Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2021

Lịch sử và ý nghĩa Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, quân đội nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Tên gọi “Quân đội nhân dân” là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”.

Tháng 12/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chỉ thị nhấn mạnh: “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc...”.

Ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sĩ, biên chế thành 3 tiểu đội, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 22/12/1944, dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, 34 cán bộ, chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã long trọng tuyên đọc Mười lời thề danh dự

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân có chi bộ Đảng lãnh đạo. Chỉ có 34 người, với 34 khẩu súng các loại nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm trong các đội du kích Cao - Bắc - Lạng, Cứu quốc quân,... là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi. Sau lễ thành lập, đội tổ chức một bữa cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần gian khổ của các chiến sĩ cách mạng, đội tổ chức “đêm du kích” liên hoan với đồng bào địa phương để thắt chặt tình đoàn kết quân dân.

Thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Trong một tháng phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi”, 17 giờ ngày 25/12/1944 (ngay sau ngày thành lập), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập và đồn Phai Khắt (đóng tại tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, nay thộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) và sáng ngày 26/12/1944 lại đột nhập vào đồn Nà Ngần (đóng tại xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, nay thộc xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), giết hết hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch và thu tất cả vũ khí, quân trang, quân dụng. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã mở đầu cho truyền thống đánh chắc thắng, đánh trận đầu của quân đội ta.

Tháng 3/1945, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng và ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước (Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu Quốc quân và các tổ chức vũ trang khác...) thành Việt Nam Giải phóng quân; đẩy mạnh tuyên truyền xung phong có vũ trang phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho nhân dân; xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu quốc; phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng. Từ tháng 4/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước, phong trào vũ trang khởi nghĩa, khởi nghĩa từng phần đã giành thắng lợi ở nhiều nơi. Ngày 15/5/1945, sau buổi lễ thống nhất tại Định Biên Thương, Định Hóa, Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất, mang tên Việt Nam Giải phóng quân.
Trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp nhân dân đồng loạt đứng dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 22/12/1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.\

Lịch sử 77 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của quân đội ta gắn liền với lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Một đội quân được Đảng và Bác Hồ rèn luyện, đã từng là những đội tự vệ đỏ trong cao trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh, đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ, Ba Tơ, Cao Bắc Lạng, Cứu quốc quân đến Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Một đội quân lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã nối tiếp nhau bao thế hệ cầm súng chiến đấu, cùng toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược hung bạo, giành lại độc lập thống nhất và bảo vệ vững chắc bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam XHCN và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang đối với cách mạng hai nước Lào và Cam-phu-chia anh em.
 

Năm 1989, theo chỉ thị của Ban bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22-12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân. Từ đó, mỗi năm, cứ đến ngày này, toàn dân Việt Nam lại tiến hành các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Các hoạt động như mít tinh, hội thảo, hội nghị đoàn kết quân dân, giáo dục truyền thống, biểu diễn văn nghệ, đại hội thanh niên, thi đấu thể thao, hội thao quân sự,... được diễn ra ở khắp làng, xã, cơ quan đoàn thể, cơ sở đơn vị... Những hoạt động của ngày hội như vậy nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao cảnh giác, ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị và trình độ quân sự, không ngại gian khổ, vượt qua khó khăn, trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Phát huy thành tích to lớn đã đạt được trong 77 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tham gia xây dựng kinh tế đất nước và thực hiện tốt hơn chức năng làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; bảo vệ hòa bình, ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới, xứng đáng với tên gọi: Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

 


   Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là một trong những nội dung cốt lõi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, là bài học quý được đúc rút từ thực tiễn cách mạng. Vì thế, vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

   Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân là sự vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sự kế thừa, phát triển truyền thống, kinh nghiệm trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc và tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa giữ nước của nhân loại vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đó của Người được hình thành, phát triển và kiểm nghiệm trong thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, góp phần quan trọng vào huy động mọi nguồn lực của đất nước, dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp ngăn ngừa, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược và nó đang tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

   Theo Người, xây dựng nền quốc phòng toàn dân là yêu cầu khách quan của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, nhằm tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng và duy trì hoạt động của chính quyền nhà nước chuyên chính vô sản. Nhận thức sâu sắc luận điểm: một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ của V.I.Lê-nin, bám sát điều kiện thực tiễn cách mạng nước ta khi mới giành được chính quyền (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Nước ta mới giành lại quyền độc lập tự do, nhưng còn phải trải qua nhiều bước khó khăn, để củng cố quyền tự do, độc lập đó. Vậy nên quốc dân ta, bất kỳ già trẻ, đều phải ra sức gánh vác một vai”. Cùng với đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người thường xuyên nhắc nhở: “Chúng ta phải ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, cho nên chúng ta phải củng cố quốc phòng...”, làm cho nền quốc phòng, nhất là Quân đội vững mạnh, đủ sức trấn áp bọn phá hoại, giữ gìn an ninh trật tự cho nhân dân, đồng thời Quân đội phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

   Người quan niệm, quốc phòng là phòng vệ Tổ quốc, là công việc giữ nước của quốc gia. Để thực hiện nhiệm vụ to lớn đó, trên cơ sở vận dụng luận điểm: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, vũ trang toàn dân của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; kế thừa những tư tưởng đặc sắc trong lịch sử dân tộc ta về xây dựng nền quốc phòng “trăm họ đều là binh”, “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, “cử quốc nghênh địch”..., Hồ Chí Minh nêu rõ: chúng ta phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện. Theo Người, quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng của dân, do dân, vì dân. Điều này được Bác thể hiện rõ trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” năm 1946: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”. Người chỉ rõ, việc tham gia kháng chiến bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của mọi người dân, mọi địa phương, mọi ngành, mọi cấp, tất cả các thành phần, lực lượng xã hội. Để thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này, phải tập trung xây dựng, củng cố quốc phòng, bất cứ ai là công dân Việt Nam yêu nước đều phải tham gia, kể cả “Các em lớn chưa hẳn đến tuổi phải gánh công việc nặng nhọc ấy, nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước”. Trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ cần chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh cả về chính trị, quân sự làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ chế độ mới. Người yêu cầu: “phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân”. Tức là phải xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, quân sự, trong đó quan trọng là nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật và kỷ luật, bảo đảm cho Quân đội có sức mạnh chiến đấu cao và tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người hết sức quan tâm xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ. Người nói: “Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp”. Đồng thời, để nâng cao hiệu quả công tác quốc phòng, quân sự địa phương, Người chỉ đạo chính quyền các cấp cử một ủy viên phụ trách quân sự, có nhiệm vụ: “Đốc suất tự vệ giữ vững sự an toàn cho nhân dân, Võ trang và huấn luyện quân sự cho nhân dân; động viên họ lên đường tranh đấu du kích chống xâm lược”. Người cho rằng: tổ chức dân quân, du kích không chỉ để giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực, mà còn là một nguồn có chất lượng cao bổ sung cho Quân đội khi cần thiết.

   Về quốc phòng toàn diện, theo Người: là nền quốc phòng phải được xây dựng vững mạnh cả về tinh thần, vật chất của quốc gia và được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực (chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội, ngoại giao,...); trong đó, chú trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, củng cố, xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng các cấp của nhân dân. Trong Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức mạnh như một viên đạn... Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào”. Cùng với đó, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng tiềm lực kinh tế để động viên cho kháng chiến. Người chỉ rõ: muốn kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợi, chúng ta phải có tiềm lực về kinh tế. Tiềm lực kinh tế là nhân tố quyết định sức mạnh quốc phòng của đất nước. Do vậy, để tăng cường tiềm lực kinh tế, phải đẩy mạnh phát triển mọi ngành, nghề, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, như: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng,...; trong đó, trọng tâm là nâng cao khả năng huy động mọi nguồn lực kinh tế phục vụ cho kháng chiến. Đồng thời, phải thường xuyên kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng. Theo Người, đây là bài học quý, có tính quy luật “dựng nước đi đôi với giữ nước” của dân tộc ta.

   Cùng với xây dựng, phát triển lực lượng quốc phòng là toàn dân, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, Hồ Chí Minh quan tâm chỉ đạo xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, trong đó chú trọng các địa bàn xung yếu, có vị trí chiến lược (miền núi, biển, đảo). Người nói: “Miền núi đối với quốc phòng rất quan trọng. Vì vậy phải chăm lo đến việc củng cố quốc phòng, duy trì trật tự trị an, để chủ động tiêu diệt nhanh chóng bọn biệt kích, đập tan âm mưu của bọn phản động. Cố nhiên đây là trách nhiệm chính của bộ đội, của công an biên phòng, của dân quân. Nhưng toàn Đảng, toàn dân đều có trách nhiệm giúp sức vào việc đó”. Người chỉ đạo, quá trình xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân phải gắn kết chặt chẽ với xây dựng thế trận an ninh nhân dân để vừa đáp ứng yêu cầu chống xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyền, vừa giữ vững an ninh - chính trị, trật tự, an toàn xã hội và an ninh, quốc phòng.

