Thứ Hai, 24 tháng 1, 2022

 

SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TÔN GIÁO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” nhằm lật đổ chế độ chính trị ở Việt Nam. Đó là một chiến lược tổng thể, quy mô và được triển khai một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, các cấp độ. Trên lĩnh vực tôn giáo, chiến lược “diễn biến hoà bình” được cụ thể hoá thành nhiều nội dung cụ thể, trong đó hoạt động lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo gắn với vấn đề nhân quyền và dân chủ được coi là một trọng điểm, một khâu đột phá, một mũi tiến công thường trực và xuyên suốt.

Những năm gần đây trong Báo cáo tự do tôn giáo hằng năm của Mỹ liên tục đề cập đến Việt Nam với những thông tin sai lệch, vu cáo về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam mà Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phải nhiều lần lên tiếng phản đối những cáo buộc vô căn cứ, những thông tin sai lệch trên. Điển hình là việc dựa trên thông tin sai lệch, Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế được Bộ Ngoại giao Mỹ công bố ngày 21-6-2019 đã đánh giá thiếu khách quan về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Và tại các hoạt động trong khuôn khổ hội nghị cấp bộ trưởng về thúc đẩy tự do tôn giáo do Bộ Ngoại giao Mỹ tổ chức tại Washington từ ngày 16 đến 17-7-2019. Báo cáo tự do tôn giáo 2020 của Mỹ tiếp tục đưa những thông tin thiếu khách quan sai lệch vu cáo Việt Nam đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng, bắt bớ tín đồ theo đạo Cao Đài…, một số tổ chức, cá nhân thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam đã được mời tham dự, tạo cơ hội để bịa đặt, vu cáo Việt Nam về tự do tôn giáo.

Thực tế hàng chục triệu tín đồ Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, hàng triệu tín đồ nhiều tôn giáo khác vẫn sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần xây dựng, phát triển đất nước. Nhìn vào thực tế các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy rất rõ ràng chính sách nhất quán của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Đó là chính sách rất đúng đắn, rõ ràng và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. 

Dự báo, hoạt động tôn giáo sau tết nguyên đán năm 2022 sẽ diễn ra mạnh mẽ, thu hút đông đảo số lượng người dân tham gia với các lễ hội lớn, do vậy yêu cầu các cơ quan chức năng cần tăng cường việc kiểm soát tốt các hoạt động tôn giáo, kịp thời ngăn chăn, phát hiện những biểu hiện chống phá của các thế lực thù địch trên mọi lĩnh vực. Góp phần xây dựng nhân tố chính trị trên mặt trận tôn giáo vững mạnh. Đập tan mọi âm mưu thủ thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

 

 

30 NĂM CẦM QUÂN, KHÔNG PHẠM SAI LẦM CHIẾN LƯỢC NÀO, ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP LÀ MỘT VỊ TƯỚNG TÀI DUY NHẤT TRONG LỊCH SỬ QUÂN SỰ THẾ GIỚI

* Thứ nhất: Bậc thầy về kết hợp chiến tranh du kích với chính quy:

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 là cuộc chiến tranh dài nhất lịch sử nhân loại. Trong cuộc chiến tranh ấy, Việt Nam luôn ở thế yếu hơn các đối thủ. Yếu hơn về mọi phương diện nhưng nghịch lý là Việt Nam lại luôn luôn nắm quyền chủ động chiến trường.

Trong 9 năm chống Pháp, chỉ sau chiến dịch Việt Bắc 1947, quân Pháp liền rơi vào thế bị động sau khi Đại tướng đưa vào thực thi kế hoạch phân tán bộ đội vào hoạt động trong vùng địch hậu. Cuốn tài liệu nổi tiếng của ông về vấn đề này là Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung.

Theo tinh thần này, các đơn vị lớn phân tán thành từng đại đội nhỏ, luồn sâu vào trong vùng địch tạm chiếm để làm chỗ dựa cho phong trào đồng thời phát triển thêm lực lượng. Khi cần thiết thì tập hợp lại thành những tiểu đoàn để tác chiến.

Ngay lập tức, “cú đấm” của quân Pháp đã đấm vào khoảng không vì không tìm đâu ra chủ lực của đối phương nhưng ở bất kỳ đâu chúng cũng bị đánh tơi tả, phải rút khỏi Việt Bắc. Theo sau thất bại ấy chúng phải về lo củng cố hậu phương, xây tháp canh, khống chế giao thông lập các vùng tề ngụy.

Các đại đội độc lập hoạt động trong vùng tạm chiếm chính là ý nghĩa khởi nguyên ban đầu cho sự kết hợp tuyệt diệu giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích. Du kích có chủ lực hỗ trợ thì du kích mạnh, chủ lực có du kích hỗ trợ thì thông thuộc đường sá và có chỗ dựa vững chắc về các mặt hậu cần.

Đến kháng chiến chống Mỹ, sự kết hợp này lại tiếp tục được phát triển lên đỉnh cao mới. Lực lượng của ta tuy ít hơn Mỹ – Ngụy nhưng bất kỳ cuộc hành quân nào của chúng, đến đâu cũng bị bắn tỉa, đặt mìn là vì du kích ta có ở mọi nơi. Trong khi đó, chủ lực ta lại tập trung và thường xuyên cơ động đánh vào những nơi địch tương đối yếu hoặc do tập trung quân đi càn quét mà sơ hở.

Ngay cả trên miền Bắc, trong cuộc chiến chống sự phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, một cuộc chiến tưởng chừng chỉ có bộ đội chính quy với các khí tài hiện đại mới tham gia được. Nhưng thực tế đã cho thấy trong cuộc chiến ấy có sự tham gia của đủ 3 thứ quân. Chắc nhiều người vẫn còn nhớ hình ảnh các cụ già Hoằng Hóa bắn rơi máy bay với súng máy 12,7 mm hoặc các đội tự vệ nhà máy, đội dân quân ở Tam Đảo đã đặt súng đón lõng trên đường bay của máy bay F-111 để bắn rơi loại máy bay đắt tiền hiện đại nhất của Mỹ chỉ với súng bộ binh hoặc 12,7 mm.

Tướng Peter Mac Donald – nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Anh khi viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi những dòng trang trọng: “Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”.

* Thứ hai: Vị tướng hậu cần kiệt xuất:

Trong tác phẩm “Chiến thắng bằng mọi giá – Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam”, nhà sử học Mỹ Cecil Currey cho rằng: “Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân… là một vị tướng hậu cần vĩ đại của mọi thời đại”.

Lời đánh giá của Cecil Currey quả thực xác đáng. Vì có thể nói không ngoa rằng, chưa có vị tướng nào làm nhiều đường sá như Tướng Giáp. Chỉ tính riêng con đường vận tải Trường Sơn đã vượt qua rất xa cả về quy mô lẫn tính phức tạp so với con đường Miến Điện nổi tiếng trong Chiến tranh Thế giới thứ 2.

Con đường Trường Sơn đã nối liền được hậu phương lớn với tiền tuyến lớn. Sự ra đời của con đường có bàn tay chỉ đạo sát sao của Đại tướng và chính nó nằm trong một chỉnh thể tư duy quân sự của ông.

Ta không thể thắng Mỹ bằng một trận đánh dàn quân quy ước. Vậy chỉ còn cách phải phát triển tiếp lối đánh đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung thời đánh Pháp. Đưa chủ lực vào để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân đồng thời huấn luyện du kích để tạo thành cái thế đấu tranh trên hai chân (chính trị – quân sự). Muốn như thế thì phải có đường vận chuyển. Do đó đường Trường Sơn ra đời và nó chính là điểm mấu chốt trong công tác hậu cần của ta thời chống Mỹ.

Trong từng trận đánh cụ thể, Đại tướng lại càng quan tâm đến công tác hậu cần. Lý do chính để Đại tướng hoãn trận Điện Biên Phủ là do phương án chiến đấu chưa đảm bảo chắc thắng đồng thời còn nhiều khó khăn đặt ra trong quá trình chiến đấu mà chưa có biện pháp khắc phục.

