Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2022

Quyết liệt hơn trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

 

Quyết liệt hơn trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà coi trọng cả phòng, chống tiêu cực với trọng tâm là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Sáng 11/3, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Bộ Chính trị, cho ý kiến về các nội dung: Đề án Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 20/1/2003 của Bộ Chính trị khóa IX; Kết luận số 28-KL/TW ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị khóa XI về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001-2020; Đề án sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Quy định xử lý kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm.

Về Đề án Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001-2020, Bộ Chính trị thống nhất đánh giá hầu hết các nhiệm vụ, giải pháp, chỉ tiêu đề ra của Nghị quyết số 21-NQ/TW đã được các bộ, ngành và Đảng bộ, chính quyền, nhân dân 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long triển khai, thực hiện hiệu quả.

Mục tiêu của Nghị quyết đã cơ bản được hoàn thành; khẳng định Nghị quyết số 21-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đã phát huy được tiềm năng, lợi thế của vùng, đóng góp quan trọng và thành tựu chung của cả nước thời gian qua.

Bộ Chính trị thống nhất ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 21-NQ/TW về “Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” với tư duy, quan điểm, tầm nhìn phù hợp bối cảnh mới, nhằm đưa ra các mục tiêu, chủ trương, giải pháp cụ thể khắc phục những hạn chế, yếu kém, tháo gỡ các khó khăn trong thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW thời gian qua, tiếp tục tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời gian tới theo định hướng: Đồng bằng sông Cửu Long là vùng phát triển toàn diện theo hướng sinh thái, văn minh và bền vững, phù hợp với quy luật tự nhiên.

Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, năng động, hiệu quả trên cơ sở chuyển dịch nhanh mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, sử dụng hiệu quả nguồn nước, tài nguyên đất và phát triển các chuỗi cung ứng; là trung tâm năng lượng tái tạo, năng lượng sạch của cả nước; phát huy hiệu quả liên kết vùng, trong đó đột phá là hạ tầng giao thông, tăng cường năng lực hệ thống hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển chuỗi đô thị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân dân trong vùng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, Nghị quyết của Bộ Chính trị phải thể hiện những định hướng tư tưởng chỉ đạo về tầm quan điểm, chủ trương, chính sách lớn, không đi vào chi tiết, cụ thể; cần thiết phải ra nghị quyết, khẳng định vai trò, vị trí, ý nghĩa tầm quan trọng của khu vực kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long. Việc ra nghị quyết mới sẽ tạo được một bước chuyển biến mới, khí thế mới, bộ mặt mới với nhiều đóng góp mới cho đất nước trong giai đoạn tới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ nếu được Bộ Chính trị thông qua, nên ban hành sớm nghị quyết, tổ chức hội nghị triển khai thực hiện nghị quyết, tạo sự thống nhất về nhận thức, khơi dậy, phát huy ý chí quyết tâm, khí thế mới của cán bộ, đảng viên, nhân dân địa phương, nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, thay đổi cách làm, không đi theo đường mòn, vết cũ; đào tạo cán bộ, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu công việc.

Đề án sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí do Ban Nội chính Trung ương trình.

Bộ Chính trị đã thống nhất đánh giá về một số kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân sau 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW, trong đó đánh giá công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí được quan tâm, có bước đột phá trong phòng, chống tham nhũng, công tác phòng, chống lãng phí dần đi vào nề nếp, hiệu quả hơn.

Bộ Chính trị nhất trí về các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian tới.

Bộ Chính trị giao Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu, trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, quyết định thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh; xây dựng Đề án tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X, trên cơ sở đó, xây dựng, trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong tình hình mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề phức tạp, gần đây đã được đẩy mạnh với quyết tâm cao hơn, quyết liệt hơn; không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà coi trọng cả phòng, chống tiêu cực với trọng tâm là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong đấu tranh phòng, chống tiêu cực là bao gồm cả đấu tranh phòng, chống lãng phí...

Về Quy định xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, theo quy định hiện hành, việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm và xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm được thực hiện theo hai quy định khác nhau: Quy định số 07-QĐ/TW, ngày 28/8/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm; Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15/11/2017 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Để phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, bảo đảm nguyên tắc kỷ luật một tổ chức đảng phải xem xét, quy rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân và ngược lại khi xem xét kỷ luật đảng viên phải xem xét đến trách nhiệm của tổ chức đảng quản lý đảng viên vi phạm.

Bộ Chính trị thống nhất ban hành Quy định xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm trên cơ sở hợp nhất và kế thừa những nội dung còn phù hợp của Quy định số 07-QĐ/TW và Quy định số 102-QĐ/TW, đồng thời cập nhật đầy đủ chủ trương, quan điểm, nguyên tắc của Đảng trong Nghị quyết Đại hội XIII, các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mới được ban hành; bảo đảm đồng bộ, thống nhất các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Quy định về việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm gồm 4 chương, 58 điều. Chương I: Quy định chung; Chương II: Xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm; Chương III: Xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm và Chương IV: Điều khoản thi hành.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, đây là những vấn đề, nội dung quan trọng, cụ thể và đề nghị Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiếp tục rà soát kỹ lưỡng tiếp thu ý kiến tại cuộc họp để hoàn thiện, trình Bộ Chính trị…

 

Yêu cầu Đài Loan huỷ bỏ diễn tập trái phép ở đảo Ba Bình

 

Yêu cầu Đài Loan huỷ bỏ diễn tập trái phép ở đảo Ba Bình

Việc Đài Loan tiếp tục tổ chức diễn tập bắn đạn thật ở vùng biển xung quanh Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông.

Ngày 11/3, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc Đài Loan tiến hành tập trận bắn đạn thật ở Ba Bình, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ:

"Chúng tôi đã nhiều lần có phát biểu về việc này, Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế.

Việc Đài Loan tiếp tục tổ chức diễn tập bắn đạn thật ở vùng biển xung quanh Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với quần đảo này, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải; gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông".