   Trong bối cảnh hiện nay, để giữ vững nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần tăng cường đấu tranh bảo vệ, đồng thời tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào điều kiện mới của đất nước, trọng tâm là vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Để làm được điều đó, chúng ta cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

   1. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình giáo dục, cần kết hợp chặt chẽ với quán triệt và thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

   2. Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; trong đó, phải tăng cường xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố đi vào chiều sâu, vững mạnh toàn diện, từng bước tạo thế phòng thủ chung, thống nhất trên từng khu vực, địa bàn và cả nước. Trong tình hình hiện nay, cần đặc biệt coi trọng xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân.

   3. Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, làm nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; trong đó, chú trọng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân, tự vệ vững mạnh, rộng khắp, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, phát huy vai trò đông đảo quần chúng nhân dân tham gia nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, tập trung vào địa bàn chiến lược, trọng điểm: biên giới, biển, đảo, v.v.

   4. Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế sâu, rộng. Đây là yêu cầu khách quan, đòi hỏi phải được giải quyết hợp lý, cụ thể trong từng bước đi, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Cần thống nhất nhận thức và giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, nhất là khi chúng ta tham gia các hoạt động thương mại toàn cầu. Thực hiện những bước đi tắt, đón đầu, nhằm xây dựng một nước Việt Nam thực sự ổn định về chính trị, xã hội; đa dạng, bản sắc về văn hóa; giàu về kinh tế; mạnh về quốc phòng, an ninh, vững bước trên con đường hội nhập quốc tế hiện nay./.

Ngày 19/12: Có 16.110 ca COVID-19, Hà Nội nhiều nhất cả nước với 1.405 ca

 

Bản tin dịch COVID-19 ngày 19/12 của Bộ Y tế cho biết có 16.110 ca mắc COVID-19 tại 60 tỉnh, thành phố; Hà Nội nhiều nhất cả nước với 1.405 ca. Trong ngày có gần 10.800 ca khỏi; 214 trường hợp tử vong.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Quân đội phải tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong phòng, chống dịch

 

Ngày 16-12, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị lần thứ ba, nhiệm kỳ 2020-2025 thông qua Báo cáo tổng kết công tác quân sự, quốc phòng năm 2021, xác định phương hướng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội năm 2022. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương chủ trì hội nghị.

Bóc trần âm mưu “dân sự hóa” quân đội

 

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng: Trung ương nên chủ trương “dân sự hóa hoạt động quân sự” để hạn chế hao tốn nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, lại huy động được sức dân trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội.

KHÔNG THỂ ĐỂ MỘT HOÀ THƯỢNG NGANG NHIÊN XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ CỦA NHÂN DÂN TA MỘT CÁCH TRẮNG TRỢN ĐƯỢC!

     Những năm qua không hiểu vì mục đích gì mà một số nhà mang danh sử học đang cố tìm cách hướng lái cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta thành cuộc nội chiến, gần đây nhất cả một nhà sư ít nhiều có tiếng tăm đó là Thượng tọa Thích Nhật Từ cũng công khai cho rằng từ năm 1945 - 1975 cuộc chiến xảy ra trên đất nước Việt Nam là cuộc nội chiến, và rất đáng tiếc trên báo chí công khai của Đảng và Nhà nước ta đã không có một bài báo nào phản bác lại cách nhìn nhận cực kỳ sai trái, mang tính chất phản động này. Một câu hỏi đặt ra mong các Cơ quan chức năng có liên quan hãy trả lời vì sao như vậy? 

       Nhân sự việc này tôi xin viết về câu chuyên của tôi để cộng đồng mạng hiểu đúng và nhận rõ bản chất của cuộc chiến tranh diễn ra từ 1954-1975 trên đất nước ta và sau đó lan rộng ra khắp bán đảo Đông Dương.

         Tôi sinh ra ở một miền quê thơ mộng bên dòng sông Thu Bồn hiền hoà của tỉnh Quảng Nam . Tôi tuổi Ngọ và chào đời trước khi Việt Nam và Pháp ký kết Hiệp định Giơ ne vơ 10 ngày, lúc đó trong kháng chiến nên không có giấy khai sinh, mãi sau này khi lập bản khai sinh đầu tiên mẹ tôi nói ngày sinh của con rất dễ nhớ, đó là sinh trước ngày ký Hiệp định hoà bình kết thúc chiến tranh chống Pháp 10 ngày. Và chắc ai đã học lịch sử, hoặc có nghiên cứu về lịch sử thì Hiệp định này ghi rõ trong Điều một: Cộng hoà Pháp và các nước tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Đây là điều khoản quan trọng nhất mà vì nó dân tộc Việt Nam đã chiến đấu từ khi Thực dân Pháp đưa quân vào tấn công Đà Nẵng năm 1858 cho đến 1954, gần 100 năm đấu tranh để giành lại cái quyền được độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, biết bao máu xương và tính mạng của đồng bào yêu nước đã đổ ra và ngã xuống...

     Thế nhưng như mẹ tôi kể lại, sinh con ra những tưởng từ đây đất nước sẽ hoà bình, thống nhất, các con của mẹ sẽ được học hành và hưởng hạnh phúc mà bao bậc tiền nhân đã xây đắp nên song lại không được như vậy, đế quốc Mỹ đã hất chân thực dân Pháp nhảy vào nắm lấy bộ máy tay sai của Pháp, xoá bỏ Hiệp định Giơ Ne Vơ, dựng nên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm với danh xưng Việt Nam cộng hoà, rắp tâm chia cắt lâu dài đất nước ta, biến vĩ tuyến 17 thành biên giới quốc gia, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Đé quốc Mỹ; và máu lại đổ, cuộc tàn sát đẫm máu những người tham gia kháng chiến chống Pháp đã bắt đầu: ba tôi, chú tôi và hàng chục vạn người yêu nước bị bắt vào tù, bị tra tấn và sát hại một cách dã man, gia đình tôi bị ghi danh gia đình can cứu Cộng sản... Làng quê nơi tôi sinh ra hưởng hoà bình chưa được tày gang đã lại nghe tiếng còi bố ráp, tiếng mõ hô hào bắt cộng sản nằm vùng và tiếng súng rền vang cùng xác người kháng chiến năm xưa đã ngã xuống, bao cuộc giết người tập thể Phú Lợi, Mỹ Trinh, Chợ Được... Tôi lớn lên trong bối cảnh như vậy, và khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, chưa đầy 10 tuổi mà tôi đã vui mừng khôn xiết, hoà cùng dòng người xuống đường biểu tình đã đảo chính quyền độc tài gia đình trị họ Ngô, trong màu áo Phật tử (dù gia đình tôi không theo Phật giáo); rồi đêm đêm tôi nằm giả vờ ngủ để nghe ba tôi và các đồng chí của ông bàn cách giải phóng quê hương mà trong lòng rạo rực ước gì mình nhanh lớn để được tham gia và cái gì đến ắt sẽ đến, quê tôi đã được giải phóng vào giữa năm 1964, tôi lại được cắp sách đến trường, các thầy, cô giáo đã dạy chúng tôi theo chương trình giáo dục của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tôi lúc đó vào học lớp bốn và sau đó học lên cấp hai từ lớp năm đến lớp bảy, lớp chúng tôi vừa học vừa phục vụ kháng chiến, các anh lớn tuổi khi đi học mang theo cả súng trường, ban ngày thì học tập, ban đêm chúng tôi đi vận chuyển lương thực, thực phẩm lên căn cứ, thầy trò chung nhau từng ngụm nước uống và sống chết bên nhau dưới làn bom pháo của Mỹ, ngụy, tiếng thầy cô giảng xen trong tiếng pháo, tiếng bom.

Trường chúng tôi tồn tại đến cuối năm 1967, khi đó quân Mỹ bắt đầu đánh phá ác liệt vùng B Đại Lộc, chỉ cần phát hiện bóng người mang súng là chúng huy động máy bay, pháo bầy tập trung đánh phá, học sinh bọn tôi không thể đến trường. Cả lớp Bảy chúng tôi hầu hết thoát ly tham gia kháng chiến, một số bạn đã hy sinh còn lại sau này đều trưởng thành từ trong khói lửa chiến tranh, có anh lên cấp tướng, cấp tá của Quân đội và Công an, còn lại đều là cán bộ lãnh đạo của tỉnh Quảng Nam, của thành phố Đà Nẵng nay đã nghỉ hưu.