Khi tổ chức lại theo phương án “đánh chắc tiến chắc”, Đại tướng đã chỉ đạo làm lại công tác hậu cần từ đầu để đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho thắng lợi.

Một câu chuyện được kể trong hồi ký Chiến trường mới của Thượng tướng Nguyễn Hữu An cho thấy mối quan tâm của Đại tướng đối với công tác hậu cần trong chiến đấu.

Đó là trong chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum mang mật danh là chiến dịch Z diễn ra cuối năm 1971. Cuối tháng 11, tướng An về Hà Nội báo cáo quyết tâm và kế hoạch chiến dịch sau một thời gian nghiên cứu chiến trường. Cuối buổi họp, tướng Giáp nhắc đi nhắc lại: “Phải đảm bảo chắc thắng. Khi chuẩn bị vào Long Chẹng phải nhớ làm đường vận tải tiếp tế hậu cần trước”.

Tuy nhiên, khi kết thúc đợt 1 chiến dịch, một số sĩ quan ở mặt trận nóng vội đã ra lệnh: phải thừa thắng tiến nhanh vào Long Chẹng, bỏ qua việc làm đường tiếp tế hậu cần. Nhớ lại lời dặn của tướng Giáp, tướng An có ý kiến dừng lại làm đường nhưng trong không khí thừa thắng, ít người quan tâm. Cuối cùng đã không làm đường mà cứ thế xông thẳng lên. Kết quả là pháo không bắn tới tầm nên không yểm trợ được cho bộ binh. Cuối cùng quân ta không hoàn thành được mục tiêu Long Chẹng trong đợt 2 chiến dịch.


 

Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhân dịp về thăm, chúc Tết tại tỉnh Bắc Ninh

 

Ngày 24-1, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn công tác đã về thăm, chúc Tết Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:

Covid hôm nay sáng 25-1: F0 Hà Nội giảm nhẹ; các tỉnh phía Bắc tăng ca mắc mới

 

Hà Nội tiếp tục đứng đầu cả nước về ca mắc mới trong ngày. Tuy nhiên so với 2 tuần gần đây thì số ca mắc trong ngày đang giảm nhẹ; trong khi đó các phía Bắc như; tỉnh Phú Thọ, Quảng Ninh, Hải Dương F0 vẫn ở mức cao.

Bảo vệ những giá trị cơ bản của chủ nghĩa Lênin

 

Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới.

Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để hình thành “Nhà nước Mông”

 


Để thực hiện âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc, các thế lực thù địch, phản động không ngừng gieo rắc niềm tin tín ngưỡng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhiều người Mông tại các tỉnh miền núi phía Bắc bị xúi giục, ép buộc, lừa mị tin theo cái gọi là đạo 'Giê Sùa' với những luận điệu viển vông…

Trên thực tế, bản chất của các đối tượng này lập ra là nhằm lừa phỉnh, dụ dỗ, lôi kéo, tập hợp lực lượng phục vụ mưu đồ ly khai, tự trị, hình thành “Nhà nước” riêng, tách ra khỏi cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vậy tổ chức “Giê Sùa là gì”?

Có nguồn gốc ngoại sinh từ một người có quốc tịch Mỹ sáng lập và đưa vào Việt Nam; dựa vào Kinh thánh của Tin lành, lấy cơ sở để phát triển tổ chức “Giê Sùa”. Người sáng lập “Giê Sùa” là David Her tên thật là Hờ Chá Sùng, người Mông, gốc huyện Phon Xa Vẳn Xiêng Khoảng, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Hiện đang sinh sống tại Bang California, có quốc tịch Mỹ sáng lập ra.

“Hội thánh Giê Sùa” không có giáo lý rõ ràng mà dựa vào một số câu trong Kinh thánh để tuyên truyền, cho rằng Tên Chúa Giê Su phải gọi là “Giê Sùa” và giải thích Giê Su là tên nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa mọi người. Tổ chức này đả kích, không thừa nhận các tôn giáo khác, cho rằng chỉ có “Giê Sùa” mới là tôn giáo có thật, chính thống, tôn giáo của tất cả người Mông. Hội thánh “Giê Sùa” không thừa nhận A-đam và E-Va trong Kinh thánh, thay vào đó là nhân vật chàng Ong và cô Ía theo truyền thuyết người Mông; không tổ chức lễ Giáng sinh, Phục sinh và coi đây là trò bịp bợm, vì lợi ích của nhà cầm quyền La Mã; không bắt buộc dâng hiến 10% thu nhập; kiêng ăn hịt lọn và một số loại cá không có vảy, cua, ốc…

“Giê Sùa” chưa có giáo lý, giáo luật, hiến chương; tài liệu, kinh sách sử dụng là một số điều trong Kinh thánh (Tân ước và Cựu ước) và một số tài liệu do David Her tự soạn thảo, tán phát trên mạng Internet.

Thường sinh hoạt vào thứ 7 hàng tuần, sinh hoạt với nội dung, hình thức gần giống với điểm nhóm Tin lành (hát thánh ca, chia sẻ lời Chúa, cầu nguyện). Tuy nhiên, một số nội dung giảng dạy trong kinh thánh khác với điểm nhóm Tin lành, tin vào việc Chúa tái lâm, không thừa nhận tên Chúa là Giê Su mà gọi là Giê Sùa. Bác bỏ ngày lễ trọng trong năm như lễ Noel, Lễ Phục sinh

David Her đã thông qua mạng Internet để tán phát các video clip có nội dung tuyên truyền đạo “Giê Sùa” trên Wedsite WAVw… Trong thời gian hoạt động tại một số địa phương Tây Bắc, “Giê Sùa” đã có những hoạt động gây mất tình hình an ninh trật tự (ANTT) nơi nó du nhập vào. Các đối tượng lợi dụng, xuyên tạc một số câu trong Kinh thánh để tuvên truyền, lôi kéo người khác tin theo như “Không thừa nhận tên Chúa Giê Su như các tổ chức Tin lành khác như Giê Sùa và giải thích rõ ràng là do nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa gạt và đả kích mọi người. Trong một số bài tuyên truyền, đối tượng David Her còn cho rằng, Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng do người Mông không đoàn kết không biết bảo vệ nhau nên đất đai bị các dân tộc khác xâm chiếm, cho nên người Mông mới không có lãnh thổ, đất nước riêng, suốt đời phải đi làm thuê cho dân tộc khác.

David Her nhận mình là người đưa tin của “Chúa Giê Sùa”; “Chúa Giê Sùa” tái lâm để bảo vệ người Mông, kêu gọi người Mông đi theo “Chúa Giê Sùa”, đồng thời kích động người Mông ở các nước vê Lào chiến đấu xây dựng “Nhà nước Mông”. Các nhóm tà đạo “Giê Sùa” trên địa bàn đã hình thành tổ chức, phân công vai trò, vị trí đối tượng trong nhóm và đang ráo riết tuyên truyên, lôi kéo người khác tin theo. Tuy nhiên, giữa các điểm nhóm bị ảnh hưởng chưa có sự liên kết, thống nhất với nhau hoạt động. Một số đối tượng lợi dụng giáo lý danh nghĩa của các hệ phái để che giấu việc tin theo tà đạo “Giê Sùa”.

“Giê Sùa” xuất hiện khoảng tầm 5 năm trở lai đây ở các địa phương vùng núi phía Bắc như: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn nhưng mức độ ảnh hưởng của “Giê Sùa” khá nhanh, mức độ ảnh hưởng rộng đến đồng bào dân tộc Mông; lôi kéo người dân tin theo nhằm mục đích xây dựng nhà nước riêng, kêu gọi người Mông đi theo “Chúa Giê Sùa”, đồng thời kích động người Mông ờ các nước về Lào chiến đấu để xây dựng “Nhà nước Mông” tại tỉnh Xiêng Khoảng. Theo con số thống kê các địa phương gửi báo cáo, hiện “Giê Sùa” hoạt động tại các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Mức độ lan nhanh ảnh hưởng đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số như đồng bào dân tộc Mông. Hiện nay, theo con số thống kê được của các địa phương có khoảng 1.297 người tin theo./.NVS

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG THĂM VÀ CHÚC TẾT TỈNH BẮC NINH

         Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phát triển kinh tế phải đi đôi với coi trọng, phát triển hài hòa các lĩnh vực văn hóa-xã hội; đặc biệt chú trọng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Bắc Ninh nói riêng cũng như nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, theo đúng tinh thần của Hội nghị Văn hóa toàn quốc mới đây, làm cho văn hóa thực sự là "nền tảng tinh thần", "động lực phát triển", "soi đường cho quốc dân đi".

