Thứ Bảy, 15 tháng 1, 2022

VUA QUANG TRUNG CHƯA BAO GIỜ ĐÒI LƯỠNG QUẢNG, THỨ MÀ VUA QUANG TRUNG MUỐN LẤY LẠI LÀ GÌ?

        Thái độ của các triều đại Lê-Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn về việc đòi 7 châu Hưng Hóa.

Khi các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài nổ ra (1739), chúa Trịnh phải lo đối phó và không kiểm soát nổi toàn bộ biên giới, đất đai phủ An Tây (Hưng Hoá) giáp Vân Nam cũng bị nhà Thanh dưới thời Càn Long lấn chiếm. Nguyên phủ An Tây có 10 châu: Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Lai châu, Ninh Biên, Quảng Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phi, Lễ Truyền, Khiêm châu và Tuy Phụ. Sau Hoàng Công Chất nổi dậy đã chiếm giữ vùng Hưng Hoá phía Tây Bắc. Năm 1769, Công Chất chết, con là Hoàng Công Toản bị dẹp, chạy sang Vân Nam. Nhà Thanh nhân lúc đó lấn chiếm 6 châu: Quảng Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phi, Lễ Truyền, Khiêm Châu và Tuy Phụ. Những vùng đất chiếm được ở Tây Bắc nhà Thanh sát nhập vào các huyện Mông Tự, Châu Kiến Thủy, Lâm An… thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

Vào năm Tân Sửu (1761), tức năm Cảnh Hưng thứ 42, chúa Trịnh Sâm đã dâng biểu lên Càn Long xét lại vấn đề sáu châu ở vùng Hưng Hóa (Tây Bắc). Nhà Thanh không xét, mà họ Trịnh phải im đó là vì họ không có lực lượng làm hậu thuẫn. Đến khi chúa Trịnh Sâm chết (1782) việc này không thực hiện được. Sáu châu thuộc Hưng Hoá của Đại Việt cho đến khi kết thúc nhà Lê (1786) vẫn không đòi lại được.


Năm Quang Trung thứ 4, triều Tây Sơn gửi thư sang vua Thanh nhờ tổng đốc Lưỡng Quảng chuyển đạt để đòi lại đất cũ:

Tờ biểu của Quang Trung viết: “ … Ở đất Hưng Hóa và Tuyên Quang, biên giới trước kia, tiền nhiệm Vân Quý Tổng đốc Ngạc Nhĩ Thái đã vâng chỉ dựng bia từ sông Đổ chú trở về phía Tây đến nước Sa Lý thì các châu Tung Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì, Lai Châu, Khiêm Châu bảy châu đều thuộc vào đất Hưng Hóa của bản quốc.

Đến năm Canh Thân (1740) tiền nhiệm nhà Lê, Hoàng Công Thư cha của nghịch thần Hoàng Công Toản dấy binh, giữ đất ấy đến 30 năm. Tiền nhiệm nhà Lê cẩu thả không thể lo liệu được, dân 7 châu ấy vì địa thế xa, bản quốc khó khống chế bèn phụ vào nội địa (Ý chỉ nhà Thanh). Từ đó trở đi ở duyên biên của nội địa, các quan buộc dân ở nơi biên giới đổi cách mặc áo quần đeo thẻ, chịu thuế.

Thần từ ngày vâng mệnh mở nước, còn lo về chỗ ở, bộn bề việc nội trị, chưa kịp biện lý đến sự tình ủy khúc ngoài biên. Nay trấn mục bản quốc báo cáo rằng, thổ dân bảy châu ấy trải qua thời gian đã lâu, chịu nội địa đánh thuế, nên khi bản quốc đòi thuế thì nhất quyết chống lại và ngăn trở. Nguyên do việc này cũng là do tiền nhiệm họ Lê không biết kính giữ đất được phong cho nên mới thế…”.

Lần đòi đất này vô hiệu, Phúc Khang An bác bỏ và Càn Long cũng gửi thư trách nhẹ. Sở Cuồng trong bài “Tây Sơn sử luận” nhận xét về việc này: Tiếc rằng trời không giúp nước ta, để đến nỗi vua (Quang Trung) sáng nghiệp chỉ được nửa chừng, nửa chừng mất đi, từ đó về sau không ai dám lại đi đòi ở Thanh đình, thành thử dân sáu châu ba động (thực ra thì trong tờ biểu của Nguyễn Huệ là 7 châu, gồm cả Châu Lai-vốn cuối triều Lê chịu đóng thuế cho cả 2 nước) vĩnh viễn chìm đắm vào tai họa - Hán Văn tạp chí Nam phong số 93-03/1925.

Vào đầu thời Gia Long, châu trưởng Châu Lai và châu Văn Bàn là Đèo Chính Ngọc, Đèo Quốc Oai xin quan Trấn cấp phép cho để đi chiêu dụ các động các mường và dân chúng những châu Tung Lăng, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì trước kia đã xin nội thuộc về nhà Thanh, tham hiệp trấn Hưng Hóa là Võ Vuân Cẩn cho phép, bấy giờ động trưởng các động mường Tề, mường Phù, mường Phang, mường Tôn, mường Y, mường Ôm, Binh Chiêm kéo nhau theo về.

Tổng đốc Vân Quý đưa thư sang trách mắng và đòi lại, nói rằng các đất này từ năm Khang Hi đã liệt vào bản đồ nhà Thanh, hơn trăm năm yên ổn vô sự, nay trấn mục Hưng Hóa dụ dỗ về hàng thật quái lạ, không được tự ý gây sự như thế.

Các quan Bắc thành dâng thư trách về kinh, Gia Long truyền tra xét rõ địa giới tỉnh Hưng Hóa. Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành xét hình thế sông núi, vẽ bản đồ dâng lên và tâu rằng:

“Một dải thượng du Hưng Hóa, địa thế tiếp liền với các phủ Lâm An, Khai Hóa tỉnh Vân Nam … Khoảng niên hiệu Bảo Thái triều Lê, vua Thanh sai Tổng đốc Vân Quý Ngạc Nhĩ Thái hội đồng dựng bia, lấy sông Đổ Chú thuộc nước ta làm địa giới. Từ song Đổ Chú trở về phía Tây, gồm 7 châu: Tung Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì, Lai Châu, Khiêm Châu đều thuộc về Hưng Hóa. Năm Vĩnh Hựu triều Lê, nghịch dân Hoàng Công Thư đem quân chiếm giữ gần 30 năm, nhà Lê bỏ bê không hỏi đến, dân bảy châu dần dà phụ vào Trung Quốc, các biên lại cai trị bắt cải trang (đổi trang phục), đóng thuế. Từ thời Lê đến Tây Sơn đều muốn tâu bày, đều không được.

Như thế thì trong mười châu thuộc phủ An Tây, sáu châu mất vào tay nhà Thanh đến nay đã lâu rồi. Nay châu Chiêu Tấn và châu Lai vốn là đất thuộc Hưng Hóa, mà nhà Thanh lại đem dân các mường động của hai châu, biên lẫn vào các mãnh của họ, chẳng qua là biên lại của họ tham đất, muốn chiếm cứ mà tổng đốc Vân Quý nhất định nghe theo, thư đưa ra đều là mờ mịt không có bằng cứ, nay xin phúc thư biện bạch cho rõ về bờ cõi hai châu, yêu cầu sai quan đến cùng họp nhau bàn xét, để xem ý họ, còn chuyện bờ cõi sáu châu, thì tổng đốc Vân Nam sẽ sợ ta gây việc ngoài biên giới tất phải lo liệu, mà dân chúng hai châu từ đây cũng khỏi đóng thuế hai lần”.

Nguyễn Văn Thành tâu bày sự tình bảy châu và cũng mong thu phục về hoặc ít nhất bảo toàn 2 châu là châu Lai và Chiêu Tấn, nhưng sớ dâng vào, vua (Gia Long) cho rằng đây chỉ mới lúc sáng nghiệp chưa có thì giờ tính tới việc nơi xa, nên cũng không phúc đáp trả lời. Từ đó sáu châu Hưng Hóa mất hẳn, phủ An Tây chỉ còn có bốn châu Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Luân Châu và Lai châu mà thôi

Nguồn: Tập san sử địa số 21 (1971) - Tr 101-106.


Như vậy là, về việc đất 6 châu (theo Tây Sơn tâu bày là 7 châu) ở Hưng Hóa bị nhà Thanh lấn chiếm, từ triều Lê-Trịnh và Tây Sơn đều có các động thái đòi đất, bảo vệ chủ quyền đất nước, dù không thành công bởi các nguyên nhân khách quan. Đến thời Nguyễn, các quan lại và tù trưởng ở Bắc Thành cũng có hoạt động tương tự về vấn đề biên giới, đề nghị triều đình có động thái đòi lại khu vực này hay ít nhất là bảo vệ trước các động thái lấn đất. Nhưng Gia Long đại đế tỏ rõ mình là bậc minh quân sáng suốt rộng lượng, ngay đất Trấn Ninh còn không tính đến tiết nhỏ đem phong cho Ai Lao để thưởng công lao giúp đánh giặc Tây Sơn hồi trước, so với đại ân đại đức của thiên triều ban cho tên nước thì bỏ 6 châu biên giới ấy hưởng ân đức thiên triều cũng đâu đáng là bao.

Vì nhà Nguyễn ko thể đòi lại đc các châu này nên sử nhà Nguyễn sau này bóp méo việc Quang Trung đòi châu Hưng Hóa thành Quang Trung đòi Lưỡng Quảng./.

Yêu nước ST.

ĐẦU THÁNG 4 NĂM 1975 CHI NHÁNH CIA TẠI SÀI GÒN ĐÃ CAY ĐẮNG NHẬN ĐỊNH: CHẾ ĐỘ SÀI GÒN SẼ SỤP ĐỔ KHÔNG THỂ CỨU VÃN!

        Việc QLVNCH để mất toàn bộ Quân khu I chỉ trong vòng 25 ngày (5/3/1975 đến 30/3/1975) đã làm cho VNCH mất đứt 50% lãnh thổ, làm rung động cả Washington và Sài Gòn và là màn mở đầu cho giai đoạn cuối cùng của VNCH.

Chi nhánh CIA tại Sài Gòn nhận định trong báo cáo gửi về Washington ngày 31/3:

"Căn cứ vào sự thiệt hại mới đây về thiết bị và sự uy hiếp thường xuyên của quân Bắc Việt Nam trên khắp các mặt trận thì quân chính phủ trong thời gian trước mắt, không thể nào phục hồi lại được.

Thật vậy, những gì gây ra cuộc khủng hoảng này không hề thay đổi dù ở Sài Gòn, Hà Nội hay Washington. Chiến tranh Việt Nam đã hoàn toàn đảo ngược trong mấy tuần lễ. Một thảm họa quân sự là chắc chắn".

Trong các ngày 2 và 3/4, Giám đốc CIA William Colby đã viết hai báo cáo gửi cho Washington với các đánh giá:

"Cán cân lực lượng ở Nam Việt Nam nghiêng rõ về phía cộng sản. Bạc nhược, thất bại chủ nghĩa đã hoành hành trong quân đội của Thiệu" và "Chúng tôi nghĩ rằng trong mấy tháng nữa, nếu không là mấy tuần nữa, Sài Gòn sẽ sụp đổ về mặt quân sự hay là một chính phủ mới sẽ được thành lập, chính phủ này sẽ chấp nhận giải pháp theo điều kiện của cộng sản"./.

