu và giảm tính thuyết phục.

Giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay

 

Giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay

Trong lịch sử nhân loại, hiếm có học thuyết, tư tưởng nào mà trong suốt quá trình hình thành và phát triển lại chịu nhiều sự đả kích, xuyên tạc, bóp méo của các thế lực chống đối như chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Hành trình gần hai thế kỷ kể từ khi C. Mác, Ph. Ăng-ghen đặt nền móng đầu tiên tại Đức, V.I. Lê-nin kế tục và phát triển tại Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là nền tảng tư tưởng vững chắc của các đảng cộng sản cầm quyền, trong đó có Việt Nam.

Vượt lên trên mọi giới hạn về không gian và thời gian, những nguyên lý, khái niệm, phạm trù, quy luật và phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin tiếp tục là “chìa khóa” giải đáp những vấn đề tư tưởng, soi sáng những nhiệm vụ lịch sử chín muồi của nhân loại, đó là giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, mọi sự tha hóa. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin có giá trị bền vững và tính thời đại bởi bản thân nó là một học thuyết phát triển và nhân văn, luôn hướng tới sự tiến bộ của xã hội. Những giá trị cơ bản đó được thể hiện sinh động, nhất quán từ chủ nghĩa Mác đến chủ nghĩa Lê-nin và trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nói học thuyết Mác là học thuyết phát triển bởi nó mang bản chất khoa học, cách mạng triệt để nhất. Ngày nay, mặc dù thế giới có nhiều đổi thay, bản thân các nước tư bản cũng có sự điều chỉnh để thích nghi với hoàn cảnh mới, nhưng bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản vẫn không hề thay đổi. Những hạn chế, khuyết tật vốn có của chủ nghĩa tư bản, như ô nhiễm môi trường, xung đột, khủng bố, bạo lực và bất ổn xã hội, khủng hoảng kinh tế, bất bình đẳng xã hội,... vẫn diễn ra hết sức gay gắt và phức tạp ở các nước tư bản. Thậm chí, học giả Allen W. Wood còn chỉ ra rằng: “Phần lớn mọi người đều cho rằng Mỹ là quốc gia giàu có nhất trên thế giới, nhưng đó cũng là quốc gia bất bình đẳng nhất trên thế giới: 400 người giàu nhất nước Mỹ sở hữu khối lượng tài sản cao hơn tổng số tài sản của 150 triệu người nghèo nhất. Những người giàu nhất chiếm 1% dân số nhưng lại sở hữu hơn 1/3 tổng lượng tài sản của toàn xã hội, vượt quá tổng lượng tài sản của những người có thu nhập thấp nhất nước Mỹ - đối tượng chiếm tới 95% dân số”. Với những mâu thuẫn mang tính bản chất đó, theo sự vận động của quy luật xã hội, xu hướng diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản vẫn là vấn đề thời sự của không chỉ thời Mác sống mà ngay cả tới tận ngày nay.

V.I. Lê-nin từng chỉ rõ: “Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào”. Cũng vì đó là học thuyết phát triển, học thuyết mở nên sẽ là sai lầm nếu tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia của nó. Chính Ph. Ăng-ghen từng nói rõ: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”. Sau này, V.I. Lê-nin cũng khẳng định và nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Với chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà cốt lõi là lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, C.  Mác đã chỉ ra quy luật phát triển của xã hội loài người thực chất là sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội, thông qua cách mạng xã hội. Sự thay thế đó là một quá trình lâu dài và được quyết định bởi những mâu thuẫn nội tại của các hình thái kinh tế  - xã hội ấy. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội được xem như là một cơ thể sống, một cơ cấu xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn biến động bởi sự tác động tổng hợp của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong sự tác động đó, con người luôn giữ vai trò trung tâm và quan trọng nhất, quyết định sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội. Vì thế, C. Mác khẳng định: “Trong tất cả những công cụ sản xuất, thì lực lượng sản xuất hùng mạnh nhất là bản thân giai cấp cách mạng”.

Trong khi khẳng định tính tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, C. Mác cũng chứng minh tính tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội mà hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa nhất thiết phải chuyển sang, đó là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong đó giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa. Sự vận động, phát triển, thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao là quy luật tất yếu của lịch sử xã hội loài người, chứ không phải của riêng một dân tộc hay quốc gia nào.

