KHÔNG THỂ NÀO
QUÊN 34 NĂM TRẬN CHIẾN BẢO VỆ ĐẢO GẠC MA (14/3/1988-14/3/2022)
34 năm trước, vào ngày 14/3/1988,
trong một cuộc chiến không cân sức, 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam với tinh thần
kiên quyết, khí phánh kiên cường đã anh dũng chiến đấu và hy sinh để gìn giữ chủ
quyền thiêng liêng của đất nước tại các đảo
đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo
Trường Sa của Việt Nam.
34 năm đã đi qua, sóng biển có thể
đã xóa nhòa mọi dấu vết nhưng không thể xóa được ký ức bi tráng của tất cả người
dân Việt Nam về những con người quả cảm mà sự hy sinh của họ được dựng thành những
tượng đài bất tử về tình yêu Tổ quốc.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch
trong và ngoài nước đang ra sức xuyên tạc, vu cáo về sự kiện Gạc Ma; chúng tuyên
truyền, kích động gây chia rẽ mối đoàn kết máu thịt giữa đảng, quân đội và nhân
dân. Chúng cho rằng trận hải chiến Gạc Ma là vết nhơ của dân tộc; rằng những
người lính Gạc Ma bị bán đứng, bị phản bội bởi chính những người chỉ huy Quân
đội ta khi có lệnh không cho những người lính nổ súng chống lại quân Trung Quốc;
vu khống Đảng và nhà nước ta đàn áp các hoạt động tưởng niệm Gạc Ma bởi vì đó
là sự nhu
nhược của Đảng Cộng sản Việt Nam trước Trung Quốc, khi mà Trung Quốc đang gia
tăng xâm lấn biển đảo và lãnh thổ quốc gia Việt Nam. Vậy sự thật có đúng như những
luận điệu xuyên tạc đó hay không? chúng ta hãy cùng nhìn lại sự kiện lịch sử
này.
Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam nằm ở khu vực Bắc Biển Đông,
từ khoảng 15o45’ đến 17o15’ vĩ Bắc, 111ođến
113o kinh Đông, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) khoảng 120 hải lý.
Đây là một quần thể san hô, gồm 37 đảo, bãi cạn, bãi đá ngầm, cồn san hô, được
chia thành hai nhóm đảo. Nhóm đảo phía Đông (nhóm An Vĩnh) gồm
12 đảo, bãi cạn; trong đó có hai đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng
khoảng 1,5 km2. Nhóm đảo phía Tây gồm nhiều đảo xếp
thành hình vòng cung (nhóm Lưỡi Liềm); trong đó có các đảo Hoàng Sa (diện tích
gần 1 km2), Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Chim Yến, Tri
Tôn…. Đặc biệt, đảo Hoàng Sa, tuy có diện tích không lớn nhưng có giá trị về
quân sự và hậu cần nghề cá. Trên đảo này từng có bia chủ quyền, Miếu Bà… cùng
một trạm khí tượng do chính quyền bảo hộ Pháp và nhà Nguyễn (Việt Nam) xây
dựng, hoạt động từ năm 1938, được Tổ chức Khí tượng thế giới (WVO) công nhận và
đặt số hiệu trong mạng lưới khí tượng quốc tế.
Đối
với Quần đảo Trường Sa của Việt Nam nằm về phía Nam Biển Đông, ở trong khoảng
từ 6030’ đến 12000 độ vĩ Bắc, 111000 đến 117020’
độ kinh Đông, cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 248 hải lý và cách đảo Hải
Nam (Trung Quốc) gần 600 hải lý. Đây là quần thể gồm hơn 100 đảo, bãi ngầm, bãi
san hô, trải rộng trên vùng biển khoảng 180.000 km2 và án ngữ
vùng biển rộng phía Đông Nam nước ta. Căn cứ vào vị trí và khoảng cách giữa các
đảo, quần đảo Trường Sa được chia thành tám cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam
Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên.
Từ
nhiều thế kỷ nay, Việt Nam là quốc gia đầu tiên phát hiện, quản lý và thực thi
chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (khi đó còn vô chủ) một cách
liên tục, hòa bình theo quy định của luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, vào các năm
1956 và 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực để đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của
Việt Nam (khi đó do chính quyền Sài Gòn quản lý) và đến đầu năm 1988 Trung Quốc
tiếp tục thực hiện âm mưu xâm chiếm biển đảo nước ta một lần nữa. Vậy tại sao Trung Quốc gây nên trận hải chiến Gạc
Ma?
Đảo đá Gạc Ma nằm ở vị trí chiến lược, cách đảo đá Cô Lin
3,6 hải lý, cách đảo đá Len Đao 6 hải lý, đánh dấu đầu mút phía Tây Nam của cụm
đảo Sinh Tồn. Nếu chiếm giữ được Gạc Ma, đối phương có thể khống chế đường qua
lại của quân ta trong việc tiếp tế, bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.