Ngày 24/1, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến thăm, làm việc, chúc Tết Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Cùng đi, có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Bùi Thị Minh Hoài, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Đỗ Văn Chiến, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Lê Minh Hưng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, lãnh đạo một số bộ, ngành Trung ương...

Tại buổi làm việc với cán bộ lãnh đạo, nguyên lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, Tổng Bí thư hoan nghênh, đánh giá cao sự cố gắng, nỗ lực phấn đấu và những kết quả mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh đạt được trong 25 năm qua kể từ khi tái lập tỉnh, nhất là năm 2021. 

Tổng Bí thư nêu rõ, Bắc Ninh-Kinh Bắc từ lâu đã nổi tiếng là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng; là phên dậu phía bắc của kinh thành Thăng Long, Đông Đô-Hà Nội; có Luy Lâu từng là trung tâm chính trị, kinh tế-thương mại, văn hóa-tôn giáo và cổ xưa nhất của Việt Nam; nơi phát tích của Vương triều Lý-triều đại khai mở, phát triển nền văn minh Đại Việt; có nhiều di tích, danh nhân, chiến công chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc. 

Bắc Ninh còn là nơi du nhập đầu tiên của Phật giáo Việt Nam và trở thành trung tâm Phật giáo lớn nhất của cả nước; quê hương của 1589 di tích lịch sử, văn hóa (13 nhóm hiện vật là bảo vật quốc gia; 4 di tích quốc gia đặc biệt).

Trong dòng chảy của nền văn minh sông Hồng, Kinh Bắc đã sáng tạo nên một kho tàng các di sản văn hóa đặc sắc; vùng đất trăm nghề với những nghệ nhân vô cùng khéo léo, được mệnh danh là xứ sở của lễ hội dân gian truyền thống, đặc biệt là dân ca Quan họ với những làn điệu mượt mà, đằm thắm, say đắm lòng người, đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; thể hiện sự hội tụ và kết tinh sinh động, đa dạng các giá trị văn hóa tinh thần và những tài sản quý báu, chứa đựng và thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc ở vùng đất và con người "xứ Kinh Bắc"...

Tổng Bí thư cho rằng, cách đây 25 năm, khi mới tái lập tỉnh, từ một tỉnh thuần nông nghiệp, cơ sở hạ tầng khó khăn, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, song dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung ương và các tỉnh bạn; sự đồng lòng, sáng tạo, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị; sự ủng hộ, đồng lòng của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân; Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã phát huy truyền thống đoàn kết, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, tạo ra những bước đột phá mạnh mẽ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; đến nay, Bắc Ninh cơ bản đã trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. 

Tổng Bí thư nhấn mạnh, năm 2022 và những năm tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là tình hình dịch bệnh Covid-19; đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặt ra nhiều vấn đề mới. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ và các chương trình, kế hoạch đã đề ra, đồng chí mong muốn Bắc Ninh thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau đây:

Một là, tiếp tục phát huy thật tốt truyền thống của quê hương, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị Bắc Ninh ngày càng trong sạch, vững mạnh, trở thành Đảng bộ tiêu biểu của cả nước; không ngừng tăng cường, củng cố đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân; tập trung làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ các cấp, giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực; xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có đủ năng lực, phẩm chất, uy tín ngang tầm nhiệm vụ và dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám đột phá vì sự phát triển của quê hương; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền các cấp và của cả hệ thống chính trị, tạo bước phát triển mới của Đảng bộ về trí tuệ, bản lĩnh chính trị để Đảng "thực sự là đạo đức, là văn minh", gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu; đủ uy tín và năng lực lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XX Đảng bộ tỉnh.

Hai là, tiếp tục tập trung quán triệt, tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội 20 Đảng bộ tỉnh, làm cho tinh thần Nghị quyết thấm nhuần trong toàn Đảng, toàn dân, làm cho mọi người nhận thức đầy đủ, sâu sắc thời cơ, thuận lợi cần phải nắm bắt, phát huy; những khó khăn, thách thức cần phải nỗ lực vượt qua. Tuyệt đối không chủ quan, thỏa mãn với những thành tựu đã đạt được.

Đảng bộ tỉnh cần khẩn trương rà soát những việc đã làm được, những việc chưa làm được, để từ đó, cụ thể hóa phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ thành các chương trình, kế hoạch, đề án với tinh thần quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt, mạnh mẽ hơn, phát huy các tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; "Kế hoạch 1 phần, biện pháp phải 2 phần và quyết tâm phải 3 phần, có như thế mới có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch"; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước sâu rộng, tinh thần đổi mới sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để sớm đưa Nghị quyết vào cuộc sống, biến những quyết định của Đại hội thành hiện thực sinh động, đưa Bắc Ninh tiếp tục tiến lên mạnh mẽ, phấn đấu đến trước năm 2030, trở thành thành phố có công nghiệp phát triển, hiện đại, văn minh, giàu đẹp, giàu bản sắc, phấn đấu là một trong những tỉnh đi đầu về chất lượng cuộc sống và sự hưởng thụ của nhân dân.

Ba là, phát triển kinh tế phải đi đôi với coi trọng, phát triển hài hòa các lĩnh vực văn hóa-xã hội; đặc biệt chú trọng nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Bắc Ninh nói riêng cũng như nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, theo đúng tinh thần của Hội nghị Văn hóa toàn quốc mới đây, làm cho văn hóa thực sự là "nền tảng tinh thần", "động lực phát triển", "soi đường cho quốc dân đi". Khơi dậy lòng tự hào của quê ta về truyền thống yêu nước, cách mạng, truyền thống lịch sử, giá trị bản sắc văn hóa Kinh Bắc.

Tổng Bí thư lưu ý, cùng với phát triển kinh tế, cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, các biện pháp giảm nghèo bền vững, bảo đảm công bằng xã hội; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đặc biệt là đối với những người có công với nước, những hộ nghèo, người lao động mất việc làm, không có thu nhập vì dịch bệnh; quan tâm phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ; làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe và khám, chữa bệnh cho nhân dân từ cơ sở, đặc biệt là trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang tiếp tục có những diễn biến phức tạp.

Bốn là, thường xuyên chăm lo, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chú trọng công tác nắm, dự báo, đánh giá đúng tình hình, ngăn chặn và đấu tranh, xử lý có hiệu quả các yếu tố ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, an ninh nông thôn ngay từ cơ sở; phát hiện và xử lý kịp thời các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Quan tâm giải quyết kịp thời, dứt điểm đơn, thư khiếu nại, tố cáo; không để phát sinh khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện đông người, vượt cấp.

Tổng Bí thư đề nghị, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể cần quan tâm, tạo mọi điều kiện để các gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo, công nhân, lao động và toàn dân vui Xuân đón Tết Nhâm Dần sắp tới thật vui tươi, an toàn, lành mạnh, tiết kiệm.

Tổng Bí thư tin tưởng với truyền thống lịch sử vẻ vang của một vùng đất văn hiến, giàu truyền thống cách mạng và anh hùng; với những thành tựu to lớn đã đạt được, cùng với ý chí vươn lên phát triển và quyết tâm mới, khí thế mới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh sẽ đoàn kết, chung sức, đồng lòng, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện thắng lợi và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội 20 Đảng bộ tỉnh đã đề ra, xây dựng Bắc Ninh ngày càng phát triển bền vững, theo hướng văn minh, dân tộc, hiện đại,...

Thay mặt lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy báo cáo với Tổng Bí thư những thành tựu phát triển của tỉnh sau 25 năm tái lập; tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2021, phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Tỉnh ủy báo cáo một số vấn đề về phát triển kinh tế-xã hội mà Tổng Bí thư quan tâm.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025, Tỉnh ủy Bắc Ninh đã cụ thể hóa thành 27 chương trình trọng tâm; xây dựng, ban hành thực hiện nhiều đề án về công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, về công tác dân vận...