Đối chiếu với lịch sử phát triển xã hội loài người cũng như thực tiễn phát triển xã hội của nhân loại ngày nay, có thể thấy, sự tổng kết nói trên của C. Mác là hoàn toàn đúng đắn, vượt xa thời đại mà ông sống về tư duy cũng như tầm nhìn. Quan điểm duy vật lịch sử cùng với lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác là nền tảng trong việc hình thành nhận thức về xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại và xã hội xã hội chủ nghĩa với đầy đủ những đặc điểm về bản chất, mâu thuẫn, xu hướng vận động, phát triển cũng như con đường đưa chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trở thành hiện thực.

Lý luận kinh tế chính trị của C. Mác với học thuyết giá trị thặng dư lại chỉ ra mục đích và bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư và lợi nhuận tối đa, là nguồn gốc dẫn tới sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội. Nhiều học giả tư sản cố gắng phủ nhận học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác bằng cách lý giải rằng, chính máy móc tạo ra giá trị, còn sức lao động của công nhân thì được trả công sòng phẳng, vì thế, nhà tư bản không hề bóc lột công nhân, mà họ làm giàu chính đáng nhờ “bóc lột” máy móc. Tuy nhiên, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra những mâu thuẫn cũng như khuyết tật cố hữu của chủ nghĩa tư bản, đồng thời cung cấp căn cứ lý luận xác đáng để đi đến khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.

Ngày nay, trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, giá trị thặng dư được tạo ra ngày càng nhiều hơn cho nhà tư bản. Vai trò, vị trí của giai cấp công nhân, người lao động mặc dù được đề cao và đời sống của họ cũng được cải thiện nhiều mặt; song, xét về địa vị, họ vẫn là những người lao động làm thuê, phục vụ mục đích làm gia tăng giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản hiện đại không hề thay đổi. Những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản chủ nghĩa, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên sâu sắc. Trước thực tiễn đó, bản thân chủ nghĩa tư bản, dù ở phương Đông hay phương Tây, đều phải điều chỉnh để thích nghi và tồn tại.

Theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội có mục đích trực tiếp là giải phóng giai cấp vô sản, song bản chất và mục đích sâu xa của chủ nghĩa xã hội hay của chủ nghĩa cộng sản là giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người được tự do và phát triển toàn diện. Quan điểm này của chủ nghĩa Mác vừa bao hàm giá trị khoa học, biện chứng, vừa thấm đẫm tính nhân văn, nhân đạo cao cả. Chủ nghĩa Mác, bằng lý luận hoàn bị của mình, khẳng định việc thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân, người lao động là tất yếu khách quan, thay thế cho chế độ tư bản chủ nghĩa vốn đã bộc lộ quá nhiều khiếm khuyết và mâu thuẫn; đồng thời, luận giải một cách khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở các nước lạc hậu... Phương pháp tiếp cận khoa học, biện chứng cùng quan điểm có tính cách mạng và nhân văn về bản chất, mục tiêu, động lực phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa là những giá trị không thể phủ nhận của chủ nghĩa Mác.

Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xuất phát từ thực tiễn nước Nga và bối cảnh chủ nghĩa tư bản thế giới chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển lý luận của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, hình thành nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự bổ sung, phát triển đó của V.I. Lê-nin diễn ra toàn diện, cả trên lĩnh vực triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, nhằm ứng dụng vào thực tiễn cách mạng nước Nga. V.I. Lê-nin là người sáng lập ra học thuyết về chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và đưa ra luận điểm: Cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí ở một nước lạc hậu. Luận điểm này đã được chứng minh bởi thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, là sự bổ sung, phát triển sáng tạo của V.I.  Lê-nin đối với học thuyết của C.  Mác và Ph. Ăng-ghen, bởi trước đó, hai ông nhận định, chủ nghĩa xã hội chỉ có thể giành thắng lợi trước tiên ở các nước công nghiệp phát triển phương Tây.

V.I. Lê-nin còn nhận thấy vai trò to lớn và mối quan hệ mật thiết của cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới, của độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đưa đến sự ra đời của nước Nga Xô-viết, đồng thời mở ra thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Sau cuộc nội chiến, nước Nga lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, V.I. Lê-nin đã đề xướng cải cách chủ nghĩa xã hội với “Chính sách kinh tế mới” (NEP), thay cho “Chính sách cộng sản thời chiến”, đưa nước Nga ra khỏi cuộc khủng hoảng.