Ảnh: Quân đội VNCH ôm bắt trẻ em mồ côi đào chiến lũy tại Biên Hoà để cản bước tiến xe tăng QGP, ngày 1/4/1975.

Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, HẠ THẤP UY TÍN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Lợi dụng vụ việc Công ty Việt Á nâng giá bộ kít xét nghiệm để thu lợi bất chính trong bối cảnh đại dịch Covid – 19 đã và đang tác động không nhỏ tới đời sống mọi mặt của nhân dân ta trong gần 02 năm qua, các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá hòng bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng ta.

Trên các trang mạng xã hội, hàng loạt các bài viết, videoclip được chúng dàn dựng và đăng tải với các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, quy chụp, đổ mọi tội lỗi lên Đảng, quy kết tất cả là do Đảng Cộng sản Việt Nam kém tài, vô dụng, kiểu như “Bóng dáng của Đảng từ trên xuống dưới ít nhiều đều dính đến Việt Á”, hay “Nhờ vào thế lực nào mà Việt Á tự tin để hối lộ bằng chuyển khoản?”. Thậm chí, chúng còn đưa ra các nhận định sặc mùi “thuyết âm mưu” như “Có phải cựu Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh đạo diễn vụ bộ xét nghiệm Việt Á?”, “Chu Ngọc Anh đứng sau sau vụ bộ xét nghiệm Việt Á?”, hoặc là võ đoán, nói bừa “Sau vụ Việt Á, tình trạng quan chức kéo nhau đi tù đông như trẩy hội”, rồi thì “Trong số những người này, bao nhiêu người là đảng viên?”, hoặc là “Sau lưng những kẻ phạm tội bị bắt và chưa bị bắt đều có bóng dáng của Đảng ta”!

Vậy thì, Đảng là gì? Đảng là tổ chức chính trị của một giai cấp, gồm những người tiêu biểu nhất, có ý thức sâu sắc nhất về quyền lợi giai cấp và đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp đó. Điều lệ Đảng khóa XI đã nêu “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”. Vì là một tổ chức bao gồm rất nhiều thành viên như vậy nên không thể tránh khỏi trong Đảng ta sẽ có một số đảng viên thoái hóa biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng. Trên một bàn tay còn có ngón ngắn ngón dài, trong một gia đình còn có người thế này, người thế kia, huống hồ gì trong một tổ chức hơn 5,4 triệu đảng viên như Đảng Cộng sản Việt Nam. Vụ Việt Á hay tất cả những vụ án khác có đảng viên của Đảng trực tiếp hay gián tiếp liên quan thì đó cũng chỉ là thiểu số rất nhỏ, là những “con sâu làm rầu nồi canh” chứ không phải là toàn thể đảng viên, càng không thể là Đảng ta. Vì vậy, không thể đánh đồng khái niệm giữa thiểu số với toàn bộ, giữa hiện tượng với bản chất như bọn phản động chúng đã và đang làm. Luận điệu đó có lẽ chỉ có những kẻ cùng hội cùng thuyền với chúng tung hô, cổ vũ mà thôi!

Trong thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa như ngày nay, dưới tác động của mặt trái cơ chế thị trường, việc đảng viên của Đảng vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật nhà nước để làm những việc trái với luân thường đạo lý cũng là lẽ thường tình, tất nhiên. Khi phần “con” lấn át phần “người”, khi đồng tiền làm mờ con mắt, làm tê liệt lý trí thì những đảng viên đã thoái hóa biến chất vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật nhà nước là chuyện đã được Đảng ta dự báo từ trước song không thể tránh được. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức…Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Bác cũng chỉ rõ “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”, vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng là công việc quan trọng, thường xuyên của Đảng, Đảng ta không một phút giây nào lơ là, buông lỏng. Các tác phẩm “Tự chỉ trích” của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ những năm trước Cách mạng tháng Tám, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” năm 1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Những việc cần làm ngay” của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh giai đoạn 1987 – 1990 đến quan điểm “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật” thời kỳ đầu đổi mới của Đảng ta; rồi thì Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng do Hội nghị Trung ương 6 lần 2 khóa VIII đề ra tới Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII đã chứng minh cho điều đó. Đảng ta không cho phép bất cứ đảng viên nào – từ Tổng Bí thư tới đảng viên thường - được phép đứng ngoài, đứng trên Điều lệ Đảng để vi phạm pháp luật nhà nước. Quy định 47, 37 về những điều đảng viên không được làm được coi như “lằn ranh đỏ” đối với toàn thể đảng viên của Đảng, nếu vượt qua lằn ranh đó để vi phạm pháp luật nhà nước thì không còn là đảng viên của Đảng, đều vị xử lý, thậm chí xử lý hình sự tùy theo mức độ nặng nhẹ. Những năm qua, Đảng ta đã rất quyết liệt xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm theo phương châm, quan điểm “không có ngoại lệ”, “không có vùng cấm”. Do đó, nói Đảng ta chống lưng, bao che, dung túng cho đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật nhà nước, rêu rao “Sau lưng những kẻ phạm tội bị bắt và chưa bị bắt đều có bóng dáng của Đảng ta” là cách nói bịa đặt, vu khống, quy chụp trỡ trẽn và trắng trợn!

Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam bất tài, vô dụng như chúng đã và đang rêu rao thì thử hỏi, đất nước Việt Nam chúng ta có được cơ đồ, vị thế, uy tín quốc tế như hiện nay không? Nếu bọn chúng thực sự là những kẻ có tài cán, đủ sức gánh vác thay trọng trách của Đảng Cộng sản Việt Nam thì hà cớ gì chúng phải tha hương cầu thực, ăn chực nằm chờ, ăn bám quan thầy của mình gần nửa thế kỷ qua? 

Dân tộc Việt Nam vốn nổi tiếng thông minh, vì vậy, nhân dân ta đủ nhận thức, đủ tỉnh táo để đánh giá đúng công lao của Đảng và phân biệt được đâu là luận điệu xuyên tạc, chống phá. Theo đóm ăn tàn, té nước theo mưa, mượn gió bẻ măng là bản chất của các thế lực thù địch, phản động, là hành động bỉ ổi đến mức trơ trẽn của bọn chúng mà thôi./.

LÝ DO TRUNG QUỐC KHÔNG DÁM ĐƯA QUÂN SANG CAMPUCHIA GIÚP KHMER ĐỎ CHỐNG LẠI VIỆT NAM!

           Ngày 4-11-1978, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng sang thăm Campuchia. Đón tiếp và hội đàm với Uông Đông Hưng, Chính phủ Campuchia Dân chủ (Khmer Đỏ) đã đề nghị Trung Quốc đưa quân đội tới giúp đỡ nước này chống lại Việt Nam. Trước đề nghị đó, Cảnh Tiêu cho biết Chính ủy Hải quân Tô Chấn Hoa gợi ý “nên phái một phân đội của hạm đội Đông Hải tới Campuchia để giúp họ bảo vệ vùng biển của họ hoặc phái một hạm đội đến đó chỉ để viếng thăm”, còn Tư lệnh Quân Khu Quảng Châu Hứa Thế Hữu đề nghị “đưa quân tới Quảng Tây để thử phát động một cuộc tấn công Việt Nam”. 

Tuy nhiên, sau khi cân nhắc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã bác bỏ cả hai gợi ý nói trên và không một người lính nào được đưa đến Campuchia. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, Phó Thủ tướng Cảnh Tiêu lý giải 4 lý do của quyết định đó như sau:

1. Nước ta là một nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta chưa bao giờ đưa quân đội, máy bay, hay tàu chiến tới một nước nào khác và cũng chống lại việc những nước khác làm như thế. Tuy ngày nay chúng ta đồng ý để Mỹ duy trì một lực lượng quân sự nào đó trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, điều đó chỉ có nghĩa rằng chúng ta thông cảm với việc quân đội Mỹ ở lại Nhật Bản, Philippin cùng những nơi khác, nhưng không có nghĩa là chúng ta ủng hộ các nước đóng quân hay xây dựng căn cứ quân sự trên lãnh thổ nước khác. Chúng ta không bao giờ có thể quên bản chất của đế quốc Mỹ và chủ nghĩa bá quyền của Mỹ chỉ vì chúng ta đã bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Chúng ta khác Mỹ rất nhiều. Nếu chúng ta đưa quân sang Campuchia, chúng ta sẽ vi phạm nguyên tắc đó và hơn nữa sẽ tạo ra một ấn tượng không tốt trước các nước Đông Nam Á cũng như trước các nước khác trên thế giới. Chúng ta không chỉ không xây dựng được mặt trận thống nhất chống bá quyền bằng cách đoàn kết với các nước trong thế giới thứ ba, mà còn sẽ trở thành một nước bá quyền mới. Một sai lầm lớn như thế thật khó mà sửa chữa được.

2. Ngày nay phần lớn các nước trên thế giới, bất kể họ có thích chế độ Polpot hay không, vẫn công nhận Campuchia dân chủ và ủng hộ lập trường đúng đắn của Trung Quốc bằng cách lên án Việt Nam là xâm lược. Bởi vì họ nhìn thấy rõ ràng chỉ có quân Việt Nam ở Campuchia mà thôi. Nếu binh sĩ của chúng ta cũng có mặt ở đó, tình thế sẽ khác đi. Ít nhất đồng chí Trần Sở cũng sẽ không thể phát biểu một cách hoàn toàn tự tin ở Liên Hợp Quốc; đồng thời, có thể chúng ta sẽ phải ra trước toà án và bị chất vấn. Đánh mất uy tín trong một tổ chức quốc tế thì tất nhiên là không tốt, nhưng nghiêm trọng hơn cả là Việt Nam cùng bọn bù nhìn của họ có thể nắm lấy cơ hội phát động phản công, đảo ngược cuộc chiến tranh xâm lược ban đầu bằng cách tố cáo chúng ta can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Đến lúc đó Trung Quốc sẽ không dễ dàng ủng hộ Campuchia một cách mạnh mẽ. Nhưng nếu tình hình hiện nay không thay đổi, thì toàn bộ sự ủng hộ của chúng ta cho Campuchia là chi viện một cuộc đấu tranh chính nghĩa chống sự xâm lược của nước ngoài. Rõ ràng là chúng ta đúng.

3. Do điều kiện địa lý, bối cảnh chính trị, kinh tế và tư tưởng của Đông Dương và nhiều yếu tố phức tạp khác, nên nếu Trung Quốc đưa quân vào Campuchia sẽ không thể nào dùng chiến tranh chớp nhoáng theo kiểu Hít-le để giải quyết toàn bộ vấn đề trong vòng vài ba tháng được. Người Mỹ đã có kinh nghiệm cay đắng trong vấn đề này và có lẽ đã hiểu rõ điều đó. Chiến đấu ở Đông Dương quả thật là một nhiệm vụ không đơn giản. Quân Việt Nam đã tiến vào một bãi lầy như thế, nhất định họ sẽ sa lầy, nếu chúng ta đưa quân đội tới đó, chúng ta cũng sẽ sa lầy và khó nói trước kết cục. Hiện nay, chúng ta chưa đủ mạnh để tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao như thế, trừ khi từ bỏ bốn hiện đại hoá hay đã sẵn có những điều kiện kinh tế và sức sản xuất như Hoa Kỳ, Nhật Bản. Không đem quân tới Campuchia có lợi cho chúng ta về mọi mặt; đồng thời, điều đó cũng là một dịp rèn luyện cho Đảng cộng sản Campuchia. Với sự ủng hộ mạnh mẽ của chúng ta, với việc người Campuchia quyết tâm, tin tưởng, dám đấu tranh cũng như biết cách đấu tranh, Liên Xô và Việt Nam sẽ không gặp may. 