Từ đảo đá Gạc Ma cho đến đảo đá Vành Khăn ở phía đông cách
nhau khoảng 170 km. Chúng nằm trên một vĩ tuyến, từ Chữ Thập cho đến Vành Khăn.
Ý đồ của Trung Quốc là tạo ra một tuyến dài hơn 300 km cắt ngang biển Đông, cài
răng lược với các đá, đảo mà Hải quân Việt Nam đang bảo vệ.
Đầu
tháng 3 năm 1988, Hải quân Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống
khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9
đến 12 tàu chiến, gồm: tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu pháo, 2
tàu đổ bộ; tàu hỗ trợ gồm 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và một
pông-tông lớn.
Trước
tình hình đó, ngày 4 tháng 3 năm 1988, Hải quân ta xác định: Trung Quốc có thể
chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và khu vực Đông
kinh tuyến 1150, trong đó, Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu
Trung Quốc chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại tiếp tế của ta cho các đảo ta
đang chiếm giữ, vì vậy phải quyết tâm đưa bộ đội đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô
Lin và Len Đao.
Triển
khai chủ trương trên, ngày 12 tháng 3 năm 1988, Tàu 605 (Lữ đoàn 125), do đồng
chí Lê Lệnh Sơn làm thuyền trưởng, xuất phát từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len
Đao. Sau 29 giờ vượt sóng to, gió lớn, Tàu 605 đến Len Đao và cắm cờ Tổ quốc
lên đảo (lúc 5 giờ ngày 14/3/1988), khẳng định chủ quyền và quyết tâm bảo vệ
đảo của ta.
Tiếp
đó, 9 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1988, tàu HQ 604, do đồng chí Vũ Phi Trừ làm
thuyền trưởng và tàu HQ 505, do đồng chí Vũ Huy Lễ làm Thuyền trưởng, xuất phát
từ đảo Đá Lớn tiến về Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với hai tàu 604 và 505 có hai
phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, 4 tổ chiến đấu (22 người)
thuộc Lữ đoàn 146, do đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4
chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu).
Sau
khi hai tàu của ta thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Trung Quốc từ Huy Gơ
chạy về phía Gạc Ma. Tàu Trung Quốc áp sát Tàu 604 của ta, dùng loa gọi sang
khiêu khích, thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma, uy hiếp ta. Cán bộ,
chiến sĩ hai tàu 604 và 605 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu,
kiên trì neo giữ quanh đảo.
Trước
tình hình căng thẳng do hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21 giờ ngày 13 tháng 3,
Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân chỉ thị cho các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Huy
Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin; khẩn
trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà lên đảo ngay trong
đêm ngày 13 tháng 3. Tàu 604 cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83 chuyển vật
liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Tổ
quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.
Lúc
này, Trung Quốc điều thêm hai tàu hộ vệ trang bị pháo 100 ly đến khu vực đảo
Gạc Ma. 6 giờ, ngày 14 tháng 3 năm 1988, tàu Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40
quân đổ bộ lên đảo tiến vào giật cờ ta. Lập tức, Thiếu úy Trần Văn Phương, Hạ
sỹ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội dũng cảm giành lại cờ. Lính Trung Quốc đã nổ
súng bắn vào bộ đội ta, làm Thiếu úy Trần Văn Phương hy sinh, Hạ sĩ Nguyễn Văn
Lanh bị thương. Mặc dù bị đối phương uy hiếp và nổ súng tấn công, nhưng bộ đội
ta vẫn kiên cường đấu tranh bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc. Các chiến sỹ
của ta lúc đó đã nắm tay nhau đứng vòng quanh tạo thành “vòng tròn bất tử” quyết bảo vệ lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, dùng xà
beng dụng cụ lao động chống trả lại những hành động hung hãn của Trung Quốc.
Không ép được bộ đội ta rút khỏi đảo, Trung Quốc rút quân
lên tàu rồi hạ pháo 100 ly, 37 ly 2 nòng xả đạn dã man sát hại gần hết số cán
bộ chiến sỹ của Trung đoàn 83 lắp dựng nhà và cán bộ chiến sỹ của Lữ đoàn 146
ra giữ đảo. Sau đó hai tàu Trung Quốc bắn pháo 100 ly gây hỏng nặng tàu 604 của
ta. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ đã bình tĩnh chỉ huy bộ đội trên tàu sử dụng các
loại súng AK, RPĐ, B40, B41 đánh trả quyết liệt. Trận đánh diễn ra mỗi lúc
thêm ác liệt. Tàu Trung Quốc tiếp tục nã pháo dồn dập làm tàu ta bị thủng nhiều
lỗ và chìm dần xuống biển. Trong trận chiến không cân sức này 64 chiến sĩ Hải
quân nhân dân Việt Nam đã anh dũng hi sinh ở khu vực đảo Gạc Ma. Gạc Ma bị
Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng bất hợp pháp từ đó đến nay.