“Chính sách kinh tế mới” chủ trương dùng lợi ích kinh tế để tạo động lực thúc đẩy tính tự giác, tích cực của công nhân, nông dân và người lao động, giải phóng lực lượng sản xuất cùng mọi tiềm năng sáng tạo của con người để thúc đẩy xã hội phát triển. Theo đó, việc thực hiện các hình thức “quá độ gián tiếp”, “quá độ đặc biệt”, những “biện pháp trung gian” được thừa nhận như là giải pháp hữu hiệu nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên”.

Có thể nói, tư tưởng của V.I. Lê-nin về cách mạng vô sản, về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước tiểu nông, có chủ nghĩa tư bản phát triển ở mức độ trung bình; về đặc điểm, tính chất, biện pháp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; về vai trò của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa..., đều là những sáng tạo vô giá, giúp bổ sung, làm giàu thêm cho lý luận của chủ nghĩa Mác. Nhờ đó, chủ nghĩa Mác - Lê-nin trở thành ngọn hải đăng soi sáng con đường cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người cho hàng triệu người dân lao động ở các nước thuộc địa trên thế giới, cũng là cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới hiện nay.

Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước. Ngay sau khi được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lê-nin, Người xác định, con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam là phải tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa để giải phóng dân tộc, giai cấp và con người. Vì thế, xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người tiên phong trong việc thức tỉnh dân tộc mình và các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành lại độc lập dân tộc. Đồng thời, Người cũng khẳng định: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có mối quan hệ chặt chẽ với cách mạng ở chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc; nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể chủ động đứng lên, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, giành thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc.

Xuất phát từ điều kiện đặc thù của xã hội Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết sáng tạo và thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, từ đó tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cách mạng nước ta. Về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Người cho rằng, đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. Quan điểm này của Người đã cụ thể hóa và làm phong phú thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, là cơ sở để xác định bước đi và các biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Về mục tiêu và lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, Người khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(8).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng và phát triển một cách linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng nước ta; qua đó, tạo nên hệ thống tư tưởng của mình và tạo tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930. Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo, dẫn dắt của Ðảng Cộng sản Việt Nam, nhất là trong 35 năm đổi mới vừa qua, đã khẳng định và chứng minh giá trị, sức sống vĩ đại của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cùng với đó, thực tiễn đổi mới, cải cách, mở cửa ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, những chuyển biến tích cực tại các nước tư bản chủ nghĩa và nỗ lực phát triển không ngừng của các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới, cũng là những minh chứng cho giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thời đại ngày nay.

 

HÒA THƯỢNG THÍCH NHẬT TỪ HÃY NGỪNG NGAY VIỆC TRUYỀN BÁ LỊCH SỬ SAI TRÁI!

      Không biết video này có từ bao giờ và được hòa thượng Thích Nhật Từ rao giảng nó trong hoàn cảnh nào? Song những gì ông ta thể hiện trong video này đã cho thấy đó thực sự là những luận điệu xuyên tạc về lịch sử nước nhà trong giai đoạn 1945 - 1975. (Giai đoạn mà một số kẻ nhân danh làm KH cũng đang muốn làm thay đổi, khi họ tự cho mình cái quyền thừa nhận chế độ ngụy VNCH là hợp pháp mà bỏ đi cụm từ "ngụy quân", "ngụy quyền" trong sách lịch sử). 

Cần phải khẳng định, vị hòa thượng này đủ trình độ hiểu biết và ông ta cũng nhận thức rõ về tầm ảnh hưởng của mình tới công chúng nhất là với các tăng ni phật tử trong và ngoài nước. Vì thế, việc ông ta đăng đàn nói sai về lịch sử như thế này là một việc làm hết sức nguy hiểm, đây có thể là hành động cố tình, mang tính chất mị dân, tiếp tay cho những kẻ đang muốn làm sai lệch lịch sử nước nhà. Việc làm này của ông ta không chỉ tác động đến nhận thức của một bộ phận dân chúng đối với lịch sử dân tộc mà còn làm mất đi giá trị, tinh thần, tính chính nghĩa của 2 cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc thời kỳ 1945 - 1975 của nhân dân ta. 