      Riêng tôi sau ngày ba mẹ hy sinh, tôi thôi học và thoát ly vào phục vụ cho Tiểu ban Mậu dịch Quảng Đà, sau đó xin gia nhập vào Quân giải phóng miền Nam, nhập ngũ vào đơn vị Tiểu đoàn 91 đặc công thuộc Mặt trận 44. Và từ đó tôi đã cùng đơn vị chiến đấu trong những năm gian khổ ác liệt nhất trên chiến trường Quảng Đà, nơi mà quân Mỹ và quân ngụy nhiều hơn chúng tôi gấp chục lần, không có nơi nào mà gót giày quân Mỹ không dẫm đến, để rồi cho đến ngày 29/3/1975 tôi cùng đồng đội và nhân dân tiến công và nỗi dậy giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng thân yêu.

       Tôi viết lại chuyện này để khẳng định một điều: Đừng ai cố tình bịa đặt rằng miền Bắc xâm lược miền Nam, rằng cuộc Kháng chiến chống Mỹ là cuộc nội chiến và rằng đó là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ gì gì đó... mà với thế hệ chúng tôi vì Mỹ ngụy quá dã man, tàn ác, giết hại đồng bào ta, tuổi trẻ ở miền Nam như tôi buộc phải cầm súng đánh Mỹ để giải phóng quê hương, góp phần đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, để Bắc Nam sum họp một nhà, để hoà bình, thống nhất đất nước. Với chúng tôi kẻ nào nói cuộc Chiến tranh giải phóng là nội chiến thì kẻ đó là bọn phản động không hơn không kém. Chúng tôi yêu cầu luật pháp phải trừng trị nghiêm minh những kẻ như vậy, để lịch sử không bị đánh tráo, để sự thật khổng bị thay đổi, để thành quả Cách mạng được giữ vững, để chế độ này mãi mãi trường tồn, để đất nước ta: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hiện đại./.

      Bài viết kỷ niệm 54 năm ngày tôi tham gia Cách mạng và gia nhập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam 12/ 1967-12/2021 - Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng CTH, TCCT, QĐND.

(Tên của đầu bài viết do người sưu tầm đặt).






Yêu nước ST.

ĐÔI NHỜI PHẢN BIỆN VỀ LUẬN ĐIỆU VNCH ĐƯỢC QUỐC TẾ CÔNG NHẬN ???

      Cái gọi là Quốc tế công nhận thực ra chỉ là một số nước Chư hầu lệ thuộc vào Mỹ và làm theo sự gian xảo áp đặt của Mỹ.

  Nhưng hãy nhìn vào Hiệp định Paris: 

HOA KỲ & CÁC NƯỚC KHÁC TÔN TRONG VIỆT NAM LÀ MỘT QUỐC GIA ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT CÓ CHỦ QUYỀN, TOÀN VẸN LÃNH THỔ NHƯ HIỆP ĐỊNH GIƠ NE VƠ NĂM 1954 VỀ VIỆT NAM ĐÃ CÔNG NHẬN.

   Vài dòng thôi cũng đủ đập tan những luận điệu xuyên tạc của những kẻ muốn Thừa nhận muốn chính danh cho cái sản phẩm do Mỹ nặn ra thành một Quốc gia.

   Mỹ và "nước" vnch đã cúi đầu để Công nhận Việt nam là Một quốc gia trước sự chứng kiến của Quốc tế.

  Thì còn Cãi cùn để làm gì. Hay các vị muốn quảng bá sự dốt nát đến lỳ lợm của các người!!!

     Hãy hỏi đô đốc Hải quân vnch Lâm quang Chánh xem: Philippin - nước đã từng mang quân sang "giúp vnch" - có Công nhận có tôn trọng vnch hay không khi họ buộc những Sỹ quan cao cấp của vnch phải hạ lá cờ ba sọc & nộp vũ khí + gỡ bỏ những biểu tượng của quân lực vnch thì Họ mới cho tàu vào Cảng.

  Có còn nỗi Nhục nào bằng cho cái gọi là quốc gia vnch ???

Yêu nước ST.

HÒA THƯỢNG THÍCH NHẬT TỪ HÃY NGỪNG NGAY VIỆC TRUYỀN BÁ LỊCH SỬ SAI TRÁI!

    Không biết trên một video có từ bao giờ và được hòa thượng Thích Nhật Từ rao giảng nó trong hoàn cảnh nào? Song những gì ông ta thể hiện trong video này đã cho thấy đó thực sự là những luận điệu xuyên tạc về lịch sử nước nhà trong giai đoạn 1945 - 1975. (Giai đoạn mà một số kẻ nhân danh làm KH cũng đang muốn làm thay đổi, khi họ tự cho mình cái quyền thừa nhận chế độ ngụy VNCH là hợp pháp mà bỏ đi cụm từ "ngụy quân", "ngụy quyền" trong sách lịch sử). 

Cần phải khẳng định, vị hòa thượng này đủ trình độ hiểu biết và ông ta cũng nhận thức rõ về tầm ảnh hưởng của mình tới công chúng nhất là với các tăng ni phật tử trong và ngoài nước. Vì thế, việc ông ta đăng đàn nói sai về lịch sử như thế này là một việc làm hết sức nguy hiểm, đây có thể là hành động cố tình, mang tính chất mị dân, tiếp tay cho những kẻ đang muốn làm sai lệch lịch sử nước nhà. Việc làm này của ông ta không chỉ tác động đến nhận thức của một bộ phận dân chúng đối với lịch sử dân tộc mà còn làm mất đi giá trị, tinh thần, tính chính nghĩa của 2 cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc thời kỳ 1945 - 1975 của nhân dân ta. 

Cần nhắc lại rằng, cuộc chiến ở VN thời kỳ 1945 - 1975 là cuộc chiến chống đế quốc và thực dân xâm lược (cụ thể ở đây là đế quốc Mỹ và thực dân Pháp). Bè lũ tay sai ngụy quân, ngụy quyền từ thời Ngô Đình Diệm đến thời Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh đều chỉ là những con rối, những chính quyền bù nhìn do ngoại bang tạo dựng lên và điều khiển, mà không hề có quyền tự quyết nào trong cuộc chiến thời kỳ này. Hậu quả của bom mìn và hàng triệu gallon chất độc hóa học còn sót lại ở trên khắp giải đất hình chữ S này không ai khác cũng do chính tay người Mỹ đã thả xuống. Hàng trăm ngàn đồng bào bị giết hại trong các cuộc thảm sát thường dân cũng là do lính Mỹ và quân chư hầu gây ra. Đó mãi là nỗi ám ảnh của nhân dân Việt Nam cũng như của các cựu binh Mỹ; là vết nhơ của chính phủ Mỹ, cũng như của quân chư hầu đồng minh của họ. Chỉ những điều này thôi cũng đủ cho thấy không thể coi cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cuộc "nội chiến" Nam Bắc hay cuộc chiến "ý thức hệ" như những gì vị hòa thượng này nói, mà đó phải là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, trong đó Mỹ, Pháp là những kẻ xâm lược. Những gì vị hòa thượng Thích Nhật Từ đã rao giảng trong video này là một sự xuyên tạc trắng trợn, mang tư tưởng mị dân, mượn danh phật giáo để truyền bá sai lệch lịch sử, cần phải lên án. Cho dù ông ta có là ai đi nữa thì cũng cần phải chỉ ra cho dân chúng thấy rõ sai trái ấy, để rồi cùng lên tiếng yêu cầu ông ta gỡ bỏ video, đính chính và xin lỗi công khai trước chư tăng, phật tử trong và ngoài nước cùng toàn thể đồng bào mình. Thiết nghĩ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam cũng nên có động thái chấn chỉnh những phát ngôn sai lệch của hòa thượng Thích Nhật Từ đối với lịch sử nước nhà. Đừng để kẻ xấu lợi dụng, biến nơi cửa Phật thành nơi tuyên truyền những điều sai trái như vậy. Có câu: "Một lời dối trá lặp đi lặp lại đủ mức sẽ thành một lời nói thật". Trong việc này, hậu quả để lại của sự tuyên truyền sai về lịch sử sẽ là rất lớn cho nhận thức của thế hệ sau, nhất là lời nói đó lại xuất phát từ miệng của người có tầm ảnh hưởng lớn như hòa thượng Thích Nhật Từ.