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh, Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Đài Loan hủy bỏ hoạt động diễn tập trái phép nêu trên và không tái diễn trong tương lai.

 

VŨ KHÍ ÀO ẠT ĐỔ VỀ UKRAINE QUA "LỐI ĐI BÍ MẬT": VÌ SAO NGA KHÔNG TẤN CÔNG TUYẾN ĐƯỜNG NÀY?

         Dù biết rằng dòng chảy tiếp tế vũ khí của phương Tây đang giúp Ukraine kháng cự hiệu quả, Nga vẫn không có động thái gì để ngăn chặn điều này. Vì sao?
Mỹ và các đồng minh đang tìm cách giúp Ukraine ngăn chặn chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga trong khi tránh vượt qua lằn ranh đỏ có thể bị kéo vào cuộc xung đột trực tiếp với một cường quốc có vũ khí hạt nhân.
Đến hiện tại, Washington và các nước châu Âu đã hỗ trợ bằng việc cung cấp vũ khí, chia sẻ thông tin tình báo và viện trợ tài chính cho Kiev, cũng như áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Nga.
Những nỗ lực hỗ trợ Ukraine của phương Tây được đánh giá là vượt xa những gì Mỹ và các đồng minh cung cấp ở Afghanistan trước chiến dịch của Liên Xô năm 1979.
Sự can thiệp này được coi là bước vào vùng xám xung đột. Chống lại một quốc gia có vũ khí hạt nhân dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng mang đầy rủi ro đến từ những tính toán sai lầm.
Các thảo luận về việc cấp máy bay chiến đấu cho Ukraine từ kho máy bay thời Liên Xô của các nước NATO cũng là một dấu hiệu nhạy cảm.
Những khó khăn về vận chuyển, ai sẽ đưa máy bay và Nga sẽ phản ứng như thế nào là những câu hỏi lớn. Cùng với đó, nỗ lực mạo hiểm để làm vừa lòng Kiev nhưng không mang lại hiệu quả cũng là điều cần cân nhắc xứng đáng.
Lo ngại về đối đầu trực tiếp cũng là lý do tại sao phương Tây từ chối lời đề nghị của Tổng thống Volodymyr Zelensky về áp đặt vùng cấm bay trên lãnh thổ Ukraine, một bước đi có nguy cơ xảy ra đối đầu trực tiếp giữa các lực lượng phương Tây và Nga.
Tuy nhiên, cho đến lúc này, Nga cũng không cho thấy phản ứng quyết liệt trong việc ngăn dòng chảy vũ khí từ phương Tây viện trợ cho Ukraine dù biết rằng điều này sẽ ngăn cản bước tiến của chiến dịch quân sự.
Hiện tại, các đợt vận chuyển vũ khí của phương Tây chủ yếu đi qua tuyến đường bộ bí mật ở biên giới Ba Lan và Ukraine.
"Người Nga đã giấu nhẹm sự thật rằng giữa cuộc chiến, Ukraine được các nước khác cung cấp thiết bị quân sự, một bước đi mà lẽ ra luôn bị coi là thù địch trong môi trường chiến sự", Jonathan Eyal, chuyên gia tại Viện Dịch vụ Hoàng gia ở London nói với NY Times.
Moscow cũng đã làm ngơ trước tất cả thông tin về các tình nguyện viên nước ngoài tham gia vào chiến sự.
Câu hỏi là tại sao?

Dễ mà khó, khó mà dễ
Giới phân tích nhận định rằng, lý do là bởi Nga suy nghĩ rằng có những động thái của phương Tây mà nước này có thể có thể chấp nhận và không thể chấp nhận.
Hiện tại, các động thái hỗ trợ của Mỹ và đồng minh chưa phải là điều gây lo ngại, trong khi phương Tây cũng tỏ ra thấu hiểu điều đó để không làm những gì quá mức có thể gây ra nguy cơ xung đột.
Tổng thống Vladimir Putin khẳng định rõ, Nga sẽ coi bất kỳ quốc gia nào áp dụng vùng cấm bay sẽ được coi như một phần của cuộc xung - và phương Tây dường như đang lắng nghe.
Phillips O'Brien, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Đại học St. Andrews ở Scotland, cho biết các đồng minh phương Tây muốn tránh rủi ro bước vào cuộc đối đầu trực tiếp với Nga khi nỗ lực áp đặt vùng cấm bay.
"NATO và Mỹ dường như đã chấp nhận rằng có một lằn ranh lửa đỏ trực diện" giữa họ và Nga mà bản thân sẽ không vượt qua. Lằn ranh đỏ này được giữ vững, còn những lằn ranh khác có thể xóa mờ".
Tuy nhiên, vấn đề là lằn ranh đỏ có thể thay đổi theo thời gian.
Ngược lại, một lý do khiến Nga không đe dọa hoạt động cung cấp vũ khí cho Ukraine có thể là vì nước này biết rằng không thể đạt được kết quả như mong đợi. Nếu lực lượng Nga đi về phía tây và tìm cách cắt đứt các tuyến tiếp tế, nguy cơ xung đột trực tiếp giữa Nga và NATO cũng tăng lên.
Mặt khác, nếu NATO có một cuộc đối đầu trực tiếp với Nga, rất khó để biết mọi thứ sẽ đi đến đâu.
"Nga không muốn đối đầu trực tiếp với NATO vì nếu làm điều đó hoặc họ sẽ thua, hoặc họ phải lựa chọn hạt nhân", Phillips O'Brien, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Đại học St. Andrews ở Scotland nhận định.
Các nhà phân tích cho rằng khả năng Moscow sử dụng vũ khí hạt nhân là rất thấp, bất chấp việc Tổng thống Putin nhắc đi nhắc lại sự răn đe này.
Đó sẽ là một thảm họa đối với tất cả các bên và tất nhiên không giúp ích gì cho chiến dịch ở Ukraine. Ở phái bên kia, hậu quả vũ khí hạt nhân sẽ khủng khiếp đến mức Mỹ và các đồng minh không muốn chấp nhận rủi ro dù là rất nhỏ.