4. Nếu các đồng chí nghĩ rằng Việt Nam dám xâm lược Campuchia vì họ biết rằng chúng ta sẽ không đem quân chi viện Campuchia thì các đồng chí không hoàn toàn đúng. Thật ra, Liên Xô mong muốn chúng ta đem quân tới Campuchia. Đối với Việt Nam, Việt Nam muốn sự tàn phá diễn ra ở Campuchia chứ không phải ở Việt Nam. Đối với Liên Xô, hễ Trung Quốc tham gia chiến tranh là họ sẽ nhanh chóng tạo ra những luồng dư luận thế giới tố cáo chúng ta; đồng thời, công khai chi viện Việt Nam chiến đấu đến cùng. Việt Nam cũng nghĩ rằng một khi chúng ta dính líu vào Campuchia, họ có thể tự do tiến hành chiến tranh ở cả hai phía, còn ở trong nước, họ có thêm cớ để động viên nhiều lực lượng hơn nữa cho cuộc chiến tranh này. Việt Nam và Liên xô đã lập ra một kế hoạch với mục tiêu trước mắt là gây trở ngại cho việc thực hiện chương trình hiện đại hoá của chúng ta. Họ cũng có một kế hoạch dài hạn là nếu quân đội Trung Quốc xung đột trực tiếp với Việt Nam và gây ra chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam, thì theo Hiệp ước đã ký giữa Liên Xô và Việt Nam, Liên Xô sẽ có lý do để đem quân tới biên giới phía Bắc nước ta, cùng với quân Việt Nam tấn công chúng ta cả hai phía. Lúc đó các nước Mỹ, các nước Tây Âu và Nhật Bản sẽ nói Việt Nam hay là chúng ta đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược Campuchia. Campuchia chỉ là một nước nhỏ, có diện tích bằng Bắc Kinh và số dân không bằng Bắc Kinh, song những gì diễn ra ở nước này có liên quan tới rất nhiều vấn đề quốc tế. Một chuyển biến nhỏ trong một bộ phận có thể ảnh hưởng tới tình hình toàn cục./.

Ảnh hàng trước từ trái sang phải: Koy Thuon (Bí thư khu Tây Bắc), Vương Thương (Phó TTM trưởng quân đội TQ), Ieng Sary (Phó thủ tướng), Trương Xuân Kiều (Phó thủ tướng Quốc vụ viện TQ), Polpot (Tổng bí thư Đảng CS KR), Cảnh Tiêu (Ủy ban thường trực của ủy ban tư vấn cao cấp của CPC), Son Sen (Ủy ban Trung Ương DCS), Tôn Hạo (Đại sứ TQ tại KR), (không rõ danh tính), Siet Chhe (Bí thư khu Tây).

Yêu nước ST.

VĂN HOÁ LÀ NỀN TẢNG TINH THẦN XÃ HỘI

 Chẳng phải ngẫu nhiên mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại dành thời gian đọc thơ Nguyễn Bính trong phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đó thực sự là thông điệp để mỗi cán bộ, đảng viên suy ngẫm, nhìn lại chính mình trong hoạt động thực tiễn.


Nhìn vào thực tiễn cuộc sống những năm qua, nhất là trước những tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, điều khiến không ít người lo lắng chính là tình trạng suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, không chỉ ở cấp cơ sở, mà nó còn hiện hữu trong một bộ phận cán bộ cấp cao. Số lượng cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, bị xử lý là điều rất đáng báo động trong công tác quản lý, rèn luyện cán bộ, đảng viên của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp. Sự nguy hại của tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự lành mạnh của đời sống xã hội; tác động tiêu cực đến lối sống, nếp nghĩ của giới trẻ trong xã hội.


Bởi vậy, đã có không ít lần các nhà nghiên cứu, các nhà xã hội học cảnh báo: Mở cửa và hội nhập quốc tế tạo ra những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy kinh tế phát triển, nhưng vấn đề đạo đức xã hội đang đặt ra những điều hết sức đáng lo ngại. Vì vậy, nếu không sớm có những giải pháp ngăn chặn quyết liệt, hiệu quả sẽ rất nguy hại đến sự tồn vong của đất nước, của chế độ. Bởi con người, theo bản năng tự nhiên sự hưởng thụ bao giờ cũng dễ tiếp nhận hơn so với sự nỗ lực cần phải phấn đấu để vượt qua.


Nhận thấy rõ sự nguy hại ấy đối với đời sống xã hội, đối với sự tồn vong của chế độ, Đảng ta liên tiếp ban hành rất nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định nhằm từng bước hạn chế, ngăn chặn những hiện tượng đánh mất đi phẩm giá, cũng như những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai kết luận và quy định của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thẳng thắn chỉ rõ: “... không ít cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, làm việc ở những ngành, lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực vẫn thiếu tu dưỡng và rèn luyện, vẫn sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bị xử lý kỷ luật của Đảng và xử lý hình sự...”.


Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam đã minh chứng, trước sự xâm lăng của giặc ngoại bang, trước những biến cố của dịch bệnh, thiên tai, dân tộc ta đều biết cách vượt qua mà phần lớn chính là nhờ vào việc phát huy cao nhất giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.


Đó là giá trị “thương người như thể thương thân”; đó là lòng yêu nước nồng nàn; đó là tinh thần lao động cần cù, sáng tạo; đó là sự thủy chung, trong sáng... Giá trị truyền thống ấy đối với những người cộng sản còn là đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng bày tỏ: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người cũng dạy: “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh... Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”.


Sự nguy hại của việc đánh mất những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc không chỉ tác động trực tiếp đến những hành vi trong đời sống xã hội, mà nguy hại hơn nó từng bước gặm nhấm, hủy hoại vai trò lãnh đạo của Đảng, phụ bạc lại những cống hiến, hy sinh quên mình của lớp lớp thế hệ người Việt Nam để giành lại độc lập, tự do của dân tộc, sự thống nhất Tổ quốc.


Nét “chân quê” đâu rồi? một câu hỏi thật giản dị nhưng để tìm được câu trả lời thích đáng là điều không dễ. Bởi để có được câu trả lời đòi hỏi sự phấn đấu, nỗ lực rất lớn của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên. Đó còn là sự đòi hỏi lòng danh dự, tự trọng; sự cống hiến, hy sinh hết mình của mỗi cán bộ, đảng viên cho mục tiêu cao cả nhất: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trả lời được cho câu hỏi nêu trên nhanh hay chậm, dễ hay khó hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức, thái độ, tình cảm và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác của mình.


Giữ lại nét “chân quê” không phải là cố giữ sự bảo thủ, lạc hậu, trì trệ, không dám đổi mới, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Thời buổi chúng ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, thì việc tận dụng những tiến bộ của nhân loại để thúc đẩy xã hội và đất nước phát triển là rất cần thiết, nhưng phải dựa trên những giá trị văn hóa truyền thống cốt lõi của dân tộc. Suy cho rộng hơn, sâu sắc hơn là tiến hành sự nghiệp đổi mới nhưng kiên quyết không làm đổi màu; hòa nhập nhưng dứt khoát không hòa tan. Hội nhập quốc tế là tìm kiếm cơ hội để thúc đẩy đất nước phát triển, mang lại hạnh phúc thực sự cho nhân dân, mà dứt khoát không biến mình trở thành công cụ cho người khác.


Dân tộc ta đã trải qua hàng nghìn năm sống dưới sự đô hộ, chèn ép, bóc lột của chế độ phong kiến và thực dân. Cái giá của sự mất tự do, độc lập dân tộc hẳn không ai không hiểu, nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đề cập đến vấn đề này, bởi đâu đó đã xuất hiện tình trạng, mới học được vài chữ, vài câu ở nước ngoài là về áp dụng nguyên xi vào công việc mà không thấy được những yếu tố nội tại bên trong là chưa phù hợp. Bởi vậy, với cách áp dụng máy móc, cho rằng như thế mới là hội nhập, mới là hiện đại không những không đem lại bất kỳ một chút hiệu quả nào, mà còn gây hại đến nhiều mặt của đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực xây dựng thể chế, ban hành các chủ trương, chính sách...


Dân tộc ta đã kinh qua những giai đoạn lịch sử khó khăn nhất, trở thành hình mẫu trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thành quả đó minh chứng tinh thần đoàn kết, phát huy cao nhất giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, trước sự biến đổi mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, cùng với những âm mưu hết sức thâm độc của các thế lực thù địch hằng ngày, hằng giờ chống phá cách mạng nước ta thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì nếu cứ say sưa trên vòng nguyệt quế, chủ quan, lơ là mất cảnh giác, chúng ta sẽ phải trả cái giá rất đắt. Bởi vậy, để lường trước những điều xấu nhất, cần sự tỉnh táo, trách nhiệm của mọi người dân mà trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nét “chân quê” đâu rồi? Một thông điệp rất nhiều ý nghĩa khi mà cuộc sống của mỗi người, của từng cán bộ, đảng viên chịu không ít những tác động của đời sống xã hội./.

THẤY ĐÚNG PHẢI BẢO VỆ, THẤY SAI PHẢI ĐẤU TRANH!

        Hiện tượng đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh đã và đang diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và được Đảng ta xác định là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị. Để khắc phục tình trạng này, mới đây Ban Chấp hành Trung ương đã bổ sung nội dung này vào Quy định 37 về những điều đảng viên không được làm.

Chúng ta đều biết, cái đúng, cái tốt luôn là chất liệu làm nên giá trị tốt đẹp của cuộc sống mà con người hướng tới. Trong cuộc sống hàng ngày. Cái đúng được bảo vệ, phát huy; cái sai được đấu tranh, ngăn chặn thì cuộc sống mới bình yên, hạnh phúc, xã hội mới phát triển phồn vinh.

Tuy nhiên trong thực tế công tác xây dựng Đảng thời gian vừa qua, có không ít đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, không dám đấu tranh với những cái sai, ủng hộ cái đúng. Những biểu hiện trên đã làm suy giảm sức chiến đấu của tổ chức Đảng. Do vậy, việc Đảng ta quy định rõ việc đảng viên không thực hiện trách nhiệm nêu gương, chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu xa rời quần chúng trong những điều đảng viên không được làm là hết sức cần thiết.

Việc bổ sung nội dung “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh” trong Quy định 37 là sự cụ thể hóa nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Vấn đề là làm sao nhận diện đúng và tập trung khắc phục trên cơ sở xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có các hành vi sai phạm, tiêu cực để tạo ra niềm tin, khí thế đấu tranh, từ đó đẩy lùi sự thờ ơ, vô cảm.

Thấy đúng không bảo vệ, dẫn tới phủ định cái đúng, việc làm đúng trong thực tiễn; thấy sai không đấu tranh là dung dưỡng cho cái sai, việc làm sai trong cuộc sống, làm cho chuẩn mực bị sai lệch, hiệu quả công việc không cao, thậm chí hỏng việc, thất bại. Vì vậy, mỗi đảng viên, mỗi tổ chức Đảng phải thực hiện nghiêm túc Quy định 37, đấu tranh mạnh mẽ với cái sai, tích cực bảo vệ cái đúng, làm tốt nội dung này chắc chắn sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức Đảng, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh và củng cố thêm niềm tin của Nhân Dân vào sự lãnh đạo của Đảng./.