Năm 2021, tổng sản phẩm trên địa bàn ước đạt 133.609 tỷ đồng, tăng 6,9% so năm 2020. Thu hút đầu tư nước ngoài cấp mới 131 dự án, tổng vốn 1,2 tỷ USD; cấp mới đăng ký đầu tư 58 dự án trong nước với tổng vốn 22,64 nghìn tỷ đồng; lập mới 2.334 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 28,62 tỷ đồng…

Các lĩnh vực văn hóa-xã hội, an sinh xã hội đạt nhiều thành tích đáng khích lệ; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,15% theo chuẩn mới. Trong phòng, chống đại dịch Covid-19, tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả với nhiều giải pháp linh hoạt như: 1 cung đường 2 điểm đến; 3 cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm; Tổ phản ứng nhanh 3 nhất với phương châm tư vấn, hiệu quả, giải quyết nhanh, chống dịch an toàn nhất. Tỉnh được Trung ương đánh giá là điểm sáng trong toàn quốc về đại dịch này. 

* Trước đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu đã đến dâng hương tại Đền Lý Thái Tổ (Đền Đô); nói chuyện thân mật với các nghệ nhân vẽ tranh Đông Hồ và nhân dân phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn./.

Yêu nước ST.

NỰC CƯỜI RFA LẠI “NÍ NUẬN” VỀ THỂ CHẾ CHỐNG THAM NHŨNG!

         Mới đây, RFA lại đăng bài dẫn theo “Nhà báo độc lập” Nguyễn Vũ Bình “ní nuận” xuyên tạc kết quả phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Bài viết cho rằng phải “đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập…” mới “chống được tham nhũng tận gốc”; rằng, vấn đề tham nhũng ở Việt Nam là do cơ chế toàn trị cộng sản, tức “độc tài đảng trị”, rồi đổ cho chính do cơ chế đó sinh ra tham nhũng và mức độ tham nhũng ghê gớm như vậy!

Đó là luận điệu “ní nuận” xuyên tạc thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn, kiểu ngụy biện và gán ghép khiên cưỡng, thể hiện ở các lý do sau.

Thứ nhất, ở nhiều nước phát triển theo mô hình “tam quyền phân lập” hay đa nguyên đa đảng, thì tham nhũng vẫn luôn là một vấn nạn, Philippin hay Hàn Quốc là những ví dụ rõ ràng, với rất nhiều quan chức cấp cao, kể cả cấp cao nhất rơi vào vòng lao lý, tù tội. Trong năm 2020 và đầu năm 2021, trong các phán quyết của Tòa án tối cao Hàn Quốc đã tuyên án bà Park Geun Hye – cựu tổng thống vì tội nhận hối lộ và tội lạm dụng quyền lực khi còn đương chức. Tại Philipin, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Tư pháp Moslemen Macarambon Sr. và Trợ lý Bộ trưởng Bộ Công trình Công cộng và Đường cao tốc (DPWH) Tingagum Umpa bị cáo buộc tham nhũng. Cuộc điều tra của Ủy ban Chống tham nhũng của Tổng thống (PACC) chỉ ra, Macarambon thường xuyên can thiệp thay mặt cho những kẻ bị tình nghi buôn lậu vàng và các đồ trang sức quý khác tại sân bay quốc tế Ninoy Aquino; còn Umpa đã lạm dụng quyền lực và có hành vi tham nhũng, bị cáo buộc đã yêu cầu các nhà thầu trong khu vực một tỷ lệ phần trăm nhất định từ các dự án của họ.

Thứ hai, kết quả công cuộc “đốt lò”, chống tham nhũng ở Việt Nam trong những năm gần đây đã đạt nhiều kết quả rất tích cực, được đông đảo người dân chúng tôi ghi nhận, đồng tình, tạo dựng được niềm tin tưởng rất lớn đối với sự lãnh đạo của Cụ Trọng và Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng. Năm 2021, trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhưng công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn được thực hiện đạt nhiều kết quả rõ rệt, khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, “không ngừng”, “không nghỉ”, không vì chống dịch mà “chùng xuống, không xử lý” của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Ban Chỉ đạo đã chỉ đạo xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quyết liệt nhiều văn bản quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Có thể kể như: Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 22-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 41-QĐ/TW về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; Chỉ thị số 04-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; Kết luận số 05-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng…

Thực tiễn điều tra, xử lý nghiêm minh, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Trong năm 2021, các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, từ sau Phiên họp thứ 19 đến nay, đã khởi tố 10 vụ án/40 bị can; kết thúc điều tra 15 vụ án/150 bị can… Trong đó, đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp; tiếp tục mở rộng điều tra, kiên quyết, kiên trì đi sâu làm rõ bản chất tham nhũng, tiêu cực trong nhiều vụ án, khởi tố thêm nhiều bị can là cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang, trong đó 10 trường hợp cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; đã kiên quyết điều tra, xử lý nghiêm vụ án đưa, nhận hối lộ liên quan đến Phan Văn Anh Vũ; vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á và các vụ việc, vụ án liên quan đến lĩnh vực y tế, lợi dụng phòng, chống dịch COVID-19 để trục lợi; các vụ án xảy ra tại một số địa phương (Đồng Nai, Bình Dương, Khánh Hòa, Tp. Hồ Chí Minh…).

Thứ ba, có thể thấy rằng, tinh thần của Đảng Cộng sản Việt Nam không chủ quan, thỏa mãn, bằng lòng với những kết quả đạt được; mà tiếp tục kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh hơn nữa phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Điều hay nữa là, Cụ Tổng nhấn mạnh, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế để “không thể tham nhũng”. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập, đảm bảo thực chất, hiệu quả; rà soát, khắc phục những sơ hở, bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản công,…; sửa đổi, bổ sung Luật Thanh tra, Luật Đất đai, Luật Thực hành dân chủ ở xã, phường, thị trấn và các dự án luật liên quan trực tiếp đến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Như vậy, có thể nói, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên quyết, kiên trì công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ với quyết tâm chính trị cao, các văn bản chỉ đạo, quy định, quy chế mà cả vấn đề nghiên cứu lý luận, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế để không ai dám và không ai muốn tham nhũng, tiêu cực.

Cho nên RFA hay bất kỳ “nhà báo độc lập” nào hãy “dựa cột” mà nghe, mà xem, mà ngẫm chứ đừng có xuyên tạc sự thật./.

Yêu nước ST.

CHỦ TỊCH NƯỚC: TRONG BÃO TÁP SÓNG CẢ, CON TÀU VIỆT NAM VẪN TỰ TIN TIẾN LÊN!

         Tối 22/1, tại Hà Nội, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng phu nhân đã tới tham dự chương trình Xuân Quê hương 2022 và có bài phát biểu chào mừng trang trọng, ý nghĩa nhân dịp Tết Nguyên đán đang đến gần.


“Nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà"

Hiện nay, có khoảng 5,3 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc ở 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có hơn 4,3 triệu người định cư lâu dài, và 0,6 triệu chuyên gia trí thức.

Theo Chủ tịch nước, nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc ngàn đời, lắng sâu trong mỗi người con mang dòng máu Việt, dù ở bất cứ nơi nào trên thế giới đều luôn nhớ về quê hương như “chim có tổ, người có tông” và như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà”.

“Chủ tịch nước được báo cáo các đảo của ta tại Trường Sa cũng như các điểm nơi tuyến đầu biên cương của Tổ quốc đã nhận được quà Tết của các địa phương, các bộ ngành trung ương, để động viên các chiến sỹ luôn sẵn sàng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc. Đó là những cống hiến cao quý, lặng thầm rất đáng trân trọng của các chiến sỹ nơi đảo xa và nơi biên cương Tổ quốc cho bình yên trên quê hương Việt Nam thân yêu” – Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Đề cập tới bối cảnh dịch bệnh hiện nay, Chủ tịch nước cho biết, với sự nỗ lực, tận tụy cống hiến của các lực lượng, đi đầu là cán bộ nhân viên ngành y tế, cùng với hơn 200 triệu liều vaccine đã có, chúng ta đã triển khai tiêm chủng miễn phí cho toàn dân trên quy mô lớn chưa từng có, với tốc độ nhanh, độ bao phủ rộng tới các nhóm đối tượng, kể cả trẻ em. Việt Nam đã trở thành một trong 6 nước có độ bao phủ vaccine cao nhất thế giới.

Dẫu còn nhiều khó khăn, hạn chế, tốc độ tăng GDP 2021 vẫn ước đạt 2,58%, kinh tế vĩ mô ổn định, kim ngạch đạt gần 670 tỷ USD, tăng 22%, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Vững niềm tin vào Việt Nam, nhiều doanh nghiệp quốc tế đã đăng ký đầu tư mới và mở rộng đầu tư với tổng vốn 31,5 tỷ USD trong 2021, tăng gần 10%, đưa tổng vốn đầu tư FDI tại Việt Nam, từ 140 quốc gia, vùng lãnh thổ, lên gần 410 tỷ USD. Việt Nam từng bước mở cửa đón khách quốc tế sau một thời gian dài vắng lặng, các đường bay thẳng giữa Việt Nam và một số nơi đã được nối lại. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực.

“Trong bão táp, sóng cả của năm qua, dù chuyển động chậm hơn, nhưng con tàu Việt Nam vẫn tự tin tiến lên với những thành tựu toàn diện về kinh tế, chính trị, đối ngoại, văn hóa xã hội… thể hiện nội lực, tiềm năng, vị thế mới của đất nước. Đó là minh chứng cho bản lĩnh, khát vọng, ý chí quật cường và tinh thần đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, cả người dân trong nước cũng như đồng bào ta ở nước ngoài” - Chủ tịch nước khẳng định.

Phục hồi nhanh với sức mạnh của “mãnh hổ”

Người đứng đầu Nhà nước nhấn mạnh công tác về người Việt Nam ở nước ngoài luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước với thực thi nhiều quyết sách quan trọng; đánh giá cao kết quả triển khai công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong năm 2021 như kịp thời phân bổ các khoản kinh phí hỗ trợ cộng đồng ở nhiều địa bàn bị ảnh hưởng Covid-19 nặng; hỗ trợ trang thiết bị y tế và nhu yếu phẩm cho cộng đồng người Việt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ trong thời điểm khan hiếm.

Vượt qua bão xoáy của dịch Covid-19, gần 600 chuyến bay đã đưa hơn 120.000 đồng bào ta ở nước ngoài trở về, dù cho trong nước còn rất nhiều khó khăn do dịch bệnh đang hoành hành. Mọi công việc dẫu còn chưa hoàn hảo, còn thiếu sót, nhưng đó là những nỗ lực “chăm lo”, là “nghĩa đồng bào” của quê hương đất Việt.

“Tôi rất ấn tượng với nhiều trí thức giỏi, nhất là thế hệ trẻ người Việt ở nước ngoài ngày càng thành đạt, có nhiều thành công nổi bật. Hoan nghênh một số trí thức, doanh nhân đã về nước khởi nghiệp, hợp tác hiệu quả… Số lượng chuyên gia, trí thức Việt Nam làm việc tại các cơ quan nhà nước sở tại, tổ chức quốc tế lớn, các trường đại học, viện nghiên cứu uy tín trên thế giới ngày càng nhiều” – Chủ tịch nước bày tỏ và cho biết lượng kiều hối 2021 tiếp tục tăng với con số gần 14 tỷ USD, đó cũng là tình cảm, sự sẻ chia luôn đong đầy của bà con kiều bào với Tổ quốc và với bà con nơi quê nhà.

Bước sang năm mới Nhâm Dần 2022 với những thời cơ và thách thức đan xen, Chủ tịch nước tin tưởng về quyết tâm vượt qua mọi thách thức, khó khăn, phát huy tiềm năng đang bị kìm nén, để bật lên trong phục hồi nhanh, phát triển mạnh mẽ với sức mạnh của “mãnh hổ” Nhâm Dần.

Theo Chủ tịch nước, những chuyến bay của Việt Nam vươn ra thế giới trong những ngày gần đây để đón bà con về thăm quê hương và khách quốc tế, là hình ảnh của sự khởi đầu tràn đầy tự tin và khát vọng của đất nước trong năm mới Nhâm Dần. Việt Nam và các nước đang tích cực đàm phán để công nhận hộ chiếu vaccine của nhau, nới lỏng quy định cách ly, đảm bảo các điều kiện cần thiết để dần mở rộng hành lang đi lại an toàn với tất cả các nước.

“Tôi mong rằng, đồng bào ta ở nước ngoài, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, sẽ luôn giữ vững tinh thần Việt Nam luôn lạc quan, không nao núng trước khó khăn, thách thức; linh hoạt, sáng tạo trước thời cơ và luôn đoàn kết như lời Bác Hồ dạy “lấy đoàn kết để xoay vần vận mệnh” – Chủ tịch nước nói và tin rằng vận mệnh mới tốt đẹp hơn nhất định sẽ đến với chúng ta trong năm Nhâm Dần 2022, đó cũng là nốt thăng vút cao của bản nhạc mùa xuân tràn đầy hào khí mạnh mẽ của khát vọng hùng cường và cùng hướng tới mục tiêu một nước Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045./.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại chương trình Xuân Quê hương 2022.

Môi Trường ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG!

          Lịch sử dân tộc Việt Nam trải dài suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước; trong đó có hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã làm nên những kỳ tích không thể phủ nhận. Thực tế là, từ ngày có Đảng lãnh đạo, nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi trong thế kỷ XX, cũng như những thành tựu về mọi mặt trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được khẳng định và ghi nhận. Thời gian có thể làm thay đổi nhiều thứ và thế giới cũng sẽ nhiều đổi thay, song những gì mà Đảng đã nỗ lực phấn đấu vì một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do và nhân dân ngày càng được ấm no, hạnh phúc thì không thể nào bôi đen hay phủ nhận được.

Thực tế cho thấy là, cứ ít ngày thì các nhà "rân chủ cuội" vốn theo đuôi thế lực thù địch lại mượn cớ/vin vào một số hạn chế trong thực trạng của đất nước để rồi tung lên mạng xã hội những tin, bài bịa đặt đầy xảo trá. Cụ thể là, khi thì họ cho rằng, vì Đảng độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nên đất nước không thể dân chủ và phát triển như một số quốc gia ở phương Tây và Mỹ; khi thì họ đổ lỗi cho những khó khăn, thách thức trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam tiếp tục phải đối diện, khắc phục là do việc Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường sai lầm, lạc hậu; nhất là khi chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ từ cuối thế kỷ trước rồi mà Việt Nam vẫn cố bấu víu, tiếp tục đi theo…

Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật và cần phải khẳng định rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của đất nước đã lãnh đạo nhân dân kiên trì đấu tranh cách mạng đầy gian khổ và hy sinh suốt 15 năm (1930-1945) để giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đã kiên trì tiến hành thắng lợi 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ suốt 30 năm (1945-1975) để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, tiếp tục tiến hành sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng hơn 35 năm qua (từ 1986 đến nay) chưa bao giờ/không bao giờ là sai đường và lạc hậu. Nếu không có Đảng dẫn đường, lãnh đạo thì tất yếu sẽ không thể có một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và ngày càng phát triển bền vững như ngày nay.


ĐẢNG ĐỘC QUYỀN LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG, KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Một là, việc Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền/độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam được hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phải chỉ là ý muốn chủ quan của Đảng mà đó là sự lựa chọn của lịch sử, được kiểm nghiệm bởi lịch sử. Thực tế, lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam từng có Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ... tham gia chính trường, song vì không thể đảm nhiệm được sứ mệnh lịch sử, nên cuối cùng đã tự rút lui. Hơn nữa, suốt 9 thập niên qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, đồng lòng ủng hộ, đi theo và chịu sự lãnh đạo của Đảng, góp sức và làm nên những thành tựu của sự nghiệp cách mạng.