Đó là lý do mà cả hai bên sẽ vẫn nhìn nhau và cân nhắc lợi, hại của mỗi hành động. Mỗi bên sẽ vẫn chấp nhận các hành động của đối thủ, nếu điều đó không vượt quá lằn ranh đỏ. Mỹ sẽ không đưa quân can thiệp và Nga cũng sẽ không tấn công cắt đứt đường viện trợ vũ khí cho Ukraine./.


Yêu nước ST.

 

SUY NGHĨ VỀ THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI HIỆN NAY

        Có phải mọi sai lầm, sự xuống cấp đạo đức xã hội đều do “mặt trái của kinh tế thị trường”? Hay còn có những nguyên nhân khác bắt nguồn sâu xa từ nền tảng văn hóa đang bị lung lay, từ nhận thức chưa đúng, chưa tới tầm?

Một câu nói khá phổ biến phản ánh rất thực tâm trạng của nhiều người chúng ta: “Mong kinh tế như hôm nay, còn đạo đức trở lại như ngày xưa”. Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng đó là điều có thực, như nhiều vị cao niên thường tâm sự: “Thời chiến tranh, thời bao cấp mình thiếu thốn đủ thứ, nhưng rất giàu có về lý tưởng, nhân cách, tình nghĩa, sống thanh thản chứ đâu nhiều bức xúc như thời nay”.

Nói ngắn gọn là đạo đức xã hội nước ta đang xuống cấp - điều làm mọi người không bằng lòng và thường xuyên lo ngại. Sự xuống cấp của đạo đức xã hội có thể định lượng như gần đây một số trí giả phát biểu: “Đạo đức xuống cấp ở mức đáng báo động!”, “Thực trạng xuống cấp của văn hóa, đạo đức xã hội đã ở mức độ nguy hiểm”.

Trong vòng một vài năm nay, các phương tiện truyền thông đã nêu lên khá nhiều biểu hiện “chưa từng có” so với trước đây ở xã hội chúng ta - về của sự xuống cấp đạo đức, với chiều hướng ngày càng gia tăng, mức độ ngày càng nghiêm trọng.

Trước tiên là lĩnh vực kinh tế. Nhờ vận động theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ bao năm nay, nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế và an sinh xã hội, đời sống của nhân dân được cải thiện đáng kể so với trước. Nhưng sự xuống cấp về đạo đức thể hiện rất rõ trong lĩnh vực này qua những đại án hình sự và nhiều vụ án kinh tế mà nhiều người chịu sự trừng phạt của pháp luật lại nằm trong “bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”.

Đạo đức xã hội xuống cấp còn thể hiện ở những hành vi bạo lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ bạo lực gia đình, bạo lực học đường... đến bạo lực nơi công cộng. Có những người sẵn sàng dùng vũ khí “nóng”, vũ khí “lạnh” để giải quyết các mâu thuẫn trong mọi quan hệ giữa cha mẹ và con, anh chị em, vợ chồng, hàng xóm láng giềng, bạn bè… Nhiều trường hợp dẫn đến kết cục thật thương tâm.

Thói tham lam, ích kỷ, thói vô cảm lan rộng gây nhiều tác hại cho cộng đồng, phản lại thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Trong nền kinh tế thị trường, mọi người đều tìm cách kiếm được nhiều tiền, điều này là chính đáng, tuy nhiên một số người đã tôn sùng đồng tiền một cách mù quáng, coi “tiền là trên hết” và tìm mọi thủ đoạn để có nhiều tiền, tạo mọi điều kiện để mặt trái của đồng tiền phát huy. Khi đồng tiền lên ngôi cũng chính là lúc đạo đức xuống cấp.

Tìm nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên, chúng ta thường cho đó là do mặt trái của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, có phải mọi sai lầm, sự xuống cấp đạo đức xã hội đều do “mặt trái” của kinh tế thị trường? Hay còn có những nguyên nhân khác bắt nguồn sâu xa từ nền tảng văn hóa đã và đang bị lung lay, từ nhận thức chưa đúng, chưa tới tầm? Điều này cần tiếp tục có sự nghiên cứu thấu đáo để đưa ra lời giải thỏa đáng - bắt đầu từ tầm vĩ mô, từ những nhà hoạch định chính sách.

Kinh tế thị trường có nhiều mặt tích cực nên phát huy, nhưng những mặt tiêu cực của nó cũng cần được nhận diện một cách khách quan và khoa học hơn nữa, để phê phán và khắc phục hữu hiệu. Điều này quả là chúng ta làm chưa tốt, không tốt, thậm chí còn có hiện tượng buông lỏng, thả nổi rất nguy hiểm. Phải thẳng thắn chỉ ra rằng, đạo đức xã hội và kinh tế chưa song hành, đạo đức xã hội chưa bắt kịp sự phát triển của kinh tế có một phần nguyên nhân là do tinh thần “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển” của Đại hội XII của Đảng chưa thực sự đi sâu vào đời sống, mặc dù nhiệm vụ xây dựng con người luôn luôn được Đảng đặt lên hàng đầu.

Khi chúng ta xác định: phải bắt đầu từ việc xây dựng con người, từ gia đình, trường học đến xã hội, thì cũng có thể hiểu: văn hóa, đạo đức trước tiên là xây dựng con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Người cũng nói: “Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính. Thiếu một đức thì không thành người”. Vì vậy, con người mà chúng ta xây dựng là con người chính trị và đạo đức. Đồng thời, không thể không xem trọng những yếu tố khác góp phần tạo nên con người cụ thể như cá tính, sở thích, ước muốn… của họ. Thời kỳ mới, cần có hệ giá trị chuẩn mực mới về văn hóa, đạo đức cho con người. Đây là vấn đề lớn, rất lớn nhưng ta chưa làm được.

Đạo đức của con người phải là lòng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, lao động sáng tạo, ham thích học tập, có trách nhiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật… Phải gạt bỏ những tập tục không còn phù hợp, đồng thời trân trọng những giá trị tốt đẹp ngàn xưa đã trở thành truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc.