Yêu nước ST.

HÀ TĨNH: RA QUYẾT ĐỊNH KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ, THI HÀNH LỆNH BẮT TẠM GIAM ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC!

        Nguyễn Đức Hùng đã biên soạn, đăng tải, chia sẻ trên các trang mạng xã hội... nhiều bài viết, hình ảnh, video clip có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, xúc phạm lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân.

Ngày 15-1, thông tin từ Công an tỉnh Hà Tĩnh cho biết, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh vừa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Nguyễn Đức Hùng (31 tuổi, phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) về hành vi: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Các quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đã được Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh phê chuẩn.

Theo Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết quả điều tra, từ năm 2016 đến 2021, bị can Nguyễn Đức Hùng đã biên soạn, đăng tải, chia sẻ trên các trang mạng xã hội... nhiều bài viết, hình ảnh, video clip có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, xúc phạm lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân...

Hành vi của Nguyễn Đức Hùng đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh đang tiếp tục điều tra, mở rộng vụ án, xử lý nghiêm minh đối với Nguyễn Đức Hùng và các đối tượng có liên quan theo quy định của pháp luật./.

Môi Trường ST.

LOẠI BỎ PHAN THANH GIẢN, TRƯƠNG VĨNH KÝ, KHÔNG ĐẶT TÊN ĐƯỜNG, TÊN TRƯỜNG!

        Lịch sử được ví như dòng nước, chảy mãi không ngừng, thao thao bất tuyệt. Lịch sử là những gì đã từng xảy ra trong quá khứ, phải được chép lại, ghi lại cho muôn đời sau. Do đó, đòi hỏi người cầm bút phải tâm sáng, lòng trong và trung thực, khách quan. Không ai được phép tô hồng hay bôi đen, đó là điều bất biến!

Phan Thanh Giản ký với Pháp Hòa ước bất bình đẳng năm (Hòa ước Nhâm Tuất) 1862, chính thức dâng 3 tỉnh miền đông Nam Bộ cho Pháp cùng bồi thường chiến phí cho giặc. Năm 1867, Phan Thanh Giản mở thành Vĩnh Long đầu hàng Pháp, tiếp tục dâng thêm 3 tỉnh Tây Nam Bộ cho giặc. Sở dĩ Tự Đức không tru di tam tộc ông ta là vì lúc đó Pháp đã rất mạnh và người Pháp muốn vua tôi nhà Nguyễn "học tập" Phan Thanh Giản, bán nước cho Pháp. Trương Vĩnh Ký dùng cái tài của ông ta để phục vụ, cung phụng Pháp và Vatican. Dành cả đời để phục vụ cho mục đích xâm lược của Pháp, huân chương, mề đay đầy người, nhờ cố vấn cho Pháp đàn áp phong trào Cần Vương mà vinh thân phì gia...

Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký tội nghiệt chồng chất, cao hơn cả đỉnh Hoàng Liên Sơn, nhảy xuống biển Đông vạn lần cũng không gột rửa hết tội lỗi. Vinh danh giặc là sự bất công, tàn ác đối với lịch sử huy hoàng của dân tộc; cả ngày nay và muôn đời sau! Đảng, Nhà nước đã kịp thời tiếp thu ý kiến của nhân dân với tinh thần cầu thị cao. Tuy nhiên, cần nêu rõ và thu thập thêm tài liệu, chứng cứ để quả quyết rằng, họ là giặc nước chứ không phải có ơn với nước. Cần loại bỏ vĩnh viễn, không được phép đặt tên đường, trường...

Chúng ta sẽ có lỗi với tiền nhân, những người oanh liệt chiến đấu, hy sinh để chống Pháp mà tiêu biểu là Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Trương Định, Nguyễn Trung Trực... Sinh thời họ có mối thù bất cộng đái thiên với Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Hoàng Cao Khải...vì người yêu nước thì không thể chung trời với những kẻ bán nước. Vinh danh Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký thì dưới cửu tuyền, anh hùng dân tộc Trương Định, Nguyễn Trung Trực không thể nhắm mắt.

Chúng ta sẽ có lỗi với thế hệ mai sau vì đã mang những kẻ bán nước, làm chó săn, khuyển mã cho giặc và đặt chúng ngang tầm với các anh hùng dân tộc. Lấy lý do là "dâng thành đầu hàng để nhân dân bớt đổ máu" của Giản để ca ngợi hắn ta. Vậy xin hỏi những người có lương tâm, trách nhiệm sẽ trả lời thế nào với hàng triệu con người đã đứng lên đánh giặc và hy sinh để chống ngoại xâm cứu nước? Nếu giặc đến, ai cũng chọn giải pháp đầu hàng thì liệu đất nước này có còn giữ được độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ?

Đừng nghe những tay mang mác giáo sư nhưng trở cờ lòe bịp. Một khi còn giáo dục con cháu về lòng yêu nước, tự hào dân tộc thì phải xóa bỏ hẳn cái tên Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký. Không thể để “cả đàn sói chồm lên cắn vào lịch sử”. Cái đích ngắm xa hơn của đám xuyên tạc lịch sử, rửa mặt cho giặc chính là sẽ rửa mặt cho ngụy quân, ngụy quyền và bè lũ tay sai, bán nước. Nếu để chúng thành công thì cái họa mà Liên Xô gặp phải trước đây sẽ chẳng xa đâu. Người không biết lo xa, ắt họa đến gần. Hãy tỉnh táo và lý trí hơn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc./.

Môi Trường ST.

NGƯỜI HÙNG KHÔNG MẶC ÁO CHOÀNG

Điện ảnh Hollywood tốn hàng triệu đôla để dựng lên những người hùng trong phim ảnh. Họ khoác trên mình bộ áo choàng như Superman, bộ áo giáp hiện đại như Ironman hay bộ quần áo đặc biệt như Spider man. Tất nhiên, họ đều có siêu năng lực để bảo vệ bản thân và thực hiện nhiệm vụ cứu giúp thế giới.

Nhưng cuộc sống không phải là phim ảnh, và chúng ta - may mắn, có rất nhiều anh hùng vô danh không mặc áo choàng. Hôm nay, các cơ quan, đoàn thể Hà Nội đã làm một việc mà tôi thấy rất ý nghĩa là tri ân, khen thưởng những người hùng thầm lặng đó làm lan tỏa, nhân rộng những phẩm chất tốt đẹp, cốt cách người Việt về tình tương thân, tương ái.

Và trong số những người được biểu dương, tôi rất ấn tượng với người thợ sửa điều hóa Trung Văn Nam. Không chỉ ở hành động dũng cảm cứu người của em, mà cả những cử chỉ rất nhỏ của người thanh niên này. Bước lên khán đài, trong buổi lễ trang trọng tôn vinh mình, nhưng Nam vẫn mặc chiếc áo khoác mỏng giản dị - chiếc áo đồng phục học sinh anh đã mặc khi cứu bé gái khỏi tử thần - bối rối gửi lời cảm ơn đến Chủ tịch nước đã gửi thư khen tặng, cảm ơn Chủ tịch Hà Nội và Giám đốc Công an Hà Nội cùng người dân đã ủng hộ và khen ngợi anh.

Và xúc động hơn, trong thời điểm có thể là vinh quang nhất cuộc đời, anh nhớ tới bố mẹ mình, dành tất cả những vinh dự, tự hào này tặng bố mẹ mình. "Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân phải đi làm xa mà chưa có dịp báo hiếu bố mẹ hay tặng quà. Nhân dịp này, tôi muốn gửi tới bố mẹ lời cảm ơn rất nhiều. Tôi muốn dành tất cả những vinh dự, tự hào này tặng bố mẹ mình".

Nhờ Nam, chúng ta nhận ra, bên cạnh những thứ xô bồ, vật chất, hóa ra, cuộc sống của chúng ta thật còn quá nhiều điều tốt đẹp và thánh thiện và đáng để con người ta hướng đến.

THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ NGA KHÔNG PHẢI LÀ KHUÔN MẪU ĐỂ ÁP ĐẶT LÊN VIỆT NAM

 Nước Nga ngày nay đang lớn mạnh, thể chế chính trị tại Nga ngày nay là đa đảng. Vậy nên, một số kẻ xấu đặt câu hỏi tại sao Việt Nam không đa nguyên đa đảng như Nga. Thậm chí, còn ám chỉ rằng, Việt Nam theo mô hình một Đảng cầm quyền vì Đảng cộng sản sợ mất quyền lợi.

Họ cho rằng Liên Xô sụp đổ nhưng Nga vẫn là một cường quốc hùng mạnh, và nước Nga vẫn kế thừa được địa vị và sức mạnh. Họ ra sức tán dương mô hình có vẻ như “tam quyền phân lập” của nước Nga, và nhấn mạnh Đảng cộng sản Nga vẫn tiếp tục phát triển, bình đẳng cạnh tranh với Đảng thống nhất Nga của Tổng thống Putin. Từ đó họ ám chỉ rằng Việt Nam nên đi theo đa đảng vì “đa nguyên chính trị không làm nước Nga yếu đi.”

Trước hết cần nhấn mạnh sự sụp đổ của Liên Xô là một thảm họa địa chính trị, và là một mất mát lớn với người Nga chứ không phải “không yếu đi”. Từ chỗ là một Liên bang rộng lớn với 15 nước cộng hòa, đầy đủ các nền văn hóa trong một xã hội đa dạng, nhiều tài năng, nay nước Nga chỉ còn đứng một mình. Dù được kế thừa nhiều tài sản và thành tựu của Liên Xô trước đây, cùng tiềm lực mạnh nhờ lãnh thổ quốc gia rộng lớn, nhưng nước Nga đã bị tụt lại phía sau quá xa và không thể nào so sánh với Liên Xô trước đây cạnh tranh vị trí số 1 với nước Mỹ về mọi mặt. Dù nước Nga ngày nay vẫn hùng mạnh, nhưng nói rằng sự sụp đổ của Liên Xô không ảnh hưởng gì đến nước Nga thì quả là ngây thơ, thiếu hiểu biết.

Thứ hai, về thể chế, tuy nước Nga ngày nay là đa nguyên, đa đảng, nhưng các bạn chắc đã thấy rõ, Putin, người đứng đầu nước Nga đã tại vị qua mấy chục năm. Vậy sự đóng góp của những đảng ngoài Đảng Nước Nga thống nhất của Tổng thống Putin có đáng kể gì. Sự có mặt của những đảng đó để làm gì? Đối với vấn đề đa nguyên, đa đảng, chúng ta có thể đọc lại chia sẻ của chính Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Tôi nghĩ không phải là nhiều đảng thì nhiều dân chủ hơn, hai đảng có ít dân chủ hơn, mà một đảng thì lại có ít dân chủ nữa. Mỗi nước có hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không. Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Không nhất thiết là kinh tế thị trường thì phải đa đảng. Chúng tôi nói là ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan cần phải có chế độ đa đảng”.

Nhìn vào nước Nga, chúng ta càng thấm thía lời của Tổng bí thư, càng thấy rõ thể chế chính trị của Nga, đa nguyên, đa đảng là sự lựa chọn của nước Nga, không phải là chuẩn, càng không phải là hình mẫu để đặt lên Việt Nam. Cách đặt vấn đề đó thực sự là lệch lạc, dựa trên những lập luận hết sức ngây ngô. 

