Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022

BÀN CỜ THẾ GIỚI: TRUNG QUỐC VỪA MUA CHUỘC VỪA CHIẾM ĐOẠT!

         Có hai yếu tố mà từ đó kích thích Trung quốc thực hiện chủ nghĩa bành trướng. Một là, Trung quốc trong mấy thập kỷ qua đã trở thành công xưởng của thế giới. Một khi đã là thế, thì phải có đường đi cho hàng hóa ra toàn cầu. Thế là con đường tơ lụa mới hình thành. Thế là chương trình “vành đai và con đường” được thực hiện và để có thể rút ngắn đường đi của hàng hóa, Trung quốc đang tính đến việc mở con đường qua miền bắc cực.

Hai là, Trung quốc phát triển cần rất nhiều năng lượng và nguyên liệu mà tài nguyên trong nước không dồi dào, phong phú nên phải khai thác ở nước ngoài, đặc biệt là châu Phi và Trung đông. Độc chiếm biển Đông cũng vì mục đích này.

Con đường tơ lụa là một khái niệm đã có từ thời phong kiến Trung Hoa, chính xác là để các triều đại phong kiến Trung quốc xuất khẩu tơ lụa. Ngày nay hàng hóa qua lại con đường này không chỉ là tơ lụa mà tất cả những gì Trung quốc xuất khẩu ra thế giới và những gì mà Trung quốc nhập về (chủ yếu là khoáng sản và năng lượng). Con đường tơ lụa trên bộ xuất phát từ Phúc Châu, qua Mông Cổ, Ấn độ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy-lạp đến châu Âu. Đó là hướng tây; hướng đông đến Triều Tiên, Nhật Bản; hướng nam đi xuống Đông nam Á.

Còn chương trình “vành đai và con đường” (nhất đới, nhất lộ) thì lại đi theo đường biển. Chính vì vậy mà Trung quốc đã đầu tư khá nhiều cảng biển từ đông nam Á (Campuchia), sang Nam Á (Pakistan, Sri Lanka, Myanmar), sang Trung đông rồi đến tận Italy.

Gần đây, Trung quốc tính toán mở thêm một con đường vận tải, đó là đi qua bắc cực. Muốn đi qua đây, Trung quốc không thể vượt mặt nước Nga và một số nước Bắc Âu như Phần Lan chẳng hạn. Đây chính là điểm phát sinh mâu thuẫn giữa Trung quốc với Nga và các nước trong khu vực. Xưa nay giữa Nga và Trung quốc vẫn tồn tại những tranh chấp lãnh thổ. Trung quốc muốn đòi lại phần đất mà tổ tiên họ đã dâng cho Nga hoàng.

Cũng như Biển Đông ở phía nam mà bản đồ thế giới gọi là Nam hải, thì ở phía đông Trung quốc muốn kiểm soát biển Hoa đông, tạo nên sự tranh chấp với Nhật Bản.

Chiêu bài mà Trung quốc thường viện dẫn trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ là “tồn tại lịch sử”. Đối với Ấn độ, với Nga, với Nhật và với Việt Nam họ đều có cùng một thủ đoạn. Buồn cười và thô bỉ nhất là họ cứ bấu chặt lấy cái đường lưỡi bò ở Biển Đông mà tên bại tướng Tưởng Giới Thạch vẽ ra vào năm 1949, rồi bảo đó là “tồn tại lịch sử!”.

Tóm lại, Trung Quốc hiện nay đã là một nước có nền kinh tế phát triển, dự trữ ngoại tệ rất lớn, là chủ nợ của rất nhiều nước, đặc biệt là các nước nghèo và các nước đang phát triển. Với một nền kinh tế như vậy, Trung quốc dễ dàng mua chuộc lãnh đạo nhiều nước, trao cho họ những món nợ khổng lồ (vượt quá khả năng trả nợ của họ), cuối cùng kẻ đi vay không có khả năng trả nợ thì gán nợ bằng công trình, bằng tài nguyên đất nước. 

Chẳng thế mà, Myanmar - một đất nước đã có một lịch sử huy hoàng (đánh bại quân Thanh, Trung quốc), một nền kinh tế hùng hậu nhất châu Á vào thập niên 50-60, một nền công nghiệp đứng đầu đông nam Á, thậm chí là nước đầu tiên phát minh ra robot chứ không phải Mỹ hay Nhật vân vân. Thế mà ngày nay, thì sao? Trở thành một nước phụ thuộc Trung quốc, điển hình là tháng 12 vừa qua, chính phủ quân sự đã cho phép lưu hành đồng nhân dân tệ song song với đồng tiền quốc gia. Và còn nhiều nữa mà tôi không thể nói hết trong bài này.

Nói cho đúng bản chất của các khoản đầu tư của Trung quốc ở nước ngoài khoác dưới chiếc áo rất đẹp là “viện trợ phát triển” song không khác gì chủ nghĩa thực dân mới. Chủ nghĩa thực dân cũ dùng vũ lực để cướp tài nguyên của quốc gia bị xâm lược, thì nay Trung quốc dùng tiền để mua chuộc và chiếm đoạt.

Xem ra cuộc chinh phạt này diễn ra rất êm ái, một khi “tiền đã trao” thì “tài nguyên sẽ được múc đem đi”. Sau một ít năm nhìn lại thì hỡi ôi, tài nguyên xưa nay còn đâu!

Rồi đây, cuộc chiến tranh dành ngôi bá đồ vương giữa Trung quốc và Mỹ sẽ chẳng kết thúc, đừng ai mong đợi sẽ có một bên thắng mà đã vội tìm cách dựa giẫm. Hai tay gangsters này đang phân chia lãnh địa thôi, họ không dựa vào nhau sẽ không phát triển được – một bên có thị trường và vốn, một bên có công nghệ, làm sao mà chúng tách rời nhau?./.

Ảnh trong bài: Vừa ăn cướp vừa la làng

Yêu nước ST.

8 DẤU ẤN NHIỆM KỲ 2020 - 2021 CỦA VIỆT NAM TẠI LIÊN HỢP QUỐC

 

Xứng đáng với lòng tin và kỳ vọng của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã hoàn thành nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (UVKTT HĐBA) Liên hợp quốc (LHQ) năm 2020-2021 với những dấu ấn quan trọng, đóng góp lớn vào tổng thể triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; đặc biệt là nâng tầm đối ngoại đa phương, mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước, nâng cao vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. 


Ngày 7/6/2019, trong khuôn khổ Khoá 73 Đại hội đồng LHQ, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu làm UVKTT HĐBA nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu cao kỷ lục (192/193 phiếu). Đây là lần thứ hai Việt Nam vinh dự đảm nhận trọng trách quan trọng này, thể hiện sự tín nhiệm, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế dành cho một Việt Nam đổi mới, phát triển mạnh mẽ và hội nhập sâu rộng, là minh chứng cho uy tín và vị thế đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Điều này cũng thể hiện sự tin tưởng, kỳ vọng của quốc tế đối với năng lực và sự tham gia có trách nhiệm của Việt Nam trong nỗ lực chung nhằm duy trì hòa bình, ổn định, an ninh ở khu vực và trên thế giới.


Bước vào nhiệm kỳ UVKTT lần này, Việt Nam phải đương đầu với thách thức chung chưa từng có đối với nhân loại. Đó là đại dịch COVID-19 xuất hiện, lan nhanh và tạo thành cuộc đại khủng hoảng, đa khủng hoảng trên toàn thế giới, tác động tiêu cực, đa chiều đến mọi mặt của đời sống quốc tế trong đó có hoạt động của LHQ: phải đóng cửa, chuyển sang hoạt động trực tuyến, trong khi các quốc gia phải điều chỉnh ưu tiên, tập trung vào ứng phó và kiểm soát dịch bệnh. Bên cạnh đó, các thách thức an ninh truyền thống như căng thẳng, xung đột, bất ổn vẫn tiếp diễn, thậm chí gay gắt và phức tạp hơn trước ở khu vực Trung Đông - Châu Phi, các điểm nóng cục bộ ở châu Âu, châu Á… Trong khi đó, cạnh tranh chiến lược và tập hợp lực lượng của các nước lớn tiếp tục diễn ra hết sức quyết liệt; chủ nghĩa dân tộc, chính trị cường quyền, tranh chấp lãnh thổ, các hành vi đơn phương vi phạm luật pháp quốc tế gia tăng; chủ nghĩa đa phương bị thách thức nghiêm trọng, tạo nên trạng thái quan hệ quốc tế bất định, bất ổn và bất an.


Trong bối cảnh đầy thách thức đó, với thông điệp chủ đề “Đối tác vì hòa bình bền vững”, Việt Nam đã quyết tâm và làm hết sức mình để hiện thực hóa cam kết xây dựng quan hệ đối tác, sẵn sàng hợp tác với tất cả các thành viên HĐBA, thành viên LHQ vì mục tiêu chung là thúc đẩy mạnh mẽ nỗ lực xây dựng hòa bình bền vững và cuộc sống tốt hơn cho tất cả mọi người dân trên thế giới, phù hợp với quan tâm chung của cộng đồng quốc tế và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng của người dân về phòng ngừa xung đột, giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế. Việt Nam cũng đã chủ động, tích cực đóng góp cho công việc chung của cộng đồng, thể hiện sinh động hình ảnh Việt Nam đổi mới, hội nhập quốc tế toàn diện, yêu chuộng hòa bình, tích cực và trách nhiệm, có năng lực, bản lĩnh và bản sắc đối ngoại theo phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, qua đó, tạo thêm giá trị, nền tảng lâu dài cho việc hiện thực hóa khát vọng, tầm nhìn phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.


Thứ nhất, Việt Nam đã cùng các thành viên khác đảm bảo hoạt động thông suốt của HĐBA với chương trình nghị sự phong phú, nội dung rộng khắp, bao quát tình hình ở tất cả các châu lục, nhiều điểm nóng và vấn đề được quốc tế quan tâm hàng đầu. Trong năm 2020-2021, HĐBA đã có gần 900 cuộc họp cấp đại sứ trở lên, hàng nghìn cuộc tham vấn các cấp, thông qua 247 văn kiện (trong đó có 111 nghị quyết, 37 tuyên bố Chủ tịch, 100 tuyên bố báo chí); thảo luận các vấn đề quốc tế nóng nhất từ ứng phó COVID-19, biến đổi khí hậu, hoạt động gìn giữ hòa bình, bảo vệ thường dân, chống khủng bố… đến xung đột, bất ổn tại Libya, Israel-Palestine, Ethiopia, Syria, Myanmar…


Thứ hai, Việt Nam tích cực tham gia bàn thảo, tìm giải pháp cho tất cả các vấn đề trong chương trình nghị sự HĐBA ở tất cả các khu vực, trong đó có các cuộc xung đột ở châu Phi, khủng hoảng nhân đạo ở khu vực Trung Đông, cũng như các vấn đề chủ đề quan trọng như chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang, an ninh biển, biến đổi khí hậu, ứng phó với đại dịch COVID-19... Thúc đẩy đồng thuận chung, thúc đẩy hợp tác, đối thoại, giảm căng thẳng, đối đầu; tìm giải pháp công bằng, hợp lý cho các vấn đề đe doạ hoà bình, an ninh khu vực và quốc tế; giữ vững nguyên tắc song vẫn đảm bảo linh hoạt, khéo léo trong ứng xử với các nước, các bên.


Thứ ba, Việt Nam đã quan tâm và thúc đẩy xử lý một cách tổng thể các thách thức về hòa bình an ninh từ phòng ngừa xung đột, giải quyết xung đột đến xử lý hậu quả xung đột, trong đó nhấn mạnh vấn đề giải quyết hậu quả bom mìn, đề cao yêu cầu giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của xung đột, đồng thời đề cao các nỗ lực, kinh nghiệm của Việt Nam trong quá trình tái thiết và phát triển đất nước. Việt Nam đã tổ chức thành công phiên thảo luận mở do Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn chủ trì về khắc phục hậu quả bom mìn và thông qua Tuyên bố Chủ tịch về vấn đề này vào tháng 4/2021. Đây là Tuyên bố đầu tiên của HĐBA đề cập riêng đến vấn đề khắc phục hậu quả bom mìn, nhấn mạnh mối liên hệ giữa khắc phục hậu quả bom mìn với duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững, đề cao sự cần thiết phải tăng cường hợp tác quốc tế và đặc biệt là khẳng định cam kết của HĐBA đối với lĩnh vực này - điều các văn kiện trước đó chưa làm được.