Các chủ thể gia đình, trường học, xã hội đều có trách nhiệm và có khả năng đóng góp vào việc củng cố đạo đức. Mỗi người trước tiên phải là một thành viên tốt trong gia đình và nhà trường, thì sau đó mới trở thành thành viên tốt của xã hội. Những đức tính tốt đẹp cần phải được thấm sâu vào tâm hồn từng người Việt từ tấm bé đến lúc trưởng thành, đó là: “Thờ cha kính mẹ”“Chị ngã em nâng”“Anh em như thể chân tay”“Trên kính dưới nhường”“Bán anh em xa mua láng giềng gần”“Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”“Một sự nhịn là chín sự lành”“Một cây làm chẳng nên non/Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”“Kính thầy yêu bạn”“Cô giáo là mẹ hiền”“Kính lão đắc thọ”“Thấy người hoạn nạn cưu mang/Thấy người già yếu lại càng chăm nom”“Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Hiện nay, chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật là tất yếu của một xã hội hiện đại, văn minh. Tuy nhiên, nền tảng đạo đức luôn luôn được coi trọng. Việc xây dựng con người Việt Nam được đặt lên hàng đầu, mà nhiều người trong xã hội trân trọng gọi là “đạo làm người”. Theo đó, con người dù là ở cương vị nào trong xã hội cũng đều phải tu dưỡng, rèn luyện để có phẩm chất tốt đẹp, có đạo đức, nếu không sẽ không làm đúng “đạo làm người”. Cán bộ và đảng viên - những người cộng sản - giữ địa vị càng cao càng cần tu dưỡng, rèn luyện nghiêm cẩn. Đảng ta đã ra Quy định số 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Theo đó, cấp trên phải nêu gương sáng cho cấp dưới, đảng viên phải nêu gương sáng, làm mực thước cho người khác làm theo.

Làm được những điều này, chúng ta có cơ sở để tin rằng tình trạng suy thoái đạo đức hiện nay sẽ từng bước được khắc phục. Không hề dễ dàng, không thể nóng vội, nhưng phải kiên quyết, quyết liệt với sự đồng tâm nhất trí của toàn Đảng, toàn dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước pháp quyền do nhân dân làm chủ, chúng ta có cơ sở để tin rằng cái thiện sẽ thắng cái ác, cái tốt sẽ thắng cái xấu, chúng ta sẽ xây dựng thành công một xã hội đạo đức tốt đẹp cùng với nền kinh tế tăng trưởng, phát triển - một xã hội xã hội chủ nghĩa đúng nghĩa./.

 

 Một vài suy nghĩ về tư tưởng đạo đức vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng vì dân là kết tinh những giá trị nhân nghĩa của dân tộc ta trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Người không những hiểu mà còn tiếp nhận tư tưởng “dân vi bản” (dân là gốc) của Khổng Tử; Trần Quốc Tuấn với phương châm “khoan thư sức dân” để giữ nước; Nguyễn Trãi “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” đến tư tưởng vì dân của Hồ Chí Minh, giá trị nhân nghĩa đó đã thực sự trở thành nền tảng phương pháp luận trong suy nghĩ và hành động.


Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho yêu nước, nơi có truyền thống đấu tranh bất khuất, Nguyễn Sinh Cung sớm nhận được sự giáo dục tốt của gia đình, quê hương, đặc biệt chịu ảnh hưởng sâu sắc của người cha Nguyễn Sinh Sắc. Tất cả đã thôi thúc Người phải ra đi tìm một con đường mới để cứu dân, cứu nước. Ngay từ những ngày còn trẻ, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành hết sức cảm thông với nỗi thống khổ của nhân dân lao động đang sống dưới ách thống trị của bọn thực dân đế quốc. Trong bài viết lên án chế độ thực dân, tiêu biểu nhất là Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Người đã phân tích sâu sắc những chính sách và thủ đoạn của bọn thực dân, tố cáo những tội ác tày trời của chúng, vạch rõ nguồn
Quan điểm “dân là gốc” đã trở thành “lý tưởng dân chủ”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Với tư cách lãnh tụ Đảng và người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhiệm vụ của chính quyền ta và đoàn thể ta là phụng sự nhân dân” và “chịu trách nhiệm trước dân”. Phải luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Quần chúng sẽ là người kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng không, phải yêu dân, kính dân, tin dân. Từ đó Người nêu cao đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, kiên quyết tẩy sạch quan liêu mệnh lệnh. Đó là thứ bệnh mà Người đã chỉ rõ thực chất là xa nhân dân, không hiểu dân, không yêu thương dân. Với nhân dân, Người rất ân cần, gần gũi, khiêm nhường, yêu quý như người trong gia đình, đồng chí, đồng bào. Năm 1963, biết Quốc hội định tặng Huân chương Sao Vàng cho mình, Hồ Chủ tịch  xin phép chưa nhận vì “... Tổ quốc hiện đang tạm bị chia cắt... đế quốc Mỹ hiện đang tăng cường cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Đồng bào miền Nam đang bị đày đọa dưới chế độ Mỹ - Diệm”. Người xin Quốc hội “chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà... đồng bào miền Nam sẽ trao huân chương cao quý” ấy cho Người. Làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến những lợi ích của dân, Người suốt đời hy sinh vì sự nghiệp cứu dân, cứu nước.

Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh đều vì dân vì nước, Người không bao giờ hưởng hạnh phúc riêng tư khi nhân dân còn đau khổ. Ngay cả khi trở thành Chủ tịch nước, Người luôn sống giản dị, cần kiệm. Nguyện vọng tha thiết của Người, ham muốn tột cùng của Người là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Theo Người “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng tư tưởng đạo đức của Người mãi mãi sưởi ấm lòng mỗi người dân Việt Nam. Những lớp đảng viên hôm nay hơn ai hết càng thấm thía hơn tư tưởng đó của Người. Người đảng viên cộng sản phải biết đau nỗi đau của dân, phải biết động lòng trắc ẩn trước cảnh nghèo đói của dân, biết gần gũi quan tâm đến từng số phận con người. Xa rời dân, sống xa hoa, hách dịch đều là sản phẩm của tư tưởng phong kiến lỗi thời và đều trái ngược với tư tưởng vì dân của Hồ Chủ tịch.