THẮT CHẶT TÌNH ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ, GẮN BÓ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM - CAMPUCHIA

 Trong hai ngày 21 đến 22 tháng 12 năm 2021, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã có chuyến thăm cấp nhà nước đến Campuchia. Chuyến thăm đã góp phần thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị, gắn bó truyền thống giữa hai nước láng giềng. Tuy nhiên, nhiều đối tượng xấu lại đang cố tình xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc mối quan hệ giữa hai nước.

Nhiều đối tượng xấu đã tiến hành ráo riết xuyên tạc. Đặc biệt, chúng cố tình rêu rao những thông tin không chính xác về vấn đề biên giới giữa hai quốc gia để tiến hành công kích. Những luận điệu, thông tin hết sức phi lý, vô căn cứ được đưa ra có thể kể đến như: “Trong thời kỳ Việt Nam kiểm soát, Campuchia đã mất rất nhiều diện tích đất đai vào tay Việt Nam. Đó là cái giá của sự chiếm đóng của Việt Nam trong những năm 1980 và còn tiếp tục kéo dài đến những năm 1990”, “vấn đề biên giới, lãnh thổ sẽ có thể được ông Hun Sen sử dụng bất cứ lúc nào để “tấn công” Việt Nam, như ông đã từng “tấn công” trong các vấn đề khác”…

Ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia là 3 quốc gia ở bán đảo Đông Dương, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Từ khi thành lập đến nay, Việt Nam luôn chú trọng thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị với Campuchia nói riêng và các quốc gia trong khu vực nói chung. Mục đích cao nhất là bảo đảm an ninh, hoà bình, đoàn kết để thúc đẩy sự phát triển, thịnh vượng trong khu vực. Trong mối quan hệ với Campuchia từ trước đến nay, Việt Nam luôn giúp đỡ với tình hữu nghị quốc tế cao cả, không hề vụ lợi, không có chút mảy may xâm phạm bất cứ thứ gì. Vậy mà nhiều năm qua, các đối tượng xấu liên tục công kích, xuyên tạc lịch sử, vu khống trắng trợn Việt Nam “cướp đất”, “lấn đất”, “xâm chiếm bất hợp pháp” đối với Campuchia. Đây là những luận điệu sai trái, phi lý không thể chấp nhận được.

Lịch sử đã để lại cho Việt Nam – Campuchia có biên giới với chiều dài hơn 1100 km, đi qua địa giới 10 tỉnh của Việt Nam và 9 tỉnh của Campuchia. Hiện nay, chính phủ hai nước luôn nỗ lực phân định, ken dày thêm đường biên giới. Việc phân định, ken dày biên giới theo đúng nguyên tắc hoà bình, ổn định, hữu nghị, tôn trọng lợi ích của các bên. Vậy nên không thể nào có chuyện Việt Nam lấn chiếm đất tự nhiên của Campuchia. Các luận điệu chia rẽ chỉ là vô ích và chỉ làm tình hữu nghị giữa hai nước ngày càng thêm gắn bó mà thôi.

CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO ĐA PHƯƠNG CỦA VIỆT NAM

 Từ khi giành được độc lập đến nay, Việt Nam luôn duy trì chính sách ngoại giao đa phương. Là một quốc gia có vị trị địa chiến lược rất nhạy cảm, chính sách ngoại giao khôn khéo này đã đem lại rất nhiều thành công cho Việt Nam, thể hiện đây thực sự là một chính sách ngoại giao văn minh, hoà bình và hoàn toàn phù  hợp với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay. Vậy nhưng, những đối tượng kèn cựa, ghen tị lại cố tình châm chọc chính sách ngoại giao đa phương của ta.

Bọn chúng cho rằng việc Việt Nam cho Mỹ xây trụ sở Đại sứ quán trong 99 năm ở Hà Nội, cho tàu Ấn Độ ra vào cảng Cam Ranh và muốn cho Nga xây cảng vũ trụ ở Cà Mau là kiểu ngoại giao ai vào cũng được. Chúng mỉa mai rằng mục đích của đường lối ngoại giao này dường như là muốn làm Trung Quốc “khiếp sợ”. Đương nhiên đây là chỉ nhận định cá nhân của một người thiếu hiểu biết, nhưng điều quan trọng là nó nhằm bôi nhọ, nói xấu chính sách của Nhà nước, ngoài ra còn kích động tâm lý chống Trung Quốc, nhằm gây bất ổn cho Việt Nam.

Xin nói với các đối tượng này rằng, Việt Nam kiên định chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đã là độc lập, tự chủ thì rõ ràng là không phụ thuộc vào nước nào và cũng không nhằm mục đích chống nước nào. Đã là đa dạng hóa, đa phương hóa thì việc có các quan hệ với nhiều đối tác từ khắp nơi trên thế giới, trong mọi hoạt động dân sự hay quân sự cũng không có gì khó hiểu.

Với chính sách ngoại giao này chúng ta đã vừa giữ vững độc lập, tự chủ, vừa phát huy thế mạnh của đất nước, giúp đất nước vượt qua mọi khó khăn, nguy khốn. Một ví dụ tiêu biểu, điển hình nhất đó là “ngoại giao vaccine”. Trong bối cảnh dịch bệnh bùng phát toàn cầu, nguồn cung vaccine vô cùng khan hiếm, Việt Nam không những đặt mua được vaccine số lượng lớn mà còn tranh thủ các nguồn viện trợ tặng, cho, bán lại. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định chúng ta đã thực hiện thành công chiến lược vaccine “đi sau về trước” với chiến dịch tiêm chủng lớn nhất từ trước đến nay.

Đây là minh chứng không thể phủ nhận về đường lối ngoại giao đúng đắn, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam. Việc mỉa mai, châm chọc của các đối tượng xấu chỉ thể hiện sự thiếu hiểu biết và lố bịch. Mục đích chính của họ chỉ là để bôi nhọ, nói xấu chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời kích động tâm lý chiến tranh chống Trung Quốc nhằm gây bất ổn chính trị cho Việt Nam mà thôi.

LỢI DỤNG DÂN CHỦ ĐỂ CỔ SUÝ VIỆC TRỐN CÁCH LY TẠI NHÀ

 Đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Cách ly và chữa bệnh tại nhà là một trong những biện pháp phù hợp đối với mọi quốc gia trên thế giới. Vậy mà có những kẻ nhẫn tâm cổ súy người dân trốn cách ly và chữa bệnh tại nhà, cho rằng chính quyền bỏ mặc nhân dân.

Sau Nghị quyết 128, tình hình bế quan toả cảng trên phạm vi toàn quốc đã được giải toả. Cùng với đó số lượng ca F0 tăng cao. Do đó, việc xử lý các thông tin dịch bệnh, cách ly co lúc chưa kịp thời là hoàn toàn có thể thông cảm. Các y bác sỹ, điều dưỡng, tình nguyện viên đã quá vất vả rồi, họ đã nhiều ngày nhiều tháng làm việc cật lực với áp lực vô cùng căng thẳng, chẳng lẽ người ta vẫn không thể thông cảm cho họ hay sao. Dường như có nhiều người đang tự cho mình cái suy nghĩ rằng những sự hỗ trợ mà họ đang có được là điều hiển nhiên, không cần quan tâm. Chúng ta không nên hỏi đất nước đã làm gì cho mình, mà trước hết hãy hỏi mình đã đóng góp được gì cho cộng đồng, xã hội và đất nước. Việc tuân thủ cách ly cũng là một việc tốt, giúp giảm sự lây lan của dịch bệnh, là biện pháp phòng chống dịch bệnh hiệu quả. Thế mà, những kẻ nhẫn tâm lại đi cổ súy cho việc không tin tưởng chính quyền, chống lại các yêu cầu khai báo, cách ly. Dây thực sự là những tư duy phi lý, đằng sau những tư duy phi lí đó của họ là gì?

Nguyên nhân đơn giản là họ không phải muốn giúp đỡ cộng đồng, mà chỉ muốn cộng đồng không tin tưởng, rời xa chính quyền để dễ bề kích động và chống phá. Và hậu quả của những lời xúi giục đó sẽ là có thêm nhiều người nhiễm bệnh và đối mặt với rủi ro mà thôi.

CỐ TÌNH BỊA ĐẶT THÔNG TIN LÀM MÉO MÓ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN

 Lợi dụng việc đưa ra xét xử các vụ án tham ô, tham nhũng gây hậu quả nghiêm trọng, các phần tử cơ hội chính trị, đang tìm cách tuyên truyền, xuyên tạc làm giảm uy tín của tòa án hòng phủ nhận nền tư pháp của Nhà nước Việt Nam. Chúng cho rằng các tòa án ở Việt Nam không được “độc lập”, rồi từ đó chúng suy diễn để cổ xúy cho mô hình phân chia quyền lực theo thuyết “tam quyền phân lập”.

Sự phân quyền lực dạng “tam quyền phân lập” như các nước tư bản có thể có giá trị và tính tích cực nhất định. Tuy nhiên, “tam quyền phân lập” bản thân nó không xóa bỏ được cơ cấu quyền lực, chức vị của tổ chức, cá nhân trong cơ cấu quyền lực nói chung và mỗi nhánh quyền lực nói riêng. Đối với Việt Nam, cương lĩnh của Đảng xác định: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Quan điểm này phản ánh đúng hiện thực khách quan, đúng bản chất quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa, kế thừa những giá trị tinh hoa của nhân loại, trong đó có cả những giá trị tích cực của “tam quyền phân lập”.

Việt Nam, quá trình điều tra, truy tố, xét xử luôn được các cơ quan chức năng tiến hành khẩn trương, thận trọng, khách quan, công tâm, đúng quy định pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo cũng được làm rõ công khai tại tòa. Các mức hình phạt được tuyên đúng người, đúng tội, thể hiện sự nghiêm minh và tính chất khoan hồng của pháp luật Việt Nam. Nhiều bản án và phiên tòa đã được không chỉ dư luận xã hội đồng tình mà chính các bị cáo cũng “tâm phục, khẩu phục”, thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ rõ sự ăn năn hối lỗi của mình.

Rõ ràng, những kẻ cơ hội chính trị cố tình lồng ghép, suy diễn vô căn cứ và luận điệu sai trái về toà án chỉ là chiêu trò lợi dụng vụ án nhằm thực hiện âm mưu chính trị mà họ đã và đang theo đuổi.

Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2022

“ĐỪNG TỰ BỎ THUỐC ĐỘC CHO MÌNH”

        Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên, quan trọng đem lại hiệu quả thiết thực. Nhưng bên cạnh những kết quả tốt đẹp thì phê bình và tự phê bình cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, nhất là tình trạng che giấu khuyết điểm, không chịu tu dưỡng rèn luyện để lại những sai phạm khuyết điểm khôn lường. Trên thực tế, có nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng sau khi bị phanh phui xử lý công khai, mọi người mới rút kinh nghiệm rằng đã có dấu hiệu, đã biết nhưng chậm hoặc không đấu tranh phê bình, đến khi việc vỡ lở mới giật mình nhìn lại thì đã quá muộn…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhiều lần dạy về việc tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Theo quan điểm của Người: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi” và “Đảng viên và cán bộ cũng là người, ai cũng có tính tốt và tính xấu, Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu”. Từ đó, Hồ Chủ tịch chỉ ra tự phê bình và phê bình là “thang thuốc tốt nhất”, “là vũ khí rất cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”. Vì vậy, cần phải chú trọng tự phê bình và phê bình, không né tránh, bỏ qua tự phê bình và phê bình, vì né tránh, bỏ qua tự phê bình và phê bình thì “cũng như có bệnh mà giấu bệnh. Không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết “cũng la lết quả dưa”, “Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”.

Để khắc phục được tình trạng trên, thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình trong Đảng, trước hết bản thân từng cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự soi, tự sửa “như mỗi ngày phải rửa mặt”, tự giác rèn luyện phấn đấu “để phòng bệnh, chữa bệnh cho chính mình. Phải tự soi, tự sửa, trước khi bị phát hiện, xử lý. Đồng thời, khi bị phát hiện, xử lý thì cần thẳng thắn, tiếp thu, thành thật, kiên quyết khắc phục sửa chữa, đội ngũ cán bộ phải luôn gương mẫu để cấp dưới noi theo. Ngay từ năm 1950, Hồ Chủ tịch đã dạy: “Tự phê bình và phê bình phải thật thà vạch khuyết điểm, có lỗi mà không vạch ra, không khác gì người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc… vạch khuyết điểm để sửa chữa, cũng phải nêu ưu điểm để phát huy. Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cấp cao phải noi gương trước”.

Các cơ quan, tổ chức, đồng chí đồng đội phải chân thành, quyết liệt vào cuộc để giúp đỡ, ngăn chặn, hỗ trợ cán bộ, đảng viên sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm. Theo Hồ Chủ tịch, việc phê bình phải trên cơ sở đồng chí đồng đội, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Kiên quyết không để xảy ra tình trạng lợi dụng phê bình, tự phê bình để kéo bè, kéo cánh, đả phá, loại bỏ lẫn nhau. Vì như vậy sẽ làm mất tác dụng của tự phê bình và phê bình, gây tác hại ngược, ảnh hưởng đến uy tín, sức mạnh tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên.

Trong đó cũng cần chú ý đến việc huy động quần chúng nhân dân đóng góp xây dựng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” viết vào dịp thành lập Đảng 3 - 2 - 1969, Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng là “phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ đảng viên…”.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta luôn chú trọng học tập và thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới. Nhiều biện pháp, hình thức tự phê bình và phê bình được triển khai tích cực và hiệu quả. Mới đây, ngày 9 - 12- 2021, Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình cần được chuẩn bị thật chu đáo, chỉ đạo tỉ mỉ, chặt chẽ; tiến hành nghiêm túc, thận trọng; làm đến đâu chắc đến đó, đạt kết quả cụ thể, thực chất. Hết sức tránh làm lướt, làm qua loa, hình thức, chiếu lệ. Khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; đồng thời, cũng ngăn chặn, tránh tình trạng lợi dụng dịp này để “đấu đá”, “hạ bệ” lẫn nhau với những động cơ không trong sáng. Nghiêm khắc xử lý những trường hợp trù dập phê bình và vu cáo người khác. Kinh nghiệm cho thấy, muốn tự phê bình và phê bình có kết quả tốt, điều quan trọng là phải giữ vững nguyên tắc của Đảng, thật sự phát huy dân chủ trong Đảng; người đứng đầu phải gương mẫu làm trước và phải có các hình thức dân chủ để quần chúng đóng góp, phê bình cán bộ, đảng viên và phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đúng đắn…”.

Trách nhiệm, tình cảm với Đảng, với dân, với nước đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết, kiên trì tiến hành chặt chẽ, chu đáo, hiệu quả công tác tự phê bình và phê bình, không để xảy ra tình trạng “tự bỏ thuốc độc cho chính mình” như lời dạy của Hồ Chủ tịch./.

Yêu nước ST.

TƯỞNG NIỆM CÁI GỌI LÀ "HẢI CHIẾN HOÀNG SA" - SỰ VÔ LIÊM SỈ CỦA GIỐNG VÔ LOÀI!

        Hàng năm, cứ sắp tới ngày 19/1 là y như rằng đám tàn dư ngụy quân, ngụy quyền và bọn phản động ở hải ngoại lại tổ chức cái gọi là "tưởng niệm Hải chiến Hoàng Sa". Điều lạ ở chỗ là Hoàng Sa do chính Mỹ, ngụy để mất vào tay Trung Quốc năm 1974 nhưng giờ đây chúng lại ra rả, đổ tội cho những người Cộng sản Việt Nam. Đúng là vô liêm sỉ và trâng tráo vô cùng vô tận. Nhân sự kiện này, lão chăn bò có quan điểm về cái gọi là “hải chiến Hoàng Sa” như sau:


1. SỰ THỎA HIỆP CỦA TRUNG QUỐC VÀ HOA KỲ:

Ngày 21/2/1972, Tổng thống Hoa Kỳ là Richard Nixon đã chính thức thăm Trung Quốc. Chuyến thăm của Richard Nixon tới Trung Quốc với ý đồ dùng “nhất tiễn hạ song điêu” một mũi tên nhắm tới hai mục đích chính trị lớn đó là: Gây chia rẽ sâu sắc giữa hai cường quốc cộng sản quan trọng nhất (Liên Xô và Trung Quốc) và trong bối cảnh Hoa Kỳ đã sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh bị sụp đổ và phải chấp nhận đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định Paris. Hoa Kỳ cần một chiến thắng trong danh dự để lấy lại thể diện, để áp đảo kết quả trên bàn đàm phán thì mục tiêu của Hoa Kỳ là dùng át chủ bài của không lực Hoa Kỳ với ý đồ ngông cuồng là “đưa miền bắc về thời kỳ đồ đá”. Muốn đảm bảo được chiến thắng trên bầu trời Hà Nội, Mỹ cần Bắc Kinh không can thiệp quân sự vào Việt Nam, hạn chế cung cấp để gây khó khăn cho Việt Nam.

Trong khi đó, giới chóp bu Trung Quốc luôn mong muốn vươn lên làm “anh cả” khối XHCN, soán ngôi vị Liên Xô, đồng thời bành trướng lãnh thổ theo chiến lược “viễn giao cận công” mở rộng lãnh thổ về khu vực Đông Nam Á, nên họ cũng nhanh chóng bắt tay với Mỹ để mặc cả. Chính vì vậy, sau chuyến viếng thăm này, không khó có thể nhận thấy những hành động bất lợi của Trung Quốc nhằm ngăn cản ý chí thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Điều này, thể hiện rõ trong nhận định của những nhà phân tích quốc tế về thái độ của Trung Quốc sau chuyến thăm của TT Hoa Kỳ. Nghĩa là Trung Quốc chỉ muốn miền Bắc là phên dậu cho họ như những gì diễn ra ở Triều Tiên trước đó nhưng không muốn Việt Nam thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Trong bài viết “Năm 1972 trong lịch sử cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước” của tác giả Hà Minh Hồng cũng nói rõ: "mưu toan" của Mỹ trong chính sách ngoại giao nước lớn là: buộc Trung Quốc cắt giảm viện trợ cho Việt Nam (tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), hòng ngăn chặn cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta (tức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) ở miền Nam. Cụ thể, ngay cuối trong năm 1972, Trung Quốc đã có những động thái ngăn trở chiến tranh giải phóng miền Nam Việt Nam, ngó lơ khi Mỹ leo thang ném bom miền Bắc, và đặc biệt trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” – phía Mỹ gọi là Linebacker II. Tất nhiên, để đổi lại sự an toàn, tự do đánh phá miền Bắc Việt Nam nhằm tìm kiếm một “chiến thắng trong danh dự”. Mỹ sẵn sàng và chấp nhận trả cho Trung Quốc một cái giá nào đó. Cái giá đó chính là : HOÀNG SA. Tuy nhiên người Mỹ đã lầm khi đánh giá sai về ý chí và sức mạnh chính nghĩa vô địch của quân và dân Miền Bắc, cái gọi là “đưa miền bắc về thời kỳ đồ đá đã nhanh chống trở thành “đưa niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ trở về thời kỳ đồ nhôm”. 


2. BẢN CHẤT THẬT CỦA CÔNG CỤ TAY SAI, BÁN NƯỚC NGỤY SÀI GÒN: 

Bản thân chúng chỉ là con rối cho Hoa Kỳ giật dây; chưa bao giờ được coi là một chính thể hợp pháp. Bởi bản chất của nó chỉ là những kẻ làm thuê, đánh thuê phục vụ cho nhu cầu chính trị của Mỹ và các nước đồng minh. Được điều hành, huấn luyện, trả lương bởi chính Hoa Kỳ. Bản thân ngụy Sài gòn chưa bao giờ được tự chủ, chưa bao giờ có khái niệm về cái gọi là quyền tự quyết, sống ký sinh như loài rông rêu mà thôi. Cụ thể ở chính ngay phát ngôn của “Tổng thống bù nhìn” Nguyễn Văn Thiệu khi tuyên bố "Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!" Theo Tiến sĩ James Carter, giáo sư sử học tại Đại học Drew (Mỹ: “Chính thể Sài Gòn không thể tự nuôi nổi chính mình; thậm chí không thu đủ lợi tức cho hoạt động hàng ngày”. 

Như vậy cái được gọi là “chính thể Việt Nam Cộng hòa” chỉ có thể là một thứ công cụ, làm thuê cho Mỹ quản lý phần đất phía Nam của Việt Nam theo chế độ thực dân mới. Do đó, Mỹ mới là kẻ xâm lược, chiếm đóng trái phép phần lãnh thổ phía Nam của Việt Nam. Bởi là kẻ xâm lược, để đạt được mục đích của mình “rút lui trong danh dự”, một chiến thắng để xoay ngược kết quả đàm phán Paris thì việc Mỹ nhượng phần đất Hoàng Sa cho Trung Quốc để thực hiện mưu đồ của mình là một điều dễ hiểu. Ngay cả những tướng lĩnh, chính khách của “VNCH” cũng cay đắng thứ nhận rằng ngụy quyền Sài Gòn chỉ là những con rối bị Mỹ thao túng. Và người Mỹ thì chỉ coi ngụy Sài Gòn là gì thì hãy nghe câu chuyện Nixon đã nói với Kissinger sẽ rõ: "Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được”. Với Hoàng Sa, khi Mỹ đã ra lệnh cho chính quyền VNCH nhường đất cho Trung Quốc đổi lại Mỹ hứa hẹn sẽ bảo vệ miền Nam Việt Nam cho lũ rông rêu Thiệu, Kỳ. Mà đã là tôi tớ thì đố dám cãi lại quan thầy nên để hợp pháp việc bán Hoàng Sa cho Trung Quốc của Mỹ thì ngụy Sài Gòn bắt buộc phải diễn một vở kịch có tên: “HẢI CHIẾN HOÀNG SA - 1974” để chạy tội bán nước, bán đảo.


3. VẠCH TRẦN SỰ THẬT CỦA CÁI GỌI LÀ “HẢI CHIẾN HOÀNG SA”

Tất cả báo chí khi thông tin về trận chiến này đa số là do đài địch phát ra, chúng cố ý tô đậm những chi tiết được coi là “bảo vệ chủ quyền” của những binh lính VNCH tham gia cuộc chiến để đánh lừa dư luận, để rêu rao ca ngợi và để “vinh danh chiến sĩ quốc gia oai hùng”; thực chất đó chỉ là chiêu bài của “Cục chiến tranh tâm lý ngụy”. Ông Lê Văn Thự (người tham gia “trận hải chiến” có viết: “Tiếp đến HQ-10 báo cáo Hạm trưởng bị thương. Tôi ra lệnh Hạm phó lên thay quyền chỉ huy, đồng thời đặt ống nhòm nhìn sang HQ-10 tôi thấy một ngọn lửa nhỏ cháy ở đài chỉ huy có thể dập tắt được bằng bình CO2 mà sao không ai làm. Quan sát phía sau lái HQ-10 tôi thấy 4, 5 cái đầu nhấp nhô trên mặt biển. Tôi không biết chuyện gì xảy ra trên HQ-10 vì không nghe báo cáo gì thêm. Tôi đoán chừng vì Hạm trưởng bị thương nặng nên HQ-10 như rắn mất đầu. Một số nhỏ nhát gan sợ tàu cháy hay trúng đạn nổ nên đã nhảy xuống biển. Nhưng HQ-10 vẫn nổi bình thường, thăng bằng, không nghiêng một chút nào cả.”.

Trong bài viết của mình, ông Lê Văn Thự nói rõ ràng mặc dù 4 tàu của VNCH lúc đó được đặt dưới sự chỉ huy của ông Ngạc, tuy nhiên, từ khi xảy ra “giao tranh” cho đến khi kết thúc trận chiến, ông Thự không nhận được bất kỳ một lệnh nào của ông Ngạc, đồng thời, trong tường thuật của ông cũng thể hiện chỉ có HQ-10 và HQ-16 (Phân đội II) độc lập tác chiến, không có sự hỗ trợ của Phân đội HQ-4 và HQ-5 (Phân đội I); thậm chí HQ-4, HQ-5 còn “bắn nhầm” vào hai tàu HQ-16 và HQ - 10.

Bên cạnh đó, trong bài viết của mình, ông Thự còn khẳng định : “Sự thật HQ-4 và HQ-5 chẳng bị trầy một mảnh sơn nào cả. Cả Hải quân đều biết. Vì thế cho nên chỉ một mình HQ-16 được tiếp đón ở Sài Gòn và gắn huy chương chứ không có Đại tá Ngạc hay HQ-4 và HQ-5”. Như vậy vai trò của HQ-4 và HQ-5 trong trận chiến này là gì?

Ngụy quân với số lượng tàu và vũ khí áp đảo (các tàu HQ-5, HQ-10, HQ-16 đều có vũ khí mạnh hơn 3 tàu của Trung Quốc, tàu HQ-4 các súng đều sử dụng bằng điện, tốc độ bắn nhanh, radar có tầm xa, vận tốc chiến hạm cao). Nhưng HQ-4 lại không tham chiến, HQ-5 thì lại bắn vào HQ-16, bên cạnh đó, ông Thự có đặt ra giả thuyết là hạm trưởng HQ-10 có thể bị trúng đạn do HQ-5 bắn vào. Như vậy, với khoảng cách khá giữa các tàu tham chiến lý do nào HQ-5 lại “bắn lạc” vào quân ta.

Một vấn đề cần nghi vấn khác là sau khi trận chiến xảy ra, HQ-4 và HQ-5 chạy sang Phillipines chứ không quay trở ngược lại Việt Nam. Chỉ có HQ-16 của ông Thự trở về với “thương tích đầy mình”. Phải chăng việc chạy sang Phillipines với lý do “sửa chữa tàu” nhằm mục đích che dấu việc HQ-4 và HQ-5 không bị một vết đạn nào như lời ông Thự nêu?

Phải chăng, việc đưa hai phân đoàn ra thực hiện nhiệm vụ nhằm một mục đích khác ? Những người trong Bộ tư lệnh Hải quân VNCH và Đại tá Ngạc hoàn toàn biết kết quả của trận chiến, thậm chí, sẵn sàng hi sinh HQ-10 và HQ-16 với một mục tiêu nào đó ? Trong bài “Biển Đông dậy sóng” ông Trần Bình Nam có viết : “Đại tá Ngạc biết có một cái gì đó sau lưng trận đánh nên ông đã dè dặt trong đôi lời trước khi viết rằng ông chỉ “tường thuật trung thực những chi tiết theo khía cạnh của một người chỉ huy chiến thuật”.

Với những vấn đề nêu ở trên, có thể nhận thấy trận chiến khu vực Hoàng Sa ngày 19/1/1974 nằm ở một góc độ sắp xếp có chủ ý của phía VNCH. Theo đó, sau khi bị “ông chủ” Hoa Kỳ buộc phải nhường quần đảo cho Trung Quốc. VNCH đã rút dần khỏi các đảo đang chiếm đóng.

Để mị dân, phía VNCH chỉ đạo 4 tàu chiến tham gia, trong đó, có 2 tàu sẽ là “tốt thí”; hai tàu còn lại cũng tham chiến nhưng thực chất là tiêu diệt chính đồng đội của mình để ngụy tạo chứng cứ, chứng minh thái độ “ yêu nước” qua việc “lên án Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa” bằng tư liệu của bộ máy tâm lý chiến của VNCH che dấu sự yếu kém, bất lực của quân đội VNCH, che dấu việc bán nước, bán đảo theo lệnh chủ.


4. TRÂNG TRÁO VÀ VÔ LIÊM SỈ KHI BÀY TRÒ CA NGỢI CÁI GỌI LÀ "HẢI CHIẾN HOÀNG SA":

Với vở kịch “khổ nhục kế” mà Mỹ, Ngụy tạo ra. Chấp nhận thí mạng của 74 người trên 2 tàu HQ - 10 và HQ - 16 ngày 19/01/1974, thực chất Mỹ - Ngụy đã hai tay dâng Hoàng Sa cho Trung Quốc mà nguyên nhân chính là sự thỏa hiệp giữa người Mỹ và Trung Quốc; Thiệu và đám bù nhìn ngụy Sài gòn muốn chiều ý Mỹ và để níu kéo hy vọng giữ miền Nam Việt Nam nên đã can tâm, nhắm mắt dàn dựng vở kịch bi hài “Hải chiến Hoàng Sa”. Với bản chất ô nhục muôn thủa của mình nên bây giờ chúng trâng tráo, không biết sĩ nhục mà còn đòi “vinh danh”. Thực ra bọn chống Cộng cực đoan ở hải ngoại nó chẳng yêu thương gì đến những người đã bị “quân ta bắn chết quân mình” năm 1974 đó đâu; có chăng chúng chỉ dựng lên để phục vụ cho mục đích đen tối của nó là kích động người dân dưới chiêu bài “phò Mỹ bài Trung” mà lâu nay chúng đang diễn đó thôi. Xâu chuỗi lại những sự việc của đám tàn dư chống Cộng trong thời gian qua, làm chúng ta liên tưởng đến tiến sỹ sử học Nguyễn Nhã và đám mưu đồ lật sử ở trong nước đòi rửa mặt, cạo lông cho bọn ngụy Sài Gòn, đòi “vinh danh cuộc Hải chiến Hoàng Sa” và đòi “công nhận VNCH có lợi cho đấu tranh giành lại biển đảo”, bọn chúng có mối liên hệ chặt chẽ và nhịp nhàng với nhau chăng? Thật khắm thối và bẩn bựa. Đã hèn với giặc thì nên chôn vùi theo gió bụi của tháng năm, xới lên lại càng khó ngửi./.

Yêu nước ST.

Cần kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Gần đây, khi Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII diễn ra, các thế lực thù địch lại được dịp lên tiếng công kích, xuyên tạc về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng những luận điệu mang tính quy chụp, suy diễn vô căn cứ. Ngày 6/10/2021, trên trang VOA giật tít dòng chữ: “Điều quan tâm duy nhất là sự sống còn của đảng, của chế độ”. Họ xuyên tạc rằng, đang trong thời điểm dịch bệnh phức tạp, người lao động ở các tỉnh phía Nam rơi vào cảnh khó khăn do COVID-19 nhưng Trung ương lại tổ chức “họp trong phòng lạnh” để tung hô, khen ngợi các thành tích “vinh quang thuộc về Đảng”, còn “đau thương trút lên đầu nhân dân”. Thậm chí họ còn vu cáo rằng “Đảng không bận tâm về hoạt động phòng, chống dịch COVID-19 mà chỉ quan tâm làm sao để Đảng “muôn năm trường trị”… Những luận điệu xuyên tạc trên vẫn là trò “rượu cũ bình mới” nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Vẫn là những quan điểm dân túy thường thấy, các thế lực phản động, cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đứng về phía nhân dân để chỉ trích Đảng và Nhà nước nhằm kích động một bộ phận nhân dân chống lại những quy định của Nhà nước trong công tác phòng, chống dịch. Mục đích sâu xa của chiêu bài này là bẻ lái dư luận, phủ nhận chế độ của ta, từ đó ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái họ gọi là giá trị xã hội phương Tây. Bên cạnh đó, thông qua việc bóp méo tình hình Việt Nam, các thế lực thù địch cũng cố tình xuyên tạc bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Những luận điệu cố tình xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam thời gian qua xuất phát từ dã tâm thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần tỉnh táo nhận diện; có thái độ khách quan, công tâm trong nhìn nhận, đánh giá; đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác để luôn giữ vững niềm tin vào Đảng - một tổ chức ra đời không phải để “làm quan phát tài” mà luôn đứng về phía cả dân tộc và không có mục đích gì khác ngoài việc mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trước những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thời gian qua; đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các thế lực thù địch còn ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và hơn nữa là cổ súy hành động “từ bỏ” Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Chúng còn thổi phồng, bịa đặt, xuyên tạc đời tư của một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước…, gieo rắc sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân về lòng trung thành, tinh thần tận tụy phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà lúc sinh thời của Hồ Chí Minh cũng như Đảng ta luôn quan tâm xây dựng, củng cố. Theo chúng đó chỉ là những cách Đảng “che mắt thế gian theo kiểu đánh ai và ai đánh?”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, hay “chỉ dám đánh con tôm, con tép thôi”… Đây là những luận điệu hết sức thâm độc hòng gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Không chỉ xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị còn công kích tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ đã lên tiếng rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Tinh vi hơn, với chiêu bài “tung hô thần tượng”, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chỉ trích Đảng vì đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng. Thực tế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, như một thông lệ không thể thiếu, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, khi đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua một nhiệm kỳ, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “tôn trọng hiện thực khách quan”, Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta coi những sai lầm, khuyết điểm là yêu cầu, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, nhân dân phải tiếp tục đồng lòng để vượt qua những khó khăn, thử thách. Điều này được khẳng định rõ trong Báo cáo tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới của Đảng: “Những hạn chế, khuyết điểm đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa”. Nhìn nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua thông qua những nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII, có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc. Đây không phải là sự “chắp vá”, “giật gấu vá vai” như những luận điệu mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao mà nó thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng trong việc “tự sửa mình” và đào tạo, huấn luyện cán bộ, đảng viên. Do đó, cần có thái độ khách quan, công tâm khi xem xét những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Cần tránh cả hai xu hướng xem nhẹ, bỏ qua những khiếm khuyết hoặc tuyệt đối hóa, thổi phồng những khuyết điểm bởi cả hai xu hướng này hoặc là dẫn đến thái độ chủ quan, lơ là; hoặc dẫn đến thái độ cực đoan, bất mãn. Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong thời gian qua là một bài học đắt giá cho công tác xây dựng Đảng nhưng không vì thế mà đánh đồng với đóng góp của biết bao thế hệ đảng viên với sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Covid hôm nay sáng 15-1: Hà Nội vượt 85.000 F0; Thanh Hóa thêm ổ dịch tại trường học

 

Hà Nội tiếp tục đứng đầu cả nước về ca mắc mới; trong khi đó tại tỉnh Thanh Hóa thêm ổ dịch tại Trường Tiểu học Điện Biên 2 với 32 học sinh và giáo viên dương tính với Covid-19.

CHUYỆN 3 LOÀI CÁ, DẠY TA CÁCH LÀM NGƯỜI

Con cá thứ nhất là cá hồi chó.

Cá hồi chó sống ở vùng nước sâu trong đại dương bao la.

Cá hồi chó mẹ sau khi đẻ trứng sẽ đợi ở một bên, trứng sau khi nở thành cá con vẫn chưa thể tự kiếm ăn, chỉ có thể dựa vào thịt của mẹ để lớn.

Cá mẹ nhịn đau đớn không hề kêu ca. Khi cá con lớn lên, cá mẹ chỉ còn lại một đống xương, đó là minh chứng đắt giá nhất cho tình mẹ vĩ đại trên thế giới này.

Cá hồi chó là con cá tượng trưng cho tình mẹ


    Con cá thứ hai là cá lóc Tàu

Loài cá này sau khi sinh con sẽ bị mất đi khả năng nhìn, không thể kiếm mồi mà chỉ có thể nhịn đói.

Khi trứng nở thành hàng ngàn con cá con, đàn cá con không nỡ nhìn mẹ chết nên từng con, từng con một chút động bơi vào miệng mẹ để giúp mẹ đỡ đói.

Cá mẹ sống lại, lượng cá con còn tồn tại chẳng đáng là bao, chỉ còn chưa đến 1/10, số còn lại vì mẹ mà hy sinh tấm thân non nớt của mình.

Cá lóc tàu là con cá tượng trưng cho sự hiếu thảo của người làm con, nhiều người trong chúng ta sẽ thấy ngậm ngùi


 Con cá thứ ba là cá hồi

Mỗi năm cứ đến mùa sinh sản, cá hồi lại tính trăm phương ngàn kế để từ đại dương rộng lớn trở về dòng sông trong đất liền.

Bởi lẽ loài cá này không sinh nở ở các vùng biển nước mặn mà di cư bơi về dòng suối ngọt, nơi chúng được sinh ra để tiếp tục đẻ trứng.

Cuộc hành trình di cư thật sự vất vả và gian lao khi chúng phải bơi ngược dòng chảy của tự nhiên để trở về quê hương, trên đường trở về phải đối mặt với bao hiểm nguy thách thức, nào là vượt thác, nào là lo bị gấu xám ăn thịt…

Những con cá không vượt được thác phần lớn sẽ rơi vào bụng gấu. Những con vượt thác thành công cũng sức cùng lực kiệt, vừa phải tiếp tục bơi vừa phải đề phòng loài ó cá kiếm mồi.

Chỉ có một số ít những con cá may mắn vượt qua mọi khó khăn và sự bủa vây để trở về quê hương, hoàn thành việc quan trọng nhất đời mình, đó là tìm con đực, giao hợp, đẻ trứng và cuối cùng là chết một cách yên bình ở chính nơi mình sinh ra.

Và khi mùa xuân đến, đàn cá con lại trôi theo dòng nước ra biển, bắt đầu hành trình cuộc đời mình.

Cá hồi là loài cá tượng trưng cho tình yêu quê hương xứ sở.


 Lời bình

Từ câu chuyện về ba loài cá trên, chúng ta hãy thường xuyên nghĩ rằng, trên đời này có ít nhất 3 con cá khiến chúng ta phải cảm động.

Con cá thứ nhất là cha mẹ, người đã cho chúng ta sinh mệnh, luôn dõi theo mọi bước chân ta đi, không trách cứ oán giận, sẵn sàng hi sinh tất cả cho con cái mà không hề đòi hỏi bất cứ điều gì.

Con cá thứ hai là con cái, từ khi oa oa cất tiếng khóc chào đời, con cái đã hoàn toàn tin cậy và ở bên cha mẹ cho đến già.

Con cá thứ ba là cố hương. Bất luận là đi xa đến đâu, cũng sẽ có một ngày chúng ta tìm cách trở về quê nhà./.

Yêu nước ST.

SỰ KHIÊM TỐN VÀ TÍNH KIÊU NGẠO

 


Trong bộ phim của Oliver Stone, nói về Putin, để ngăn chặn tình trạng quan hệ ngày càng xấu đi giữa những nhà cầm quyền ở Mỹ với tổng thống Nga Putin, Stone đã khuyên những kẻ kiêu ngạo rằng, “đối với Hoa kỳ, việc quan trọng sống còn là cần phải học để hiểu quan điểm khác”. Người đứng đầu một nhà nước mà kiêu ngạo thì dẫn cả một đất nước đi từ thất bại này đến thất bại khác.

Sự khiêm tốn là một mùi hương hấp dẫn các con ong vây quanh, như khi ông Nguyễn Phú Trọng, đã ví mình là người “phận mỏng cánh chuồn”, câu ấy làm cho người ta càng quý ông và càng hết lòng vì đất nước, chứ không ai coi thường ông, chỉ vì khi ông nói về mình:

“Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn

“Khuôn xanh đã biết vuông tròn mà hay?…” (Kiều)

Người đứng đầu đất nước mà còn chưa biết “khuôn xanh vuông hay tròn”, tức là vẫn còn phải tiếp tục học hỏi, và tìm hiểu mọi diễn biến trong xã hội và thế giới. Chỉ một câu nói như vậy, người lính sẵn sàng cầm súng xông ra mặt trận; người lao động làm ra nhiều sản phẩm hơn; các công chức cũng thường xuyên coi lại mình hơn.

Vậy thì những nhà trí thức hiện nay có cần phải tiếp tục học không? Hay là một khi đã có tấm bằng đại học, tiến sĩ, giáo sư hay gì gì đó thì không cần phải học nữa? Thiết nghĩ những chứng chỉ đó chỉ là sự chứng nhận ban đầu để người đó bước vào đời thôi, chứ sau khi nhận các chứng chỉ đó, con tạo tiếp tục xoay vần, thế giới vật chất cũng như tinh thần tiếp tục biến đổi, loài người vẫn còn phải tiếp tục chiến đấu với thảm họa thiên nhiên cũng như các cuộc chiến tranh. Tất cả phải học cả đó, học không ngừng.

Một lần, tôi ngồi nói chuyện với mấy anh em có học vị cao hơn tôi nhiều bậc, nhưng lại thiếu kiến thức về lịch sử dân tộc. Nếu ai đã đọc cuốn “Đông dương” của cựu toàn quyền Đông dương vào đầu thế kỷ 19, ông Paul Doumer, mới thấy mục đích thực sự của công cuộc cai trị và sự chiếm đoạt tài nguyên của nước ta. Nhiều người bây giờ vẫn ngộ nhận, rằng dân ta đã đuổi đi hai nền văn minh – Pháp rồi Mỹ, mà không hiểu diễn biến của lịch sử.

Nền văn minh Pháp sau 80 năm đô hộ đã để lại cho dân tộc ta 90% người dân mù chữ, tài nguyên của đất nước bị khai thác đem đi. Đi đâu? Về Pháp. Người Pháp làm các con đường sắt để vận chuyển những loại quặng ra cảng chở về “mẫu quốc”, trong đó có con đường sắt từ Hải Phòng đi Vân Nam (Trung quốc) cũng là để giúp những người Pháp khai thác tài nguyên của Trung quốc. Có lẽ vì con đường này nhà sử học nọ bảo Pháp chỉ mượn đường nước ta để đánh Trung quốc. Mượn gì mà tới 80 năm, mãi đến khi bị đánh cho tơi bời mới trả lại?

Những tên thực dân sinh sống ở Việt Nam được làm việc trong những lâu đài do bàn tay của người Việt xây dựng lên, như các tòa nhà toàn quyền ở Hà Nội, tòa công sứ, thống đốc ở các tỉnh, và các biệt thự, nhà hát, nếu có, thì đâu có giành cho tầng lớp lao động người Việt?

Xin hỏi, trong 80 năm ấy, Pháp đã xây dựng được bao nhiêu cái cầu bắc qua các con sông lớn? Thành quả 80 năm ấy so với 40 năm thống nhất đất nước của những người cộng sản có đáng là bao. Chưa kể các khu dân cư cao tầng, chỉ mới xuất hiện sau ngày đất nước thống nhất, có cái nào do Pháp xây dựng cho dân ta? Một con số không (0) tròn trĩnh nhé.

Nếu bạn đọc cuốn “Một chiến dịch ở Bắc kỳ” của một viên bác sĩ Pháp đi cùng đội quân viễn chinh Pháp sẽ thấy rất ngạc nhiên về thời gian hành quân từ Hà Nội lên Bắc Ninh để tiêu diệt quân Tàu, mất đứt ba ngày đó. Ba ngày cho 50 km!

Xin lỗi các bạn về việc tôi hay trích dẫn những sách của “bên địch” viết, vì tôi biết nhiều người không thích nghe những gì chính quyền ta nói mà chỉ tin những gì “bên địch” nói, như vậy để làm vừa lòng mọi người thôi.

Mong các bạn thông cảm về trình độ học vấn của tôi, hiểu biết chỉ đến thế, không thể so với những học giả “chẳng sân ngọc bội, cũng phường kim môn”.

Nên hay không thì tôi cũng đã bày tỏ, xin mọi người lượng thứ.

“Dân ta phải biết sử ta

“Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam…” Cụ Hồ dạy thế.

Không hiểu lịch sử dân tộc mình thì không yêu dân tộc mình và cũng chẳng mong đợi sự hy sinh vì đất nước của những người kiêu ngạo đó./.St

Hành động dũng cảm rất đáng khâm phục va lan toa

 

Chàng trai trong ảnh là Anh Trung Văn Nam (SN 1988, tạm trú huyện Thường Tín, Hà Nội, quê gốc ở tỉnh Thanh Hóa)- người đã dũng cảm leo lên mái nhà, cứu thoát bé gái 14 tuổi.

Được biết, khoảng 13h chiều ngày 12/11, khi đang ăn cơm tại chỗ làm việc (phố Lương Khánh Thiện (quận Hoàng Mai, Hà Nội), Nam bất ngờ phát hiện căn nhà 2 tầng gần đó có khói bốc lên, tỏa ra mùi khét, ngay sau đó là ngọn lửa bùng phát.

Thấy hỏa hoạn, Nam vội vàng bỏ dở bữa cơm, cùng một số người dân quanh khu vực nhanh chóng chạy đến tìm cách dập lửa. Nghe thấy tiếng kêu cứu phát ra từ tầng tum trong tiếng nổ của đám cháy, Nam vội trèo lên mái tôn của khu xưởng và nghe thấy rõ hơn tiếng kêu cứu của bé gái. Sau đó, Nam đã mở cửa sổ bên hông căn nhà và phát hiện ra bên trong là khung sắt. Nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, Nam dùng chân đạp mạnh, liên tục vào khung sắt cho thanh sắt giãn ra. Sau đó, Nam thò tay vào đám khói bụi mịt mù và túm trúng cháu bé, sau đó cố hết sức lôi nạn nhân ra ngoài.

Bằng sự mưu trí, dũng cảm và quyết đoán, chàng trai quê Thanh Hoá đã cứu bé gái thoát chết trong gang tấc. Hành động dũng cảm rất đáng khâm phục. St