Lời kết:

Chiến tranh đã lùi xa, hòa bình đã lập lại. Những mất mát đau thương cũng như vết thương do nó gây ra đang dần được xoa dịu, hàn gắn, nhưng không vì thế mà cho phép ta quên đi giá trị thực tiễn của hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc xâm lược trong công cuộc gìn giữ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quân và dân ta. Và cũng vì thế không cho phép ai được xuyên tạc, bóp méo đi giá trị truyền thống hào hùng của dân tộc, làm sai lệch đi bản chất của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, càng không thể cho phép ai đó, mượn chuyện hòa hợp, hòa giải để rồi tìm cách bỏ đi cụm từ "ngụy quân", "ngụy quyền" trong sách sử, đó là cách dễ nhất để biến cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của cha ông ta thành cuộc NỘI CHIẾN huynh đệ tương tàn, rửa sạch tội lỗi cướp nước và bán nước của bè lũ Mỹ ngụy./.

Yêu nước ST.

NẾU ...

     Lịch sử nhân loại đã chứng minh: Nếu không có những người Cộng sản Liên Xô, chắc chắn Nhân loại đã Đắm chìm và rên xiết dưới gót giày của Chủ nghĩa Phát xít hung tàn.

  Dù chủ nghĩa tư bản đế quốc muốn làm nhạt phai màu máu của những chiến sĩ cộng sản. Nhưng nhân loại thì phải đời đời ghi nhớ công ơn của những người cộng sản.

   Bởi chính họ đã buộc chủ nghĩa tư bản đế quốc phải thay đổi chính sách cai trị của chúng đối với những dân tộc bị chúng cai trị và xâm chiếm để làm thuộc địa?

    Ở Việt Nam thì vai trò của những người cộng sản còn rõ nét hơn, còn đậm nét hơn:

  Như mọi người đều biết: ở Việt Nam Nam trước năm 1930 thì Cái tên Việt Nam đã không còn nữa. đất nước Việt Nam đã bị thực dân Pháp chia ra thành Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Trung Kỳ và nằm trong không cái gọi là liên bang Đông Dương thuộc địa của Pháp.

   Nếu không có những người cộng sản mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với toàn thể nhân dân đứng lên làm cuộc cách mạng tháng 8 để giành chính quyền từ Những Kẻ Xâm Lược đó là phát xít Nhật thì chắc chắn không thể có được một nước Việt nam: ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC như ngày hôm nay.

    Chúng ta cũng có quyền tự hào để nói rằng: Việt Nam đã tiên phong phất lên ngọn cờ giải phóng dân tộc. Và trở thành tấm gương để nhiều dân tộc nhiều quốc gia trên thế giới noi theo.

    Nếu những người cộng sản Việt Nam không kiên định với lập trường của mình:

  " Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ ."

  "Không có gì quý hơn độc lập tự do"

 và 

  "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và tài sản để trị vững nền độc lập tự do".

  Thì chắc chắn non sông gấm vóc này không thể liền một dải từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái như ngày hôm nay. mà đất nước non sông này vẫn còn đang bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng là ngụy quyền sài gòn Chia cắt, hòng biến miền Nam là Máu Thịt của Máu thịt Việt nam thành Tiền đồn chống Cộng, thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

  Nếu những người cộng sản Việt Nam không kiên quyết: xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, không quyết tử cho tổ quốc quyết sinh, thì không chỉ đất nước bị chia cắt mà còn trở thành kẻ thù của nhau để người dân Việt Nam phải làm một việc đau lòng là gà cùng một mẹ vẫn hoài đá nhau.

   Chúng ta và nhất là những kẻ đã từng cam tâm làm tay sai cho giặc, những kẻ đang âm mưu viết lại lịch sử xuyên tạc Lịch sử, phải nhìn vào sự thật lịch sử rằng: Nếu không có đế quốc Mỹ muốn xâm lược Việt Nam thì sẽ không có cái quái thai Việt Nam Cộng Hòa?

   Nếu tập đoàn tay sai Ngụy quyền Sài Gòn không cam tâm bán rẻ Tổ Quốc, không cam tâm làm tay sai cho ngoại bang thì đất nước Việt Nam đã thống nhất đã liền một dải từ năm 1956. 

    Nếu Mỹ không xâm lược Việt Nam nếu ngụy quyền Sài Gòn có được một chút Chủ quyền thì Hoàng sa và một số hòn đảo ở Trường sa đã không rơi vào tay ngoại bang.

   Nếu một số Cán bộ Đảng viên không phản bội , không chủ tâm muốn phủ nhận lập trường tư tưởng của Đảng và Bác Hồ thì đã không có những phát ngôn xuyên tạc lịch sử , không có những phát ngôn nhằm đục phá nền tảng quan điểm của Đảng và nhà nước...


Yêu nước ST.

Coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời và Đối tác chiến lược toàn diện

 Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Cộng hòa Ấn Độ, ngày 19/12, tại Phủ Tổng thống Ấn Độ ở thủ đô New Delhi, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã hội kiến Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind.

VIỆT NAM MUÔN NĂM!

75 năm trước ngày này.

Lời gọi Kháng chiến vang đầy non sông.

Toàn dân đoàn kết một lòng.

Đứng lên cứu nước khỏi vòng thực dân.


Quân Pháp mạnh gấp trăm lần.

Nhưng thua ý chí, tinh thần Việt Nam.

Trường kỳ kháng chiến gian nan.

Vinh quang chiến thắng vẻ vang lẫy lừng.


Lời Bác gọi trong từng câu chữ.

Hiệu triệu nhân dân quyết giữ hoà bình.

Cho dù ta phải hy sinh.

Không để mất nước, mất hình non sông.


Vùng lên như sóng biển Đông.

Nối tiếp truyền thống tổ tông bao đời.

Khí phách Việt Nam tuyệt vời.

Tạc vào lịch sử đất trời lưu danh.


Cúi đầu tưởng nhớ Cha, Anh.

Mấy ngàn năm đắp lũy thành Việt Nam.

Giờ đây đất nước sang trang.

5 châu cờ đỏ sao vàng tung bay.


Hôm nay, mãi mãi sau này.

Đời đời con cháu chung tay kết đoàn.

Tự do, độc lập hoàn toàn.

Việt Nam vang khúc khải hoàn muôn năm.


TƯ DUY PHẢN BIỆN : GIẢI ĐỘC TÀN DƯ HẬU DUỆ 3///!

NHỮNG DẤU ẤN QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

1. NGÀY 22/12/1944

 Tại khu rừng giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của LLVT cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.


2. CHIẾN THẮNG PHAI KHẮT - NÀ NGẦN (25 - 26/12/1944)

 Ngày 25/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân cải trang dùng mưu tập kích diệt đồn Phai Khắc thuộc tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Tiếp đó, ngày 26/12, Đội đánh Đồn Nà Ngần (cách Phai Khắc 15 km về phía Đông Bắc).


 3. MỘT SỐ CHIẾN THẮNG ĐẦU TIÊN TẠI NAM BỘ

 Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp có quân Anh tiếp sức đã trắng trợn gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Ngay trong những ngày đầu, quân và dân Sài Gòn đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Nổi bật là các trận đánh ở Thị Nghè, cầu Bến Phân, đánh phá Khám lớn Sài Gòn, đốt cháy tàu Pháp vừa cập bến Sài Gòn.


 4. MỘT SỐ CHIẾN CÔNG MỞ ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC (19/12/1946)

 Đêm 19 rạng 20/12/1946, tiếng súng kháng chiến bắt đầu nổ ra ở Hà Nội, mở đầu thời kỳ cả nước kháng chiến chống Pháp xâm lược. Với tinh thần "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh", các chiến sĩ vệ quốc quân, công an xung phong, tự vệ chiến đấu đánh địch rất dũng cảm. Nhiều trận đánh quyết liệt đã diễn ra ở Bắc Bộ Phủ, Nhà ga, cầu Long Biên, chợ Đồng Xuân.


 5. CHIẾN THẮNG CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC (17/10 - 22/12/1947)

 Ngày 17/10/1947, giặc Pháp huy động 2 vạn quân tinh nhuệ có máy bay, tàu chiến hỗ trợ cuộc tiến công lớn lên Bắc Việt, hòng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, kết thúc "chớp nhoáng" cuộc chiến tranh xâm lược. Quân và dân Việt Bắc đã liên tiếp đánh chặn và phản công tiêu diệt địch ở khắp nơi, nổi bật là các trận Bình Ca (Tuyên Quang), Bông Lau (Cao Bằng), Đoan Hùng, Khu Lau trên sông Lô.


 6. CHIẾN THẮNG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI (16/9 - 14/10/1950)

 Ngày 07/7/1950, Bộ Tổng Tư lệnh về chiến dịch Biên giới Cao-Lạng (chiến dịch Lê Hồng Phong II). Mục đích là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường thông với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Ngày 16/9/1950, quân ta đánh trận mở đầu, diệt cụm cứ điểm Đông Khê.

 Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 03/ 10/1950 địch vội cho quân ở Cao Bằng rút chạy, đồng thời huy động quân ở Thất Khê lên ứng cứu. Bộ đội ta liên tiếp đánh chặn trong 2 ngày 7 và 08/10/1950 lần lượt tiêu diệt 2 binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sáctông ở núi Cốc Xá và điểm cao 477.

 Thừa thắng, quân ta chuyển sang tiến công giải phóng một dải biên giới dài 100km từ Đồng Đăng (Lạng Sơn) đến Đình Lập, An Châu, Tiên Yên (Quảng Yên).


7. CHIẾN THẮNG CHẤN ĐỘNG 5 CHÂU ĐIỆN BIÊN PHỦ (13/3 - 07/5/1954)

 Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở đợt tiến công lần thứ nhất vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm Him Lam, Độc Lập bức quân địch ở Bản Kéo đầu hàng, mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm.

 Ngày 30/3/1954, ta mở đợt tiến công lần thứ 2 diệt các cứ điểm phía Đông, cuộc chiến đấu giành đi giật lại giữa ta và địch rất quyết liệt. Vòng vây của quân ta khép chặt dần, hãm quân địch vào tình thế rất khốn đốn.

 Ngày 01/5/1954, đợt tiến công thứ 3 bắt đầu; quân ta lần lượt đánh chiếm các cứ điểm phía đông và phía tây, bẻ gãy các cuộc phản kích của địch.

 Ngày 07/5/1954, bộ đội ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Điện Biên Phủ.


8. PHONG TRÀO "ĐỒNG KHỞI" Ở MIỀN NAM (CUỐI NĂM 1959 - 1960)

 Cuối năm 1959, nhân dân nhiều xã ở huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) cùng với trung đội vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh đã nổi dậy khởi nghĩa diệt ác, trừ gian, giành chính quyền ở một số thôn xã, mở ra một giai đoạn đấu tranh mới và những ngày sau đó, nhân dân các huyện Mõ Cày, Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, dưới sự lãnh đạo của đảng bộ địa phương đã nhất loạt nổi dậy, phá vỡ hoặc làm tê liệt chính quyền ấp, xã của địch, thành lập Ủy ban nhân dân tự quản.

 Sau đó, phong trào"Đồng Khởi" đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều tỉnh ở Nam bộ, Tây Nguyên và miền tây các tỉnh khu 5, tạo thành một vùng căn cứ rộng lớn. Nhiều đơn vị dân quân du kính và bộ đội địa phương tỉnh, huyện đã hình thành và phát triển trong phong trào "Đồng Khởi".


9. CHIẾN THẮNG ẤP BẮC (02/01/1963)

 Được tin có một lực lượng vũ trang cách mạng mới về Ấp Bắc, xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho, ngày 02/01/1963, Mỹ - Ngụy liền mở một cuộc càn lớn mang tên "Đức Thắng 1-63". Dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân sau một ngày chiến đấu ta đã chiến thắng.


10. ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ 1 CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (07/02/1965 - 16/11/1968)

Ngày 07/02/1965, đế quốc Mỹ dùng không quân mở chiến dịch "mũi lao lửa" và từ ngày 02/3/1965 gọi là chiến dịch "Sấm rìu" đánh phá liên tục miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Quân và dân miền Bắc đã anh dũng đánh trả địch, giành thắng lợi ngay từ trận đầu, tiếp đó lần lượt đập tan những bước leo thang của chúng, lập nên những chiến công oanh liệt, tiêu biểu là các trận:

 - Ngày 04/4/1965 lần đầu tiên máy bay ta bắn rơi máy bay địch.

 - Ngày 24/7/1965 lần đầu tiên bộ đội tên lửa ta bắn rơi nhiều máy bay địch. Trước sự thất bại nặng nề ở miền Bắc và cả miền Nam

 - Ngày 01/1/1968, Jiôn-xơn phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc, sau đó chấp nhận họp Hội nghị bốn bên tại Pa-ri.


11. CHIẾN THẮNG BÌNH GIÃ (12/1964 - 1965)

Một đơn vị Quân giải phóng tham gia chiến đấu tại Bình Giã (Bà Rịa-Vũng Tàu), tháng 12-1964. Chiến thắng Bình Giã có ý nghĩa đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực ta và báo hiệu thất bại của các biện pháp chiến thuật "Trực thăng vận" và "Thiết xa vận" của Mỹ - Ngụy trong "Chiến tranh đặc biệt".


12. CHIẾN THẮNG VẠN TƯỜNG (18/8/1965)

 Sáng 18/8/1965, Mỹ Ngụy mở cuộc hành quân "Ánh sao sáng" nhằm vào thôn Vạn Tường (Quảng Ngãi) với ý đồ diệt một đơn vị chủ lực ta, gây uy thế cho lính thuỷ đánh bộ Mỹ. Cuộc hành quân "Tìm diệt" quy mô lớn của quân viễn chinh Mỹ bị đánh bại.


13. CHIẾN DỊCH PLÂY-ME (19/10 - 26/11/1965)

 Từ 19/10 đến 16/11/1965, bộ đội ta tấn công cứ điểm Plây-Me, buộc quân địch ra ứng cứu. Ta đánh quân tiếp viện địch ở thung lũng I-a-đơ-răng, buộc quân Mỹ phải vào ứng cứu. Quân ta tập kích đánh phủ đầu diệt quân Mỹ. Sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ cơ động bằng máy bay lên thẳng lần đầu tiên xuất hiện ở miền Nam đã bị đánh bại.


14. CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN (30/1 - 31/3/1968)

 Ngày 30 và 31/1/1968, quân và dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã, đánh vào sào huyệt cơ quan đầu não của địch, tấn công hàng loạt căn cứ quân sự, sân bay, bến cảng, kho tàng và hệ thống giao thông của chúng. Ở Sài Gòn - Gia Định, ta tiến công nhiều mục tiêu quan trọng: tòa đại sứ Mỹ, Dinh Tổng thống Ngụy, Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, Tổng nha cảnh sát, Đài phát thanh…

 Ở Huế, ta đánh chiếm 39 mục tiêu quan trọng, làm chủ hầu hết thành phố và chốt giữ 25 ngày đêm, thành lập chính quyền cách mạng. Phối hợp với mũi tiến công quân sự, nhân dân nhiều vùng nông thôn và đô thị đã nổi dậy diệt ác trừ gian, giải tán dân vệ, phá vỡ hàng rào "Ấp chiến lược", giành quyền làm chủ.

 Đây là đòn quyết định làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, làm lung lay ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải "xuống thang chiến tranh", tạo ra bước ngoặc mở đầu thời kỳ đi xuống về chiến lược của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


15. CHIẾN THẮNG BẦU BÀNG - DẦU TIẾNG (11/1965)

 Chiến thắng Bầu Bàng - Dầu Tiếng củng cố niềm tin đánh thắng Mỹ, mở ra phong trào "Tìm Mỹ mà diệt, nắm thắt lưng Mỹ mà đánh" trong các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.


16. CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 NAM LÀO (TỪ NGÀY 30/1 - 23/3/1971)

 Dự tính năm 1971 Mỹ Ngụy sẽ mở 3 cuộc hành quân lớn mang tên "Lam Sơn 719" đánh lên khu vực Đường 9 - Nam Lào. Ngay từ đầu, địch đã bị ta chận đánh, ở đâu chúng cũng bị đánh. Lực lượng tại chổ của ta phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Pa Thet Lào đã liên tiếp tấn công địch.

 Sau hơn 1 tháng chiến đấu trong đó có nhiều trận đánh ác liệt giữa chủ lực ta với chủ lực cơ động Ngụy ở Bắc Đường 9. Đầu tháng 3/ 1971, bộ đội ta chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận, bao vây, truy kích tập đoàn quân địch ở Bản Đông, tiêu diệt nhiều quân địch.


17. MƯỜI BẢY CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM NĂM 1972

 Ngày 30/3/1972, bộ đội ta bắt đầu mở cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường Trị Thiên, miền Đông Nam bộ, Tây Nguyên, Đồng bằng khu 5 và Nam bộ. Kết quả, ta giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị, phần lớn tỉnh Kon-Tum, bắc Bình Định, một khu vực rộng lớn các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, một số vùng ở đồng bằng sông Cửu Long và khu 5, giải phóng và giành quyền làm chủ hơn 1 triệu dân.


18. ĐÁNH BẠI CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ LOẠI LẦN 2 CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (06/4/1972 - 15/1/1973)

 Ngày 06/4/1972, đế quốc Mỹ huy động lực lượng lớn không quân và hải quân mở cuộc chiến tranh đánh phá trở lại miền Bắc với quy mô lớn, ác liệt hơn lần trước. Ngày 09/5, chúng tiến hành phong tỏa các cảng và các vùng biển miền Bắc, đánh phá các cơ sở kinh tế và quốc phòng của ta.