 

GẠC MA 1988 - BÀI HỌC LỊCH SỬ BẰNG MÁU

 

Sự kiện thảm sát Gạc Ma đã diễn ra 34 năm trước, nhưng bài học kinh nghiệm luôn cần được đặt ra mổ xẻ để bánh xe lịch sử không lặp lại. 

Thảm sát Gạc Ma

Ngày 14/3/1988 là một ngày đặc biệt đối với người dân Việt Nam. Đó là ngày Trung Quốc xua quân tấn công các chiến sĩ công binh của Việt Nam tại khu vực Trường Sa. Máu đã loang trên mặt biển Đông. 64 chiến sĩ của chúng ta đã mãi mãi không trở về.

Nhiều bài viết gọi đây là cuộc “hải chiến Trường Sa”. Cách gọi này hoàn toàn không đúng với bản chất của sự kiện. Bởi vì, bên Trung Quốc đã dùng hải quân trang bị vũ khí tấn công, gồm cả pháo tầm xa, còn bên ta chỉ là các chiến sĩ công binh với vũ khí bộ binh phòng vệ. Bản chất của nó phải được gọi đúng tên là một cuộc thảm sát những người lính công binh Việt Nam do lực lượng hải quân Trung Quốc gây ra.

Trung Quốc còn tàn độc hơn khi không cho phép các tàu của lực lượng chữ thập đỏ ra cứu các nạn nhân, cho dù đây luôn là thông lệ quốc tế trong chiến tranh.

Sự kiện đã diễn ra 34 năm, niềm đau thương, mất mát tưởng chừng như lắng dịu. Tuy vậy, những bài học kinh nghiệm luôn cần được đặt ra, để làm sao cho bánh xe lịch sử không lặp lại lần nữa. 

 

THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 847-NQ/QUTW - KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI NHỮNG BIỂU HIỆN ĐỘC ĐOÁN, GIA TRƯỞNG, QUÂN PHIỆT

Quán triệt quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương “Về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” đã chỉ rõ những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cá nhân cần phải chủ động phòng ngừa và đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi.

Biểu hiện thứ 8 trong 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đó là: “Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân”.

Cảnh báo hiện tượng làm xói mòn bản chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ

Trong tâm khảm, ký ức mỗi người lính, từ binh nhất đến vị tướng, trong cuộc đời quân ngũ của mình, hầu như ai cũng thấm nhuần sâu sắc lời thề thứ 7 trong 10 lời thề danh dự của quân nhân, đó là: “Đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt, trên tình thương yêu giai cấp, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như lúc ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí”.

Có thể khẳng định rằng, đây là lời thề cô đọng nhất, sâu sắc nhất, thể hiện và tiếp nối truyền thống “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” trong văn hóa quân sự của ông cha ta; đồng thời phản ánh sự gắn bó mật thiết của những người cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ đồng chí, đồng đội mình.

Quân đội ta là một đội quân cách mạng, đội quân văn hóa. Vẻ đẹp nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thống nhất ở niềm tin, lý tưởng cách mạng, ở tinh thần cống hiến, hy sinh và ở tình cảm đoàn kết cán binh mật thiết, trên dưới một lòng. Điều này khác xa với thái độ, hành vi “độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể”-những biểu hiện trái ngược hoàn toàn với phẩm chất truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ.

Độc đoán là thái độ xử sự, lề lối làm việc nặng về áp đặt cá nhân, lợi dụng chức trách, quyền hạn, vị trí công tác của mình để định đoạt công việc theo ý riêng bản thân, bất chấp ý kiến xây dựng đúng đắn của người khác. Gia trưởng là thể hiện thái độ bề trên, cái gì cũng cho mình là đúng, là phải rồi tự ý phán quyết hầu hết mọi việc của đơn vị. Quân phiệt là cậy thế, cậy quyền để có lời nói, thái độ, hành vi xúc phạm, lăng mạ, sỉ nhục cấp dưới. Coi thường tập thể là xem nhẹ vai trò tập thể, không lắng nghe những góp ý, tư vấn, phản biện khoa học của tập thể cấp ủy, thiếu tôn trọng số đông cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.

Trước hết cần khẳng định rằng, hầu hết đơn vị hiện nay luôn giữ gìn truyền thống đoàn kết cán-binh, trên-dưới đồng lòng, nhưng cá biệt vẫn có đơn vị không khí nội bộ lại khá căng thẳng, nhân viên, chiến sĩ cấp dưới luôn sống trong cảm giác thiếu thoải mái. Tìm hiểu mới biết nguyên nhân sâu xa là do cấp dưới sợ sệt cán bộ chỉ huy cấp trên. Vì cấp trên không những không thường xuyên gần gũi, chia sẻ, động viên cấp dưới mà nhiều lúc còn quát mắng, đe nẹt chiến sĩ.

Trên thực tế, dù hành vi quân phiệt bằng bạo lực hiện nay cơ bản đã được chấm dứt, nhưng hành vi bạo lực tinh thần (còn gọi là “bạo lực miệng”) vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhỏ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Số cán bộ này thường vin vào tính cương trực, nóng nảy để nói với cấp dưới bằng những ngôn từ khó lọt tai, thậm chí dùng cả từ ngữ thông tục để chấn chỉnh, uốn nắn cấp dưới mắc khuyết điểm khiến anh em cảm thấy bị tổn thương về danh dự, nhân phẩm.

Lại nữa, có đơn vị khi báo cáo với lãnh đạo, chỉ huy cấp trên đến làm việc, kiểm tra thì khẳng định tình hình nội bộ đơn vị luôn đoàn kết thống nhất, trên dưới đồng thuận, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn lại có đơn thư khiếu nại vượt cấp.

Bên cạnh đó, một số đơn vị tuy có duy trì chế độ đối thoại giữa cấp trên và cấp dưới, nhưng cấp dưới cũng không dám mở lòng nói thẳng, nói thật. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến hiện tượng này, một mặt do cán bộ không thật sự thương yêu, tôn trọng cấp dưới, thiếu sự gần gũi, chia sẻ với cấp dưới; mặt khác cấp trên còn cố tạo ra khoảng khách với cấp dưới để chứng tỏ “cái uy”, “cái oai” của mình.

Nêu cao tình cảm cách mạng, nâng tầm phong cách ứng xử nhân văn của người cán bộ

Tổ chức quân đội có hệ thống chỉ huy chặt chẽ từ trên xuống dưới và đề cao kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Việc phân định giữa cấp trên với cấp dưới cũng không ngoài mục đích tạo ra sự thống nhất về ý chí và hành động, bảo đảm cho mọi quân nhân nghiêm túc tuân thủ phương châm kỷ luật “Quân lệnh như sơn”, sẵn sàng nhận và thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Do vậy, việc duy trì chế độ “Làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh” là yêu cầu tất yếu để không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội nói chung, của mỗi đơn vị nói riêng.

Muốn góp phần phòng ngừa, hạn chế, đẩy lùi các biểu hiện độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, trước hết đòi hỏi mỗi cán bộ cần nhận thức đúng đắn, giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa thực hiện nhiệm vụ theo cương vị, chức trách, quyền hạn được giao với đề cao tình cảm đạo đức cách mạng, yêu thương con người, tôn trọng cấp dưới. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy nào mà tuyệt đối hóa chức trách, cương vị, quyền hạn của mình dễ dẫn đến áp đặt ý chí chủ quan, ảo tưởng quyền lực, từ đó tự cho mình cái quyền đứng trên tập thể và coi thường người khác.

Yêu thương con người, tôn trọng cấp dưới chính là “bảo bối” giúp người cán bộ luôn tinh anh, sáng suốt, nhân văn trong quan hệ ứng xử với cấp dưới, từ đó có thể phòng tránh được những biểu hiện áp đặt vô lối đối với nhân viên, chiến sĩ thuộc quyền. Thấu hiểu, chia sẻ, đồng cảm với điều kiện, hoàn cảnh của những người ở vị trí công tác thấp bé hơn mình để có cách ứng xử phù hợp, thấu tình đạt lý cũng là một cách hữu hiệu giúp cán bộ phòng ngừa, tránh xa tư tưởng bề trên, thái độ trịch thượng, coi thường người khác.

Một trong những cội nguồn làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần 8 thập niên qua là tinh thần yêu thương đồng chí, đồng đội. Phẩm chất này vừa là biểu hiện cốt lõi trong truyền thống, bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là giá trị cơ bản làm nên chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ.

Do vậy, trong thời bình hiện nay, cần thường xuyên tuyên truyền, giáo dục những giá trị truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, trong đó có truyền thống yêu thương đồng chí, đồng đội, giữ gìn tình cảm cấp trên-cấp dưới trong sáng, thân thiết. Đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ ở đơn vị cơ sở cần thấm nhuần sâu sắc và thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong cách ứng xử đối với bộ đội, đó là “thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”.

Lời dạy của Bác ngắn gọn, súc tích, thể hiện tình cảm đạo đức cách mạng cao đẹp, phong cách ứng xử nhân văn không riêng của người chính trị viên, mà là của mỗi cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

“Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt” không chỉ làm xói mòn bản chất truyền thống, đức tính tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, mà nó còn cổ xúy những thói hư tật xấu, làm tha hóa nhân cách người cán bộ.

Dù đây chỉ là hiện tượng cá biệt, nhưng đúng như Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng từng bày tỏ trăn trở: "Dù bất cứ biểu hiện vi phạm kỷ luật nào của một số ít quân nhân đều làm ảnh hưởng rất xấu đến uy tín đơn vị, uy tín quân đội".

Do vậy, để phòng ngừa, giảm thiểu triệt để hiện tượng trái văn hóa quân sự này đòi hỏi các đơn vị phải chú trọng quan tâm chăm lo xây dựng môi trường văn hóa ứng xử thật sự thân thiện, nhân văn, làm cho cái tốt, cái đẹp không ngừng nảy nở, lan tỏa và thấm vào suy nghĩ và việc làm của mỗi quân nhân, qua đó gắn chặt thêm tình đoàn kết cán-binh, tạo động lực giúp cho cán bộ, chiến sĩ tăng thêm sức mạnh niềm tin, tình cảm cách mạng, ý chí khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, chung sức đồng lòng, nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

 

KHÔNG THỂ NÀO QUÊN 34 NĂM TRẬN CHIẾN BẢO VỆ ĐẢO GẠC MA (14/3/1988-14/3/2022)

34 năm trước, vào ngày 14/3/1988, trong một cuộc chiến không cân sức, 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam với tinh thần kiên quyết, khí phánh kiên cường đã anh dũng chiến đấu và hy sinh để gìn giữ chủ quyền thiêng liêng của đất nước tại các đảo đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

34 năm đã đi qua, sóng biển có thể đã xóa nhòa mọi dấu vết nhưng không thể xóa được ký ức bi tráng của tất cả người dân Việt Nam về những con người quả cảm mà sự hy sinh của họ được dựng thành những tượng đài bất tử về tình yêu Tổ quốc.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang ra sức xuyên tạc, vu cáo về sự kiện Gạc Ma; chúng tuyên truyền, kích động gây chia rẽ mối đoàn kết máu thịt giữa đảng, quân đội và nhân dân. Chúng cho rằng trận hải chiến Gạc Ma là vết nhơ của dân tộc; rằng những người lính Gạc Ma bị bán đứng, bị phản bội bởi chính những người chỉ huy Quân đội ta khi có lệnh không cho những người lính nổ súng chống lại quân Trung Quốc; vu khống Đảng và nhà nước ta đàn áp các hoạt động tưởng niệm Gạc Ma bởi vì đó là sự nhu nhược của Đảng Cộng sản Việt Nam trước Trung Quốc, khi mà Trung Quốc đang gia tăng xâm lấn biển đảo và lãnh thổ quốc gia Việt Nam. Vậy sự thật có đúng như những luận điệu xuyên tạc đó hay không? chúng ta hãy cùng nhìn lại sự kiện lịch sử này.

Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam nằm ở khu vực Bắc Biển Đông, từ khoảng 15o45’ đến 17o15’ vĩ Bắc, 111ođến 113o kinh Đông, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) khoảng 120 hải lý. Đây là một quần thể san hô, gồm 37 đảo, bãi cạn, bãi đá ngầm, cồn san hô, được chia thành hai nhóm đảo. Nhóm đảo phía Đông (nhóm An Vĩnh) gồm 12 đảo, bãi cạn; trong đó có hai đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng khoảng 1,5 km2Nhóm đảo phía Tây gồm nhiều đảo xếp thành hình vòng cung (nhóm Lưỡi Liềm); trong đó có các đảo Hoàng Sa (diện tích gần 1 km2), Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Chim Yến, Tri Tôn…. Đặc biệt, đảo Hoàng Sa, tuy có diện tích không lớn nhưng có giá trị về quân sự và hậu cần nghề cá. Trên đảo này từng có bia chủ quyền, Miếu Bà… cùng một trạm khí tượng do chính quyền bảo hộ Pháp và nhà Nguyễn (Việt Nam) xây dựng, hoạt động từ năm 1938, được Tổ chức Khí tượng thế giới (WVO) công nhận và đặt số hiệu trong mạng lưới khí tượng quốc tế.

Đối với Quần đảo Trường Sa của Việt Nam nằm về phía Nam Biển Đông, ở trong khoảng từ 6030’ đến 12000 độ vĩ Bắc, 111000 đến 117020’ độ kinh Đông, cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 248 hải lý và cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) gần 600 hải lý. Đây là quần thể gồm hơn 100 đảo, bãi ngầm, bãi san hô, trải rộng trên vùng biển khoảng 180.000 km2 và án ngữ vùng biển rộng phía Đông Nam nước ta. Căn cứ vào vị trí và khoảng cách giữa các đảo, quần đảo Trường Sa được chia thành tám cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên.

Từ nhiều thế kỷ nay, Việt Nam là quốc gia đầu tiên phát hiện, quản lý và thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (khi đó còn vô chủ) một cách liên tục, hòa bình theo quy định của luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, vào các năm 1956 và 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực để đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (khi đó do chính quyền Sài Gòn quản lý) và đến đầu năm 1988 Trung Quốc tiếp tục thực hiện âm mưu xâm chiếm biển đảo nước ta một lần nữa. Vậy tại sao Trung Quốc gây nên trận hải chiến Gạc Ma?

Đảo đá Gạc Ma nằm ở vị trí chiến lược, cách đảo đá Cô Lin 3,6 hải lý, cách đảo đá Len Đao 6 hải lý, đánh dấu đầu mút phía Tây Nam của cụm đảo Sinh Tồn. Nếu chiếm giữ được Gạc Ma, đối phương có thể khống chế đường qua lại của quân ta trong việc tiếp tế, bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.

Từ đảo đá Gạc Ma cho đến đảo đá Vành Khăn ở phía đông cách nhau khoảng 170 km. Chúng nằm trên một vĩ tuyến, từ Chữ Thập cho đến Vành Khăn. Ý đồ của Trung Quốc là tạo ra một tuyến dài hơn 300 km cắt ngang biển Đông, cài răng lược với các đá, đảo mà Hải quân Việt Nam đang bảo vệ.

Đầu tháng 3 năm 1988, Hải quân Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9 đến 12 tàu chiến, gồm: tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu pháo, 2 tàu đổ bộ; tàu hỗ trợ gồm 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và một pông-tông lớn.

Trước tình hình đó, ngày 4 tháng 3 năm 1988, Hải quân ta xác định: Trung Quốc có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và khu vực Đông kinh tuyến 1150, trong đó, Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu Trung Quốc chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại tiếp tế của ta cho các đảo ta đang chiếm giữ, vì vậy phải quyết tâm đưa bộ đội đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.

Triển khai chủ trương trên, ngày 12 tháng 3 năm 1988, Tàu 605 (Lữ đoàn 125), do đồng chí Lê Lệnh Sơn làm thuyền trưởng, xuất phát từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao. Sau 29 giờ vượt sóng to, gió lớn, Tàu 605 đến Len Đao và cắm cờ Tổ quốc lên đảo (lúc 5 giờ ngày 14/3/1988), khẳng định chủ quyền và quyết tâm bảo vệ đảo của ta.

Tiếp đó, 9 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1988, tàu HQ 604, do đồng chí Vũ Phi Trừ làm thuyền trưởng và tàu HQ 505, do đồng chí Vũ Huy Lễ làm Thuyền trưởng, xuất phát từ đảo Đá Lớn tiến về Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với hai tàu 604 và 505 có hai phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, 4 tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146, do đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu).

Sau khi hai tàu của ta thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma. Tàu Trung Quốc áp sát Tàu 604 của ta, dùng loa gọi sang khiêu khích, thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma, uy hiếp ta. Cán bộ, chiến sĩ hai tàu 604 và 605 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu, kiên trì neo giữ quanh đảo.