Cần nhắc lại rằng, cuộc chiến ở VN thời kỳ 1945 - 1975 là cuộc chiến chống đế quốc và thực dân xâm lược (cụ thể ở đây là đế quốc Mỹ và thực dân Pháp). Bè lũ tay sai ngụy quân, ngụy quyền từ thời Ngô Đình Diệm đến thời Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh đều chỉ là những con rối, những chính quyền bù nhìn do ngoại bang tạo dựng lên và điều khiển, mà không hề có quyền tự quyết nào trong cuộc chiến thời kỳ này. Hậu quả của bom mìn và hàng triệu gallon chất độc hóa học còn sót lại ở trên khắp giải đất hình chữ S này không ai khác cũng do chính tay người Mỹ đã thả xuống. Hàng trăm ngàn đồng bào bị giết hại trong các cuộc thảm sát thường dân cũng là do lính Mỹ và quân chư hầu gây ra. Đó mãi là nỗi ám ảnh của nhân dân Việt Nam cũng như của các cựu binh Mỹ; là vết nhơ của chính phủ Mỹ, cũng như của quân chư hầu đồng minh của họ. Chỉ những điều này thôi cũng đủ cho thấy không thể coi cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cuộc "nội chiến" Nam Bắc hay cuộc chiến "ý thức hệ" như những gì vị hòa thượng này nói, mà đó phải là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, trong đó Mỹ, Pháp là những kẻ xâm lược. Những gì vị hòa thượng Thích Nhật Từ đã rao giảng trong video này là một sự xuyên tạc trắng trợn, mang tư tưởng mị dân, mượn danh phật giáo để truyền bá sai lệch lịch sử, cần phải lên án. Cho dù ông ta có là ai đi nữa thì cũng cần phải chỉ ra cho dân chúng thấy rõ sai trái ấy, để rồi cùng lên tiếng yêu cầu ông ta gỡ bỏ video, đính chính và xin lỗi công khai trước chư tăng, phật tử trong và ngoài nước cùng toàn thể đồng bào mình. Thiết nghĩ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam cũng nên có động thái chấn chỉnh những phát ngôn sai lệch của hòa thượng Thích Nhật Từ đối với lịch sử nước nhà. Đừng để kẻ xấu lợi dụng, biến nơi cửa Phật thành nơi tuyên truyền những điều sai trái như vậy. Có câu: "Một lời dối trá lặp đi lặp lại đủ mức sẽ thành một lời nói thật". Trong việc này, hậu quả để lại của sự tuyên truyền sai về lịch sử sẽ là rất lớn cho nhận thức của thế hệ sau, nhất là lời nói đó lại xuất phát từ miệng của người có tầm ảnh hưởng lớn như hòa thượng Thích Nhật Từ. 


Lời kết:

Chiến tranh đã lùi xa, hòa bình đã lập lại. Những mất mát đau thương cũng như vết thương do nó gây ra đang dần được xoa dịu, hàn gắn, nhưng không vì thế mà cho phép ta quên đi giá trị thực tiễn của hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc xâm lược trong công cuộc gìn giữ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quân và dân ta. Và cũng vì thế không cho phép ai được xuyên tạc, bóp méo đi giá trị truyền thống hào hùng của dân tộc, làm sai lệch đi bản chất của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, càng không thể cho phép ai đó, mượn chuyện hòa hợp, hòa giải để rồi tìm cách bỏ đi cụm từ "ngụy quân", "ngụy quyền" trong sách sử, đó là cách dễ nhất để biến cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của cha ông ta thành cuộc NỘI CHIẾN huynh đệ tương tàn, rửa sạch tội lỗi cướp nước và bán nước của bè lũ Mỹ ngụy./.

Yêu nước ST.

LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN - LỜI HỊCH THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH!

      Đêm 19/12/1946, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay sau đó, đèn điện Hà Nội vụt tắt; pháo đài Láng và pháo đài Xuân Tảo ở Hà Nội nổ những phát súng báo hiệu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bắt đầu. Đó là lời Hịch thiêng liêng kêu gọi quân và dân cả nước xung trận bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc.


CÂY MUỐN LẶNG, GIÓ CHẲNG ĐỪNG

Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng đứng lên làm cuộc Tổng Khởi nghĩa thắng lợi, lập nên chính quyền cách mạng trong cả nước. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Toàn dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Từ đây, nhân dân Việt Nam muốn dành toàn lực cho công cuộc xây dựng xã hội mới mặc dù gặp muôn vàn khó khăn khi ba thứ “giặc” đang hoành hành: “giặc đói”, “giặc dốt”, giặc ngoại xâm.

Hòa bình quý hơn vàng. Độc lập tự do quý hơn vàng. Nhân dân Việt Nam đã có trong tay những thứ vàng đó. Nhưng, với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa quân Pháp hèn hạ núp sau lưng quân Anh vào Việt Nam với danh nghĩa để giải giáp quân đội phát xít Nhật từ vĩ tuyến 16 trở xuống, hòng tái chiếm Nam Bộ, trước mắt lập ra cái gọi là “Nam Kỳ tự trị”, sau là để tiến loang ra chiếm lại cả nước Việt Nam, bắt nhân dân ta sống trong cảnh nô lệ một lần nữa. Chỉ 03 tuần sau Ngày độc lập (ngày 23/9/1945), quân và dân ta đã phải đứng lên kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta vừa kiên trì kháng chiến để bảo vệ Nam Bộ với quan điểm: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bảo giờ thay đổi!”; đồng thời, tìm cách hòa hoãn không để xảy ra chiến tranh trong phạm vi cả nước. Thực hiện chủ trương đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946 và Tạm ước ngày 14/9/1946, để có thêm thời gian chuẩn bị trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lường trước.

Đúng là “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”. Chúng ta đã làm nhiều cách để giữ hòa bình, bịt họng súng chiến tranh, tận dụng cơ hội để xây dựng tình hữu nghị, hợp tác giữa Chính phủ, nhân dân Việt Nam với Chính phủ, nhân dân Pháp, kể cả nhân nhượng với kẻ cướp, như trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”. Thực dân Pháp tiếp tục khiêu khích. Máu của nhân dân ta đã đổ ở Hà Nội và nhiều địa phương khác. Ranh giới nín nhịn của chúng ta, vốn bị thực dân Pháp làm cho nhòe đi và vào những ngày cuối tháng 12 năm 1946 đã không còn nữa. Nền độc lập tự do - lằn ranh đỏ - đã bị xâm phạm một cách nghiêm trọng. Và, đây là một “điểm nhấn” trong lời hịch non sông hùng tráng nhất được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền đi cho việc bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".


Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã từng chứng kiến những thời khắc thiêng liêng như thế. Ở những thời khắc đó, những lời Hịch, khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc đã vang lên, như: bài thơ Thần Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt; Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn; Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi; Hịch của Quang Trung Nguyễn Huệ; Lời thề độc lập của lãnh tụ Hồ Chí Minh ngày 02/9/1945 trên Quảng trường Ba Đình lịch sử. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Người đã thuận theo dòng chảy của văn hóa yêu nước Việt Nam được hun đúc hàng nghìn năm, từ thời Hùng Vương, trải qua Đại Việt tiếp nối đến thời đại Hồ Chí Minh: không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ - đó là ý chí quật cường, lời thề bất hủ, thông điệp truyền đời của các thế hệ người Việt Nam yêu nước mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy. Chúng ta đã nhân nhượng, làm tất cả vì hòa bình, nhưng vẫn không thỏa được lòng tham lam vô đáy của thực dân xâm lược. Chúng ta lùi đến mức không thể lùi được nữa, nhân nhượng có nguyên tắc đến giới hạn cuối cùng không thể nhân nhượng được nữa. Vị nguyên thủ quốc gia Hồ Chí Minh hạ lệnh: “Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!”.


ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN ĐÚNG ĐẮN VÀ NIỀM TIN THẮNG LỢI


Đảng ta đã xác định đường lối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là: cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Điều này được thể hiện rõ trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta đã minh chứng: không có lúc nào lực lượng vũ trang của ta đông và mạnh hơn kẻ địch nhưng tổng thể về sức mạnh dân tộc thì ta luôn hơn chúng và phần thắng cơ bản thuộc về ta. Đó là sức mạnh tổng hợp từ: truyền thống văn hóa yêu nước, sự cố kết cộng đồng, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và sự kết hợp với sức mạnh của thời đại. Cho nên, không ít nhà khoa học, quân sự nước ngoài, nhất là ở Pháp và Mỹ, khi lý giải về nguyên nhân thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ ở Việt Nam đều tỏ ra rất ngạc nhiên về điều này. Một số trong họ cuối cùng cũng nhận ra rằng, đụng đầu vào chiến trường Việt Nam không chỉ là đụng độ với lực lượng vũ trang cách mạng còn ít và lạc hậu mà là đụng với cả một dân tộc nghìn năm văn hiến, toàn thể nhân dân Việt Nam.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy sức mạnh to lớn nhất, vĩ đại nhất của toàn dân tộc, vũ trang toàn dân, mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt nam, nữ, vùng miền, tôn giáo, giàu nghèo,… cầm lấy tất cả những gì có trong tay làm vũ khí để đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Đó cũng là thể hiện quan điểm “người trước súng sau” trong tư tưởng Hồ Chí Minh; là sự tiếp nối truyền thống “ngụ binh ư nông”; khoan thư sức dân để làm kế rễ sâu gốc bền thời nhà Trần. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến đã truyền lại kinh nghiệm quý cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong việc huy động sức mạnh toàn dân, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân; mỗi người dân là một chiến sĩ, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, tinh thần “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”, v.v. Nó còn thể hiện niềm tin chiến thắng của dân tộc: “Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”, bắt nguồn từ quyết tâm sắt đá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền từ lời Hịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến, dành riêng cho lực lượng vũ trang còn non trẻ lúc bấy giờ: “Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước”.


Lời Hịch non sông đó đã truyền cảm hứng cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, tỏ rõ tinh thần chính nghĩa, yêu chuộng hòa bình, sẵn sàng cầm tất cả những gì trong tay để làm vũ khí bảo vệ độc lập, tự do, không cam chịu mất nước, không cam chịu làm nô lệ!


LỜI HỊCH TRUYỀN CHO HÔM NAY


Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức lớn trên con đường phát triển vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa luôn đi đôi với nhau. Không có gì quý hơn độc lập, tự do là chân lý đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên. Hịch non sông từ lời kêu gọi của Người đêm 19/12/1946 vẫn còn vang vọng. Các quyền dân tộc cơ bản: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc phải luôn được coi trọng trong cả đối nội và đối ngoại. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại để bảo vệ môi trường hòa bình, xây dựng đất nước với sự phát triển nhanh và bền vững. Không bao giờ được lơi là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phải sẵn sàng đứng lên theo tinh thần lời Hịch của Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền lại cho muôn đời sau.

Trong quan hệ quốc tế, lời Hịch của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam hiện nay thấy rõ rằng, phải lấy lợi ích quốc gia làm tối thượng, không bao giờ được phép nhân nhượng những vấn đề có tính nguyên tắc. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến đêm 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm đượm phương châm, phương pháp “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ chính là cái “bất biến” trong muôn vàn cái “vạn biến” trong thời đại hiện nay. Trong đó, xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, bảo đảm quốc phòng, an ninh vững chắc là những điều kiện thiết yếu bảo đảm cho những điều “bất biến” ấy.

Hơn bao giờ hết, khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần được tiếp tục xây dựng, củng cố và phát triển. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh tới việc khơi dậy khát vọng độc lập tự do, khát vọng đưa dân tộc Việt Nam tiến lên hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều do hai nguyên nhân chủ yếu nhất: sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã biểu đạt hai yếu tố đó. Do vậy, phải tiếp tục coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị, tiếp tục coi công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, cầm quyền, nâng cao sức chiến đấu của mình. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng luôn luôn là nhân tố hàng đầu bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều này, đã thể hiện rất rõ trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, huy động sức mạnh tổng hợp, tinh thần đại đoàn kết của toàn dân cùng chung sức, đồng lòng “chống dịch như chống giặc” trong phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua.


Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - Lời Hịch non sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời cách đây 75 năm, nhưng ngày nay vẫn như tiếng kèn xung trận thôi thúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm giành thắng lợi trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó chính là ý nghĩa to lớn của lời Hịch thời đại Hồ Chí Minh thể hiện ở Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến./.





Yêu nước ST.

Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh: Chiến đấu trong vòng vây

 Ký ức 75 năm trước quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh dội về, nhắc tới nguồn cội sức mạnh của một dân tộc luôn khao khát hòa bình nhưng sẵn sàng gan góc, sắt đá đấu tranh cho độc lập, tự do, hạnh phúc. 

Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra 'Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến,' hiệu triệu đồng bào cả nước nhất tề đứng lên đánh thực dân Pháp xâm lược. Thời khắc đó cũng là khởi điểm cuộc trường chinh vĩ đại chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Biết bao biến động từ dấu mốc lịch sử ấy nhưng những nhân chứng, những dấu vết thời cuộc vẫn còn đó. Và những ngày mùa đông này, ký ức 75 năm trước lại dội về, nhắc tới nguồn cội sức mạnh của một dân tộc luôn khao khát hòa bình nhưng sẵn sàng gan góc, sắt đá đấu tranh cho độc lập, tự do, hạnh phúc.

Ở vườn hoa Vạn Xuân (Hàng Đậu, Quan Thánh, Ba Đình) có cụm tượng đài Cảm tử quân đắp nổi trên quốc kỳ là dòng chữ 'Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh.' Cụm tượng đài này do thành phố Hà Nội xây dựng để kỷ niệm Ngày Toàn quốc kháng chiến, nhớ tới những người con ưu tú ở mảnh đất ngàn năm văn hiến đã 'sống chết với Thủ đô' để viết nên bản hùng ca tinh thần yêu nước bất diệt trong thời đại mới.

Nhắc đến lời thề sắt son này và hơn 60 ngày đêm chiến đấu trong vòng vây quân thù, những cán bộ, chiến sĩ Liên khu I chiến đấu bảo vệ Hà Nội hồi mùa đông năm 1946, nay dù da mồi, tóc bạc, chân bước đã chậm nhưng giọng nói lại trở nên mạch lạc, sang sảng 'Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ'...

Trong ngôi nhà nằm giữa phố Trần Quốc Toản (Hoàn Kiếm, Hà Nội), Đại tá Nguyễn Mạnh Hải, nguyên Trưởng phòng Quân báo, Quân khu Thủ đô xúc động nhớ đến những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến. Trong tâm trí người Cảm tử quân năm 1946, nay đã ở tuổi 97 nhưng da dẻ vẫn hồng hào, ánh mắt minh mẫn và nụ cười nở rộng trên khuôn mặt hiền hòa, những biến động trọng đại hồi 75 năm trước dường như mới ngày hôm qua.

Cầm trên tay bức ảnh của Thông tấn xã Việt Nam với dòng chú thích Các chiến sỹ Vệ quốc quân với tinh thần 'Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh' chiến đấu giữ từng căn nhà, góc phố Thủ đô trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến (tháng 12/1946), chỉ vào hình một chiến sỹ đang leo thang lên mái nhà, tay cầm dao găm, vị đại tá tuổi đã gần 100 sang sảng cười nói, đó là ông trong một tổ chiến đấu của Liên khu I và bảo, ngày ấy Hà Nội bốc cháy. Máu chiến sỹ loang đỏ phố. Song quân, dân Hà Nội vẫn kiên cường xung phong đánh địch. Tại nhiều chiến lũy, đồng đội dần dần hy sinh, nhưng người cuối cùng trụ lại vẫn không hề buông súng....

Tết Đinh Hợi 1947, trong lúc những cảm tử quân như ông Vũ Kiểm, ông Nguyễn Mạnh Hải ăn Tết giữa vòng vây của địch thì nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thư Bác viết: '...Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau...'./.

PB son

Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật tác động đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, vì “địch đứng trong bóng tối, ta đứng ngoài ánh sáng; địch có năm, bảy kẻ thù với nhiều âm mưu, thủ đoạn, được sự hậu thuẫn của tài chính, khoa học - kỹ thuật còn ta vẫn chỉ là một nước đang phát triển”. Tuy nhiệm vụ khó khăn như vậy, nhưng thực tế cho thấy, những điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ vẫn còn nhiều hạn chế.

Về nhân lực, hiện nay nước ta có đội ngũ đông đảo các chuyên gia, nhà khoa học, trong đó nhiều người có trình độ chuyên môn giỏi, trình độ lý luận chính trị cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông, nhất là in-tơ-nét và mạng xã hội, để đẩy mạnh các hoạt động chống phá trên không gian mạng, thì một số chuyên gia, nhà khoa học lại chưa thực sự theo kịp sự phát triển của mạng xã hội để đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị trong tình hình mới.