Đóng góp của Việt Nam trên cương vị UVKTT HĐBA LHQ được bạn bè đối tác đánh giá cao. Tổng thư ký LHQ Antonio Guiteres ghi nhận “Việt Nam đã luôn là đối tác mạnh mẽ của LHQ kể từ khi gia nhập tổ chức vào năm 1977. Giờ đây, sau hơn 40 năm, Việt Nam đang thể hiện là một nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực".

Thứ tư, Việt Nam cũng đã thể hiện tinh thần đoàn kết ASEAN, phối hợp chặt chẽ với Indonesia trong năm 2020 (khi cả hai nước là UVKTT HĐBA), thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN và hợp tác giữa ASEAN và LHQ nói chung và với HĐBA nói riêng. Trên vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và nước ASEAN duy nhất tại HĐBA năm 2021, Việt Nam đã củng cố và nâng cao vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết các vấn đề an ninh khu vực và tăng cường hợp tác giữa ASEAN và HĐBA LHQ thông qua việc tổ chức Phiên thảo luận mở đầu tiên của HĐBA về hợp tác giữa ASEAN và LHQ vào tháng 1/2020 và Phiên thảo luận mở về vai trò các tổ chức khu vực trong phòng ngừa xung đột và xây dựng lòng tin, thúc đẩy thông qua tuyên bố; đề cao vai trò của ASEAN trong thảo luận và văn kiện của HĐBA về vấn đề Myanmar.


Thứ năm, kiên trì lập trường nhất quán tuân thủ Hiến chương LHQ và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế: thúc đẩy hòa bình, độc lập dân tộc, chống chiến tranh, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng có lợi giữa các nước, tôn trọng độc lập, chủ quyền, nguyên tắc không can thiệp công việc nội bộ, giải quyết hòa bình tranh chấp… Trong lần đầu tiên đảm nhiệm vai trò Chủ tịch HĐBA (tháng 1/2020), Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã chủ trì Phiên thảo luận mở với chủ đề “Thúc đẩy tuân thủ Hiến chương LHQ trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế” với sự tham gia và phát biểu của 111 diễn giả từ 106 quốc gia, cũng là số diễn giả cao nhất từ trước đến nay trong các cuộc thảo luận mở của HĐBA. Cũng tại phiên thảo luận này, lần đầu tiên trong lịch sử, HĐBA thông qua một Tuyên bố Chủ tịch riêng về tuân thủ Hiến chương LHQ, khẳng định giá trị bền vững của Hiến chương trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế và điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, nhấn mạnh tất cả các nước, các cơ quan LHQ, các tổ chức khu vực cần bảo đảm xử lý các vấn đề liên quan đến hòa bình và an ninh quốc tế phù hợp với Hiến chương LHQ.


Thứ sáu, Việt Nam đã để lại dấu ấn về tinh thần nhân văn của dân tộc. Xuất phát từ chính những kinh nghiệm của Việt Nam từng trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, Việt Nam đã thúc đẩy các vấn đề nhân đạo như bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang, nhất là các đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em trong xung đột vũ trang; luôn đề cao lợi ích của người dân trong các biện pháp, cách thức xử lý của HĐBA (như trong vấn đề Syria, Yemen...). Sự kiện do Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn chủ trì và thông qua Nghị quyết 2573 về Bảo vệ cơ sở hạ tầng thiết yếu đưa ra những quy định tổng thể, dài hạn đối với việc bảo vệ hệ thống các cơ sở hạ tầng thiết yếu cũng như nhân viên vận hành.


Thứ bảy, Việt Nam đã thúc đẩy một cách hiệu quả các ưu tiên và khẳng định vai trò quốc tế của Việt Nam như giới thiệu và thúc đẩy Đại hội đồng LHQ thông qua Nghị quyết về Ngày quốc tế phòng, chống dịch; thành lập và đưa vào hoạt động Nhóm bạn bè Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) với hơn 113 nước tham gia; tái cử thành công vào Ủy ban Luật pháp quốc tế LHQ (ILC) nhiệm kỳ 2021-2026; vận động ứng cử vào các cơ quan LHQ khác như Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025; tích cực tham gia, khẳng định lập trường trong thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, công bằng trong tiếp cận vaccine, biến đổi khí hậu, an ninh biển.


Thứ tám, Việt Nam cũng có những đóng góp rất thiết thực đối với công việc của HĐBA, như cử Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 3 lên đường nhận nhiệm vụ tại Phái bộ Gìn giữ hòa bình (GGHB) LHQ tại Nam Sudan vào cuối tháng 3/2021; mở rộng lĩnh vực, địa bàn và quy mô lực lượng tham gia hoạt động GGHB LHQ, trong đó lần đầu tiên triển khai Đại đội công binh tại Phái bộ UNISFA ở Abyei (Sudan/Nam Sudan). Tham gia của Việt Nam đối với các hoạt động GGHB LHQ được LHQ và bạn bè quốc tế, đặc biệt là người dân sở tại ghi nhận và trân trọng, góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam. Đó cũng là tiền đề để 3 sĩ quan Việt Nam đã được lựa chọn trúng tuyển vào làm việc tại Trụ sở LHQ trong giai đoạn 2021 – 2023.


Đóng góp của Việt Nam trên cương vị UVKTT HĐBA LHQ được bạn bè đối tác đánh giá cao. Tổng thư ký LHQ Antonio Guiteres ghi nhận “Việt Nam đã luôn là đối tác mạnh mẽ của LHQ kể từ khi gia nhập tổ chức vào năm 1977. Giờ đây, sau hơn 40 năm, Việt Nam đang thể hiện là một nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực". Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Thường trực Vương quốc Anh bên cạnh LHQ Barbara Woodward ca ngợi “Việt Nam là một đối tác rất tuyệt vời trong HĐBA trong việc giải quyết tất cả các vấn đề. Dù là vấn đề gần với Việt Nam về địa lý như Myanmar, hay xa xôi như Afghanistan, Ethiopia, Sudan... Việt Nam đều tìm được cách tiếp cận rất tốt”.


Đây chính là thành quả của quyết tâm, nỗ lực chung của toàn Đảng và toàn dân, sự vào cuộc của hệ thống chính trị, sự chỉ đạo sát sao và tham gia trực tiếp của lãnh đạo cấp cao, sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của các bộ, ngành, ý chí đoàn kết và sự đồng lòng của cả dân tộc, sự hỗ trợ của LHQ và bạn bè quốc tế cũng như sự ủng hộ rộng rãi của các đối tác. Kết quả đó cũng là nhờ thế và lực mới của đất nước đạt được sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập sâu rộng; kinh tế - xã hội phát triển ổn định, tiềm lực và quy mô kinh tế tăng, đời sống nhân dân tiếp tục được nâng cao; quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, trong đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược/đối tác toàn diện với 30 nước, bao gồm tất cả các nước UVTT HĐBA. Đó cũng là do ta đã biết phát huy kinh nghiệm ngoại giao đúc kết hơn 75 năm qua, nhất là từ nhiệm kỳ UVKTT HĐBA LHQ giai đoạn 2008-2009 và bài học chân lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại, vừa đặt mục tiêu cao nhất là lợi ích quốc gia - dân tộc, vừa có cách làm sáng tạo, chính trực, xử lý hài hòa quan tâm chung của các nước, các đối tác. “Lửa thử vàng gian nan thử sức” - Chính những thách thức trong thời gian qua đã một lần nữa khẳng định bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, tâm thế sẵn sàng cho các “cuộc chơi” lớn./.

TẾT LÀ MỘT DI SẢN VĂN HÓA


Tết truyền thống của Á Đông theo lịch mặt trăng là một di sản văn hóa cực kì to lớn của người dân trong khu vực, nhất là của người Việt Nam ta. Tất cả mọi sinh hoạt, mọi tình cảm, mọi toan tính của con người đều bị chi phối bởi ngày tết. Tết cuốn mọi điều của cuộc sống con người vào đấy.


Ý nghĩa văn hóa lớn thứ nhất là có tính tâm linh. Đó là ngày con người kết nối với thần thánh, chuẩn bị cho một tương lai mới với khoảng thời gian của một năm mới, nên đủ nghi lễ phải thực hiện. Tết cũng là dịp tưởng nhớ tổ tiên, cúng kiếng, mời rước đưa tiễn thân thiết vô cùng. Tết cũng là những ngày được cho là dễ hiện ra những điềm báo trước cuộc đời, nên người ta hay tò mò bói toán (kể cũng vui)


Ý nghĩa văn hóa thứ hai là có tính xã hội, con người lúc đó buộc phải tìm cách cải thiện mối quan hệ với tất cả mọi người dù trước kia có trục trặc gì đó. Đặc biệt là quan hệ với gia đình là cốt lõi của mọi mối quan hệ, sự sum vầy, chúc tụng, quà tặng (lì xì là một biểu hiện của việc muốn củng cố tình cảm). Ai gặp nhau cũng phải vui, phải cười, phải chào hỏi. Nhờ vậy sự xung đột xã hội cũng giảm bớt. Tết có sức mạnh buộc mọi người phải cải thiện quan hệ xã hội, một cách tự nhiên, thiêng liêng.


Ý nghĩa văn hóa thứ ba là giáo dục đạo đức. Sự giáo dục này không có bài bản rõ rệt, mà trở thành tiềm thức của dân tộc. Mọi hành vi của con người phải cẩn thận chu đáo. Nhà cửa phải sạch sẽ đẹp đẽ. Quần áo phải tươm tất lịch sự. Câu chào tiếng nói đều phải đạt đến mức độ văn minh lễ nghĩa. Tết là dịp con người nâng cao tư cách của mình lên một chút.


Ý nghĩa văn hóa thứ tư là tạo niềm vui cho nhau. Những ngày tết không ai được xúc phạm ai, chỉ cố gắng làm cho nhau vui. Có nhiều cách thức tạo niềm vui cho nhau, nhưng đôi khi không khéo cuộc vui lại end up ở bài bạc, nhậu nhẹt, la hét, bây giờ thêm karaoke khủng bố hàng xóm. Làm sao tạo niềm vui cho nhau mà vẫn đàng hoàng lành mạnh là hay nhất.


Dĩ nhiên tết cũng tạo ra một số điều phiền toái, cũng trở thành áp lực khi ta không đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu văn hóa lớn lao của tết. Tuy nhiên, nếu ta có lòng, nếu ta có phước, thì tết thật sự là quà tặng của tổ tiên để lại cho muôn đời sau. Ta hãy xem mỗi dịp tết là một lần ta improve ourselves về mọi thứ. Tết là cơ hội, và cũng là thử thách.

SỨC SỐNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRONG THỜI ĐẠI MỚI!

     Chủ nghĩa Mác - Lênin từ khi ra đời đến nay đã liên tục đi trên con đường không bằng phẳng. Gần 180 năm qua, tư tưởng của các nhà kinh điển đã vượt qua thử thách của thời đại cũng như sự phê phán, công kích của các thế lực đối lập, thù địch. Thời gian qua, một số kẻ mượn cớ những khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển đất nước để xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với thời đại ngày nay, đòi hỏi phải xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa Mác - Lênin.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, bất chấp mọi công kích, bôi nhọ, phê phán, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn vững vàng và phát huy vai trò trong thời đại mới. Càng trải qua khó khăn, chủ nghĩa Mác - Lênin lại càng bộc lộ tính sáng tạo, tính thực tiễn cùng những giá trị tự thân. Lịch sử chứng kiến nhiều trào lưu tư tưởng trở nên lỗi thời cùng với sự thay đổi và phát triển của xã hội. Song, việc chủ nghĩa Mác - Lênin không ngừng phát huy vai trò quan trọng của mình suốt từ thập niên 40 của thế kỷ XIX cho đến ngày nay và tiếp tục khẳng định sức sống của mình lại là một điều rất đáng để nghiên cứu.


1. Chủ nghĩa Mác - Lênin phải chăng đã lỗi thời?

Một số người cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản giai đoạn đầu, vì vậy không còn phù hợp để lý giải chủ nghĩa tư bản phát triển ở trình độ cao như ngày nay. Họ cho rằng, tư tưởng của C.Mác do ra đời gần 180 năm trước nên đã lỗi thời, lại càng không phù hợp vói một nước phương Đông như Việt Nam. Song, điều mà những người cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời chính là không thấy được C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ nêu lên các vấn đề của chủ nghĩa tư bản giai đoạn đầu, mà quan trọng hơn là tìm ra con đường xã hội tư bản chủ nghĩa sẽ đi về đâu, từ đó phát hiện quy luật của xã hội tư bản cũng như quy luật của xã hội loài người nhằm mục đích giải phóng con người. 

C.Mác và Ph.Ăngghen mang trong mình sứ mệnh giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại, chính vì vậy mà tính khoa học là yêu cầu đầu tiên để thực hiện sứ mệnh này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin không dừng lại ở biểu hiện của chủ nghĩa tư bản, mà thông qua các hiện tượng của chủ nghĩa tư bản để tìm ra bản chất và quy luật của xã hội tư bản. Chủ nghĩa tư bản giai đoạn đầu đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn xã hội, trong đó ẩn chứa quy luật và xu thế phát triển của chính chủ nghĩa tư bản.

Chúng ta có thể thấy được các giá trị đương đại của chủ nghĩa Mác - Lênin từ ba bộ phận cấu thành của nó. Ví dụ từ kinh tế chính trị học Mác - Lênin, lý luận về hàng hóa sức lao động, về giá trị thặng dư, về mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, mâu thuẫn giữa tính xã hội của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân,... không phải vì sự biến đổi của chủ nghĩa tư bản mà mất đi tính khoa học và giá trị lý luận của chúng.

Từ góc độ chủ nghĩa xã hội khoa học, tinh thần nhân văn và tính hiện thực thể hiện rõ trong bước chuyển từ chủ nghĩa xã hội không tưởng sang chủ nghĩa xã hội khoa học. Bên cạnh đó là sự mô tả các đặc trưng của xã hội tương lai. Khi nêu các đặc trưng của xã hội tương lai, C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh đến việc xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản, hình thành sở hữu công cộng. Tuy nhiên, các ông cũng lưu ý rằng, không phải khi nào cũng xóa bỏ được chế độ tư hữu, nhất là lại xóa bỏ ngay lập tức. Kế thừa và 


1. V.I.Lênin: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.36, tr.83.

phát triển quan điểm của C.Mác trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin đã nêu lên 4 đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa xã hội: Tư liệu sản xuất không phải của riêng cá nhân, mà thuộc về toàn xã hội; phân phối theo lao động; không còn tình trạng người bóc lột người, song còn chênh lệch về của cải; nhà nước vẫn chưa tiêu vong hẳn. Tuy nhiên, sau khi thực sự bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã thận trọng hơn, ông viết: "Những viên gạch dùng để xây dựng chủ nghĩa xã hội còn chưa làm xong. Chúng ta không thể nói gì hơn và chúng ta cần phải hết sức thận trọng và chính xác... Hiện nay, chúng ta không thể nêu lên đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, cho nên nêu lên nhiệm vụ đó là không đúng"1. Về sau, V.I.Lênin đã thay đổi quan điểm của mình về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển từ chính sách cộng sản thời chiến sang thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP). Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội cũng đã nhiều lần nhấn mạnh cả về phương diện kinh tế lẫn phương diện xã hội. Người khẳng định: "... một nước xã hội chủ nghĩa tức là một nước có một cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập" , "... xây dựng chủ nghĩa xã hội là... làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no và hạnh phúc" , "Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người... sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất" ,... Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản chất của chủ nghĩa xã hội về phương diện kinh tế là làm cho cuộc sống ấm no, giàu có; về phương diện xã hội là làm cho người dân được sống trong công bằng, dân chủ, tự do.

Từ góc độ triết học thì triết học Mác - Lênin vẫn là một hệ thống đỉnh cao, bởi vì triết học Mác - Lênin đã nêu lên những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Một số người cho rằng, triết học phản ánh tinh thần của cả một thời đại, là tinh túy của tinh thần thời đại, vì vậy thời đại thay đổi thì cũng cần thay đổi triết học. Điều này mới nghe qua thì hợp lý, song thực tế lại có không ít sai lầm. Đúng là triết học là tinh tuý của tinh thần thời đại, song không có nghĩa thời đại thay đổi thì triết học được sinh ra trong thời đại đó mất đi giá trị của mình. Ví dụ ở phương Tây là giá trị triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại, truyền thống Kitô giáo, tinh thần Phục Hưng, phong trào Khai sáng Pháp, triết học cổ điển Đức...; hay ở phương Đông là tinh hoa của Phật, Lão, Nho... Lịch sử biến thiên qua nhiều giai đoạn, song không vì thời đại thay đổi mà các học thuyết, hệ tư tưởng này mất đi tinh hoa, giá trị đối với nhân loại. Tương tự như vậy, so với thời của C.Mác hơn một thế kỷ trước, mặc dù đặc trưng thời đại, các vấn đề căn bản phải đối mặt của chúng ta ngày nay đã thay đổi, song điều đó hoàn toàn không làm lay chuyển sứ mệnh lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng ta dùng các cách thức khác nhau để thực hiện lý tưởng vĩ đại của loài người mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu ra. Thực tiễn xã hội ngày nay cũng như sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ không đưa ra được bất cứ bằng chứng xác thực nào để bác bỏ các nguyên lý căn bản của triết học Mác, vì vậy việc cho rằng thời đại thay đổi thì triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung đã lỗi thời là hoàn toàn sai lầm.

Có thể thấy rõ rằng, không phải học thuyết càng mới thì càng có giá trị. Một học thuyết trong lịch sử đối với đương thời có hay không có giá trị không phải ở chỗ học thuyết đó ra đời ở thời đại nào, mà căn bản nhât ở chỗ tự bản thân học thuyết đó có tính chân lý hay không, có cung cấp đủ tri thức và trí tuệ hay không.

Một đặc điểm không thể không nhắc đến của khoa học xã hội là tri thức khoa học xã hội, khoa học nhân văn khác với công nghệ, kỹ thuật hay công cụ sản xuất. Con người khi có công cụ sản xuất mới thì có thể không cần công cụ sản xuất cũ nữa, có kỹ thuật mới tiên tiến thì có thể thay thế kỹ thuật cũ lạc hậu. Song tri thức khoa học xã hội, khoa học nhân văn thì lại khác: chỉ cần có tính chân lý hoặc mang lại trí tuệ cho con người thì những tri thức này có giá trị tồn tại. Tri thức khoa học xã hội, khoa học nhân văn vì vậy mang đặc trưng tích lũy chứ không mang đặc trưng thay thế như kỹ thuật, công nghệ. Chính vì vậy mà có những học thuyết tồn tại hàng nghìn năm qua vẫn còn giá trị. Bản thân Ph.Ăngghen trong "Biện chứng của tự nhiên" cũng ca ngợi trí tuệ thiên tài của các nhà triết học Hy Lạp, La Mã cổ đại cách thời của ông hơn 2000 năm. Các triết gia có thể chết, song tư tưởng của họ thì không chết. Chân lý thì không có cũ và mới, chỉ có sự đối lập giữa chân lý và sai lầm có thể có những chân lý xưa cũ và có thể có những sai lầm mới nhất. Chính vì vậy mà giá trị của một học thuyết không thể đo bằng khoảng cách thời gian.


2. Giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới

Lý luận là màu xám, còn cây đời mãi xanh tươi. Linh hồn và sự sống của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là thế giới quan, phương pháp luận; là tinh thần phê phán, đổi mới và sáng tạo không ngừng; nguyên lý thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất của chân lý; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; mối quan hệ biện chứng giữa nền tảng kinh tế quyết định kiến trúc thượng tầng - chủ thể của lịch sử là quần chúng nhân dân; phản đối sự tha hóa của con người, chủ trương phát triển con người toàn diện v.v.. Những nguyên lý này không chỉ đúng trong thế kỷ XIX hay thế kỷ XX mà còn đúng trong thế kỷ XXI và về sau nữa, vì đó là những quy luật khách quan trong xã hội có giai cấp. Chính vì vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải dựa trên lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản, lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.

 - Tính sáng tạo, bản chất phát triển liên tục của chủ nghĩa Mác - Lênin

Một số người phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ tập trung vào C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin mà tách rời hoặc đối lập các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin với những người phát triển về sau, muốn xóa bỏ toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong suốt hơn một thế kỷ qua để chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin là giáo điều, là xa rời thực tiễn. Sai lầm của quan điểm này là ở chỗ không nhận thức được tính sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà chính tính sáng tạo, khả năng phát triển liên tục này đã làm nên sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nói cách khác, chủ nghĩa Mác - Lênin là một chủ nghĩa phát triển và các thế hệ, các nhà mácxít sau này đã kế thừa, phát triển. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không chỉ vận dụng tài tình chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, mà còn có cống hiến to lớn cho sự phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin. Do chủ nghĩa Mác - Lênin có bản chất sáng tạo, luôn phát triển nên nó không bị lỗi thời, lạc hậu.

Có một số người đặt vấn đề là nêu chủ nghĩa Mác - Lênin có giá trị, vậy phải liệt kê ra một danh mục các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin có tính phổ biến, tuyệt đối đúng trong mọi không gian, mọi thời gian, áp dụng được vào mọi đối tượng, mọi hoàn cảnh, mà nếu không làm được như vậy thì rõ ràng chủ nghĩa Mác - Lênin không có giá trị. Quan điểm này rõ ràng sai lầm vì đã đi ngược lại chính tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin. Cả C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhiều lần nhấn mạnh lý luận của mình không phải là một thứ giáo điều để tuyệt đối tuân thủ hoặc áp dụng một cách máy móc. Học thuyết mà các nhà kinh điển đưa ra không phải là một loại giáo lý tôn giáo, mà chính là phương pháp. Do đó, người mácxít chân chính bao giờ cũng gắn chặt lý luận với thực tiễn, dùng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là một công thức đơn giản để áp dụng trực tiếp, mà nó mang tinh thần phê phán, sáng tạo, thực tiễn, liên tục phát triển. Từ góc độ này cho thấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý chính là nguyên tắc nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Có một số người muôn biến lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin thành một vài kết luận cụ thể để vận dụng, song cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều nhấn mạnh đến việc mỗi vấn đề phải có các cách phân tích khác nhau, chứ không có một giáo điều lý luận để áp dụng cho mọi sự vật, hiện tượng. Chính vì vậy mà việc một số người nhận thức thực tiễn không sâu sắc, áp dụng một cách cứng nhắc lý luận vào thực tiễn để rồi thấy không phù hợp, đòi vứt bỏ lý luận; sự không phù hợp đó không phải là lỗi của lý luận, mà chính là do thiếu tính thực tiễn, tính khoa học của chủ thể hành động. Chính vì vậy, việc dò từng câu, từng chữ trong kinh điển để mong tìm ra những viên ngọc nhằm làm bảo bối giải quyết mọi vấn đề, không phải là phương pháp duy nhất đúng đắn, cũng không phải là cách làm hiệu quả vì không xuất phát từ tính khoa học, tính thực tiễn, cũng như không phù hợp với thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Ở đây, có một điểm đáng lưu ý là cần phân biệt một vài luận điểm có thể đã lạc hậu trong các trước tác của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin với quan điểm cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời. Chúng ta nhấn mạnh đến giá trị, vai trò và ý nghĩa hiện thời của chủ nghĩa Mác - Lênin, song không phủ nhận C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin rất có thể có một vài phân tích, phán đoán chưa đúng với thực tế hoặc không phù hợp với thời đại ngày nay. Chúng ta cần phân biệt rõ một vài phán đoán cụ thể của các nhà kinh điển với chỉnh thể hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin. Thêm nữa, bản thân trong các trước tác của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã không chỉ một lần dũng cảm phê phán một vài luận điểm trước đây của mình một cách thẳng thắn, chân thành. Sự phản tỉnh, tự phê của các nhà kinh điển đã thể hiện tinh thần khách quan, tính khoa học đáng quý, đồng thời cũng bảo vệ tính chân lý của chỉnh thể hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin.

Con đường phát triển tất yếu lên chủ nghĩa xã hội

Trong lịch sử chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết phê phán chủ nghĩa tư bản sâu sắc nhất, triệt để nhất. Sự vạch trần và phê phán đến tận cốt tuỷ này đã khiến chủ nghĩa tư bản sinh ra sự thù hận chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời cũng khiến chủ nghĩa tư bản không thể không tự sửa chữa những sai lầm của mình, mong muốn dùng các biện pháp cứu vãn như xây dựng nhà nước phúc lợi, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo,... để điều hòa mâu thuẫn xã hội và mâu thuẫn giai cấp.

Có người cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin không còn thích hợp trong thời đại toàn cầu hóa. Rõ ràng hiện nay chủ nghĩa tư bản chiếm địa vị chủ đạo trong quá trình toàn cầu hóa, song chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là công cụ lý luận để chúng ta nhận thức những biến động mới của chủ nghĩa tư bản. Sau khi khủng hoảng kinh tế bùng nổ ở phương Tây, nhiều học giả trên thế giới đã phải tìm đọc lại bộ Tư bản. Mặc dù không có những dự báo cụ thể về những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, song C.Mác đã bàn đến vấn đề cốt lõi, đó chính là mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản: Mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa lực lượng sản xuất ngày càng cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.

Sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra sự phát triển mang tính bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Các phương diện triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học trong chủ nghĩa Mác - Lênin có những đóng góp vô cùng to lớn, thể hiện tập trung nhất ở tính khoa học của thế giới quan chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, của học thuyết về quy luật vận hành và mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản, của học thuyết về xu hướng phát triển tất yếu của xã hội tư bản. Dù đã gần 170 năm, song vẫn chưa có một hệ thống học thuyết nào có thể so sánh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì vậy, Jacques Derrida đã viết cuốn Những bóng ma của Mác1, mô tả những con người trong xã hội hiện đại đều là những bóng ma đứng dưới cái bóng của C.Mác, nghĩa là chúng ta đều chịu ảnh hưởng của C.Mác, ngoài những người theo chủ nghĩa Mác - Lênin thì bản thân những người phê phán C.Mác cũng gắn chặt với C.Mác, và ông cho rằng sẽ không thể có tương lai nếu không có các di sản của C.Mác.

Như trên đã trình bày, những thay đổi tích cực trong nhiều thập kỷ qua của các nước tư bản không tể không nhắc đến nguyên nhân từ sự phê phán của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì vậy, học giả người Anh Terry Eagleton trong cuốn sách Tại sao Mác đúng1 đã nói chủ nghĩa Mác giống như bác sĩ, khi mà cơ thể khoẻ thì sẽ không để ý, song một khi chủ nghĩa tư bản gặp vấn đề nghiêm trọng thì chủ nghĩa Mác lại phát huy tác dụng phê phán vốn có của mình. Terry Eagleton nhấn mạnh chủ nghĩa tư bản càng ổn định thì càng chứng minh những giá trị của chủ nghĩa Mác. Giá trị đó thể hiện ở bản chất sáng tạo, mỗi khi đối diện với thực tiễn mới, vấn đề mới thì lại có năng lực sáng tạo mới.

Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là một loại khoa học thực chứng, hay là một hệ thống tri thức cố định, mà là một hệ thống lý luận mang tính phê phán đối với các vấn đề trọng yếu của thời đại. Đây chính là nền tảng cho tính sáng tạo và tính thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Những vấn đề đương thời của C.Mác có rất nhiều, trong đó nổi lên là vấn đề chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta ngày nay chính là phát huy sức mạnh động lực thị trường, đồng thời dùng giá trị ưu việt của chủ nghĩa xã hội để khống chế mặt trái của chính kinh tế thị trường. Ở đây, chúng ta đã phát huy được những giá trị đương thời trong lập trường và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin.

 

- Về vấn đề con người

Một số người mặc dù chưa bao giờ tiếp cận đến kho tàng tri thức đồ sộ của C.Mác, song vẫn mù quáng tuyên bố là C.Mác bỏ quên vấn đề quan trọng nhất của mọi vấn đề chính là con người. Song trên thực tế, con người là điểm xuất phát và sự giải phóng con người là mục đích cao nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khi các nhà kinh điển xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, về xã hội thì đã nghiên cứu, phân tích về con người hiện thực, về hoạt động thực tiễn của con người trong đời sống xã hội. Khi chúng ta đọc Hệ tư tưởng Đức, rõ ràng là C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh đến điều này: "Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra"1. Các ông cho rằng, lịch sử không phải lấy con người làm công cụ để đạt đến mục đích, mà con người sáng tạo ra lịch sử của mình, tạo ra hoàn cảnh hợp với bản chất của mình để phát triển để hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân. Vì vậy, thực chất của tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài người là vì con người đưa con người "từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do", thực sự giải phóng con người, phát triển con người một cách toàn diện. Có thể thấy rằng, từ giai đoạn Phục Hưng, quan điểm lịch sử mang tính thần học đã bắt đầu chuyển sang quan điểm lịch sử mang tính nhân bản, tạo nên bước quá độ từ quan niệm thần thánh tạo ra lịch sử sang quan niệm con người tạo ra lịch sử. Song, C.Mác và Ph.Ăngghen không lấy quan điểm của chủ nghĩa nhân bản làm xuất phát điểm cho mình, hai ông đã không dừng lại ở việc trừu tượng hóa việc con người trở thành con người hiện thực, dừng lại ở tầng bậc ý chí, động cơ và hành vi cá nhân của con người mà là thông qua hoạt động của con người để tìm ra quy luật của lịch sử.

Những luận điểm khoa học mà C.Mác đưa ra là dựa trên nền tảng bình đẳng giữa người với người trong chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, với một xã hội mà nguyên tắc cơ bản là con người được tự do phát triển toàn diện bản thân mình. Nhưng quan đicm này vẫn hoàn toàn phù hợp với xu hướng và trào lưu của thời đại ngày nay. Riêng đối với khoa học xã hội và nhân văn, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là hòn đá tảng, là nguồn lực vô tận cho quá trình nghiên cứu.


 3. Yêu cầu kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin

Chúng ta cần tiếp tục kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hổ Chí Minh, tuyệt đối tránh xu hướng xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất thiết phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hổ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng.

Những lý luận căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin như chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luận giá trị lao động, học thuyết giá trị thặng dư, cách mạng xã hội chủ nghĩa, học thuyết chính đảng của giai cấp vô sản, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội,... đã phản ánh quy luật phát triển của xã hội loài người, quy luật của chủ nghĩa tư bản và quy luật cầm quyền của chính đảng của giai cấp vô sản. Chỉ cần không có thiên kiến, chỉ cần giữ thái độ khoa học, lập trường khách quan là có thể nhận thức được giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Tuy nhiên, những năm vừa qua trong giới lý luận, khoa học và giáo dục ở nước ta, mặc dù chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được khẳng định là kim chỉ nam và nền tảng tư tưởng, song lại chưa được quan tâm đúng mức. Trong nghiên cứu lý luận, việc đi sâu nghiên cứu, bổ sung và phát triển các nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin chưa thực sự thoả đáng. Việc giảng dạy các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin ở các trường đại học, thậm chí ở một số trường đảng các địa phương nhìn chung vẫn còn hiện tượng đơn giản hóa, mới dừng lại ở một số khái niệm cơ bản chứ chưa đụng chạm nhiều đến cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong một số bộ, ngành, một số người dường như còn cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, hiện nay chỉ cần tập trung vào vấn đề thực tiễn chứ không cần lý luận. Cách nhìn nhận này một mặt không đúng với những giá trị thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, mặt khác mang lại xu hướng hoài nghi đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tạo nên tâm lý lo lắng về tính chính đáng, tính hợp pháp, sự tất yếu của chủ nghĩa Mác - Lênin. Không thể không đặt câu hỏi nếu trong bản thân đội ngũ lý luận, các nhà khoa học, các nhà giáo dục mà có bộ phận còn không tuyệt đối tin tưởng ở chủ nghĩa Mác - Lênin thì làm thế nào để người dân tin theo, huống hồ là để phản bác, phê phán lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, để làm rõ phải trái, đúng sai, lấy đó làm mực thước, tiêu chuẩn cho xã hội? Bản thân việc xem nhẹ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin sẽ dẫn đến việc biến chủ nghĩa Mác - Lênin từ một thế giới quan và phương pháp luận khoa học trở thành một số khái niệm khô cứng, nghĩa là giáo điều hóa chủ nghĩa Mác - Lênin, gây ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam ngày nay.

Như vậy, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin không thể tách rời việc nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Việc chỉ dừng lại ở các khái niệm, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin mà không đi sâu nghiên cứu lý luận, vận dụng sáng tạo trong bối cảnh mới của đất nước thì vừa xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa không có tư tưởng chỉ đạo trong xây dựng và phát triển đất nước. Học giả Mỹ, Douglas Kellner1 đã chia chủ nghĩa Mác thành ba tầng bậc khác nhau: đầu tiên là phương pháp (ví dụ phép biện chứng, phương pháp phân tích lịch sử, phương pháp phân tích giai cấp...), những phương pháp này chiếm địa vị cao nhất, cũng là quan trọng nhất trong chủ nghĩa Mác; thứ hai là những nguyên lý và quan điểm cơ bản trong lý luận của chủ nghĩa Mác (ví dụ lý luận sản xuất vật chất, lý luận giá trị thặng dư,...), những lý luận này đặc biệt quan trọng, về mặt giá trị chỉ thua kém phương pháp; cuối cùng là một số lý luận và khái niệm cụ thể (ví dụ lý luận chủ thể cách mạng, khái niệm giai cấp vô sản, khái niệm cách mạng...), những khái niệm này phát triển không ngừng, tuỳ thuộc vào bối cảnh thời đại và những điểu kiện kinh tế - xã hội cụ thể. Sự phân chia như thế này có giá trị tham khảo nhất định trong việc phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin hiện nay. Chúng ta không nên chỉ dừng ở các khái niệm và nguyên lý cụ thể, mà càng cần hơn là nắm bắt, quán triệt các nguyên lý căn bản và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình mẫu tiêu biểu cho việc thông hiểu vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp tình hình thực tiễn Việt Nam. Ngoài việc có nền tảng văn hóa Việt Nam, kế thừa các giá trị văn minh nhân loại, thì việc Người học tập, vận dụng thành công chủ nghĩa Mác - Lênin là một trong những nguyên nhân chính để chỉ đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Lý luận, tư tưởng là một vũ khí vô cùng trọng yếu của Đảng. Trong những năm qua, dường như chúng ta tập trung nhiều vào những quyết sách kinh tế để phát triển đất nước mà có phần "lơi là" vũ khí lý luận quan trọng này. Nắm chắc vũ khí lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì Đảng và Nhà nước mới tiếp tục lãnh đạo, quản lý đất nước một cách chỉnh thể, ổn định và đúng hướng.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học, cách mạng và sáng tạo. Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là mục tiêu mà sớm muộn các dân tộc trên thế giới sẽ đi tới. Mục tiêu ấy không thể ngày một ngày hai hoàn thành được. Nó là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài, trong đó có sự tham gia tích cực của các nhà lý luận mácxít dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng ta cần phải học tập, đi sâu phân tích, vận dụng sáng tạo và phát triển phương pháp, nguyên lý và những giá trị tinh tuý của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước./.

1. Jacques Derrida: Những bóng ma của Mác (Sách tham khảo), Nxb. Chính trị quốc gia, Tổng cục II, Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 1994.
1.Terry Eagleton: Why Marx Was Right, Yale University Press, April, 2011.
1. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t3, tr.28-29.

Yêu nước ST.

VIỆT NAM HOÀN THÀNH TRONG TRÁCH ỦY VIÊN KHÔNG THƯỜNG TRỰC HĐBA LHQ NHIỆM KỲ 2020-2021

 

Khép lại một năm 2021 đầy khó khăn và thách thức đối với Việt Nam và thế giới. Thế nhưng một tổ chức trên thế giới lại vô cùng “nhớ” con số 2021 đó là Liên Hợp Quốc. Cụ thể kể từ thời khắc 0h ngày 01/01/2022, Việt Nam chính thức kết thúc nhiệm kỳ 2 năm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Một nhiệm kỳ mà Việt Nam được đánh giá là có những cống hiến ấn tượng hơn bất kỳ quốc gia nào từng ngồi ở vị trí này. Vậy Việt Nam đã làm được những gì mà khiến cho Liên Hợp Quốc phải tiếc nuối đến như vậy?


Hội đồng Bảo an LHQ là một trong 6 cơ quan chính của LHQ có nhiệm vụ duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, chấp nhận các thành viên mới vào LHQ và phê chuẩn thay đổi với Hiến chương LHQ. Có thể nói quyền hạn của cơ quan này là khá lớn, bao gồm việc thiết lập các hoạt động gìn giữ hòa bình, các biện pháp trừng phạt quốc tế và chấp nhận hành động quân sự thông qua các nghị quyết. Việt Nam từng là ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009. Ở nhiệm kỳ này, Hà Nội đã được Washington hết lời ca ngợi vì những đóng góp tích cực về các vấn đề then chốt như không phổ biến vũ khí hạt nhân và chống khủng bố. 


Chính vì vậy, không khó hiểu khi mà trước nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhận được tới 192/193 phiếu ủng hộ, điều đáng nói là trong lịch sử 75 năm phát triển của Liên Hợp Quốc, đây là con số kỷ lục. Ở thời điểm đó, báo giới và dư luận thế giới đã đánh giá cao uy tín, vị thế đang lên của Việt Nam. Có rất nhiều cụm từ mà các nhà báo xướng lên như: “Một nơi tuyệt vời”, “Một đất nước tươi đẹp, an toàn, thân thiện, mến khách”, “Một đất nước năng động, phát triển”, “là đối tác tin cậy vì một nền hòa bình bền vững”.


Đại sứ Barbara Woodward, Trưởng phái đoàn thường trực Vương quốc Anh tại Liên hợp quốc, nhận định “những đóng góp của Việt Nam trong hai năm qua tại Hội đồng Bảo an hết sức có giá trị bởi Việt Nam phải trực tiếp tham gia giải quyết nhiều vấn đề quan trọng, nhưng không phải lúc nào cũng dễ nhìn thấy ở bề nổi, ví dụ như vấn đề vai trò của phụ nữ đối với hòa bình và an ninh, bảo vệ dân thường trong xung đột, hay hành động giải quyết vấn đề bom mìn. Tất cả những vấn đề này đều rất quan trọng đối với hòa bình và an ninh thế giới”. Bà cho rằng nếu không có Việt Nam thúc đẩy những vấn đề này, rất có thể Hội đồng Bảo an lại đi chệch hướng trong việc nhìn nhận và giải quyết những vấn đề cấp thiết như thế.


Đại sứ T.S Tirumurti, Trưởng phái đoàn thường trực Ấn Độ tại Liên hợp quốc, đánh giá “Việt Nam đã đóng vai trò rất tích cực trong Hội đồng Bảo an, đặc biệt trong hai tháng đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an. Việt Nam đã thúc đẩy được các vấn đề quan trọng như bảo vệ cơ sở hạ tầng trong xung đột, vấn đề bom mìn, hợp tác giữa Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực.” Ông cho rằng Việt Nam, với tư cách thành viên ASEAN, đã đóng góp quan điểm mang tính khu vực hết sức quan trọng tại các phiên thảo luận của Hội đồng Bảo an, nhất là trong vấn đề Myanmar.


Đại sứ Abdou Abarry - Trưởng phái đoàn thường trực Niger tại Liên hợp quốc, nước Chủ tịch Hội đồng Bảo an tháng 12/2021 - cho biết “các nước châu Phi trong Hội đồng Bảo an rất cảm ơn sự hỗ trợ và ủng hộ của Việt Nam khi Hội đồng Bảo an thảo luận và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề của châu Phi”. Ông cũng đánh giá cao Việt Nam đã luôn có tiếng nói mạnh mẽ tại Hội đồng Bảo an trong những vấn đề mang tính cấp thiết như khủng hoảng nhân đạo, tình trạng nước biển dâng hay xung đột mới nổi. Việt Nam cũng là 1 trong những ít nước có sự xuất hiện của những nữ quân nhân trong trang phục mũ nồi xanh đang làm nhiệm vụ giữ gìn hòa bình tại Châu Phi.


Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc Jean- Pierre Lacroix, người đứng đầu các hoạt động hòa bình của Liên hợp quốc, cũng dành nhiều lời khen ngợi cho Việt Nam bởi những đóng góp của Việt Nam kể từ khi tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc vào năm 2014, đặc biệt là những nỗ lực trong suốt hai năm qua khi Việt Nam làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an. Ông đánh giá cao tính hiệu quả của việc Việt Nam tham gia cung cấp bệnh viện dã chiến cấp 2 ở Nam Sudan bởi đây chính là năng lực mà Liên hợp quốc cần có và cần các nước thành viên Liên hợp quốc đóng góp, đặc biệt ở những khu vực xung đột nguy hiểm. Phó Tổng thư ký tin tưởng Việt Nam có đủ năng lực để tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào công tác gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc trong những năm tới.


Với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm thứ hai ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020-2021, Việt Nam đã đáp ứng kỳ vọng của bạn bè quốc tế vốn luôn ủng hộ và tin tưởng.


Thành công của Việt Nam trong nhiệm kỳ này một lần nữa làm sâu sắc thêm tình cảm và sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam, qua đó nâng cao hơn nữa hình ảnh và vị thế của nước ta trong mắt bạn bè quốc tế.

HÃY ĐỂ CHO 74 LINH HỒN TỬ SĨ HOÀNG SA ĐƯỢC THANH THẢN HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG!

         Hiện trên không gian mạng thấy mấy anh ngụy quân, ngụy quyền mắt mờ, chân chậm đang ra rả chiêu bài: "Tưởng niệm hải chiến Hoàng Sa". Thậm chí họ còn đòi đưa 74 tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa của họ được vinh danh thành những anh hùng bất tử thì kể cũng lạ thật. Vinh danh cái gì khi mà chính phía Việt Nam Cộng Hòa đã "dọn cỗ" Hoàng Sa cho Trung Quốc xơi trong vòng 35 phút bằng phương tiện, vũ khí, lực lượng chỉ bằng phân nửa Việt Nam Cộng Hòa.

Không nói thấy bớt ngu, càng nói càng lòi mặt chuột một lũ thất trận, mượn máu đồng đội để làm chính trị. Chúng muốn tô son lại bóng ma ngụy quân, ngụy quyền và làm nhiễu dư luận trong nhân dân, kích động bài Trung, thân Mỹ khi Việt Nam luôn muốn phát triển kinh tế đôi bên. Chúng cố tình dấu nhẹm, chính Mỹ là kẻ thỏa thuận ngầm cho Trung Quốc cướp Hoàng Sa của Việt Nam theo như sách báo trong và ngoài nước đã phân tích, minh chứng và thừa nhận.

Có lẽ mấy anh tàn quân ba que lú lẫn về tuổi tác, hay sự hằn học chiếm hết não thành thử mất khôn mà nói rằng: "Đảng cố tình quên, cố tình xóa nhòa ngày mất Hoàng Sa 19/1/1974" trong khi Hoàng Sa lúc ấy chính do bọn chúng nắm giữ theo hiệp định Genève 1954.

Nói thật, nếu quên được thì đảng và nhân dân Việt Nam cũng cố mà quên, vì "xấu tràng hổ ai" khi ngụy quân, ngụy quyền có là tay sai cho Mỹ, thì đám bù nhìn ấy vẫn chung một dòng máu mẹ Âu Cơ lại đớn hèn đến nỗi "quân ta bắn nhầm quân mình" rồi vọt sang tận Phi líp pin để tránh nạn trong khi pháo to, tàu khỏe, vũ khí tối tân, quân số hùng hậu gấp bội Trung Quốc.

Đảng và nhân dân Việt có thể quên nỗi đau khi Việt Nam Cộng Hòa chỉ là con rối trong sự thỏa hiệp giữa Mỹ và Trung trong bàn cờ chính trị Hoàng Sa, chứ nhất định không quên tấc đất của cha ông đang nằm trong tay Trung Quốc. Nên vẫn một mực nhất quán tuyên bố: "Hoàng Sa và Trường Sa là máu, thịt Việt Nam" chân lý ấy bất di, bất dịch.

Tôi viết vậy cũng không đồng nghĩa bác bỏ dòng máu Việt của 74 tử sĩ đã hòa vào cánh sóng quê hương. Với tôi đã là người Việt khi ngã xuống dù bất kỳ ở hoàn cảnh nào thì cũng đều đáng thương cả.

"Nghĩa tử là nghĩa tận" Nhưng không vì thế mà để cho bọn phản quốc, ba que đòi bắt đất nước phải tôn vinh, tưởng nhớ những tử sĩ Việt Nam cộng hòa bảo vệ đảo như bảo vệ doanh trại của họ được. Không ai có quyền đánh đồng những tử sĩ đó với các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã hi sinh vì nước, vì dân, vì chính nghĩa, vì độc lập dân tộc được. 

Một đất nước mấy nghìn năm lịch sử trong đó có đến một nghìn hai trăm năm chiến tranh bảo vệ chủ quyền, thì sự tôn vinh phải để cho lòng dân lựa chọn, chứ không phải do đám thất trận ba que bám đít ngoại bang hô hào thực hiện. 

Hãy để cho 74 linh hồn tử sĩ Hoàng Sa được thanh thản hướng về quê hương mới đúng vị thế của họ./.

Yêu nước ST.

NHỮNG NGƯỜI VIỆT ĐÃ VỊ THA NHƯ THẾ NÀO?

         Người lính Hoa Kỳ trong bức ảnh trên là Dewey Wayne Waddell. Anh bị lực lượng phòng không miền Bắc Việt Nam bắn hạ vào vào 05/07/1967. Lần bị bắn hạ ấy cũng là lần thứ 47 anh tham gia vào một nhiệm vụ không kích tại chiến trường Việt Nam. Không ai tính được là trong mấy chục lần không kích trước đây, bao nhiêu người Việt đã ngã xuống, bao nhiêu gia đình đã mất đi người thân, bao nhiêu nhà cửa, công trình đã bị phá hủy…

Dewey Wayne Waddell cho biết khi bị bắn hạ, anh chỉ kịp bung dù ra và lát sau đã rơi xuống mặt đất. Nhiều người dân thấy anh, họ nhìn phi công này với ánh mắt căm thù và oán hận. Dewey Wayne Waddell tiến lộ với tờ TIME rằng những người dân Việt Nam mà anh ta gặp đều muốn giết anh ta. “Nhưng thật may là họ không giết tôi, họ chỉ muốn bắt tôi” - phi công này cho biết.

Một viên phi công khác giấu tên cũng trả lời trên tờ TIME, cho biết khi anh được đưa về Hanoi Hilton, nhiều người Việt Nam nhìn anh với gương mặt bực tức và oán hận. Nhưng họ không làm gì cả, chỉ nhìn chiếc xe đi qua.

William Reeder Jr, một phi công khác bị bắn hạ tại chiến trường Việt Nam cho biết không có bất cứ lòng tốt nào được thể hiện từ những người bắt giữ anh - những người lính cộng sản, trừ một vài lần anh được hút thuốc. Anh này cũng kể lại về một số lòng tốt của người dân nơi anh đi qua, họ biết anh là phi công Mỹ, người thân của họ đã ngã xuống vì máy bay Mỹ, họ nhìn anh với một cái nhìn đầy ám thị. Và chỉ nhìn thôi.

Đại tá Will Gideon, cựu Chỉ huy trưởng Phi đội Tiếp tế Không vận 437, cũng bị bắn rơi vào một phi vụ vào năm 1966. Vị đại tá này bị ngất xỉu, khi thức giấc, anh này thấy chân trái của mình được bó bột, còn vai và đầu được băng gạc. Với lòng kiêu hãnh của một tù binh, Gideon đã quyết định từ chối các bữa ăn không đầy đủ từ phía quân đội Bắc Việt, có lẽ anh này lo sợ về một tình huống ám sát. Nhưng sau đó, Gideon quyết định nghe theo lời của một sĩ quan khác là Browning, ăn một bát cơm và rồi một bát nữa, chẳng có chuyện gì xảy ra cả.

Một phi công nổi tiếng sau này là John McCain đã nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch sau khi bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội. Rất đông thanh niên Việt Nam đã nhảy xuống cứu ông và đưa ông ra khỏi đám đông đang rất thù hằn và kích động. Sau này, một số nguồn tin dẫn lời John McCain cho biết là người dân nhìn ông như muốn lao vào ông "ăn thua đủ", nhưng họ không có hành động gì cả.

Hơn 6,1 triệu tấn bom đạn đã được “trải thảm” xuống Việt Nam, nhiều gấp 3 lần số bom đạn tại Thế chiến 2, hơn 76 triệu lít hóa học diệt cỏ được “tưới” xuống các cánh rừng, cánh đồng ở Việt Nam nhằm làm lộ diện các con đường hành quân và phá hoại mùa mạng. Hơn 200 ngàn dân thường thương vong, khoảng 100 ngàn gia đình mất nhà cửa hoặc hư hại do những thiết bị bay từ không quân Hoa Kỳ.

Với những con số ấy, đủ để minh chứng cho hai thứ gọi là “tội ác” và chính thứ tội ác đó tạo ra một lòng căm thù trong những người Việt. Nhưng sự căm thù ấy, được trả lại bằng hai chữ “chiến đấu”, bằng lực lượng phòng không - không quân, bằng tên lửa, bằng máy bay, bằng cao xạ hoặc AK… Chứ không phải bằng lao vào hành hung, đánh đập hay giết hại những “giặc lái”.

Will Gideon nhiều lần từng trả lời truyền thông Hoa Kỳ rằng ông bị thẩm vấn, bắt giam, tra khảo. Ngoài ra, vấn đề ăn uống cũng khá phức tạp. Theo chính sách từ phía ta, khẩu phần ăn của lính Mỹ bị bắt giam tương đương với khẩu phần của các sĩ quan quân đội cao cấp, phía ta cũng nhờ Đại sứ quán Pháp kết nối với phía Mỹ nhằm hỗ trợ đồ ăn, lương thực, liên lạc với gia đình lính Mỹ. Nói tóm lại, một tù binh Mỹ có suất ăn ngang với một gia đình ở Hà Nội, thậm chí có nhiều đồ ăn ngoại mà chỉ có những người giàu có mới được nếm thử. Vào mỗi ngày lễ đặc biệt của người Mỹ, phía ta đều tổ chức cho họ. Vì họ, ngoài tư cách là tù binh, là cũng là một trong những chiến lược ngoại giao của phía ta.

Về cuối đời, Will Gideon có trả lời rằng ông không có ác cảm với những người Bắc Việt - những người từng giam giữ ông và thậm chí có những cái nhìn thiện cảm hơn về họ. Và nhiều người cũng như Will Gideon, nhiều người phi công Mỹ quay trở lại Việt Nam, gặp những người lính Bắc Việt xưa cũ.

“Nếu tôi là họ, có người thân, bạn bè chết vì bom đạn như họ, tôi không dám chắc là sẽ hành động bình tĩnh được như họ”.

Sĩ quan Robert P.Chenoweth cho biết ông ở Hà Nội vào đúng những ngày Điện Biên Phủ trên không, ai cũng lo lắng là sẽ bị bom đạn đánh trúng. Những người lính Mỹ nghĩ rằng những người quản giáo Việt Nam sẽ bỏ họ mà đi lánh nạn nhưng mà không. Những người quản giáo Việt Nam vẫn ở lại, còn nói rằng sẽ tặng ông một chiếc ấm tích vào ngày mà ông được trở về Mỹ. Sĩ quan này cho biết cũng từ lúc ấy, ông nhận ra được chính nghĩa từ những người Việt Nam.

----------------------------------------

Nguồn: tifosi

Tư liệu tham khảo

1. Vietnam War Facts, Costs and Timeline - The Balance

2. The Incredible Story Behind a Haunting Picture of a POW in Vietnam - TIME

3. 40 years later: former Charleston Airman, Vietnam POW looks back - Joint Base Charleston

4. Shot Down in Vietnam: A former U.S. Army pilot’s memoir of combat and captivity - airspacemag

5. Giọt nước mắt người cựu tù phi công Mỹ - Báo Nhân Dân

Và một số tư liệu khác./.
Yêu nước ST.

“TỪ LO SỢ KHÔNG CÓ TRONG TƯ DUY QUÂN SỰ VIỆT NAM”

         “Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời câu hỏi của tướng lĩnh Mỹ.

10h30 ngày 9/11/1995, tại nhà khách Bộ Quốc phòng (phố Phạm Ngũ Lão, Hà Nội), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Robert McNamara (cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ) gặp nhau.Đối với giới báo chí thì đây là một cơ hội lịch sử, do vậy phải mất gần 10 phút hai cựu Bộ trưởng quốc phòng của cuộc chiến năm xưa mới qua khỏi vòng vây cuồng nhiệt của những máy ảnh, máy quay phim, micro… và những câu phỏng vấn tưởng không bao giờ dứt của giới báo chí quốc tế và Việt Nam.

Phút gặp mặt đầu tiên, hai ông đứng trao đổi với nhau về việc tập thể dục buổi sáng. Một người đã 85 tuổi còn một người sắp bước vào tuổi 80 (ông McNamara sinh năm 1919) nhưng cả hai đều tỏ ra nhanh nhẹn và minh mẫn.

Ông McNamara mở đầu cuộc trao đổi bằng lời bày tỏ về ý định của Đoàn tiền trạm Hội đồng đối ngoại New York mà ông dẫn đầu sang Việt nam để chuẩn bị cho một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam dự kiến sẽ tổ chức tại Mỹ vào mùa thu năm tới, hy vọng tướng Giáp sẽ nhận lời mời tham dự.

Cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ cũng nhấn mạnh rằng với một cuộc chiến tranh đã làm hơn ba triệu người Việt Nam và gần 6 vạn người Mỹ bị chết thì việc rút ra những bài học lịch sử, đặc biệt là bài học về những cơ hội bị bỏ lỡ để tránh xảy ra chiến tranh là rất có ý nghĩa không chỉ cho hai nước xưa đã từng tham chiến nay đang hướng tới những quan hệ tốt đẹp mà còn là những bài học bổ ích cho một thế giới đang đầy rẫy các biến cố và xung đột.

Ông cũng kể lại rằng ngay sau khi thôi giữ chức Bộ trưởng bộ quốc phòng (3/1968), ông đã trở thành Chủ tịch Ngân hàng thế giới (World Bank Group of Institutions) và giữ cương vị đó 13 năm liên tục cho đến khi nghỉ hưu (6/1981).

Cũng trên cương vị này, năm 1978, Ngân hàng Thế giới đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng 60 triệu USD cho các dự án về thủy lợi. Giờ đây mới có dịp sang Việt Nam, ông vừa gặp các quan chức của Ngân hàng Thế giới và được viết Việt Nam là một quốc gia đã sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính được đầu tư từ bên ngoài, đó là những dấu hiệu khẳng định tính tự chủ, khả năng vươn lên và phát triển của Việt Nam.

Bước vào chủ đề chính, vị cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ xin hỏi Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thưa ngài, cho đến bây giờ, tôi vẫn không rõ những gì đã xảy ra trong ngày 4/8/1964?” (Đó là một ngày trước khi Tổng thống Mỹ Johnson mở màn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc và trực tiếp đổ quân Mỹ can thiệp và mở rộng chiến tranh Việt Nam. Và hành động này được giải thích bằng việc trả đũa cho sự kiện đã diễn ra trong ngày 4/8/1964 mà theo báo cáo của phía Mỹ thì chiến hạm Maddox đã bị hải quân Việt Nam tiến công ở vùng biển quốc tế).

30 năm sau sự kiện đó, McNamara mới trực tiếp nhận được một câu trả lời chính xác. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Ngày 2/8/1964, tàu Mỹ xâm phạm hải phận Việt Nam ở khu vự đảo Hòn Mê. Một đơn vị hải quân địa phương của chúng tôi đã đánh đuổi. Còn ngày 4/8/1964, không có một hoạt động quân sự nào từ phía Việt Nam được tiến hành trên khu vực này”. Các vị khách Mỹ nghe rất chăm chú.

Đại tướng nói tiếp: “Nói điều này có thể là công việc nội bộ của Mỹ, nhưng theo tôi biết thì trước những ngày này, ở Mỹ người ta đã soạn thảo những văn bản để chuẩn bị cho việc mở rộng chiến tranh ở Việt Nam rồi”.

Về vấn đề có những cơ hội nào có thể vãn hồi hòa bình ở Việt Nam mà đã bị cả hai bên bỏ qua, Đại tướng nói rằng trong khi kiên quyết chiến đấu chống xâm lược, Việt Nam cũng rất mong muốn nội dung được đề cập tới trong những bài diễn văn của tổng thống Mỹ ở Baltimore về công thức Manila – Antinio… Nhưng Việt Nam cũng nhận thấy rằng mỗi lần người đứng đầu nước Mỹ nói đến những sáng kiến hòa bình trên sức ép quân sự của Mỹ. Có thể nói rằng phía Việt Nam đã không để lỡ một cơ hội nào vì dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu hòa bình hơn ai hết và chiến tranh sẽ mang lại đau khổ trước hết cho người Việt Nam.

Đại tướng cũng kể cho các vị khách Mỹ một câu chuyện cách nay ngót 50 năm, khi ông Paul Mus, một học giả được chính phủ Pháp nhờ chuyển một giải pháp hòa bình cho chính phủ kháng chiến Việt Nam. Trong đó có một điều khoản đòi hỏi quân đội Việt Nam phải hạ vũ khí. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi lại Paul Mus rằng nếu như người Đức gửi một tối hậu thư như vậy thì thái độ của những người kháng chiến Pháp sẽ như thế nào.

Đại tướng cho rằng quan điểm mà ông McNamara viết cuốn sách Nhìn lại tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam cho rằng một trong những nguyên nhân Mỹ thua ở Việt Nam là do không hiểu về dân tộc Việt Nam, và nhất là không hiểu về chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam là hoàn toàn đúng.

Đại tướng nhấn mạnh rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc mà ý thức và quyết tâm bảo vệ độc lập đã trở thành một triết lý, bản sắc văn hóa và cũng là một nguyên tắc không lay chuyển của người Việt Nam.

Sai lầm của Mỹ không những chỉ là không lường được sức chịu đựng và tinh thần quyết tâm của nhân dân Việt Nam mà còn thể hiện ở chỗ muốn tìm kiếm hòa bình ở Việt Nam bằng những cuộc thương lượng với các nước lớn khác.

Tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam không chỉ cho ý nghĩa trong quá khứ chiến trang mà cả trong công cuộc xây dựng, đổi mới hiện nay, Việt Nam sẽ đổi mới bằng cách riêng của mình. Những yếu kém về công nghệ Việt Nam sẽ học tập ở nước ngoài nhưng Việt Nam luôn phải giữ vững tinh thần độc lập và bản sắc dân tộc.

Đại tướng kể lại rằng có lần, tại Alger nhân sự tham dự ngày lễ kỷ niệm Quốc khánh của Algérie, Brzezinskin, người được coi là kiến trúc sư của chiến lược đánh phá Chủ nghĩa Cộng sản dẫn đến sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, đã gặp và hỏi Đại tướng rằng: “Chiến lược của ngài là gì?”. Câu trả lời: “Chiến lược của tôi là hòa bình trong độc lập và tự do”.

Đại tướng cũng thắc mắc lại cuộc gặp gỡ mới đây với A.Thomas và nhóm cựu chiến binh của cơ quan OSS (Cơ quan tình báo chiến lược của Hoa Kỳ, tiền thân của cơ quan tình báo trung ương Mỹ CIA) của Mỹ đã từng sát cánh cùng các chiến sĩ Việt Minh đánh phát xít Nhật hồi cách mạng tháng Tám 1945. Đại tướng nói rằng lúc đó chúng tôi đã nghĩ đến những bước phát triển tốt đẹp trong quan hệ giữa hai nước. Nhưng chính chủ thuyết Domino và chống Cộng đã dẫn điến những sai lầm của Mỹ ở Việt Nam trong những thập kỷ vừa qua. Việt Nam là một dân tộc quý trọng nền dân tộc của mình nhưng cũng luôn tôn trọng độc lập của các dân tộc khác. Mở đầu bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã dẫn ra câu đầu tiên của bản Tuyên ngôn độc lập Mỹ.

Ông McNamara bày tỏ sự tán đồng và những ý kiến của Đại tướng và cả hai vị đều tán thành ý nghĩa và sự bổ ích của cuộc hội thảo dự định sẽ tổ chức.

Trước chính ngọ, hai nhân vật của cuộc chiến tranh năm xưa đã vui vẻ chia tay nhau giữa vòng vây của các nhà báo.

Ngày hôm sau 10/11 cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ McNamara đã phát biểu trước các nhà báo: “Tôi thực sự xúc động khi quay trở lại Việt Nam, điều mà tôi từng mong ước 21 năm qua. Thời gian quả là dài nhưng nó giúp con người ta nguôi đi những dằn vặt về những việc đã làm. Điều đó làm tôi thực sự cảm động là tôi không hề thấy sự thù hận nào trong ánh mắt của người Việt Nan đối với tôi. Một Việt Nam thanh bình, dẫu chưa phồn vinh những quả là đẹp. Một đất nước như thế, một dân tộc như thế thì họ từng đứng vững trong quá khứ và sẽ tiến lên trong tương lai là điều không phải tranh cãi”. Nói về cuộc gặp với tướng Giáp, ông McNamara cho rằng đó là một cuộc gặp gỡ đầy ấn tượng.

15h30 ngày 23/6/1997, tại nhà khách Chính Phủ, cuộc gặp gỡ giữa ông Robert McNamara và Đại tướng Võ Nguyên Giáp diễn ra như hoạt động cuối cùng của cuộc Hội thảo Việt – Mỹ được coi là lần đầu tiên giữa các cựu quan chức và học giả hai nước về quan hệ Việt – Mỹ trong quá khứ với mục đích rút ra những bài học cho tương lai như thư của hai vị đại diện hai nhà nước đã gửi đến Hội thảo: bà Nguyễn Thị Bình và ông Bill Clinton. Kết quả cuộc hội thảo kéo dài hơn 3 ngày (20-23/6) đã được 2 bên công bố tại khách sạn Sofitel lúc 14h càng kích thích giới báo chí kéo sang Nhà khách Chính phủ chứng kiến cuộc gặp mặt đại tướng Võ Nguyên Giáp với cựu Bộ trưởng McNamara cùng các thành viên phía Mỹ vì 8 câu hỏi đã được phía Mỹ gửi trước mong được Đại tướng giải đáp.

10 phút dành cho các nhà báo tác nghiệp bằng những câu hỏi ngắn gọn, bằng những ánh chớp máy anhe, những trường đoạn camera và chấm dứt khi ông McNamara đưa ra một đề nghị kiên quyết yêu cầu mọi nhà báo đều phải rời khỏi phòng họp. Khi yên tĩnh đã trở lại, hai vị cựu Bộ trưởng Quốc phòng của những năm tháng chiến tranh Việt – Mỹ mới bắt tay nhau một lần nữa và trao đổi những câu hỏi xã giao của những người đã từng quen biết, không còn dè dặt thăm dò lẫn nhau như câu chuyện về tập thể dục buổi sáng ở cuộc gặp đầu tiên hồi tháng 11/1995 tại Nhà khách Bộ Quốc phòng.

Về phía Mỹ, ông McNamara ưu tiên giới thiệu hai trong số 52 vị thành viên phía Mỹ (gồm 6 cựu quan chức, 6 học giả và 40 quan sát viên) là tướng William Smith nguyên trợ lý đặc biệt cho tổng tham mưu trưởng liên quân Mỹ Maxwell Taylor và ông Chester Cooper, nguyên là nhà phân tích khu vực Đông Nam Á, thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia và trợ lý chính cho nhà thương lượng W.A.Harriman.

Là người không tham gia cuộc Hội thảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mở đầu những lời hoan nghênh và cho rằng cần có nhiều cuộc hội thảo nữa để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau hướng tới tương lai hòa bình, hợp tác trên cơ sở bình đẳng đôi bên cùng có lợi.


“Tôi là quân nhân, tôi nói thẳng”

Nói về chiến tranh ở Việt Nam, người Mỹ hay nói đến giới hạn của sự dính líu là từ năm1961 đến 1969, Đại tướng cho rằng, như thế là chưa đủ vì từ năm 1950 Mỹ đã can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, đến Điện Biên Phủ, 80% chiến phí là của Mỹ. Thực chất sự dính líu của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam dưới hình thức và mức độ khác nhau phải là một phần tư thế kỷ, từ năm1950 đến 1975. Bị chi phối bởi một thứ “thần học” (théologie như cách nói của McNamara) là học thuyết “domino”, Mỹ cho Việt Nam là một vị trí quan trọng liên quan đến an toàn của mình, cho nên Kenedy coi Việt Nam là trọng điểm để tiêu diệt phong trào giải phóng dân tộc và đến Johnson thì phát động chiến tranh ra miền Bắc và đổ quân vào miền Nam.

Trở lại vụ Vịnh Bắc Bộ (từ ngày 2 đến 5/8/1964) và trận Pleiku (6/2/1965), khi phía Mỹ đặt câu hỏi ai ra lệnh và khi ra lệnh có nghĩ đến phản ứng của Mỹ ra sao? Đại tướng nói rằng việc này ông đã nói trong cuộc gặp mặt lần trước, nhưng vấn đề đơn giản là “lúc bấy giờ bộ đội Việt Nam ở miền Nam cũng như Hải quân ở miền Bắc được lệnh lúc nào quân địch xâm phạm, tiến vào lãnh thổ thì phải đánh, tôi là một quân nhân, nếu các ngài đồng ý, tôi nói thẳng rằng: “Chính sách (mở rộng chiến tranh của Mỹ) quyết định rồi nhưng phải tìm một cái cớ đưa ra Quốc hội!”. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ là sai lầm lớn nhất, về chiến lược và cũng là thảm bại đầu tiên và lớn nhất của lịch sử nước Mỹ”.

Ông McNamara bật dậy ngắt lời: “Xin lỗi Đại tướng, ngài nói không đúng”.

Đại tướng bình thản nói: “Ngài đánh chúng tôi trước khi có trận Pleiku, vả lại trận này cũng như trận đánh tàu Maddox chỉ là hoạt động địa phương. Còn phản ứng của chúng đối với việc mở rộng chiến tranh phá hoại là chuyển cả miền Bắc vào tình trạng chiến tranh để bảo vệ miền Bắc và đánh thắng chiến tranh không quân của Mỹ, làm trọn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn”.


“Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự Việt Nam”

Phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Những hành động quân sự nào của Mỹ làm tướng Giáp lo sợ nhất và vào những thời điểm nào?”.

Đại tướng cười và vui vẻ nói: “Chúng tôi trả lời là từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi vì với chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập tự do, chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ thắng”.

Phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Nhìn lại quá khứ, tướng Giáp đánh giá thế nào về thành công và thất bại của Tổng tiến công Mậu Thân?”.

Đại tướng nói rằng: “Sức mạnh của Mỹ tuy lớn nhưng có những hạn chế cơ bản. Ví như kỵ binh bay mạnh ở chỗ cơ động nhưng đối với chúng tôi thì cơ động nhất là lực lượng tại chỗ, quân Mỹ đến đâu thì đã có lực lượng của chúng tôi ở chỗ đó”.

“Còn về Tổng tiến công Mậu Thân, mục đích chúng tôi là làm sao cho Mỹ rút. Về cách đánh mà nói thì đợt một là thắng lợi lớn, những đợt sau nếu theo ý kiến của Trung ương chuyển nhanh về nông thôn thì thắng to, nên vì vậy có tổn thất. Chiến tranh nhìn chung là chiến lược tổng hợp. Mục tiêu của chúng tôi là Mỹ phải chấm dứt leo thang, ngồi lại đàm phán. Như thế chúng tôi đã đạt được buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris. Chỉ có điều chúng tôi không dự kiến đầy đủ là Nixon lật lọng sẽ ký rồi lại ném bom B52… Nhưng cuối cùng chúng tôi vẫn bảo vệ được nền độc lập và thống nhất Tổ quốc của một nước nhỏ, dù kinh tế còn lạc hậu nhưng đã đánh thắng hai đế quốc to. Đó là thắng lợi của ai? Của nhân dân Việt Nam đồng thời cũng là của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có những người Mỹ chống lại chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam”.


“Các ngài nên đọc Nguyễn Trãi”

Phía Mỹ nhận rằng, Mỹ không thắng được ở Việt Nam là do Mỹ không hiểu Việt Nam và bỏ qua nhiều cơ hội để chấm dứt sự dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng, về phía Việt Nam thì sao, có cơ hội nào bị bỏ lỡ không?

Câu trả lời của Đại tướng là: “Chúng tôi không bỏ qua một cơ hội nào”. Ông McNamara ngắt lời: “Cái đó còn phải bàn lại”.

Đại tướng đáp: “Mỹ xâm lược Việt Nam là sai lầm. Mỹ không hiểu Việt Nam. Chúng tôi là một dân tộc có tinh thần bất khuất hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm, nhưng rất mong muốn hòa bình. Thế kỷ XV, sau khi đánh thắng quân Minh đã từng có những lời tuyên ngôn trong các áng văn bất hủ “Bình Ngô Đại cáo” và “Phú Chí Linh” của Nguyễn Trãi:

“Đem lại thái bình muôn thuở

Tắt muôn đời chiến tranh”.

Các ngài nên đọc những sách đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước và phát triển học thuyết quân sự độc đáo Việt Nam, động viên chiến tranh toàn dân, do dân, vì dân nên đánh thắng”.


Nước nhỏ có vai trò nước nhỏ”

Về quan hệ giữa Việt Nam và các nước lớn trong chiến tranh, Đại tướng nhắc lại nhiều lần: “Nước lớn có vai trò nước lớn, nhưng tôi muốn nhắc với ngài rằng: Nước nhỏ cũng có vai trò nước nhỏ. Danh dự, sức mạnh độc lập tự do, sức mạnh văn hóa của một nước không thể đo bằng cây số vuông. Trong quá khứ, Liên Xô và Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam nhiều trong chiến tranh nhưng Mỹ đã sai lầm khi tìm giải pháp quyết định cho cuộc chiến tranh này ở những cuộc thương lượng với những nước lớn đó.

Ngày nay, muốn xây dựng một trật tự thế giới mới thì các dân tộc phải bình đẳng và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau. G7, G8 bàn với nhau, được, nhưng nếu không tính đến các nước nhỏ thì không bao giờ thế giới có hòa bình và ổn định phát triển”.


Kết thúc câu trả lời cho những câu hỏi về phía Mỹ đặt ra, Đại tướng nói:

“Tôi mong rằng đó là những điểm tôi suy nghĩ đã lâu, bây giờ nói rất ngắn sẽ giúp cho việc xây dựng quan hệ Việt Nam và Mỹ. Do vị trí địa lý chính trị và vai trò Việt Nam gắn liền với văn hóa và lịch sử của nó, quan hệ Việt – Mỹ sẽ góp phần vào sự ổn định khu vực và thế giới. Tôi nhất trí với ngài McNamara là không có nước nào có thể áp đặt được ý định của mình cho các dân tộc khác, nhất là với Việt Nam, phải tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi trên nguyên tắc bình đẳng.

Sự bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đã mở ra những cơ hội để chúng ta đẩy nhanh sự phát triển những quan hệ hòa bình trong hợp tác và cùng có lợi trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của nhau vì lợi ích của nhân dân hai nước và sự ổn định phát triển của thế giới”.


Vị tướng tôi đánh giá cao nhất là Tướng Nhân Dân”

Sau câu hỏi của tướng Smith bằng cách nào Việt Nam đối phó được với những vũ khí hiện đại của Mỹ, một câu hỏi được mọi người chú ý được đặt ra: Vị tướng nào trong chiến tranh được tướng Giáp đánh giá cao nhất?

Đại tướng trả lời: “Quân đội Nhân dân Việt Nam ở cả miền Bắc và miền Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng có tinh thần quyết chiến rất cao, thông minh và sáng tạo. Còn vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình. Tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng như người lính là bình đẳng, cho nên tôi rất tôn trọng người lính. Còn các ngài muốn hỏi tôi rằng, tướng ngụy nào tôi để ý đến nhất thì có lẽ sự đánh giá ấy nên hỏi Bộ Tư lệnh Quân đội Mỹ”.


“Hôm nay, ngài lại thắng lợi về thời gian”

Người phát biểu cuối cùng của cuộc gặp mặt là ông Chester Cooper, vị tướng thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia thời chiến tranh của Mỹ chân thành nói: “Thưa Ngài, tôi thán phục Ngài từ 20 năm về trước, nay tôi cũng vẫn thán phục Ngài và chắc các bạn tôi ở đây cũng vậy. Chúng tôi sang đây với một tinh thần suy tư cởi mở và sẵn sàng muốn tìm hiểu dân tộc Việt Nam. Chúng tôi học hỏi được rất nhiều. Bài thuyết trình của Ngài cũng nhắn nhủ chúng tôi rất nhiều điều”.


Đại tướng bình luận: “Các ngài chưa hiểu hết đâu”.

Ông Cooper: “Chính vì vậy chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc tìm hiểu này và hy vọng lần sau chúng tôi sẽ trình bày để Ngài hiểu hơn về nước Mỹ chúng tôi. Chúng tôi sẽ nhớ mãi ngày hôm nay”.

Lúc chia tay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay ông McNamara: “Bắt tay một con người dũng cảm và có thiện chí”.

Cuộc gặp mặt kết thúc mà không thực hiện được một dự kiến tất cả sẽ chụp một bức ảnh chung bởi vì dự tính cuộc gặp mặt chỉ diễn ra dưới 1 tiếng đồng hồ thì đã kéo dài thêm gần 30 phút. Ông McNamara và tướng Smith vội vã về khách sạn để ra sân bay kịp giờ về nước.

Trong suốt cuộc gặp mặt, cựu Bộ trưởng McNamara không trình bày nhiều nhưng luôn tỏ ra sốt ruột về thời gian, thỉnh thoảng ông lại ngắt lời Đại tướng với câu xin lỗi lịch sự nhưng không giấu được sự sốt ruột vì muốn giành thêm thời gian để các thành viên của mình trình bày quan điểm. Nhưng thản nhiên và cũng lịch sự, Đại tướng chủ động giành phần lớn thời gian để phát biểu quan điểm của mình. Không giữ được kiên nhẫn, ông McNamara thốt lên: “Thế là ngài lại thắng về thời gian rồi”. Đại tướng lập luận: “Các ngài thua vì chưa hiểu, muốn hiểu nên lắng nghe”.

Sau cuộc gặp mặt, tôi gặp Stein Tonnesson, nhà sử học người Na Uy, thành viên duy nhất không có quốc tịch Mỹ của đoàn Mỹ, là tác giả của nhiều tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam. S.Tonnesson bình luận về cuộc gặp mặt giữa hai cựu Bộ trưởng Quốc phòng: “Lần này, tướng Giáp lại thắng trong một trận chiến về ngôn từ” (une guerre des mots)./.

Môi Trường ST.

NGÀY 21-1-1924: NGÀY MẤT CỦA LÃNH TỤ VÔ SẢN VLADIMIR ILYICH LENIN!

     Ngày 21-1-1924 là ngày mất của lãnh tụ phong trào cách mạng vô sản Nga Vladimir Ilyich Lenin. Ông là người sáng lập Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, nhà lý luận mác xít và hoạt động cách mạng thực tiễn kiệt xuất, người thầy của giai cấp công nhân và dân tộc bị áp bức toàn thế giới. Lenin đặc biệt chú ý và đưa ra nhiều luận điểm quan trọng về phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Là một nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Lenin đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động toàn thế giới, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc.

Lenin đã phát triển toàn diện và sáng tạo học thuyết Mác và nâng lên thành chủ nghĩa Mác - Lenin ngày nay. Lenin đã biến học thuyết của C.Mác và Ph.Ăng-ghen thành hiện thực: tiến hành thành công cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga, đất nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Tên tuổi của V.I.Lenin mãi mãi gắn liền với phong trào cộng sản Nga và quốc tế.

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 dưới sự lãnh đạo thiên tài của Lenin đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức, có ảnh hưởng to lớn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam. 

V.I.Lenin - Lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới, người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng Tháng Mười Nga, lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo./.

Yêu nước ST.

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2022

QUYỀN CON NGƯỜI ĐƯỢC VIỆT NAM HIỆN THỰC HÓA BẰNG NHIỀU CHÍNH SÁCH THIẾT THỰC

 

Những năm qua, Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội và việc tăng cường hội nhập quốc tế đã tạo ra các điều kiện vật chất và nguồn lực để Việt Nam bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân.

Nghiêm túc với các cam kết quốc tế

Cho đến nay, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào tiến trình hợp tác quốc tế, khu vực, đa phương và song phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Đặc biệt, Việt Nam đã hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG).

Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, Việt Nam cũng nhanh chóng đưa ra các chính sách, biện pháp đồng bộ, hiệu quả, trong đó, kiểm soát dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo vệ sức khỏe, bảo đảm quyền tối thượng là quyền được sống của người dân; đồng thời thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp giảm thiểu tác động của dịch đối với nền kinh tế, duy trì và phục hồi sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là những người dễ bị tổn thương.

Từ năm 2019 đến nay, Việt Nam đã thông qua 36 luật, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân, góp phần cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Bộ luật Lao động, Luật Thanh niên, Luật Cư trú, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Thư viện... Các luật này đã góp phần kiến tạo thể chế, khung pháp lý điều chỉnh trên lĩnh vực kinh tế-xã hội có liên quan trực tiếp đến việc thụ hưởng quyền của người dân.

Thực hiện một số khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam cũng đang xem xét sửa đổi, bổ sung một số Luật phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam như việc sửa đổi Luật Trẻ em, cụ thể là định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi, nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống mại dâm, quy định cụ thể định nghĩa quấy rối tình dục trong Bộ luật Lao động 2019...

Nhiều Chương trình hành động cấp quốc gia được ban hành như Chương trình hỗ trợ người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình bảo vệ trẻ em trên không gian mạng và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030, Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030, Chương trình phát triển xã hội giai đoạn 2021-2030…, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Việt Nam đang tiếp tục triển khai Luật Bình đẳng giới, Luật Người khuyết tật và tích cực nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật về các vấn đề này.

Việc bảo đảm các quyền con người của Việt Nam được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam hiện là thành viên của 7/9 Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Việt Nam cũng là thành viên của 25 Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế, trong đó có 7/8 Công ước cơ bản; đang nghiên cứu phê chuẩn Công ước cơ bản còn lại là Công ước 87 về Quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức. Việt Nam luôn thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết nghĩa vụ theo các công ước này, trong đó có nghĩa vụ báo cáo tình hình thực thi các Công ước tại Việt Nam.

Những thành tựu nổi bật

Nỗ lực trong phát triển kinh tế và bảo đảm sinh kế, tạo nền tảng cho việc thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân, Việt Nam đã tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã có những kết quả tích cực như tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 2,75%, bình quân trong 5 năm giai đoạn giảm khoảng 1,43%/năm; tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo còn khoảng 24%, bình quân trong 5 năm giảm 5,65%. Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động; chủ trương bảo đảm tiêm vaccine phòng COVID-19 miễn phí cho người dân theo các đối tượng ưu tiên mà WHO khuyến nghị.

Về giáo dục, tại Việt Nam, người dân được tạo điều kiện để học liên tục mọi nơi, học suốt đời theo nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, trong giai đoạn 2012-2020 đã xóa mù chữ cho 295.308 người trong độ tuổi 15-60, nâng tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 97,85% và tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-35 là 99,3%. Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho các nhóm yếu thế, trong đó tập trung hỗ trợ học sinh vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được phát triển, rộng mở, đặc biệt là người dân tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.

Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển rộng khắp với mức phủ sóng đạt 99,7% dân số, trong đó mạng 3G và 4G phục vụ 98% dân số. Theo báo cáo xếp hạng An toàn an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2020 do ITU công bố mới đây, Việt Nam đã tăng 25 bậc trong 2 năm, vươn lên vị trí thứ 25 trong tổng số 194 quốc gia, vùng lãnh thổ và đứng thứ 7 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thứ 4 trong khu vực ASEAN.

Trong lĩnh vực tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và có hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung độc lập được đăng ký sinh hoạt tôn giáo (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam).

Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước hiện có 50.703 cơ sở tín ngưỡng; có 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc; 40.075 người vừa là chức sắc, vừa là chức việc tại 62/63 tỉnh, thành phố và 26.548.509 tín đồ. Việt Nam hiện có 63 cơ sở giáo dục, đào tạo tôn giáo gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo với hơn 18.000 học viên đăng ký theo học các khóa đào tạo tôn giáo mỗi năm. Năm 2020 có khoảng 230 cơ sở thờ tự được xây mới, 308 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa...

Những chính sách thiết thực, hiệu quả nêu trên đã khẳng định quyền con người ở Việt Nam hiện được bảo đảm và không ngừng nâng cao./.

Huyền Chi – Báo Công an nhân dân online


TẤM ẢNH VÀ BÀI THƠ TRONG TÚI ÁO NGỰC!

         Năm 1968, tại trận chiến đấu giữa ta và địch trong một khu rừng đại ngàn của Trường Sơn (thuộc Liên khu 5), nhiều chiến sĩ ngã xuống để giữ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trong số đó có một chiến sĩ không ai biết tên tuổi, quê quán của anh. Chỉ biết trong túi áo ngực anh có một tấm ảnh nhỏ cỡ 6cm x 9cm.

Người trong ảnh là một nữ công nhân, mặc áo trắng, quần yếm xanh, tay cầm chiếc thoi dệt vải. Mặt sau của ảnh có bài thơ chép tay. 

“Đợi anh vợi mùa Xuân

Chẳng thấy anh trở lại

Chỉ thấy chim én về

Và hoa đào vẫy mãi

Tay vít một nhành hoa

Níu áo mùa Xuân hỏi: 

"Vì người công tác xa

Xuân ơi Xuân có đợi?"

Xin một nụ trên cành

Ủ kín vào thương nhớ

Em để dành mùa Xuân

Đợi anh về mới nở”.

Bao nhiêu nhung nhớ, bao nhiêu yêu thương, bao nhiêu nỗi niềm và hy vọng, người con gái ấy đã gửi gắm cả vào từng câu, từng chữ. Đọc bài thơ lên, ta có cảm giác như đang lắng nghe tiếng lòng sâu lắng, da diết nhưng cũng hết sức mãnh liệt của cô gái gửi cho người chiến sĩ trẻ ngoài chiến trường. Thương người phương xa, cô gái níu một nhành hoa xin mùa xuân hãy đợi người về rồi hãy nở.

Thời gian có chảy trôi, dù bao khó khăn gian khổ, hy sinh nơi chiến trường, thì niềm tin và tình yêu ấy vẫn mãi mãi rạo rực, đợi ngày khai hoa, kết quả. Đó chính là động lực để người chiến sĩ vững tay súng, là sức mạnh để cô gái lao động, sản xuất xây dựng hậu phương. Tình yêu đôi lứa đã được hòa quyện một cách sâu sắc vào tình yêu quê hương đất nước. Nội dung của của bài thơ khiến bao trái tim người đọc phải rung động, thổn thức và suy ngẫm về tình yêu, khát vọng để mùa Xuân của đất nước mãi xanh tươi./.

Yêu nước ST.