Trước tình hình căng thẳng do hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21 giờ ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân chỉ thị cho các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin; khẩn trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. Tàu 604 cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Tổ quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, Trung Quốc điều thêm hai tàu hộ vệ trang bị pháo 100 ly đến khu vực đảo Gạc Ma. 6 giờ, ngày 14 tháng 3 năm 1988, tàu Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo tiến vào giật cờ ta. Lập tức, Thiếu úy Trần Văn Phương, Hạ sỹ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội dũng cảm giành lại cờ. Lính Trung Quốc đã nổ súng bắn vào bộ đội ta, làm Thiếu úy Trần Văn Phương hy sinh, Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị thương. Mặc dù bị đối phương uy hiếp và nổ súng tấn công, nhưng bộ đội ta vẫn kiên cường đấu tranh bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc. Các chiến sỹ của ta lúc đó đã nắm tay nhau đứng vòng quanh tạo thành vòng tròn bất tử” quyết bảo vệ lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, dùng xà beng dụng cụ lao động chống trả lại những hành động hung hãn của Trung Quốc.

Không ép được bộ đội ta rút khỏi đảo, Trung Quốc rút quân lên tàu rồi hạ pháo 100 ly, 37 ly 2 nòng xả đạn dã man sát hại gần hết số cán bộ chiến sỹ của Trung đoàn 83 lắp dựng nhà và cán bộ chiến sỹ của Lữ đoàn 146 ra giữ đảo. Sau đó hai tàu Trung Quốc bắn pháo 100 ly gây hỏng nặng tàu 604 của ta. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ đã bình tĩnh chỉ huy bộ đội trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPĐ, B40, B41 đánh trả quyết liệt. Trận đánh diễn ra mỗi lúc thêm ác liệt. Tàu Trung Quốc tiếp tục nã pháo dồn dập làm tàu ta bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Trong trận chiến không cân sức này 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã anh dũng hi sinh ở khu vực đảo Gạc Ma. Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng bất hợp pháp từ đó đến nay.

Tại đảo Cô Lin, 6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988, tàu HQ 505 đã cắm hai lá cờ lên đảo. Khi Tàu 604 của ta bị chìm, Thuyền trưởng tàu 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo ủi bãi. Phát hiện thấy ta cơ động lên bãi, hai tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu 505. Bất chấp hiểm nguy, Tàu 505 chạy hết tốc độ, trườn lên được hai phần ba thân tàu thì bốc cháy. 8 giờ 15 phút ngày 14 tháng 3, bộ đội trên Tàu 505 vừa tiến hành dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu vớt cán bộ, chiến sỹ của Tàu 604 vừa bị Trung Quốc đánh chìm. Cán bộ, chiến sĩ của Tàu HQ 505 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở đảo Cô Lin. Cho đến nay, là cờ đỏ sao vàng của Việt Nam vẫn phấp phới tung bay trên đảo Cô Lin.

Ở hướng đảo Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14 tháng 3, tàu của Trung Quốc bắn chìm tàu HQ 605 của ta. Cán bộ, chiến sỹ của Tàu HQ 605 phải dìu nhau bơi về đảo Sinh Tồn (đến 6 giờ ngày 15 tháng 3 mới đến đảo). Tại Len Đao, sau trận chiến Gạc Ma, chúng ta đấu tranh kiên quyết, khiến Trung Quốc lui quân, ta bảo vệ thành công Len Đao đến ngày hôm nay.

Như vậy, Trong trận chiến đấu ngày 14 tháng 3 năm 1988, mặc dù tương quan lực lượng chênh lệch, phương tiện vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu dũng cảm, không quản hy sinh, quyết tử đến cùng để bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. 

Trong sự kiện Gạc Ma, Trung Quốc chọn thời điểm giữa tháng 3 gió mùa Đông Bắc rất mạnh, sóng lớn để thực hiện âm mưu đánh chiếm các đảo chìm của ta ở Trường Sa. Trong khi đó, lực lượng tàu của Hải quân ta còn yếu và dù có tàu phóng lôi, tàu tên lửa, tàu pháo nhưng đều là loại nhỏ tiến công ven bờ, chịu sóng gió kém, không có khả năng tác chiến dài ngày ở Trường Sa. Về không quân, các máy bay Mig của ta không bay được tới Trường Sa và dù có máy bay Su-22 nhưng chỉ bay ra hoạt động khoảng thời gian rất ngắn nên khả năng tác chiến rất hạn chế. Trong khi Trung Quốc có các tàu chiến lớn, số lượng đông và hỏa lực rất mạnh. Đồng thời lúc đó chúng ta còn đang phải đối phó với cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam. Do đó Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lúc đó là Đại tướng Lê Đức Anh và Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương đã xử lý hết sức kiên quyết, tỉnh táo và sáng suốt, giữ được trạng thái ổn định sau ngày 14/3/1988, bảo vệ thành công các đảo do ta kiểm soát, không để Trung Quốc viện lý do lấn tới.

 Với sự hy sinh anh dũng đó của các anh, chúng ta đã giữ gìn được các đảo quan trọng tại khu vực này. Tất cả đã thể hiện ý chí can trường của cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng trong quá trình giữ gìn chủ quyền thiêng liêng nơi biên đảo. Trong tim người dân Việt, sự ra đi của các anh là nỗi đau, nhưng cũng là niềm tự hào, để cán bộ chiến sĩ càng chắc tay súng bảo vệ từng hòn đảo, từng tấc biển và trời của Tổ quốc.

Và với chiến công oanh liệt đó, tàu HQ 505 được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, Trần Văn Phương được truy tặng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công các loại.

 Ôn lại sự kiện này không phải để kích động hận thù mang tính cực đoan với nước láng giềng mà từ sự thật lịch sử đó để chúng ta có thể rút ra những bài học lịch sử quý giá trong cuộc đấu tranh giữ vững chủ quyền biển đảo cả trong hiện tại và tương lai. Ghi nhớ nỗi đau để chúng ta trân trọng hòa bình, để ký ức về Gạc Ma không bao giờ bị xóa nhòa trong lòng mỗi người con đất Việt. Và sự kiện Gạc Ma của 30 năm trước cũng chưa khi nào vơi giá trị trong việc nhắc nhở các thế hệ cháu con Việt Nam không được phép chủ qua, lơ là, mất cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn xâm chiếm biển đảo của nước ngoài đồng thời khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tiếp nối truyền thống anh hùng, những cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hôm nay đang cố gắng nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, đoàn kết một lòng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.