Hiện nay, chúng ta đã chú trọng đến việc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, nhưng thực tế cho thấy, mạng xã hội là “trận địa” quan trọng để các thế lực phản động, thù địch tiến hành thực hiện âm mưu chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn chưa đáp ứng yêu cầu; việc rà soát, phát hiện các trang mạng, các đối tượng phản động còn chậm; cách thức tiến hành đấu tranh, tác chiến trên không gian mạng, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để vô hiệu hóa thủ đoạn của các thế lực thù địch... còn chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Những hạn chế về nguồn lực, phương tiện vật chất - kỹ thuật đã tác động trực tiếp đến việc thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta trong thời gian qua. Những hạn chế đó làm cho việc thực hiện nhiệm vụ gặp nhiều khó khăn, chủ yếu mới được triển khai trên bề rộng. Ở một số nơi, có những thời điểm, việc thực hiện công tác đấu tranh còn chưa đi vào thực chất, chưa có hiệu quả rõ rệt, mới chủ yếu là xử lý tình huống nảy sinh, chứ chưa có chiến lược lâu dài và chưa thực sự giành được thế chủ động, nhất là trên không gian mạng./. 

Những thành quả của công cuộc đổi mới bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch

 Từ khi đất nước giành được độc lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Cách mạng tháng Tám, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đoàn kết, đồng lòng giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hiện nay, đất nước, con người Việt Nam đều được đổi mới, có nền chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển bền vững, quốc phòng - an ninh được tăng cường, quyền con người, quyền công dân được đảm bảo, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Về chính trị, từ một đất nước bị chia cắt, nhân dân chịu sự đô hộ của các thế lực thực dân, đế quốc, Việt Nam đã giành được độc lập, có chủ quyền lãnh thổ thống nhất; có nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tự quyết định con đường phát triển theo mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng, đoàn kết, bảo vệ chế độ, thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Về kinh tế, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển có thu nhập trung bình. Về văn hoá, nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không ngừng được củng cố, phát triển, thực sự là nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc; hình thành nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt Nam, góp phần nâng cao dân trí, dân chủ hóa đời sống xã hội. Về đời sống xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao. Về giáo dục, chất lượng giáo dục và đào tạo của Việt Nam ngày càng được nâng lên. Về quốc phòng - an ninh, tư duy của Đảng về quốc phòng - an ninh có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện. Về đối ngoại và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thực hiện hiệu quả phương châm và định hướng: “Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.

Thực tiễn đất nước ta từ khi giành được độc lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” và trở thành biểu tượng của nhân loại về thực hiện khát vọng độc lập, tự do, thống nhất, vững bước đi lên con đường chủ nghĩa xã hội, trong một thế giới còn nhiều bất ổn. Đó là những minh chứng hùng hồn, phủ nhận các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam./. 

Đấu tranh ngăn chặn gây nhiễu loạn thông tin

 Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, toàn dân nhằm bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng.

Thời gian qua, bên cạnh kết quả đạt được, công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch còn có những hạn chế, bất cập. Một bộ phận cán bộ, đảng viên lơ là, mất cảnh giác trong nhận diện, đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong đấu tranh, ngăn chặn thông tin nhiễu loạn còn mang tính hình thức, thụ động. Công tác tuyên truyền phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi chưa đa dạng, phong phú; nội dung thiếu sắc bén, sức thuyết phục chưa cao. Việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có địa phương còn sơ hở, thiếu sót; tình trạng cán bộ cấp cơ sở quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch với người dân vẫn còn. Công tác giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, để khiếu nại vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân, v.v. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin.

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền gây nhiễu loạn thông tin, trước hết, phải đặt nhiệm vụ này dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chuyên trách, chuyên sâu. Triển khai đồng bộ các mặt công tác từ nắm tình hình, phát hiện, phòng ngừa đến các biện pháp đấu tranh. Thường xuyên tranh thủ sự đồng lòng, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Tăng cường công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, chủ động xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh; những bức xúc, nổi cộm ngay tại cơ sở.

Cùng với đó, chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để bóc gỡ kịp thời các trang mạng, blog phản động đăng tải các tin, bài, video clip có nội dung xấu độc, xuyên tạc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lan tỏa thông tin tích cực để định hướng dư luận xã hội. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thông tin, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội. Nghiên cứu, rà soát xác định những quan hệ xã hội nảy sinh trên không gian mạng chưa được pháp luật điều chỉnh để cơ quan chức năng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn thông tin xuyên tạc, nhiễu loạn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả của công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc./.