 Trước tình hình đó, quân và dân miền Bắc đã nhanh chóng chuyển mọi hoạt động vào thời chiến với tinh thần chiến đấu dũng cảm và cách đánh mưu trí tài giỏi. Cay cú trước những thất bại nặng nề, đêm 18/12/1972, đế quốc Mỹ liều lĩnh mở cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn nhất, mang tên "chiến dịch lai-nơ bếch-cơ li" vào miền Bắc. Chúng tập trung một số lượng lớn máy bay, chủ yếu là B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và một số khu vực khác trên miền Bắc.

 Một lần nữa, quân dân miền Bắc anh dũng chiến đấu, trừng trị đích đáng không quân Mỹ, đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của địch ở Hà Nội, Hải Phòng.


9. ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975

Ngày 04/3/1975 bộ đội ta mở chiến dịch Tây Nguyên. Sau một số trận đánh tạo thế và nghi binh chiến dịch, ngày 10 và 11/3, quân ta tiến công bằng sức mạnh binh chủng hợp thành, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột.

 Phát huy thắng lợi, ngày 21/3/1975 ta mở chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng. Từ ngày 21 đến 26/3, ta tiến công chia cắt Huế-Đà Nẵng. Sau bốn ngày chiến đấu, ta giải phóng Thừa Thiên - Huế, tiếp đó giải phóng tỉnh Quảng Ngãi (25/3).

 Từ 27 đến 29, ta phát triển tiến công giải phóng Đà Nẵng. Phối hợp với chiến dịch Huế - Đà Nẵng, từ Tây Nguyên bộ đội ta tiến xuống hỗ trợ lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương giải phóng các tỉnh Bình Định (ngày 01/4) Phú Yên (ngày 01/4) và Khánh Hoà (ngày 03/4).

 Trên cơ sở những thắng lợi có ý nghĩa quyết định, ngày 04/4/1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng hoàn toàn Sài Gòn và miền Nam Việt Nam.

 Ngày 26/4, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công mạnh và đồng loạt vào các mục tiêu, phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch.

 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, cờ Tổ Quốc tung bay trước Tòa nhà chính của Dinh Độc lập. Miền Nam hoàn toàn được giải phóng./.






Môi Trường ST.

PHẢI CHĂNG NGUYỄN HUY VIỆN ĐÃ NHỜN THUỐC?

     Còn nhớ ngày 30.4 năm trước, anh cùng với đám lật sử trong viện sử học cố tình xuyên tạc ý nghĩa chiến thắng của ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và chính luận điệu xuyên tạc ấy đã bị cộng đồng MXH đấu tranh lên án gay gắt và mọi người đều cho rằng anh lú lẫn rồi nên mới đăng bài xuyên tạc lịch sử trên báo Vietnam net. Tưởng chừng anh thấy sai để mà dừng lại không ngờ anh vẫn trượt dài cho dên hôm nay anh đăng bài ủng hộ kẻ vừa lĩnh án về tội tuyên truyền chống phá nhà nước. Đây có lẽ đã là bản chất bởi vì anh đã tự diễn biến, tự chuyển hóa nên suy thoái rồi...








Môi Trường ST.

CHỦ NGHĨA XÉT LẠI VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN XÉT LẠI LỊCH SỬ Ở NƯỚC TA

 Bước vào đầu thế kỷ XXI, Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đẩy mạnh trào lưu xét lại lịch sử thế giới, nhất là họ tập trung tấn công vào Học thuyết Mác - Lê Nin (MLN), xuyên tạc và phủ nhận tính khoa học và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác, cho rằng Chủ nghĩa MLN là lỗi thời, lạc hậu, là ảo tưởng từ những tư tương không tưởng của các nhà Mác xít. Và chính vì không tưởng nên Chủ nghĩa xã hội (CNXH) đã tan rã và không còn hiện thực trên toàn thế giới. Cùng với đó họ đề cao tính ưu việt của Chủ nghĩa tư bản và khẳng định nó là xã hội tiến bộ, tốt đẹp nhất của nhân loại... nhằm che đậy cho những mâu thuẫn nội tại và tính chất phản động của Chủ nghĩa đế quốc.

Song song với việc đó họ quy tội Liên Xô là đồng lõa với Chủ nghĩa Phát xít gây ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, và bỉ ổi nhất là đã cướp công của Liên Xô, khẳng định Mỹ và đồng minh phương Tây mới là những nước quyết định đánh bại Chủ nghĩa Phát xít, cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa diệt vong. Từ đó chĩa mũi nhọn cô lập, bao vây, cấm vận Nga; tiến hành chống phá các nước XHCN một cách quyết liệt nhằm làm suy yếu và phân rã nước Nga và các nước XHCN còn lại. 

Cùng với trào lưu đó trên thế giới, trong nước ta cũng đã dấy lên hiện tượng xét lại lịch sử một cách mạnh mẽ. Một số nhà sử gia đã từ bỏ phương pháp luận Mác xít họ núp dưới các quan điểm: khách quan, toàn thể, đứng giữa các bên, không phụ thuộc vào ý thức hệ... để từ đó cổ súy cho việc xem xét đánh giá lại các sự kiện, giai đoạn lịch sử, bổ sung, bổ khuyết các khoảng trống trong lịch sử...v.v... 

Từ những quan điểm đó họ từng bước thay đổi dần những nhận thức đã được khẳng định trong lịch sử. Gần đây nỗi lên một số vấn đề sau: Trước hết là nhân vật Nguyễn Ánh - Gia Long kẻ "rước voi giày mả Tổ, cõng rắn cắn gà nhà" bằng các cách biện giải họ đã biến nhân vật này thành một ông vua có công với đất nước vì đã đánh bại nhà Tây Sơn, thống nhất quốc gia... Khi được phóng viên hỏi: Nguyễn Ánh có tội hay không khi rước quân Xiêm vào xâm lược nước ta, ký Hiệp ước rước quân Pháp vào giúp đỡ để chống nhà Tây Sơn? Nhà sử học Phan Huy Lê đã trả lời một cách lập lờ ngụy biện rằng: "Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là việc thường xảy ra trong lịch sử" (với cách lập luận đó thì rồi đây họ sẽ nói Trần Ích Tắc cũng không có tội và Lê Chiêu Thống cũng sẽ là người yêu nước, thậm chí Ngô Đình Diệm cũng không phải là kẻ bán nước...). 

Sau Nguyễn Ánh họ dấn tới bước nữa là tôn vinh hai kẻ bán nước là Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký thành những người yêu nước (họ yêu nước theo cách của mình), danh nhân lịch sử và đã được rất nhiều địa phương đặt tên đường, tên trường. Họ phủ nhận thực tế là họ Phan đã đầu hàng giặc sau hai lần cắt 6 tỉnh Nam bộ dâng cho thực dân Pháp. Nhân dân Nam bộ hồi đó khí uất tận trời xanh "Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí dân"; họ xóa đi thực tế là cả cuộc đời từ lúc trưởng thành cho đến khi chết Trương Vĩnh Ký đã một lòng, một dạ làm tay sai và gián điệp cho thực dân Pháp. Oái ăm hơn, tại Hội thảo khoa học về sự kiện 160 năm thực dân Pháp xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng, Tổng thư ký Hội sử học Việt Nam Dương Trung Quốc đã công khai bào chữa cho thực dân Pháp là "Pháp không xâm lược Việt Nam mà chỉ mượn đường qua Việt Nam để đánh nhà Thanh". 

Cùng với những việc đó họ tấn công vào các biểu tượng anh hùng của dân tộc mà mở đầu là việc ông Phan Huy Lê công khai khẳng định anh hùng, liệt sĩ thiếu niên Lê Văn Tám là không có thật. Ông ta đã bịa ra chuyện nhà sử học, Bộ trưởng Trần Huy Liệu khi còn làm Bộ trưởng đã yêu cầu ông sau này có trách nhiệm đính chính câu chuyện Lê Văn Tám là không có thực, chỉ là hình tượng do cụ Trần Huy Liệu sáng tác ra để cổ vũ tinh thần yêu nước, kháng Pháp. Thậm chí khi bị các nhà khoa học, sử học chân chính lên án, vạch ra cái giả dối của ông Phan Huy Lê là khi cụ Trần Huy Liệu làm Bộ trưởng, ông Lê mới 11 tuổi làm sao gặp được cụ và cụ tiên đoán ông Lê sau này thành một nhà sử học để dặn dò như vậy. 

Cùng với những tư liệu, báo chí của ta và của Pháp đã khẳng đinh sự kiện này, ông Lê vẫn tìm mọi cách để phủ nhận anh hùng liệt sĩ Lê Văn Tám. Cùng với đó, họ phủ nhận tinh thần anh hùng của chị Võ Thị Sáu, của anh Tô Vĩnh Diện, của anh Nguyễn Văn Trỗi,... họ xuyên tạc đời tư của Bác Hồ, thậm chí ông Nguyễn Đình Đầu còn dám nói Bác Hồ không ra đi từ bến Cảng nhà Rồng, vì năm 1911 bến cảng này chưa có (trong khi đó Cảng nhà Rồng đã được đưa vào sử dụng từ năm 1864)... 

Gần đây nhất họ hướng và lái báo chí nước nhà khi nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành cuộc chiến tranh Việt Nam, với dụng ý nói đây là cuộc nội chiến mà Mỹ chỉ là một bên tham chiến chứ không phải là kẻ xâm lược. Đặc biệt khi viết sử bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XXI họ đã thay dần và chính thức công khai vào năm 2017 trong buổi họp báo công bố việc tái bản bộ Thông sử 15 tập của Viện Sử học. Ông Trần Đức Cường lúc đó là Viện trưởng Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã nói rõ trong Bộ sử này không dùng cụm từ "ngụy quân, ngụy quyền" khi viết về chế độ tay sai Sài Gòn với mấy lý do sau: để cho khách quan; để tránh miệt thị; để thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc; để có cơ sở pháp lý đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa; sau năm 1954, ở Việt Nam có hai quốc gia song song tồn tại đó là Việt Nam dân chủ cộng hòa với thủ đô Hà Nội ở miền Bắc và Việt Nam cộng hòa với thủ đô Sài Gòn ở miền Nam. Có thể khẳng định tất cả lý do mà họ nêu ra đều là ngụy biện, phi khoa học, bởi vì họ không có bất cứ một tư cách nào để bỏ hai cụm từ này, khi họ chỉ là những người chép lại lịch sử của Dân tộc, lịch sử lúc đó Dân tộc ta đã gọi bọn tay sai bán nước là "ngụy quyền, ngụy quân", bỏ cụm từ này là phản bội lại lịch sử và dùng ý chí chủ quan của lớp hậu bối để thay cho sự thật khách quan, để rửa tội cho bọn tay sai. Ngày nay Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta chỉ có đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc, việc hòa giải hòa hợp dân tộc đã giải quyết ngay từ sau ngày miền Nam giải phóng và thống nhất đất nước. 

Những luận điệu rất sai trái khi họ chia cắt đất nước thành hai quốc gia, họ đã đi ngược lại với Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946 và truyền thống của cả dân tộc được đúc kết trong câu nói bất hủ của Bác Hồ: "Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó vẫn không bao giờ thay đổi". Thực chất là họ có ý đồ biến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành cuộc nội chiến của hai miền Bắc - Nam... 

Trên các lĩnh vực khác cũng xuất hiện những quan điểm xét lại: Phủ nhận quá khứ trong lĩnh vực Văn học, nghệ thuật, Văn hóa, giáo dục...như cho rằng Văn học thời kỳ Cách mạng giải phóng dân tộc chỉ là văn học minh họa, phục vụ cho chính trị, không có giá trị nghệ thuật cao, hay như mới đây có quan điểm phủ nhận truyền thống "Tiên học lễ, hậu học văn" phủ nhận yêu cầu "trồng người" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong câu: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người"... Tất cả những vấn đề trên đặt ra cho chúng ta một yêu cầu cần nhận rõ tác hại của chủ nghĩa xét lại và trào lưu xét lại lịch sử ở nước ta. Mục đích của họ là làm nhiễu loạn lịch sử, gây hoài nghi và đi đến phủ nhận sự thật một số sự kiện lịch sử, rửa tội cho một số nhân vật lịch sử, và làm cơ sở để từng bước đi đến đổi trắng thay đen phủ nhận thành quả của Cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. 

Nếu họ chính danh hóa bộ máy tay sai bán nước, khẳng định Ngụy quyền Sài Gòn là một chính quyền, một quốc gia độc lập thì cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trở thành cuộc nội chiến (cuộc chiến tranh Việt Nam) của hai miền Nam - Bắc và đế quốc Mỹ không phải là kẻ xâm lược và khi đó mọi sự thật lịch sử sẽ bị đảo lộn... Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái này, nhằm bảo vệ sự thật lịch sử oai hùng của dân tộc. Bảo vệ lịch sử cũng là bảo vệ thành quả Cách mạng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay
-----------------
PT-TG. st


MỚI MỌC LÔNG ĐÃ NGHĨ TRÒ PHẢN QUỐC

Chân dung Nguyễn Trung Kiên (Tổng giám đốc Công ty cổ phần giải pháp Truyền hình Thế hệ mới Next Media)  là người trực tiếp chỉ đạo về vụ ngắt tiếng Quốc ca Việt Nam trong trận đấu giữa đội tuyển VIỆT NAM -- LÀO diễn ra vào tối 06.12.2021. Nguyễn Trung Kiên người trực tiếp ký hiệp đồng ăn chia lợi nhuận với YOUTUBE ( YOUTUBE là nền tảng chia sẻ VIDEO trực tuyến của Mỹ , có trụ sở chính tại SanBruno , California).
          
        Hàng triệu đồng bào, chiến sĩ ngã xuống vì độc lập dân tộc, vì lá quốc kỳ tung bay và vì tiếng quốc ca. Thế mà hắn, một người mang dòng máu Việt lại vì tiền và sự ngu dốt, lại đang tâm ngắt lời bài quốc ca giữa trường quốc tế. Vì tiền hắn đã dám đánh đổi một thứ thiêng liêng, linh hồn dân tộc, cao quý mà không thể bất cứ giá nào có thể mua được.
---------------
PT.TG. st


KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (19/12/1946 - 19/12/2021)

 



Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, chính quyền cách mạng về tay Nhân dân, Nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ vận mệnh dân tộc mình. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã tác động, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các thuộc địa, làm cho các thế lực đế quốc và bọn phản động quốc tế hết sức lo sợ. Mỹ công khai ủng hộ, giúp đỡ Pháp quay lại xâm lược Việt Nam và Đông Dương. Đế quốc Anh xuất phát từ quyền lợi thực dân và theo quỹ đạo của Mỹ cũng ra sức ủng hộ ý đồ của thực dân Pháp tái chiếm Đông Dương. Đất nước ta đứng trước muôn vàn khó khăn.

Trong hoàn cảnh ấy, Nhân dân ta phải cầm vũ khí tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ những thành quả cách mạng và ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. 


Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".     

"Hỡi đồng bào! 

Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước".


Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào lúc 20 giờ cùng ngày, bằng những loạt đại bác từ pháo đài Láng bắn vào các mục tiêu của địch trong thành phố, quân và dân Thủ đô Hà Nội chính thức mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với tinh thần "Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh".


ĐỪNG TUYÊN TRUYỀN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LỊCH SỬ , ĐỪNG LỢI DỤNG VÀ ĐƯA TÔN GIÁO CỦA MÌNH THÀNH MỘT LỰC LƯỢNG XA RỜI TÁCH RỜI BẢN SẮC DÂN TỘC DẪN ĐẾN PHẢN BỘI DÂN TỘC .??

 

   Đã từ lâu Người dân đã rất bức xúc bởi những lời rao giảng phi thực tế , phi đạo lý  của những vị Linh mục trong đạo công giáo như : Nguyễn Ngọc Nam Phong , Đặng Hữu Nam , Nguyễn Đình Thục , Nguyễn Duy Tân.... bởi giọng điệu của họ đều nhầm  phủ nhận những  công lao của những người cộng sản , để họ nhằm chính danh , nhằm tôn vinh chế độ ngụy quyền tay sai bán nước VNCH.

   

Thứ Bảy, 18 tháng 12, 2021

NHỮNG THÁNG NGÀY CHẬT VẬT CỦA PUTIN!

      Chứng kiến những ngày thoái trào của Liên Xô và nỗi chật vật của gia đình, Putin dấn thân vào chính trị với mong muốn khôi phục vị thế nước Nga.

"Chúng ta cần thừa nhận hồi kết của Liên Xô là thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ. Riêng với dân tộc Nga, sự kiện là một tấn bi kịch", Tổng thống Nga Vladimir Putin chia sẻ trong thông điệp liên bang năm 2005, đề cập những ngày tháng hỗn loạn của đất nước sau khi Liên Xô tan rã năm 1991.


Giai đoạn mà Putin gọi là "tấn bi kịch" đó diễn ra đầy sóng gió đối với phần lớn người dân nước này, kể cả gia đình ông.


Lyudmila Putina, vợ cũ Putin, năm 2000 từng kể rằng gia đình ông bà "lúc nào cũng phải đếm kỹ từng đồng" trong những năm tháng hậu Xô viết. Trong phim tài liệu "Nước Nga, chương sử mới", được hãng thông tấn RIA Novosti công bố một trích đoạn hôm 12/12, Putin cũng thừa nhận ông lúc đó đã phải đi làm thêm để kiếm tiền đỡ đần gia đình.


"Tôi chạy ôtô, như một tài xế chở khách thuê. Thật lòng mà nói, kể về chuyện này không thoải mái gì, nhưng thật không may nó đúng là như vậy", ông kể.

Theo sử gia Shaun Walker, giai đoạn thoái trào của Liên Xô đã ảnh hưởng rất lớn đến suy nghĩ của Putin, một sĩ quan tình báo mới 37 tuổi. Tháng 12/1989, ông bất lực dõi theo biển người tràn qua trụ sở Stasi, cơ quan phản gián Đông Đức, tại thành phố Dresden và chuẩn bị ập vào văn phòng thường trực của Ủy ban Tình báo Nhà nước Liên Xô (KGB). Trung tá Putin thử mọi cách liên lạc để đề nghị các lực lượng vũ trang tăng viện nhưng không ai đến giúp.

Để bảo vệ mạng lưới điệp viên và kho hồ sơ mật, Putin đã liều mình đối diện đám đông, tuyên bố với họ rằng bên trong văn phòng vẫn còn lực lượng cảnh vệ vũ trang, sẵn sàng bắn hạ những kẻ xâm nhập.

Hành động liều lĩnh của ông đã thành công, Putin bảo vệ được bản thân cùng các đồng nghiệp trong văn phòng KGB. Tuy nhiên, sử gia Walker cho rằng sự kiện đã để lại trong tâm trí Putin cảm giác mất mát to lớn, thôi thúc ông nuôi dưỡng khát vọng khôi phục vị thế cho đất nước trên trường quốc tế.

"Tôi có cảm giác đất nước mà tôi vốn biết đã không còn nữa. Nó đã biến mất", Putin trả lời các nhà báo quốc tế trong một cuộc phỏng vấn năm 2000.

Một năm sau sự kiện ở Dresden, Putin cùng gia đình trở về Leningrad, thành phố sau này được đổi tên thành St. Petersburg. Ông được nhận vào Đại học Leningrad, trở thành trợ lý phụ trách quan hệ quốc tế cho hiệu trưởng Stanislav Petrovich Merkuriev, giữa thời điểm tương lai của KGB còn mơ hồ.

Chia sẻ trong quyển sách "Góc nhìn thứ nhất: Bản tự họa chân thật của Tổng thống Nga Vladimir Putin", ông xác nhận chỉ huy KGB đã ngỏ ý đưa ông đến Moskva khi về nước, nhưng ông đã từ chối cơ hội này.

Putin cho biết ông cảm thấy thời điểm đó "đất nước không có tương lai" và ông không thể chấp nhận "ngồi yên trong hệ thống cũ", trong khi gia đình còn vợ và hai con nhỏ tuổi.

"Tôi rất hạnh phúc khi tìm được việc làm ở Đại học Leningrad. Tôi nhận việc với hy vọng có thể vừa làm vừa viết luận văn tiến sĩ và nếu có cơ hội sẽ tiếp tục ở lại công tác", cổng thông tin Điện Kremlin dẫn lại hồi tưởng của Tổng thống Nga về cột mốc này.

Lyudmila Putina nói hai vợ chồng từng kỳ vọng đất nước đổi mới mạnh mẽ sau "Perestroika", cuộc cải tổ 1986-1989 của Tổng bí thư Mikhail Gorbachev. Thế nhưng khi về nước vào năm 1990, gia đình Putin nhận thấy mọi thứ không có bất kỳ thay đổi nào. Người dân Nga vẫn phải xếp hàng dài nhận nhu yếu phẩm, hệ thống tem phiếu nhiều bất cập tiếp tục tồn tại. Có thời gian, Lyudmila Putina sợ hãi cảnh tượng hỗn loạn ngoài phố đến mức cô không dám ra cửa hàng để săn tìm đồ rẻ về cho gia đình.

Trong giai đoạn công tác ở Đông Đức, Putin và vợ không dành dụm được là bao. Chiêc ôtô ngốn hết phần lớn thu nhập gia đình. Những người hàng xóm ở Dresden đã tặng cho hai vợ chồng cái máy giặt cũ, được mua từ 20 năm trước. Putin cùng vợ gắng mang theo về Nga, dùng thêm 5 năm chứ không dám mua mới.

"Tình hình công việc của chồng tôi cũng biến động. Dù có giai đoạn công tác thành công ở Đức, rõ ràng anh đã thay đổi suy nghĩ về bước tiếp theo cho sự nghiệp. Tôi nghĩ anh ấy có lúc đánh mất cả mục đích sống. Rũ bỏ quá khứ và đi theo con đường chính trị vốn không phải quyết định dễ dàng", người vợ cũ kể lại.

Năm 1991, ở tuổi 39, Putin bước vào chính trường khi đến Tòa thị chính Leningrad làm trợ lý cho Chủ tịch Hội đồng Thành phố Anatoly Sobchak. Ông nhận vị trí mới một phần nhờ bạn học cũ giới thiệu, một phần vì luôn đánh giá cao tài năng của Sobchak khi còn là giảng viên Đại học Leningrad vào thời điểm Putin còn là sinh viên.

Để tránh những mâu thuẫn giữa công việc mới và mối liên hệ với cộng đồng tình báo Nga, Putin nộp đơn từ chức ở KGB không lâu sau đó. Trong chia sẻ năm 2000, Putin tiết lộ lương KGB trả cho ông khi đó cao hơn hẳn mức lương của Tòa thị chính và ông đã mất rất nhiều đêm đắn đo quyết định.

"Sobchak khi đó là chính trị gia mới nổi, nhưng đặt cược tương lai của mình vào mỗi ông là quá rủi ro. Mọi chuyện có thể thay đổi trong tích tắc. Tôi rất lo bị mất việc ở Tòa thị chính. Nếu kịch bản xấu nhất xảy đến, có lẽ tôi đã trở lại trường đại học, hoàn tất luận văn và kiếm tiền bằng công việc làm thêm nào đó chẳng ai biết", ông chia sẻ.

Điều Putin lo sợ cuối cùng đã xảy đến vào năm 1996, khi Anatoly Sobchak tái tranh cử thị trưởng thất bại. Cựu sĩ quan tình báo KGB lúc này đã bước quá sâu vào chính trường để có thể trở về trường đại học làm việc hay liên lạc với các đồng nghiệp cũ.

Ông đã có lúc lo sợ cuộc sống của cả gia đình bị đẩy vào tình thế khó khăn. Nhưng may mắn lại một lần nữa mỉm cười với Putin khi ông được đề nghị một vị trí ở Moskva, xử lý các vấn đề pháp lý tại Văn phòng Tổng thống Boris Yeltsin.

"Tôi thậm chí từng nghĩ, 'Bây giờ mình biết làm gì đây, hay là lái xe thuê'. Tôi không đùa đâu, thời điểm đó cũng chẳng có công việc gì khác mà kén chọn. Tôi lại còn hai đứa nhóc. Vậy nên khi vừa được gọi đến Moskva, tôi lập tức đồng ý và lên đường", Tổng thống Nga hồi tưởng trong một phóng sự được thực hiện năm 2018.

Với khả năng của mình, Putin nhanh chóng thăng tiến ở Moskva trong những năm cuối thập niên 1990. Ông trở thành Phó chánh văn phòng Tổng thống vào tháng 3/1997. Một năm sau, Putin được thăng chức Phó chánh văn phòng Thứ nhất Văn phòng Tổng thống Nga và đến tháng 7/1998 trở thành Giám đốc Cơ quan Tình báo Liên bang.

Từ tháng 3/1999, ông giữ thêm chức Bộ trưởng Hội đồng An ninh Liên bang Nga và 5 tháng sau được Yeltsin chỉ định làm Thủ tướng chính phủ. Khoảng ba tuần trước giao thừa năm 2000, Tổng thống Yeltsin gặp riêng Putin, tiết lộ ý định từ chức và đề nghị ông làm quyền tổng thống.

"Định mệnh đã cho tôi cơ hội được cống hiến cho đất nước ở cấp độ cao nhất. Sẽ thật ngớ ngẩn nếu tôi từ chối, chọn đi bán hạt hướng dương khắp đất nước hay trở thành luật sư tư nhân. Những công việc đó tôi có muốn làm thì làm sau cũng được", Putin kể lại trong bài đăng trên trang Kremlin.ru.

Vào ngày 31/12/1999, Vladimir Putin trở thành Tổng thống tạm quyền của Liên bang Nga, bắt đầu hơn hai thập niên lèo lái nước Nga trở lại vị thế mà ông ao ước từ những năm tháng hỗn loạn cuối thế kỷ 20./.


Yêu nước ST.