Niềm tin luôn tồn tại trong mỗi con người và nhân dân Việt Nam có đủ cơ sở khoa học, thực tiễn lịch sử để sắt son một niềm tin vào Đảng, vào những thành quả của sự nghiệp cách mạng mà cả dân tộc Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bao thập niên qua, kể từ khi Đảng ra đời vào mùa Xuân năm 1930, đồng bào và chiến sĩ cả nước luôn một lòng tin yêu Đảng, vì Đảng luôn phấn đấu vì nước, vì dân, cho ấm no, hạnh phúc của toàn dân. Trên hành trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh cho độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng khẳng định, củng cố được vị trí cầm quyền, độc quyền lãnh đạo của mình. Đồng thời, trong hành trình đó, nhân dân Việt Nam cũng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn vai trò không thể phủ nhận/không thể thay thế được của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tế là, có Đảng dẫn dường là có một cuộc đổi đời lịch sử, có một đất nước Việt Nam được hồi sinh và phát triển sau hơn 80 năm bị áp bức, bóc lột dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật; là có một dân tộc Việt Nam kiên cường đấu tranh và giành thắng lợi sau 30 năm đấu tranh gian khổ chống sự xâm lược của thực dân Pháp (lần thứ 2) và đế quốc Mỹ, để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có Đảng lãnh đạo, nên mỗi người dân là "con Rồng cháu Tiên" của dải đất, biên cương, hải đảo, bầu trời mang tên Việt Nam này hẳn ai cũng từng được nghe và không thể nào quên những lời ca đi cùng năm tháng trong bài hát "Lá cờ Đảng" của nhạc sĩ Văn An: "Trong đêm đen, lá cờ của Đảng rạng soi đường đấu tranh/Dưới bóng cờ lòng tràn niềm tin chân lý sáng trong tim/Với dân giữ vẹn tròn chữ hiếu/Với Đảng vẹn tròn lòng tin yêu/Cờ Đảng giục ta đi tới/Đắp xây non sông đẹp tươi"… Và vì có Đảng, nên đã là người dân Việt Nam yêu nước chân chính, hẳn ai cũng sẽ bất bình và căm giận trước sự vu khống, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch. Điều này là sự thật, và sự thật này bác bỏ sự quy chụp không khách quan, đầy chủ kiến ác ý của những kẻ cơ hội, phản động khi cho rằng Đảng đã sai lầm, lạc hậu, song vì "tham vọng thống trị uy quyền, muốn độc bá, độc tôn, muốn tiếp tục giữ vững ngôi vị thống trị toàn dân", nên đã không chấp nhận đa nguyên, đa đảng; không thực thi xã hội dân chủ…

Hai là, dù cũng còn một số hạn chế cần tiếp tục khắc phục, song những gì mà đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng là không thể phủ nhận. Sau khi nước nhà giành được độc lập, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nên hơn 77 năm qua nói chung và trong 30 năm kiên cường kháng chiến chống sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nói riêng, đã có biết bao người con ưu tú của dân tộc hiến dâng thân mình, một phần máu xương của mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự hy sinh anh dũng đó đã góp phần làm cho trái ngọt "độc lập, tự do, hạnh phúc" được nở hoa trên mảnh đất Việt Nam, chứ không phải là trong suốt 30 năm ấy, người dân phải "chấp nhận khổ nghèo, hy sinh vì nội chiến" là do Đảng "khởi xướng, hô hào" như những kẻ "rân chủ" nhân danh yêu nước quy chụp.

Thực tế, sự hy sinh và đóng góp sức mình của mỗi người dân Việt Nam yêu nước cho một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội chính là sự kiên định con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn từ năm 1930, được ghi rõ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng: "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1); trong Cương lĩnh lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chứ không phải là Việt Nam cứ cố bấu víu vào "thiên đường chủ nghĩa xã hội mù mịt", trong khi "hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới đã tan rã, chỉ còn lại vài nước rời rã cố bám".

Thực tế cũng cho thấy là, sự sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực, chứ không phải là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, cũng không hề làm mất đi nội dung thời đại của chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân tan rã của Liên Xô cũng đã được chỉ ra và thất bại của chủ nghĩa xã hội lần này chỉ là tạm thời. Theo quy luật khách quan, thì chủ nghĩa xã hội sẽ phủ định, thay thế chủ nghĩa tư bản; và trên thực tế, Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đúng đắn, bởi: "Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(2) và "đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử"(3).

Thực tế, những thành tựu đã đạt được của Việt Nam trong hơn 90 năm qua, đặc biệt là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, thực hiện an sinh xã hội, nhất là việc thực hiện quyền con người theo những giá trị phổ quát của Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 đã được khẳng định trong Văn kiện 13 kỳ Đại hội Đảng, trong báo cáo tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội… hằng năm. Sự thật đó đã được nhân dân ghi nhận và cộng đồng quốc tế đánh giá cao, cho nên, việc cho rằng những người cộng sản Việt Nam nói chung, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói riêng (thể hiện trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”) là những người đã "cố theo một chủ thuyết, một chủ nghĩa, một đường lối sai lầm" mà vẫn không hiểu rằng mình đã sai, nên đã "đưa một đất nước tụt hậu tận cùng bên bờ vực thẳm" của Nguyễn Dân và những người cùng hội cùng thuyền "rân chủ" chính là bôi nhọ và xuyên tạc sự thật lịch sử cách mạng Việt Nam, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với đó, luận điệu cho rằng, trong khi các quốc gia từ bỏ chủ nghĩa xã hội "đã thay đổi", đã "chuyển qua thể chế dân chủ" nên đều phát triển tiến bộ, ấm no, hạnh phúc, còn Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì vẫn đang "ngụp lặn trong đói nghèo và khốn khổ" là do Đảng Cộng sản Việt Nam "suy luận viển vông" và đó là nguyên nhân của mọi thất bại chính là những chiêu trò vừa khoét sâu vừa kích động để gây rối lòng dân của các thế lực thù địch. Đây chính là sựu quy chụp không có căn cứ, nhận định đầy chủ quan, thiên kiến về Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.


XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VỪA LÀ NHIỆM VỤ CẤP BÁCH, VỪA LÀ NHIỆM VỤ THƯỜNG XUYÊN VÀ LÂU DÀI

Một là, cần phải khẳng định rằng, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài của một Đảng cách mạng chân chính, được xây dựng và hoạt động theo các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là vì "Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên"(4) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, chứ không phải là mỗi khi Đảng đánh giá khách quan tình hình, nêu ra hạn chế, đề ra giải pháp (trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng hay Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương) để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó tốt hơn thì có nghĩa là Đảng đã "thất bại" trong công tác “xây dựng, chỉnh đốn đảng” như các luận điệu phản động tung lên mạng xã hội.

Thực tế là, những kẻ cơ hội đã cố tình chỉ nhìn vào hạn chế, khoét sâu vào một số nhận định mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt triển khai Kết luận và quy định của Trung ương về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng (Hà Nội, ngày 9/12/2021), mà cố tình bỏ quên, không ghi nhận những kết quả đã đạt được trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng suốt 92 năm qua, đặc biệt là trong những nhiệm kỳ gần đây. Có thể thấy rằng, những kẻ cơ hội, phản động này đã cố tình không hiểu rằng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt; có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhờ nghiêm túc, thường xuyên thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng đó mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã không chỉ khẳng định được vai trò mà còn giữ vững được vị trí cầm quyền, độc quyền lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước suốt mấy thập niên qua.

Trong quá trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành sự nghiệp cách mạng, nhờ thấm nhuần sâu sắc rằng: "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng"(5), Đảng Cộng sản Việt Nam đã không chỉ xác lập, củng cố, nâng cao vai trò lãnh đạo, uy tín, nguồn sức mạnh, sức chiến đấu của mình bằng đường lối chính trị đúng đắn; bằng bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn chú trọng thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng để Đảng luôn là một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc, luôn liên hệ mật thiết với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ.

Trong mọi lĩnh vực, mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tu dưỡng về mọi mặt, rèn luyện bản lĩnh chính trị để hoàn thành trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trước Tổ quốc và nhân dân, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tâm niệm phụng sự với tinh thần liêm chính; luôn "đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng

bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo. Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân”(6) và bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận được rằng, Đảng dù là một tổ chức của những con người ưu tú, tiền phong, song nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt thì rất dễ sa vào bẫy của chủ nghĩa cá nhân, sa vào thực dụng, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm và các biểu hiện tiêu cực, suy thoái khác. Vì thế, trong tổ chức của những người con ưu tú đó vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; vẫn còn có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, thậm chí là cán bộ lãnh đạo cấp cao phai nhạt lý tưởng, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước, nên đã vướng vòng lao lý, đã bị khai trừ khỏi Đảng…

Hơn nữa, nguyên nhân của các thành tựu trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, những hạn chế và cả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một bộ phận cán bộ, đảng viên nói riêng cũng được chỉ ra rất cụ thể trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng; nhất là trong các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, XII, XIII bàn về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; trong thông báo và kết luận các phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương…, song thành tựu vẫn là cơ bản. Vì thế, việc chỉ nhìn vào một số hạn chế mà bỏ qua thành tựu, để vội vàng kết luận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Việt Nam "là cây đã chết từ gốc" và "Đảng đã mục từ cơ sở chứ không bền vững như Tuyên giáo tuyên truyền" thì thật là thiển cận; là không khách quan, là xuyên tạc bản chất vấn đề nhằm bôi đen Đảng nói chung, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói riêng.

Hai là, với một Đảng Mácxít Lêninnít như Đảng Cộng sản Việt Nam, thì bảo vệ nền tảng tư tưởng là một nội dung quan trọng; trong đó, "bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” luôn là nhiệm vụ xuyên suốt, nhất quán của tất cả các tổ chức cơ sở Đảng, của tất cả mọi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Cùng với việc học tập, nghiên cứu, quán triệt để hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng trong thực tiễn công tác, đời sống, thì việc kịp thời nhận diện, chủ động đấu tranh và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội cũng là một "trận tuyến" đầy cam go, thử thách, đòi hỏi sự kiên định, chủ động và bản lĩnh của mỗi người. Cho nên, ở đâu đó và nếu có ai đó "công khai chỉ trích Đảng là ù lì", "là tiếp tục cuồng tín bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh", làm cho "dân tộc mỗi ngày một lạc hậu hơn, đất nước tụt hậu hơn so với các dân tộc láng giềng" thì đó cũng chỉ là "phát ngôn" của những kẻ đã suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đã "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và rời xa lý tưởng cách mạng.

Cùng với đó, thông qua quá trình học tập, quán triệt và tu dưỡng theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" gắn với Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các Quy định về nêu gương (Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị về "Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên"; Quy định số 08-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của CBĐV, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương"…), các Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW và Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII… từng tổ chức Đảng đã, đang và sẽ tiếp tục chỉ ra những người đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chỉ ra những biểu hiện tiêu cực/tham ô, tham nhũng, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ Đảng, để chỉnh đốn tổ chức, góp phần xây dựng Đảng.

Thông qua quá trình tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát; quá trình tự soi, tự sửa hằng ngày của mỗi người, của mỗi tổ chức, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng đã có sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức đến hành động. Việc phát huy vai trò nêu gương, mẫu mực thực hiện "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư"; nỗ lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân trên tinh thần thấm nhuần lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(7) của mỗi người đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.

Thực tế, việc nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế chính là nhằm từng bước sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những người phai nhạt lý tưởng cộng sản, suy thoái, biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật… làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cho nên, càng tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; chủ động đấu tranh và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng/bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì càng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, để Đảng xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân, chứ không phải là vì công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã "thất bại".

Vì thế, mọi sự xuyên tạc, phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng để đòi đa nguyên, đa đảng đối lập ở Việt Nam; đòi từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đều là những luận điệu phản động. Cùng

với đó, những nhận định bôi đen sự thật khi cho rằng, sau hơn hơn 90 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, thì Đảng chính là "nguồn gốc"/là nguyên nhân của những thất bại; đồng thời, hai công tác luôn được Đảng "kêu gào" phải đẩy mạnh, phải tăng cường là "xây dựng và chỉnh đốn Đảng" và "bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh/nền tảng tư tưởng của Đảng" đều "thất bại" cũng không phải là sự thật, mà đó chính là những luận điệu thâm độc nhằm chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; chia rẽ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc!

Mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần phải nhận diện đúng về những luận điệu phản động nêu trên, để không chỉ nâng cao cảnh giác, nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng mà còn phải tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, chủ động đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn, chiêu trò "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội!

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.1.

(2) (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.69, 70.

(4) (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.290, 289.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.177.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.672./.
Ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG


Lịch sử dân tộc Việt Nam trải dài suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước; trong đó có hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã làm nên những kỳ tích không thể phủ nhận. Thực tế là, từ ngày có Đảng lãnh đạo, nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi trong thế kỷ XX, cũng như những thành tựu về mọi mặt trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được khẳng định và ghi nhận. Thời gian có thể làm thay đổi nhiều thứ và thế giới cũng sẽ nhiều đổi thay, song những gì mà Đảng đã nỗ lực phấn đấu vì một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do và nhân dân ngày càng được ấm no, hạnh phúc thì không thể nào bôi đen hay phủ nhận được.

Thực tế cho thấy là, cứ ít ngày thì các nhà "rân chủ cuội" vốn theo đuôi thế lực thù địch lại mượn cớ/vin vào một số hạn chế trong thực trạng của đất nước để rồi tung lên mạng xã hội những tin, bài bịa đặt đầy xảo trá. Cụ thể là, khi thì họ cho rằng, vì Đảng độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nên đất nước không thể dân chủ và phát triển như một số quốc gia ở phương Tây và Mỹ; khi thì họ đổ lỗi cho những khó khăn, thách thức trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam tiếp tục phải đối diện, khắc phục là do việc Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường sai lầm, lạc hậu; nhất là khi chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ từ cuối thế kỷ trước rồi mà Việt Nam vẫn cố bấu víu, tiếp tục đi theo…

Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật và cần phải khẳng định rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của đất nước đã lãnh đạo nhân dân kiên trì đấu tranh cách mạng đầy gian khổ và hy sinh suốt 15 năm (1930-1945) để giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đã kiên trì tiến hành thắng lợi 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ suốt 30 năm (1945-1975) để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, tiếp tục tiến hành sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng hơn 35 năm qua (từ 1986 đến nay) chưa bao giờ/không bao giờ là sai đường và lạc hậu. Nếu không có Đảng dẫn đường, lãnh đạo thì tất yếu sẽ không thể có một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và ngày càng phát triển bền vững như ngày nay.

Một là, việc Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền/độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam được hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phải chỉ là ý muốn chủ quan của Đảng mà đó là sự lựa chọn của lịch sử, được kiểm nghiệm bởi lịch sử. Thực tế, lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam từng có Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ... tham gia chính trường, song vì không thể đảm nhiệm được sứ mệnh lịch sử, nên cuối cùng đã tự rút lui. Hơn nữa, suốt 9 thập niên qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, đồng lòng ủng hộ, đi theo và chịu sự lãnh đạo của Đảng, góp sức và làm nên những thành tựu của sự nghiệp cách mạng.

Niềm tin luôn tồn tại trong mỗi con người và nhân dân Việt Nam có đủ cơ sở khoa học, thực tiễn lịch sử để sắt son một niềm tin vào Đảng, vào những thành quả của sự nghiệp cách mạng mà cả dân tộc Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bao thập niên qua, kể từ khi Đảng ra đời vào mùa Xuân năm 1930, đồng bào và chiến sĩ cả nước luôn một lòng tin yêu Đảng, vì Đảng luôn phấn đấu vì nước, vì dân, cho ấm no, hạnh phúc của toàn dân. Trên hành trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh cho độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng khẳng định, củng cố được vị trí cầm quyền, độc quyền lãnh đạo của mình. Đồng thời, trong hành trình đó, nhân dân Việt Nam cũng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn vai trò không thể phủ nhận/không thể thay thế được của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tế là, có Đảng dẫn dường là có một cuộc đổi đời lịch sử, có một đất nước Việt Nam được hồi sinh và phát triển sau hơn 80 năm bị áp bức, bóc lột dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật; là có một dân tộc Việt Nam kiên cường đấu tranh và giành thắng lợi sau 30 năm đấu tranh gian khổ chống sự xâm lược của thực dân Pháp (lần thứ 2) và đế quốc Mỹ, để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có Đảng lãnh đạo, nên mỗi người dân là "con Rồng cháu Tiên" của dải đất, biên cương, hải đảo, bầu trời mang tên Việt Nam này hẳn ai cũng từng được nghe và không thể nào quên những lời ca đi cùng năm tháng trong bài hát "Lá cờ Đảng" của nhạc sĩ Văn An: "Trong đêm đen, lá cờ của Đảng rạng soi đường đấu tranh/Dưới bóng cờ lòng tràn niềm tin chân lý sáng trong tim/Với dân giữ vẹn tròn chữ hiếu/Với Đảng vẹn tròn lòng tin yêu/Cờ Đảng giục ta đi tới/Đắp xây non sông đẹp tươi"… Và vì có Đảng, nên đã là người dân Việt Nam yêu nước chân chính, hẳn ai cũng sẽ bất bình và căm giận trước sự vu khống, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch. Điều này là sự thật, và sự thật này bác bỏ sự quy chụp không khách quan, đầy chủ kiến ác ý của những kẻ cơ hội, phản động khi cho rằng Đảng đã sai lầm, lạc hậu, song vì "tham vọng thống trị uy quyền, muốn độc bá, độc tôn, muốn tiếp tục giữ vững ngôi vị thống trị toàn dân", nên đã không chấp nhận đa nguyên, đa đảng; không thực thi xã hội dân chủ…

Hai là, dù cũng còn một số hạn chế cần tiếp tục khắc phục, song những gì mà đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng là không thể phủ nhận. Sau khi nước nhà giành được độc lập, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nên hơn 77 năm qua nói chung và trong 30 năm kiên cường kháng chiến chống sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nói riêng, đã có biết bao người con ưu tú của dân tộc hiến dâng thân mình, một phần máu xương của mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự hy sinh anh dũng đó đã góp phần làm cho trái ngọt "độc lập, tự do, hạnh phúc" được nở hoa trên mảnh đất Việt Nam, chứ không phải là trong suốt 30 năm ấy, người dân phải "chấp nhận khổ nghèo, hy sinh vì nội chiến" là do Đảng "khởi xướng, hô hào" như những kẻ "rân chủ" nhân danh yêu nước quy chụp.

Thực tế, sự hy sinh và đóng góp sức mình của mỗi người dân Việt Nam yêu nước cho một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội chính là sự kiên định con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn từ năm 1930, được ghi rõ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng: "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1); trong Cương lĩnh lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chứ không phải là Việt Nam cứ cố bấu víu vào "thiên đường chủ nghĩa xã hội mù mịt", trong khi "hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới đã tan rã, chỉ còn lại vài nước rời rã cố bám".

Thực tế cũng cho thấy là, sự sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực, chứ không phải là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, cũng không hề làm mất đi nội dung thời đại của chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân tan rã của Liên Xô cũng đã được chỉ ra và thất bại của chủ nghĩa xã hội lần này chỉ là tạm thời. Theo quy luật khách quan, thì chủ nghĩa xã hội sẽ phủ định, thay thế chủ nghĩa tư bản; và trên thực tế, Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đúng đắn, bởi: "Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử”(2) và "đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử"

Thực tế, những thành tựu đã đạt được của Việt Nam trong hơn 90 năm qua, đặc biệt là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, thực hiện an sinh xã hội, nhất là việc thực hiện quyền con người theo những giá trị phổ quát của Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 đã được khẳng định trong Văn kiện 13 kỳ Đại hội Đảng, trong báo cáo tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội… hằng năm. Sự thật đó đã được nhân dân ghi nhận và cộng đồng quốc tế đánh giá cao, cho nên, việc cho rằng những người cộng sản Việt Nam nói chung, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói riêng (thể hiện trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”) là những người đã "cố theo một chủ thuyết, một chủ nghĩa, một đường lối sai lầm" mà vẫn không hiểu rằng mình đã sai, nên đã "đưa một đất nước tụt hậu tận cùng bên bờ vực thẳm" của Nguyễn Dân và những người cùng hội cùng thuyền "rân chủ" chính là bôi nhọ và xuyên tạc sự thật lịch sử cách mạng Việt Nam, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với đó, luận điệu cho rằng, trong khi các quốc gia từ bỏ chủ nghĩa xã hội "đã thay đổi", đã "chuyển qua thể chế dân chủ" nên đều phát triển tiến bộ, ấm no, hạnh phúc, còn Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì vẫn đang "ngụp lặn trong đói nghèo và khốn khổ" là do Đảng Cộng sản Việt Nam "suy luận viển vông" và đó là nguyên nhân của mọi thất bại chính là những chiêu trò vừa khoét sâu vừa kích động để gây rối lòng dân của các thế lực thù địch. Đây chính là sựu quy chụp không có căn cứ, nhận định đầy chủ quan, thiên kiến về Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong mọi lĩnh vực, mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tu dưỡng về mọi mặt, rèn luyện bản lĩnh chính trị để hoàn thành trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trước Tổ quốc và nhân dân, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tâm niệm phụng sự với tinh thần liêm chính; luôn "đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo. Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân”(6) và bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận được rằng, Đảng dù là một tổ chức của những con người ưu tú, tiền phong, song nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt thì rất dễ sa vào bẫy của chủ nghĩa cá nhân, sa vào thực dụng, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm và các biểu hiện tiêu cực, suy thoái khác. Vì thế, trong tổ chức của những người con ưu tú đó vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; vẫn còn có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, thậm chí là cán bộ lãnh đạo cấp cao phai nhạt lý tưởng, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước, nên đã vướng vòng lao lý, đã bị khai trừ khỏi Đảng…

Hơn nữa, nguyên nhân của các thành tựu trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, những hạn chế và cả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một bộ phận cán bộ, đảng viên nói riêng cũng được chỉ ra rất cụ thể trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng; nhất là trong các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, XII, XIII bàn về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; trong thông báo và kết luận các phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương…, song thành tựu vẫn là cơ bản. Vì thế, việc chỉ nhìn vào một số hạn chế mà bỏ qua thành tựu, để vội vàng kết luận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Việt Nam "là cây đã chết từ gốc" và "Đảng đã mục từ cơ sở chứ không bền vững như Tuyên giáo tuyên truyền" thì thật là thiển cận; là không khách quan, là xuyên tạc bản chất vấn đề nhằm bôi đen Đảng nói chung, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói riêng.

Thực tế, việc nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế chính là nhằm từng bước sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những người phai nhạt lý tưởng cộng sản, suy thoái, biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật… làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cho nên, càng tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; chủ động đấu tranh và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng/bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì càng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, để Đảng xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân, chứ không phải là vì công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã "thất bại".

Vì thế, mọi sự xuyên tạc, phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng để đòi đa nguyên, đa đảng đối lập ở Việt Nam; đòi từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đều là những luận điệu phản động. Cùng với đó, những nhận định bôi đen sự thật khi cho rằng, sau hơn hơn 90 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, thì Đảng chính là "nguồn gốc"/là nguyên nhân của những thất bại; đồng thời, hai công tác luôn được Đảng "kêu gào" phải đẩy mạnh, phải tăng cường là "xây dựng và chỉnh đốn Đảng" và "bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh/nền tảng tư tưởng của Đảng" đều "thất bại" cũng không phải là sự thật, mà đó chính là những luận điệu thâm độc nhằm chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; chia rẽ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc!

Mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần phải nhận diện đúng về những luận điệu phản động nêu trên, để không chỉ nâng cao cảnh giác, nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng mà còn phải tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, chủ động đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn, chiêu trò "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội./.

Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.