Tại
đảo Cô Lin, 6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988, tàu HQ 505 đã cắm hai lá cờ lên
đảo. Khi Tàu 604 của ta bị chìm, Thuyền trưởng tàu 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ
neo ủi bãi. Phát hiện thấy ta cơ động lên bãi, hai tàu của Trung Quốc quay sang
tiến công tàu 505. Bất chấp hiểm nguy, Tàu 505 chạy hết tốc độ, trườn lên được
hai phần ba thân tàu thì bốc cháy. 8 giờ 15 phút ngày 14 tháng 3, bộ đội trên
Tàu 505 vừa tiến hành dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu vớt
cán bộ, chiến sỹ của Tàu 604 vừa bị Trung Quốc đánh chìm. Cán bộ, chiến sĩ của
Tàu HQ 505 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở đảo Cô Lin. Cho
đến nay, là cờ đỏ sao vàng của Việt Nam vẫn phấp phới tung bay trên đảo Cô Lin.
Ở
hướng đảo Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14 tháng 3, tàu của Trung Quốc bắn chìm
tàu HQ 605 của ta. Cán bộ, chiến sỹ của Tàu HQ 605 phải dìu nhau bơi về đảo
Sinh Tồn (đến 6 giờ ngày 15 tháng 3 mới đến đảo). Tại Len Đao, sau trận
chiến Gạc Ma, chúng ta đấu tranh kiên quyết, khiến Trung Quốc lui quân, ta bảo
vệ thành công Len Đao đến ngày hôm nay.
Như
vậy, Trong trận chiến đấu ngày 14 tháng 3 năm 1988, mặc dù tương quan lực lượng
chênh lệch, phương tiện vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ Hải quân Nhân dân
Việt Nam đã chiến đấu dũng cảm, không quản hy sinh, quyết tử đến cùng để bảo vệ
chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Trong
sự kiện Gạc Ma, Trung Quốc chọn thời điểm giữa tháng 3 gió mùa Đông Bắc rất
mạnh, sóng lớn để thực hiện âm mưu đánh chiếm các đảo chìm của ta ở Trường Sa.
Trong khi đó, lực lượng tàu của Hải quân ta còn yếu và dù có tàu phóng lôi, tàu
tên lửa, tàu pháo nhưng đều là loại nhỏ tiến công ven bờ, chịu sóng gió kém,
không có khả năng tác chiến dài ngày ở Trường Sa. Về không quân, các máy bay
Mig của ta không bay được tới Trường Sa và dù có máy bay Su-22 nhưng chỉ bay ra
hoạt động khoảng thời gian rất ngắn nên khả năng tác chiến rất hạn chế. Trong
khi Trung Quốc có các tàu chiến lớn, số lượng đông và hỏa lực rất mạnh. Đồng
thời lúc đó chúng ta còn đang phải đối phó với cuộc chiến tranh ở biên giới
phía Bắc và biên giới Tây Nam. Do đó Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lúc đó là Đại
tướng Lê Đức Anh và Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương đã xử lý hết sức kiên
quyết, tỉnh táo và sáng suốt, giữ được trạng thái ổn định sau ngày 14/3/1988, bảo
vệ thành công các đảo do ta kiểm soát, không để Trung Quốc viện lý do lấn tới.
Với sự hy sinh anh dũng đó của các anh, chúng
ta đã giữ gìn được các đảo quan trọng tại khu vực này. Tất cả đã thể hiện ý chí
can trường của cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng trong quá
trình giữ gìn chủ quyền thiêng liêng nơi biên đảo. Trong tim người dân Việt, sự
ra đi của các anh là nỗi đau, nhưng cũng là niềm tự hào, để cán bộ chiến sĩ
càng chắc tay súng bảo vệ từng hòn đảo, từng tấc biển và trời của Tổ quốc.
Và với
chiến công oanh liệt đó, tàu HQ 505 được Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí
Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, Trần Văn Phương được
truy tặng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hàng
chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương Quân công, Huân chương
Chiến công các loại.
Ôn lại sự kiện này không phải để kích động hận thù mang tính
cực đoan với nước láng giềng mà từ sự thật lịch sử đó để chúng ta có thể rút ra
những bài học lịch sử quý giá trong cuộc đấu tranh giữ vững chủ quyền biển đảo
cả trong hiện tại và tương lai. Ghi nhớ nỗi đau để chúng ta trân trọng hòa
bình, để ký ức về Gạc Ma không bao giờ bị xóa nhòa trong lòng mỗi người con đất
Việt. Và sự kiện Gạc Ma của 30 năm trước
cũng chưa khi nào vơi giá trị trong việc nhắc nhở các thế hệ cháu con Việt Nam không
được phép chủ qua, lơ là, mất cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn xâm chiếm
biển đảo của nước ngoài đồng thời khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của
Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tiếp nối truyền thống anh hùng, những cán bộ, chiến sĩ Quân
đội nhân dân Việt Nam hôm nay đang cố gắng nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn gian
khổ, đoàn kết một lòng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh để bảo vệ vững chắc chủ
quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét