Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

THỦ ĐOẠN BÔI XẤU TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG


          Dưới ảnh là một bài viết trên trang fb của Anh Quốc, đã cố tình mượn vấn đề phong thuỷ để bôi xấu cá nhân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nực cười ở chỗ, trong khi bản thân hắn còn không biết cái vật màu đen để trên bàn làm việc của Tổng bí thư là cái gì, nhưng ngay sau đó đã quy chụp là đá thạch anh đen. Và cũng từ sự quy chụp này, hắn đã lợi dụng việc giải thích ý nghĩa phong thuỷ của loại đá này để đả kích Tổng bí thư.

          Nếu chỉ đọc qua sẽ tưởng như không có gì đáng chú ý, nhưng nếu để ý kỹ hơn một chút, chúng ta thấy hắn đã cố tình lồng vào tác dụng của đá thạch anh một số từ để đả kích Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng như “đột quỵ”, “nhồi máu”, “lú lẫn”.

          Nếu xem kỹ bức hình chụp chính diện bàn làm việc của Tổng bí thư (ảnh bị gạch), chúng ta sẽ thấy một vật màu đen, nhưng đó không phải là loại đá nào hết. Bởi lẽ, nếu là đá thì nó phải ó độ bóng, sáng, chứ không phải như trong hình. Hơn nữa, trong bức ảnh chụp từ phía gần hơn (ảnh bên), ta thấy mặt bên kia của vật này có màu cam. Từ bức ảnh này cho thấy, nó chắc chắn không phải đá phong thuỷ như đám kia rêu rao. Nhiều khả năng, đó là bảng gỗ có khắc hình Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoặc cái gì đó tương tự có lẽ phù hợp hơn.

          Quan sát ông làm lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước ta từ trước tới nay, chúng ta đều ấn tượng bởi sự giản dị, liêm khiết, hết lòng vì đất nước của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nó thể hiện ở việc ông vẫn đi chiếc xe Brown cũ từ thời Tổng bí thư Nông Đức Mạnh để lại, ăn mặc giản dị, đời thường và sự gần gũi với người dân, bạn bè. Như ông từng nói: vật chất chỉ là phù vân, nhân cách con người mới là thứ quan trọng nhất. Đó không phải là sự làm màu hay tô vẽ gì, đơn giản vì ông vẫn vậy.

          Qua đây chúng ta thấy được chiêu trò lập lờ, đánh lận con đen của một số kẻ cơ hội, chống đối trong nước, khi cố tình lợi dụng sự quan tâm của cư dân mạng đối với hình ảnh phòng làm việc của Tổng bí thư để công kích, bôi xấu lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta.

 

CHÚNG TA KHÔNG CHỌN PHE, CHÚNG TA CHỌN HÒA BÌNH VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆT NAM

Việt Nam là một quốc gia đã hứng chịu nhiều “cung bậc” giữa trường quốc tế. Chúng ta từng thoát khỏi tư cách là một quốc gia thuộc địa, từng chịu sự chia tách lãnh thổ, từng chịu hàng trăm năm chiến tranh, từng chiến đấu với các nước láng giềng, từng chịu bao vây cấm vận, từng bị lên án oan ức giữa nghị trường Liên Hợp Quốc…. Hơn quốc gia nào khác, chúng ta hiểu giá trị của hòa bình, hiểu được tính đúng - sai trong các mối quan hệ quốc tế, hiểu được rằng cuộc chiến giữa các phe phái chưa bao giờ đem lại lợi ích thực sự cho quốc gia. Hãy xem chúng ta làm được gì trong những ngày qua? Chúng ta nỗ lực hết mình cùng Ba Lan, Moldova, Romania… trong việc hỗ trợ công dân Việt Nam và tôn vinh hành động của các nước này trong việc giúp đỡ nạn nhân chiến tranh. Chúng ta đồng tình với chủ trương thiết lập hành lang nhân đạo của Ukraine - Nga và mong hai bên ngồi đàm phán. Chúng ta không tham gia vào các lệnh trừng phạt nhắm vào Nga, không tham gia vào các nỗ lực lên án chính quyền Ukraine. Chúng ta vừa tập trận cùng hải quân Ấn Độ và Pháp. Việt Nam cũng đang cật lực thay đổi các chính sách sản xuất nông sản để đáp ứng nhu cầu của thị trường Trung Quốc. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng tái khẳng định việc tôn trọng thể chế chính trị của Việt Nam. Chính phủ không cấm người dân bày tỏ ý kiến. Có nhiều người ủng hộ Ukraine, họ có thể quyên góp ủng hộ nạn nhân chiến tranh, tham gia mít tinh tại đại sứ quán Ukraine. Và cũng có nhiều người thoải mái bày tỏ ủng hộ Nga. Hoặc phần đông còn lại là ủng hộ hòa bình, chấm dứt chiến tranh và trung lập. Trong ngoại giao quốc tế, đúng - sai là hai thứ khó phân định. Nếu chúng ta ủng hộ Ukraine, thì tức là chúng ta đồng ý với việc “chọn phe”, “biến lãnh thổ thành nơi chống lại một quốc gia khác”, trái với “bốn không” trong chính sách quốc phòng. Ngoài ra, chúng ta từng không đồng tình với nước bạn vì nước bạn đã từng bỏ phiếu “chống lên án chủ nghĩa phát xít”. Nếu ủng hộ Nga, điều đó khác gì nói rằng chúng ta ủng hộ chiến tranh và giải quyết xung đột bằng vũ khí? Ở vị thế cá nhân, yêu - ghét và quyền của mỗi người. Nhưng ở vị thế quốc gia thì đôi khi yêu - ghét không còn đúng nữa, chỉ có lợi ích quốc gia là tối thượng. Nhưng lợi ích dân tộc luôn là hàng đầu, chúng ta phải lựa chọn phương án tốt nhất cho sự phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai, phải đảm bảo cho đất nước có được hòa bình, phải hài hòa lợi ích giữa các quốc gia, không “khinh bên nọ trọng bên kia”. Việt Nam được biết đến là một quốc gia vươn mình từ chiến tranh, từ cấm vận, từ nghèo đói. Chúng ta đã mất nhiều thời gian, sinh mạng, máu và nước mắt để có được ngày hôm nay. Giá trị của hòa bình và quyền tự quyết là điều mà chúng ta phải luôn giữ gìn.
THỰC CHẤT ĐẰNG SAU ĐÁNH GIÁ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN Dân chủ, nhân quyền là giá trị cốt lõi của con người, được đấu tranh bảo vệ và phát triển theo tiến trình của lịch sử loài người, phụ thuộc vào trình độ phát triển, đặc điểm văn hóa của mỗi cộng đồng. Do giá trị to lớn của nó mà dân chủ, nhân quyền giờ đây đã bị lợi dụng vì mục đích chính trị. Economist Intelligence Unit (EIU), có trụ sở chính tại Vương quốc Anh, mới đây đã công bố báo cáo chỉ số dân chủ năm 2021 các nước trên thế giới, trong đó xếp Việt Nam vào “nhóm nước phi dân chủ, độc tài”. Chỉ sau đó vài ngày, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-có trụ sở tại Hoa Kỳ) cũng đưa ra báo cáo cho rằng, chính quyền Việt Nam sách nhiễu và giam giữ nhiều “nhà hoạt động” trong hai thập kỷ qua. Không khó hiểu với kết quả báo cáo của EIU, bởi bảng xếp hạng mà tổ chức này đưa ra dựa trên các tiêu chí rất thiếu tính khách quan, lấy giá trị của 1 cộng đồng áp đặt cho tất cả các cộng đồng khác theo tiêu chí của họ tự nghĩ ra với mục đích chính trị là chủ đạo như: Tỷ lệ tham gia chính trị, quyền tự do cá nhân với thể chế đa nguyên, đa đảng là cốt lõi… Còn báo cáo của Tổ chức Theo dõi nhân quyền cho rằng, các “nhà hoạt động” bị chính quyền Việt Nam sách nhiễu và giam giữ nhiều. Họ là những người “bất đồng chính kiến”, “tù nhân chính trị”, “đấu tranh vì dân chủ”… với những tên tuổi quen thuộc, như: Phạm Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương…, những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam và bị xử lý theo chế tài pháp luật Việt Nam một cách công bằng. Cái gọi là Nghiên cứu báo cáo chỉ số dân chủ mà EIU đưa ra cũng theo kiểu phỏng đoán, không có nguồn trích dẫn và không được kiểm chứng rõ ràng. Mục đích của họ không chỉ chống phá Việt Nam mà còn nhằm phá hoại các nước XHCN và một số nước có phong trào cánh tả hiện nay. Và nó có vẻ phù hợp với mưu đồ chính trị của các nước phương Tây. Dù núp bóng dưới hình thức nào thì âm mưu của EIU là quá rõ ràng, mục đích của họ không phải vì con người mà là chống phá Việt Nam, một đất nước đã chịu quá nhiều đau thương bởi chiến tranh mới giành lại được độc lập dân tộc, dân chủ, nhân quyền cho Nhân dân.
Giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới thể hiện tư duy rất toàn diện và đặt ra yêu cầu cao về việc xây dựng, giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng. Chăm lo bồi đắp, phát triển kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là “ngọc càng mài càng sáng” Bộ đội Cụ Hồ “bốn dám” Yêu cầu này cần được nhận thức đầy đủ và triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt ở tất cả các cấp. Chúng ta biết rằng, giá trị cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ là sự hội tụ và kết tinh nhiều phẩm chất cao quý. Trong đó, một phẩm chất rất đáng quý là phải có bản lĩnh chính trị vững vàng. Gần 8 thập niên xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hun đúc, tôi luyện nên những cán bộ, chiến sĩ có "bản lĩnh sắt thép", luôn sẵn sàng “Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”. Giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng Huấn luyện khẩu đội cối tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3, Quân khu 1. Ảnh: MINH TRƯỜNG/qdnd.vn Đức tính của mỗi con người được tạo nên bởi nhiều phẩm chất xã hội khác nhau. Trong đó “bản lĩnh” là phẩm chất cơ bản được hình thành qua quá trình rèn luyện bền bỉ, lâu dài. Trong ngôn ngữ, từ “bản” nghĩa là gốc, nền tảng; yếu tố “lĩnh” thường gắn với ý nghĩa là đứng đầu, chỉ huy như “thủ lĩnh”, “tướng lĩnh”. “Bản lĩnh” có thể hiểu là phẩm chất của người có năng lực, tự tin, dám đi đầu, dám xông pha, bứt phá, dám chịu trách nhiệm, không lùi bước trước mọi khó khăn, thử thách. Với mỗi quân nhân, được rèn luyện tổng hợp trong môi trường quân ngũ là điều kiện thuận lợi để hình thành nên bản lĩnh vững vàng. Đặc biệt, hoạt động quân sự có tính đặc thù cao, diễn ra trong điều kiện khó khăn, phức tạp, gian khổ, ác liệt, nếu không có bản lĩnh thì con người không thể vượt qua. Chính vì vậy, bản lĩnh được hình thành từ thực tiễn chiến đấu, lao động và công tác. Có bản lĩnh, bộ đội sẵn sàng thực hiện lời thề thiêng liêng “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam...”. Bản lĩnh của người quân nhân cách mạng được tôi rèn thì “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”. “Bản lĩnh” là một phẩm chất chung gắn với nhiều yếu tố, như: “Bản lĩnh chính trị”, “bản lĩnh chiến đấu”, “bản lĩnh công tác”, “bản lĩnh khoa học”... Trong phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bản lĩnh chính trị là yếu tố đầu tiên. Đó là khả năng nhận thức chính trị, lập trường, quan điểm, thái độ chính trị, là ý chí và niềm tin vào giai cấp và chế độ. Đó cũng là yếu tố để mỗi quân nhân tự trả lời câu hỏi phục vụ lợi ích của ai? Chiến đấu, hy sinh vì cái gì? Quân đội ta là đội quân trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân, “sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội”. Trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, Quân ủy Trung ương chỉ rõ bản lĩnh chính trị là “tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Bản lĩnh chính trị vững vàng giúp bộ đội kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, nhận thức rõ chức năng, nhiệm vụ được giao, giữ vững trận địa tư tưởng, tạo ra sức mạnh quân sự, có khả năng “miễn dịch” trước những luận điệu xuyên tạc và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Thực tế trong chiến đấu, trong những tình huống cam go, ác liệt nhất, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ được phát huy trở thành biểu tượng sáng ngời về hình ảnh con người Việt Nam. Bác Hồ từng giáo dục, rèn luyện bản lĩnh cho bộ đội phải luôn kiên định, vững vàng “lúc có địch cũng trấn tĩnh như không có địch, xa địch cũng nghiêm ngặt như gần địch”. Thế nên nhờ có bản lĩnh tuyệt vời, phi công Phạm Tuân mới vững tay lái Mic-21 hạ gục cả "pháo đài bay" B-52 trong tích tắc, bản lĩnh làm nên kỳ tích “1 thắng 20” của Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ, bản lĩnh giúp Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân dẫu bị thương nát đùi vẫn bám trụ trận địa động viên bộ đội “nhằm thẳng quân thù mà bắn”... Và hàng triệu người con ưu tú khác đứng trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam với bản lĩnh vững vàng đã làm nên lịch sử. Họ là những tượng đài bất tử được nhân dân ngợi ca: “Hoan hô anh Giải phóng quân/ Kính chào anh, con người đẹp nhất!/ Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất/ Sống hiên ngang, bất khuất trên đời” (Tố Hữu). Không chỉ trong chiến đấu, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ còn được biểu hiện trong quá trình công tác. Quân đội ta đóng quân trên khắp mọi miền Tổ quốc, ở đâu cũng có bóng dáng cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm canh giữ biển trời, biên cương đất nước. Họ là những chiến sĩ biên phòng dầm sương giá rét tuần tra biên giới, phòng, chống tội phạm. Là chiến sĩ hải quân vượt trùng dương đóng quân trên các nhà giàn, các điểm đảo. Là những bác sĩ quân y lao vào tâm dịch cứu chữa người nhiễm Covid-19... Họ còn là những người lính công nghệ của Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội đã chung sức đưa tập đoàn trở thành đơn vị cung cấp viễn thông lớn nhất Việt Nam và đầu tư kinh doanh tại hàng chục quốc gia ở 3 châu lục. Những cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị khác nhau sẵn sàng làm việc trong những điều kiện đặc biệt, độc lập công tác, xa gia đình, người thân, đời sống thiếu thốn... Tất cả những trở ngại đó nếu không có bản lĩnh chắc chắn sẽ không thể vượt qua. Mỗi quân nhân không chỉ thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị mà còn tham gia các hoạt động ngoài xã hội. Đó là điều kiện thuận lợi để bộ đội hòa nhập với môi trường xung quanh. Đất nước bước vào thời kỳ phát triển kinh tế, đời sống xã hội được nâng lên, điều kiện công tác của bộ đội cũng được cải thiện. Bên cạnh những thuận lợi cũng đặt ra những thách thức lớn, trước hết là về nhận thức. Lối sống thực dụng, ưa thụ hưởng, thích những nơi công tác thuận lợi, vị trí có điều kiện thăng tiến, ngại đi vùng sâu, vùng xa, ngại phấn đấu, rèn luyện đang tác động đến tâm tư, nguyện vọng của bộ đội. Những cám dỗ về vật chất, các tệ nạn xã hội, sản phẩm phi văn hóa, thông tin phản động đang từng ngày len lỏi vào trong suy nghĩ, lối sống của cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt, các chiến sĩ trẻ là thành phần dễ chịu ảnh hưởng, tác động của các yếu tố trên. Vậy điều gì có thể tạo ra “sức đề kháng” để vượt lên trên mọi cám dỗ, tệ nạn, thói hư tật xấu? Có thể khẳng định, đó chính là bản lĩnh. Bản lĩnh thời nay của Bộ đội Cụ Hồ là sức mạnh để tiếp nhận những yếu tố mới tiến bộ, tránh xa những tiêu cực, lạc hậu, thói hư tật xấu. Bản lĩnh giúp bộ đội tự tin dấn thân trong công tác và lao động, bản lĩnh để sáng tạo và cống hiến. Hiện nay, mục tiêu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đòi hỏi mỗi quân nhân không chỉ giữ vững bản lĩnh chính trị, bản lĩnh cách mạng mà cần phải có bản lĩnh trong xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, trong học tập, công tác, nghiên cứu khoa học mới có thể xây dựng quân đội vững mạnh, tinh nhuệ và hiện đại. Nét đẹp bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ trong chiến đấu phải được kế thừa và phát triển lên tầm cao mới, bản lĩnh để làm giàu thêm tri thức, để hội nhập và phát triển. Có thể khẳng định, bản lĩnh đã tạo nên nét đẹp văn hóa trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ. Bản lĩnh là thước đo phẩm chất, là yếu tố tiên khởi để đánh giá người quân nhân cách mạng. Chính vì vậy, việc rèn luyện bản lĩnh là yêu cầu tự thân của mỗi quân nhân. Bên cạnh đó, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần luôn quan tâm đến việc xây dựng, rèn luyện bản lĩnh cho bộ đội thông qua học tập, bồi dưỡng lý tưởng, kiến thức, truyền thụ kinh nghiệm, giao nhiệm vụ thực tế, đưa bộ đội vào từng hoàn cảnh cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ. Có bản lĩnh, bộ đội sẽ vững vàng trong mọi điều kiện, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, từ đó, ngày càng trưởng thành và tiến bộ. Bản lĩnh vững vàng trong mọi hoàn cảnh sẽ mãi là phẩm chất cao quý của người quân nhân cách mạng, nét đẹp văn hóa ngời sáng Bộ đội Cụ Hồ.
“Chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ”. Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Nguyên vào ngày 13 tháng 3 năm 1960, trong thời điểm miền Bắc đang tiến hành khôi phục, cải tạo và bước đầu phát triển nền kinh tế, văn hóa xã hội chủ nghĩa, quân và dân miền Nam đang đẩy mạnh đấu tranh chính trị, tiến tới phát động cao trào cách mạng mới. Quan điểm trên đây của Người cùng với đường lối, chủ trương đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) đã trở thành định hướng, phương châm, mục tiêu hành động của các tầng lớp nhân dân trong công cuộc xây dựng miền Bắc theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, củng cố, tăng cường sức mạnh của hậu phương lớn làm tròn nghĩa vụ đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Dưới ánh sáng của Đại hội III, quân và dân ta thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, hướng tới mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; sự nghiệp đấu tranh cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xây dựng chế độ xã hội mới, giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh xét đến cùng là vì hạnh phúc, vì sự phát triển toàn diện của con người. Ngược lại, con người là lực lượng chính của sự nghiệp đấu tranh cách mạng, là lực lượng sản xuất quan trọng nhất và là chủ thể sáng tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội. Và 15 năm sau, quân và dân ta đã hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (4-1975), mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc - kỷ nguyên độc lập, hòa bình, thống nhất cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay có nhiều chuyển biến mau chóng, phức tạp, ý nghĩa của câu nói “Chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ” vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là mục tiêu lý tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hướng tới. Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về rèn đức, luyện tài, phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; phát huy tinh thần độc lập tự chủ, ý thức tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng đất nước, xây dựng quân đội; có lối sống trong sạch lành mạnh, có văn hóa, ham học tập, cầu tiến bộ, có ý thức vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật quân sự, có tri thức về khoa học xã hội và nhân văn, trung thực, khiêm tốn, giản dị./.
NUÔI DƯỠNG VĂN HÓA BỘ ĐỘI CỤ HỒ: CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN, HIỂU ĐÚNG ĐỂ CHỐNG HIỆU QUẢ Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) đề cập đến hai thành tố quan trọng, có mối quan hệ biện chứng là “phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” và “kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân” trong tình hình mới. Trong đó, việc chống chủ nghĩa cá nhân (CNCN) được xác định là vấn đề cần kíp, có tính thời sự đối với mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cá nhân. Vậy CNCN cần được hiểu như thế nào cho đúng? Vấn đề chống CNCN được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo từ rất sớm. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “CNCN là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy...”. Người đưa ra kết luận: "CNCN đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân". Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, CNCN không chỉ làm hỏng cán bộ, mà còn là nguyên nhân dẫn đến suy thoái, biến chất, giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bởi vì, “do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”. Do đó, Người khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội (CNXH) không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ CNCN”. Và chỉ khi giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống CNCN, mới xây dựng được cơ sở vật chất của CNXH, không thể đi lên CNXH khi CNCN vẫn còn tồn tại và phát triển. Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị qua các thế hệ, các thời kỳ cách mạng đều thể hiện rõ quan điểm, thái độ đấu tranh....
“LÀ CHỦ CỦA TƯƠNG LAI, THANH NIÊN KHÔNG THỂ KHÔNG CÓ LÝ TƯỞNG CAO CẢ. VÌ VẬY THANH NIÊN PHẢI CÓ CUỘC SỐNG CHÍNH TRỊ TÍCH CỰC VÀ CÁCH MẠNG”. Câu trích trên là một phần nội dung trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Máccôm Samông (Malcolm Salmon) phóng viên Đông Nam Á của báo Australia Tribune và báo Guardian. Khi được hỏi: “Những hoạt động của các chính khách ở nhiều nước thường không cổ vũ gì lớp thanh niên muốn có một cuộc đời hoạt động chính trị. Xin Chủ tịch đặc biệt cho những độc giả thanh niên của chúng tôi biết ý nghĩa và giá trị của một cuộc đời hoạt động chính trị, cách mạng”, Người trả lời: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”. Qua câu hỏi và nội dung trả lời của Bác, chúng ta thấy Người nhìn nhận, đánh giá rất cao vai trò, tiềm năng của thanh niên nói chung, thanh niên Việt Nam nói riêng, nhất là trong bối cảnh đất nước đang có chiến tranh, bị chia cắt hai miền Nam - Bắc. Trong hoàn cảnh ấy, tương lai của đất nước Việt Nam là phải thống nhất hòa bình và lý tưởng cao cả của thanh niên là phải thấu hiểu nỗi đau non sông chia cắt, phải có hành động cách mạng thiết thực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lớp lớp thanh niên trên cả hai miền Nam - Bắc đi vào cuộc đấu tranh cách mạng dưới ngọn cờ lý tưởng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với khí thế thấm đẫm tinh thần của sức trẻ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, thể hiện quyết tâm cao độ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Một bộ phận đông đảo thanh niên trở thành “Bộ đội Cụ Hồ”, trực tiếp chiến đấu với quân thù, lập những chiến công oanh liệt, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân hoàn thành sự nghiệp vẻ vang chống Mỹ, cứu nước...
XEM XÉT THÀNH LẬP BAN CHỈ ĐẠO PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC CẤP TỈNH Đây là một trong những nội dung được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của Bộ Chính trị do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, diễn ra sáng 11/3 tại Hà Nội. Sáng 11/3, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị cho ý kiến về Đề án Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 21 ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị khoá IX; Kết luận 28 ngày 14/8/2012 về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001 – 2020; Đề án sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 10- ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Quy định xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Thảo luận về Đề án sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 10 ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí do Ban Nội chính Trung ương trình, Bộ Chính trị đánh giá công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí được quan tâm, có bước đột phá trong phòng, chống tham nhũng, công tác phòng, chống lãng phí dần đi vào nền nếp, hiệu quả hơn; nhất trí về các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian tới; Bộ Chính trị giao Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh; xây dựng Đề án tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X, trên cơ sở đó xây dựng, trình Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong tình hình mới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề phức tạp, gần đây đã được đẩy mạnh với quyết tâm cao hơn, quyết liệt hơn; không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà coi trọng cả phòng, chống tiêu cực với trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và trong đấu tranh phòng, chống tiêu cực là bao gồm cả đấu tranh phòng, chống lãng phí...
TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH CẦN THẤU TÌNH, ĐẠT LÝ Sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm và coi trọng công tác tự phê bình và phê bình, vì nó là “vũ khí sắc bén” để đấu tranh phòng, chống “giặc nội xâm”, nhất là chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại, các tiêu cực, tệ nạn xã hội và tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” viết năm 1927, lần đầu tiên, Bác Hồ bàn về tư cách người cách mạng với thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, hàm chứa những nội dung giáo dục chính trị - đạo đức và định hướng cách mạng rất sâu sắc. Bác dạy rằng “nhân vô thập toàn”, nghĩa là ở đời, chẳng có ai là tuyệt đối tốt, cũng chẳng có ai là hoàn toàn xấu mà ở mỗi người, có nhiều điểm tốt và cũng có một số điểm chưa tốt, cần phải nhận thức đúng để có biện pháp khắc phục, trở thành người tốt hơn. Bác yêu cầu cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải tự đánh giá, hiểu đúng điểm mạnh, yếu của bản thân, từ đó biết “sửa lỗi của mình… có lòng bày vẽ cho người”. Nếu tính từ tác phẩm đầu tiên là “Đường Kách mệnh” cho đến tác phẩm cuối cùng là bản “Di chúc”, Bác đã công bố hơn 200 bài viết, bài nói về xây dựng Đảng và hơn 120 bài nói, bài viết khác có liên quan đến vấn đề tự phê bình và phê bình. Bác coi tự phê bình và phê bình là phương pháp hữu hiệu để giữ vững khí tiết người cách mạng, là phương pháp thể hiện phẩm chất người “đầy tớ trung thành” của nhân dân. Bác quan niệm: “Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn nhau và giúp nhau sửa chữa khuyết điểm”. Vì vậy, tự phê bình phải đi đôi với phê bình. Hai mặt này phải kết hợp chặt chẽ với nhau, không thể tách rời nhau; không nên thiên vị, khuyếch đại một mặt nào. Trong mối quan hệ biện chứng này, tự phê bình được coi là tiền đề, là cơ sở của phê bình. Bác nói: “Trước ta nói phê bình và tự phê bình, bây giờ phải nói tự phê bình và phê bình. Nói như thế là chú trọng phê bình mình trước, phê bình người sau”. Bác căn dặn: “Nói cái xấu phải nói cả cái tốt. Nếu chỉ chuyên nói cái xấu là lệch”. Vì vậy, xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng, nhất là đánh giá con người phải đặc biệt thận trọng, tuyệt đối không được dễ dãi. Mục đích của tự phê bình và phê bình là để tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh hơn, mỗi người tốt hơn. Tự phê bình và phê bình phải đúng mực, phải chỉ ra được mặt ưu điểm và cả mặt khuyết điểm, các mặt ấy đều phải “có lý, có tình”, làm cho người ta “tâm phục, khẩu phục”, thấy ưu điểm là đúng, vui vẻ hơn, làm việc tốt hơn, thấy khuyết điểm cũng là đúng nên cũng vui vẻ, thoải mái nghe, tiếp thu, sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ, trưởng thành. Không nên “yêu thì nói tốt, ghét thì nói xấu”, “bằng mặt nhưng không bằng lòng”; không nên tô hồng, bôi đen hiện thực khách quan, phản ánh sai sự thật. Không nên sử dụng tự phê bình và phê bình để phê phán, chỉ trích, miệt thị nhau; làm cho người ta “mất mặt”, bị nhục tinh thần, thể xác theo nghĩa “vùi dập nhau”, “triệt hạ nhau”; bất luận vì lý do gì thì cũng không nên “giận cá chém thớt”. Theo Bác, khi tự phê bình và phê bình “phải vạch cả ưu điểm và khuyết điểm… phê bình việc làm chứ không phải phê bình người” Trong mọi lúc, mọi nơi, cái tâm của người phê bình phải sáng, cái đức phải cao; tự phê bình và phê bình sẽ kém hiệu quả nếu thiếu cái tâm, cái đức hoặc cái tâm, cái đức không trong, không sáng. Theo Bác, đã là người cộng sản, dứt khoát không được che đậy, giấu giếm khuyết điểm mà cần công khai phê bình khuyết điểm ấy. Bác cho rằng, “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Vì lẽ đó, tự phê bình và phê bình cần cho tất cả mọi người ví như họ cần không khí để thở, nước để uống, để rửa mặt hằng ngày. Bác khẳng định: tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, mang tính khách quan, có giá trị phổ biến trong quá trình xây dựng, phát triển của Đảng, nhất thiết mọi cán bộ, đảng viên phải tuân thủ nghiêm ngặt, thực hiện đúng quy luật này. Nếu xa rời, làm trái quy luật, Đảng sẽ không thể tồn tại, phát triển; cho nên “Đảng hằng ngày, hằng giờ vận dụng nguyên tắc tự phê bình và phê bình” vì tự phê bình và phê bình đã trở thành chế độ, quy định chặt chẽ ghi trong Điều lệ Đảng, bảo đảm tính pháp lý để mọi tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành tự phê bình và phê bình nghiêm túc. Theo Bác, tự phê bình và phê bình còn là tiêu chí quan trọng để phân biệt Đảng Cộng sản với các đảng phái chính trị cơ hội, xét lại, cải lương. Xa rời tự phê bình và phê bình là xa rời bản chất Đảng Cộng sản, là nguy cơ gây ra bè phái, sự trì trệ, bảo thủ, là chỗ dựa của sự tồn tại những khuyết điểm, sai lầm, yếu kém, sự chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng, tạo kẻ hở để những kẻ xu nịnh, thoái hóa, biến chất tồn tại; bọn cơ hội, xét lại chui vào Đảng, thậm chí, thao túng, lũng đoạn, làm cho Đảng biến chất, thoái hóa, mất sức chiến đấu. Bác dạy rằng, khi tiến hành tự phê bình và phê bình cần có thái độ khách quan, trung thực, tôn trọng sự thật, không khách sáo, xã giao, không lồng ý muốn cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, không vội vàng quy kết, chụp mũ cho đồng chí, đồng đội của mình, phải lấy lòng nhân ái, thành thật mà phê phán đồng chí. Do đó, tự phê bình và phê bình cần công khai, hết sức tránh chuyện “bàn tán xì xào”, trong hội nghị thì “thứ nhất ngồi ỳ, thứ nhì đồng ý, thứ ba ra về” nhưng ngoài hội nghị thì bàn tán râm ran, nói sai sự thật, gây mâu thuẫn, nghi kỵ, hiểu nhầm nhau. Bác nhấn mạnh: “Phê bình đúng, chẳng những không làm giảm thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng. Trái lại, còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm”; còn nếu như sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị khi thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình là một chứng bệnh nguy hiểm cần phải khắc phục. Bác chỉ rõ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chủ trì đơn vị, chủ trì hội nghị phải “khéo” sử dụng “vũ khí” tự phê bình và phê bình. Theo Bác, “khéo” sử dụng “vũ khí” tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng có nghĩa là biết dùng nghệ thuật để quan hệ, ứng xử sao cho thấu lý, đạt tình. “Khéo” sử dụng “vũ khí” tự phê bình và phê bình còn là một phương pháp cách mạng, là một khoa học và nghệ thuật. Phương pháp và thái độ đúng đắn nhất trong tự phê bình và phê bình là xem xét sự việc một cách khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, thực tiễn và theo quan điểm phát triển, vì việc vì người, làm sao sau hội nghị, sau phê bình, bản thân mình và người nhận được phê bình đều vui vẻ, thoải mái, hăng say rèn luyện, phấn đấu, không cảm thấy “lòng nặng như đá đeo”, mặc cảm, thu mình trong vỏ ốc, tự vệ, phòng thủ, giữ mình, xa lánh mọi người. Nghiên cứu, học tập tư tưởng Bác Hồ về tự phê bình và phê bình là “thang thuốc quý” để dưỡng tâm tính, nuôi sức, tăng lực, nâng cao ý chí, tinh thần. Đồng thời, phòng, chống, ngăn chặn, điều trị các chứng bệnh, thói hư tật xấu cản trở bước tiến của người cách mạng; nhờ đó, tự tin, vững bước trên con đường đấu tranh cách mạng, chống “giặc nội xâm” một cách hiệu quả. Tết đến, Xuân về, suy ngẫm và thực hiện tốt lời căn dặn của Bác có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Nhớ ơn Bác, chúng ta cần ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, biến khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc thành hiện thực trên đất nước Việt Nam yêu dấu./.
VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUÂN ĐỘI Cán bộ quân đội là những người được bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp, biên chế trong QĐNDVN. Đó là một bộ phận rất quan trọng, là lực lượng nòng cốt, có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng đơn vị, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi của Quân đội. Văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ quân đội là tổng thể những giá trị văn hóa được hình thành trong thực tiễn hoạt động quân sự, quốc phòng, được biểu hiện qua trình độ, tri thức, sự hiểu biết về các lĩnh vực nói chung, về quân sự, quốc phòng nói riêng; là những giá trị đạo đức, nhân cách, lý tưởng, niềm tin, sự thích ứng, quan hệ giao tiếp, thái độ ứng xử, phong cách sống, tính “nhất quán chính trị”, tính “nhạy bén chính trị”..vv của đội ngũ cán bộ quân đội trong hoạt động quân sự, quốc phòng, v.v. Trong các yếu tố cấu thành văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ quân đội có những yếu tố đóng vai trò rất quan trọng đó là lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, tinh thần vì nhân dân, ý thức trách nhiệm, sự kiên quyết, khéo léo, mưu lược, tính trung thực, khiêm tốn, lòng nhân ái, đoàn kết yêu thương đồng chí đồng đội, sự yêu mến gắn bó xây dựng cơ quan, đơn vị, ý thức thái độ sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Cán bộ với tư cách là các chủ thể chính trị hoạt động trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng cần phải đạt đến một trình độ văn hóa chính trị nhất định. Giữa đạo đức cán bộ và văn hóa chính trị gắn bó mật thiết với nhau, trong đó đạo đức cán bộ là một bộ phận của văn hóa chính trị. Việc phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của cán bộ quân đội cũng chính là góp phần phát triển văn hóa chính trị trong Quân đội. Vì vậy, khi đạo đức của cán bộ xuống cấp, văn hóa chính trị cũng xuống cấp. Sự bổ sung, tác động qua lại giữa văn hóa chính trị và đạo đức cán bộ quân đội rất chặt chẽ. Văn hóa chính trị có vai trò rất quan trọng. Ngay trong Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 Đảng ta đã khẳng định: “Văn hóa là một trong ba mặt trận mà người cộng sản phải quan tâm”. Tại Hội nghị Trung ương 9, khoá XI, Đảng ta chỉ rõ “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước”. Đến Đại hội XIII Đảng khẳng định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Trong các đơn vị Quân đội, có thể nói, chính văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ quyết định sự thành công hay thất bại trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của không chỉ mỗi cán bộ, đảng viên mà còn là của cả đơn vị. Trong mỗi cơ quan, đơn vị quân đội, mỗi cán bộ đều là những chủ thể tạo nên những yếu tố cấu thành văn hóa chính trị của cơ quan, đơn vị với những giá trị, chuẩn mực sau: (1). Thái độ, trách nhiệm của cán bộ thừa hành đối với công việc được giao để có thể phát huy hết sự năng động, sáng tạo, tích cực để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. (2). Việc chấp hành sự chỉ đạo, điều hành của người chỉ huy trong thực hiện công tác tham mưu giúp việc với trách nhiệm cao để giúp người chỉ huy có quyết định đúng phù hợp với mục tiêu quân sự, quốc phòng của cơ quan, đơn vị, góp phần bảo vệ uy tín của người chỉ huy, của tập thể. (3). Thái độ chân thành, thiện chí, hợp tác, trung thực trong quan hệ với đồng chí, đồng đội, không tự tư, tự lợi..., góp phần quan trọng để tạo bầu không khí làm việc cởi mở, thân thiện trong cơ quan, đơn vị và hình thành nét văn hóa công sở ở mỗi cơ quan, đơn vị. (4). Thái độ, cách hành xử đúng đắn với cái đúng, cái sai; đòi hỏi mỗi cán bộ phải có nhận thức khách quan, khoa học và động cơ trong sáng để biết lên tiếng và ủng hộ cái đúng, phê phán, đấu tranh với cái sai, góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị và hoàn thiện nhân cách của mỗi thành viên trong cơ quan, đơn vị. Riêng đối với người đứng đầu, vai trò của văn hóa chính trị càng đặc biệt quan trọng. Văn hóa chính trị của người đứng đầu thực chất là những giá trị, chuẩn mực đạo đức trong công việc, thái độ văn hóa đối với quyền lực được trao và trách nhiệm đối với nhiệm vụ cũng như sự phát triển của tổ chức. Những giá trị, chuẩn mực đạo đức này sẽ có tác động, chi phối mạnh mẽ đến tập thể, tinh thần và trách nhiệm của từng thành viên đối với nhiệm vụ được giao và đối với nhiệm vụ chung của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Đặc biệt đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng do tính chất đặc thù của nó, nên văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là người đứng đầu có ảnh hưởng trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia - dân tộc. Nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa chính trị, thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của QUTW, BQP, TCCT và các cấp ủy Đảng, đội ngũ cán bộ Quân đội đã triển khai thực hiện có hiệu quả việc xây dựng, phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam và văn hóa chính trị trong các cơ quan, đơn vị. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI nhiệm kỳ 2020-2025 đã khẳng định “Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên không suy thoái về tư tưởng chính trị, “có phẩm chất đạo đức, lối sống tốt, tiên phong trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì lãnh đạo, chỉ huy các cấp tự giác, nêu gương tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; truyền thống vẻ vang của Quân đội được giữ vững và phát huy; phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục tỏa sáng và làm sâu sắc hơn trong lòng Nhân dân. Trước diễn biến phức tạp của tình hình, toàn quân luôn đoàn kết, thống nhất cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao”. Tuy nhiên, văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ vẫn còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế, tác động ảnh hưởng không nhỏ đến việc hoàn thành chức trách nhiệm vụ và hiệu quả xây dựng đơn vị VMTD, xây dựng các tổ chức Đảng TSVM. Nghị Quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ 11, khi đề cập tới những hạn chế, khuyết điểm trong nhiệm kỳ 2015-2020 cũng đã chỉ rõ “cá biệt có nơi nội bộ chưa thực sự đoàn kết, thống nhất. Việc tự học, tự nghiên cứu và nêu gương của một số cán bộ, đảng viên chưa tốt”; “Việc chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội và bảo đảm an toàn giao thông tuy có chuyển biến, nhưng chưa vững chắc, vụ việc nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng còn xảy ra, cá biệt có trường hợp phải truy cứu trách nhiệm hình sự”. Những năm tới, trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, công nghệ thông tin góp phần trực tiếp tạo nên sự thẩm thấu, giao lưu trên lĩnh vực văn hóa, tác động sâu sắc đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của mỗi người. Việt Nam đang hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, triệt để sử dụng không gian mạng tấn công mạnh mẽ vào lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, văn hóa, lối sống. Với Quân đội, sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại và từ năm 2030 “phấn đấu xây dựng Quân đội hiện đại” đặt ra những yêu cầu rất cao cho xây dựng đội ngũ cán bộ và nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ. Để thực hiện thắng lợi Nghị Quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ 11 “Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, nắm vững chức trách, nhiệm vụ, tinh thông nghiệp vụ, đạo đức cách mạng trong sáng, giữ vững, phát huy bản chất cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao”, “làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi hoạt động” đòi hỏi đội ngũ cán bộ Quân đội phải: Thứ nhất, Tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, QUTW, BQP, TCCT về xây dựng và phát triển văn hóa, xây dựng con người mới Việt Nam XHCN, xây dựng văn hóa chính trị; triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. Thứ hai, Đẩy mạnh Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, Thứ ba, Tập trung xây dựng con người Việt Nam mới trong quân đội, không ngừng bồi đắp phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” gắn với kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Thứ tư, Phấn đấu có 90% đơn vị cơ sở trong toàn quân đạt tiêu chuẩn “Đơn vị văn hóa”, mỗi quân nhân là một “Chiến sĩ văn hóa”, mỗi đơn vị quân đội là một “Điểm sáng văn hóa”, mỗi gia đình quân nhân là một “Gia đình văn hóa”... nâng cao “sức đề kháng” và “khả năng miễn dịch” cho bộ đội trước các yếu tố phản văn hóa, thông tin xấu, độc./.
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 11/03: "Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”. Câu trích trên là một phần nội dung trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Máccôm Samông (Malcolm Salmon) phóng viên Đông Nam Á của báo Australia Tribune và báo Guardian. Khi được hỏi: “Những hoạt động của các chính khách ở nhiều nước thường không cổ vũ gì lớp thanh niên muốn có một cuộc đời hoạt động chính trị. Xin Chủ tịch đặc biệt cho những độc giả thanh niên của chúng tôi biết ý nghĩa và giá trị của một cuộc đời hoạt động chính trị, cách mạng”, Người trả lời: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”. Qua câu hỏi và nội dung trả lời của Bác, chúng ta thấy Người nhìn nhận, đánh giá rất cao vai trò, tiềm năng của thanh niên nói chung, thanh niên Việt Nam nói riêng, nhất là trong bối cảnh đất nước đang có chiến tranh, bị chia cắt hai miền Nam - Bắc. Trong hoàn cảnh ấy, tương lai của đất nước Việt Nam là phải thống nhất hòa bình và lý tưởng cao cả của thanh niên là phải thấu hiểu nỗi đau non sông chia cắt, phải có hành động cách mạng thiết thực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lớp lớp thanh niên trên cả hai miền Nam - Bắc đi vào cuộc đấu tranh cách mạng dưới ngọn cờ lý tưởng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với khí thế thấm đẫm tinh thần của sức trẻ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, thể hiện quyết tâm cao độ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Một bộ phận đông đảo thanh niên trở thành “Bộ đội Cụ Hồ”, trực tiếp chiến đấu với quân thù, lập những chiến công oanh liệt, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân hoàn thành sự nghiệp vẻ vang chống Mỹ, cứu nước. Hiện nay, câu nói của Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị. Tuổi trẻ - thanh niên Quân đội cần phải tiếp tục gương mẫu học tập, “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc; luôn có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật, vũ khí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đi đến thắng lợi.
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CẦM QUYỀN “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH” Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta chào mừng kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh (3/2/1930-3/2/2022) đúng vào dịp cả nước đón Xuân vui Tết Nhâm Dần. Đây là sự hòa quyện giữa đất trời mùa Xuân với Tổ quốc và nhân dân, sự thống nhất giữa ý Đảng - lòng dân với khí thế mới, tinh thần mới trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ra quân huấn luyện năm 2022. Đảng ta - một đảng mác xít kiểu mới do Bác Hồ sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện đã trở thành chính Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhân dịp vui Xuân đón Tết Nhâm Dần, chúng ta dành thời gian nghiên cứu, nắm vững tính tất yếu ra đời, vai trò, vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội có ý nghĩa thiêng liêng đối với mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân đội ta. Bác Hồ - Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân - là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền để chỉ rõ nguồn gốc, bản chất và nhấn mạnh vị thế, vai trò của Đảng ta với tư cách là tổ chức đảng duy nhất trong hệ thống chính trị ở Việt Nam nắm giữ quyền lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong Di chúc, Bác viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền... Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đúng vậy, ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có một đảng yêu nước nào được tổ chức chặt chẽ, khoa học, được nhân dân hết lòng ủng hộ, giúp đỡ ngay từ khi mới ra đời như Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng là kết quả vận động, phát triển chín muồi của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, nhất là sự thừa nhận, tin tưởng, yêu mến, suy tôn, ủy thác và ra sức xây dựng, bảo vệ Đảng của nhân dân. Đó là điều căn cốt nhất giúp Đảng ta trở thành một Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo cách mạng, là “đạo đức, là văn minh”. Theo nguyên tắc chung và đặc điểm riêng, từ ngày 2-9-1945, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức trở thành Đảng Cộng sản cầm quyền đúng bản chất, ý nghĩa, vai trò và sứ mệnh của mình để lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ cần nhận thức đúng tính tất yếu lịch sử để thực hiện tốt vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng. Đảng cầm quyền là khái niệm của khoa học chính trị, dùng để chỉ một đảng chính trị đại diện cho giai cấp đang nắm quyền lực và lãnh đạo chính quyền để tổ chức, quản lý đất nước, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Để trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản phải lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh, chống “thù trong, giặc ngoài”, tiến hành cuộc cách mạng vô sản hoặc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để lật đổ chính quyền của giai cấp bóc lột, thiết lập chính quyền mới của giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vẻ vang ấy. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, giành được chính quyền về tay mình (năm 1945), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và bộ máy của mình tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Khi Đảng ta nắm được quyền thống trị, thì điều đó có nghĩa là “nắm quyền đó với ý thức là chỉ một mình mình nắm”; không chia sẻ quyền lực cho các đảng chính trị khác; thực hiện thể chế nhất nguyên, không có đảng đối lập tranh giành quyền lực nhà nước. Điều này đúng với sự khẳng định của V.I. Lênin: Trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản cầm quyền. Nó là kết quả tất yếu của quá trình lãnh đạo cách mạng và là một nguyên tắc bất di bất dịch trong nắm quyền lãnh đạo, chúng ta đã nhận thức đúng và thực hiện nghiêm túc. Đối với Đảng ta, “Đảng cầm quyền” đã chứa đựng trong đó “Đảng lãnh đạo”, Đảng nắm chính quyền lực Nhà nước, hóa thân vào Nhà nước nhưng không bao đồng, làm thay Nhà nước. Đảng cầm quyền, thực chất là sử dụng Nhà nước, lãnh đạo Nhà nước và hệ thống chính trị thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đảng cầm quyền và Nhà nước quản lý là hai trung tâm quyền lực có nguồn gốc, vị trí, vai trò khác nhau. Vì vậy, không thể đồng nhất quyền lực của Đảng với quyền lực của Nhà nước. Quyền lực của Đảng cầm quyền thể hiện rõ nhất ở quyền lực về chính trị: Đảng vạch ra cương lĩnh, chủ trương, đường lối, định hướng chính trị để lãnh đạo Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân tộc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng. Quyền lực của Nhà nước là quyền lực quản trị xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, tổ chức phục vụ xã hội, kiến tạo và phát triển đất nước theo chủ trương, đường lối của Đảng. Với tư cách là một đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nội dung lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, về thực chất, là những nội dung Đảng cầm quyền nhưng sự cầm quyền ấy được nhân dân thừa nhận, Hiến pháp và pháp luật hiến định. Đảng cầm quyền thông qua sự lãnh đạo các cơ quan công quyền chứ không tự mình biến thành nhà nước, đứng trên nhà nước hoặc làm thay nhà nước. Thực tế này bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch khi đồng nhất quyền lực của Đảng với quyền lực của Nhà nước và mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tính tất yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền Tính tất yếu lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền thể hiện ở vai trò tiền phong gương mẫu của người lãnh đạo là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, thông qua mối quan hệ, liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Khi chưa nắm được chính quyền, Đảng ta phải dựa vào dân, sống trong dân, được dân nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ trước sự truy xét, khủng bố tàn khốc của kẻ thù. Khi trở thành Đảng cầm quyền, đội ngũ cán bộ, đảng viên nắm trong tay quyền lực chính trị, sinh mệnh chính trị của nhân dân, quyền lực quản lý nhà nước; nắm tài sản của đất nước, tiền bạc của nhân dân… Tính tất yếu lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo qua mấy điểm sau: (1) Vai trò cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân Việt Nam thừa nhận, tin tưởng, ủng hộ và suy tôn, được hiến định trong Hiến pháp. (2) Tính tất yếu lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội thể hiện ở chỗ Đảng xuất hiện đúng lúc, kịp thời giải đáp được tất cả những câu hỏi của các bậc tiền bối, những đòi hỏi bức thiết của cách mạng và của nhân dân; đưa ra các chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn. (3) Đảng Cộng sản Việt Nam chịu sự ủy thác làm đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. (4) Đảng ta là một đảng cầm quyền. “Một” thể hiện tính duy nhất, hàm ý cả tính tuyệt đối. Đảng không chia sẻ quyền lực với bất kỳ đảng khác trong vai trò cầm quyền của mình. (5) Mỗi cán bộ, đảng viên của “một đảng cầm quyền thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. (6) Đảng thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, nêu gương mẫu mực về phẩm chất, năng lực. Đây là những điều căn cốt nhất của Đảng ta - một Đảng cầm quyền. Để thực hiện tốt vai trò của một Đảng cầm quyền, Đảng ta luôn có chủ trương, giải pháp tăng cường sự lãnh đạo đối với Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Đảng không ngừng đổi mới phương thức cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; tạo mọi điều kiện thuận lợi để những tổ chức này thực hiện tốt vai trò phản biện cho Đảng. Đồng thời, tự điều chỉnh, bổ sung, phát triển chủ trương, đường lối để đổi mới phương thức cầm quyền lãnh đạo đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội, làm cho ý Đảng - lòng dân trở thành động lực mới thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; lập thành tích chào mừng kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng vào năm 2030; đưa sự nghiệp đổi mới tiếp tục giành những thành tựu mới, có ý nghĩa lịch sử và thời đại./.
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CẦM QUYỀN “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH” Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta chào mừng kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh (3/2/1930-3/2/2022) đúng vào dịp cả nước đón Xuân vui Tết Nhâm Dần. Đây là sự hòa quyện giữa đất trời mùa Xuân với Tổ quốc và nhân dân, sự thống nhất giữa ý Đảng - lòng dân với khí thế mới, tinh thần mới trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ra quân huấn luyện năm 2022. Đảng ta - một đảng mác xít kiểu mới do Bác Hồ sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện đã trở thành chính Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhân dịp vui Xuân đón Tết Nhâm Dần, chúng ta dành thời gian nghiên cứu, nắm vững tính tất yếu ra đời, vai trò, vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội có ý nghĩa thiêng liêng đối với mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân đội ta. Bác Hồ - Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân - là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền để chỉ rõ nguồn gốc, bản chất và nhấn mạnh vị thế, vai trò của Đảng ta với tư cách là tổ chức đảng duy nhất trong hệ thống chính trị ở Việt Nam nắm giữ quyền lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong Di chúc, Bác viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền... Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Đúng vậy, ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có một đảng yêu nước nào được tổ chức chặt chẽ, khoa học, được nhân dân hết lòng ủng hộ, giúp đỡ ngay từ khi mới ra đời như Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng là kết quả vận động, phát triển chín muồi của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, nhất là sự thừa nhận, tin tưởng, yêu mến, suy tôn, ủy thác và ra sức xây dựng, bảo vệ Đảng của nhân dân. Đó là điều căn cốt nhất giúp Đảng ta trở thành một Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo cách mạng, là “đạo đức, là văn minh”. Theo nguyên tắc chung và đặc điểm riêng, từ ngày 2-9-1945, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức trở thành Đảng Cộng sản cầm quyền đúng bản chất, ý nghĩa, vai trò và sứ mệnh của mình để lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ cần nhận thức đúng tính tất yếu lịch sử để thực hiện tốt vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng. Đảng cầm quyền là khái niệm của khoa học chính trị, dùng để chỉ một đảng chính trị đại diện cho giai cấp đang nắm quyền lực và lãnh đạo chính quyền để tổ chức, quản lý đất nước, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Để trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản phải lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh, chống “thù trong, giặc ngoài”, tiến hành cuộc cách mạng vô sản hoặc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để lật đổ chính quyền của giai cấp bóc lột, thiết lập chính quyền mới của giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vẻ vang ấy. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, giành được chính quyền về tay mình (năm 1945), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và bộ máy của mình tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Khi Đảng ta nắm được quyền thống trị, thì điều đó có nghĩa là “nắm quyền đó với ý thức là chỉ một mình mình nắm”; không chia sẻ quyền lực cho các đảng chính trị khác; thực hiện thể chế nhất nguyên, không có đảng đối lập tranh giành quyền lực nhà nước. Điều này đúng với sự khẳng định của V.I. Lênin: Trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản cầm quyền. Nó là kết quả tất yếu của quá trình lãnh đạo cách mạng và là một nguyên tắc bất di bất dịch trong nắm quyền lãnh đạo, chúng ta đã nhận thức đúng và thực hiện nghiêm túc. Đối với Đảng ta, “Đảng cầm quyền” đã chứa đựng trong đó “Đảng lãnh đạo”, Đảng nắm chính quyền lực Nhà nước, hóa thân vào Nhà nước nhưng không bao đồng, làm thay Nhà nước. Đảng cầm quyền, thực chất là sử dụng Nhà nước, lãnh đạo Nhà nước và hệ thống chính trị thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đảng cầm quyền và Nhà nước quản lý là hai trung tâm quyền lực có nguồn gốc, vị trí, vai trò khác nhau. Vì vậy, không thể đồng nhất quyền lực của Đảng với quyền lực của Nhà nước. Quyền lực của Đảng cầm quyền thể hiện rõ nhất ở quyền lực về chính trị: Đảng vạch ra cương lĩnh, chủ trương, đường lối, định hướng chính trị để lãnh đạo Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân tộc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng. Quyền lực của Nhà nước là quyền lực quản trị xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, tổ chức phục vụ xã hội, kiến tạo và phát triển đất nước theo chủ trương, đường lối của Đảng. Với tư cách là một đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nội dung lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, về thực chất, là những nội dung Đảng cầm quyền nhưng sự cầm quyền ấy được nhân dân thừa nhận, Hiến pháp và pháp luật hiến định. Đảng cầm quyền thông qua sự lãnh đạo các cơ quan công quyền chứ không tự mình biến thành nhà nước, đứng trên nhà nước hoặc làm thay nhà nước. Thực tế này bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch khi đồng nhất quyền lực của Đảng với quyền lực của Nhà nước và mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tính tất yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền Tính tất yếu lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền thể hiện ở vai trò tiền phong gương mẫu của người lãnh đạo là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, thông qua mối quan hệ, liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Khi chưa nắm được chính quyền, Đảng ta phải dựa vào dân, sống trong dân, được dân nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ trước sự truy xét, khủng bố tàn khốc của kẻ thù. Khi trở thành Đảng cầm quyền, đội ngũ cán bộ, đảng viên nắm trong tay quyền lực chính trị, sinh mệnh chính trị của nhân dân, quyền lực quản lý nhà nước; nắm tài sản của đất nước, tiền bạc của nhân dân… Tính tất yếu lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo qua mấy điểm sau: (1) Vai trò cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân Việt Nam thừa nhận, tin tưởng, ủng hộ và suy tôn, được hiến định trong Hiến pháp. (2) Tính tất yếu lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội thể hiện ở chỗ Đảng xuất hiện đúng lúc, kịp thời giải đáp được tất cả những câu hỏi của các bậc tiền bối, những đòi hỏi bức thiết của cách mạng và của nhân dân; đưa ra các chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn. (3) Đảng Cộng sản Việt Nam chịu sự ủy thác làm đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. (4) Đảng ta là một đảng cầm quyền. “Một” thể hiện tính duy nhất, hàm ý cả tính tuyệt đối. Đảng không chia sẻ quyền lực với bất kỳ đảng khác trong vai trò cầm quyền của mình. (5) Mỗi cán bộ, đảng viên của “một đảng cầm quyền thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. (6) Đảng thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, nêu gương mẫu mực về phẩm chất, năng lực. Đây là những điều căn cốt nhất của Đảng ta - một Đảng cầm quyền. Để thực hiện tốt vai trò của một Đảng cầm quyền, Đảng ta luôn có chủ trương, giải pháp tăng cường sự lãnh đạo đối với Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Đảng không ngừng đổi mới phương thức cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; tạo mọi điều kiện thuận lợi để những tổ chức này thực hiện tốt vai trò phản biện cho Đảng. Đồng thời, tự điều chỉnh, bổ sung, phát triển chủ trương, đường lối để đổi mới phương thức cầm quyền lãnh đạo đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội, làm cho ý Đảng - lòng dân trở thành động lực mới thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; lập thành tích chào mừng kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng vào năm 2030; đưa sự nghiệp đổi mới tiếp tục giành những thành tựu mới, có ý nghĩa lịch sử và thời đại./.

“LÀ CHỦ CỦA TƯƠNG LAI, THANH NIÊN KHÔNG THỂ KHÔNG CÓ LÝ TƯỞNG CAO CẢ. VÌ VẬY THANH NIÊN PHẢI CÓ CUỘC SỐNG CHÍNH TRỊ TÍCH CỰC VÀ CÁCH MẠNG”.


          Câu trích trên là một phần nội dung trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Máccôm Samông (Malcolm Salmon) phóng viên Đông Nam Á của báo Australia Tribune và báo Guardian. Khi được hỏi: “Những hoạt động của các chính khách ở nhiều nước thường không cổ vũ gì lớp thanh niên muốn có một cuộc đời hoạt động chính trị. Xin Chủ tịch đặc biệt cho những độc giả thanh niên của chúng tôi biết ý nghĩa và giá trị của một cuộc đời hoạt động chính trị, cách mạng”, Người trả lời: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”.

          Qua câu hỏi và nội dung trả lời của Bác, chúng ta thấy Người nhìn nhận, đánh giá rất cao vai trò, tiềm năng của thanh niên nói chung, thanh niên Việt Nam nói riêng, nhất là trong bối cảnh đất nước đang có chiến tranh, bị chia cắt hai miền Nam - Bắc. Trong hoàn cảnh ấy, tương lai của đất nước Việt Nam là phải thống nhất hòa bình và lý tưởng cao cả của thanh niên là phải thấu hiểu nỗi đau non sông chia cắt, phải có hành động cách mạng thiết thực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam.   

          Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lớp lớp thanh niên trên cả hai miền Nam - Bắc đi vào cuộc đấu tranh cách mạng dưới ngọn cờ lý tưởng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với khí thế thấm đẫm tinh thần của sức trẻ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, thể hiện quyết tâm cao độ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà. Một bộ phận đông đảo thanh niên trở thành “Bộ đội Cụ Hồ”, trực tiếp chiến đấu với quân thù, lập những chiến công oanh liệt, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân hoàn thành sự nghiệp vẻ vang chống Mỹ, cứu nước.

          Hiện nay, câu nói của Hồ Chí Minh trên đây vẫn nguyên giá trị. Tuổi trẻ - thanh niên Quân đội cần phải tiếp tục gương mẫu học tập, “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc; luôn có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật, vũ khí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đi đến thắng lợi.

Kiên quyết giữ vững và bảo vệ ngọn cờ soi đường chỉ lối của Đảng Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”. Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù. Tác phẩm đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu cần thiết phải học tập, quán triệt sâu sắc tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư.

VĂN HÓA TRONG ĐẢNG VỚI XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TỔ CHỨC VÀ ĐẠO ĐỨC


          Đảng càng văn minh, nhân văn, càng phải lấy văn hóa làm nền tảng. Khi nói văn hóa làm nền tảng cho công việc xây dựng Đảng tức là chủ yếu nói đến văn hóa trong chính trị, trong nhân cách của cán bộ, đảng viên. Xây dựng văn hóa trong Đảng là khâu đột phá để xây dựng văn hóa trong đời sống Nhân dân

          Ngay từ năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật và khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

          Khi nói đến công tác xây dựng Đảng, chúng ta thường nói xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức chứ ít khi quan tâm đến xây dựng Đảng về văn hóa. Thực ra, quan điểm xây dựng Đảng về văn hóa được Đảng ta đề cập từ khá sớm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa, Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” nghĩa là một biểu tượng cao về văn hóa của dân tộc và nhân loại, và xét cho cùng thì đạo đức, văn minh chính là văn hóa.

          Văn hóa trong Đảng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức

          Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, khẳng định: Để xây dựng và phát triển văn hóa trong xã hội, trước hết cần xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các tổ chức Nhà nước. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nêu quan điểm cũng như nhiệm vụ “Tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước về văn hóa”.

          Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thậm chí không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nền tảng nói chung của xã hội, cho sự tồn vong và phát triển. Đảng là bộ phận tiên tiến của xã hội. Vậy nên, văn hóa phải làm nền tảng cho công việc nói chung, trong đó có xây dựng Đảng. Đảng càng văn minh, nhân văn, càng phải lấy văn hóa làm nền tảng. Khi ta nói văn hóa làm nền tảng cho công việc xây dựng Đảng tức là chủ yếu nói đến văn hóa trong chính trị, trong nhân cách của cán bộ, đảng viên.

          Xây dựng văn hóa trong chính trị, trước tiên phải quan tâm đến xây dựng văn hóa trong Đảng và vấn đề này có nhiều nội dung, nhiệm vụ, trong đó trên hết, trước hết và cốt lõi là vai trò tiên phong của mỗi đảng viên. Bởi tính tiên phong là tính chất nhất thiết phải có ở một đảng cộng sản, nhất là khi đảng đó là đảng cầm quyền. Vai trò tiên phong của Đảng được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, từ nhận thức, giác ngộ, hiểu biết sâu sắc về lý luận, thực tiễn, tổ chức lực lượng quần chúng đông đảo, đưa họ vào con đường đấu tranh giải phóng con người, đến tiên phong trong hoạt động chính trị, lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, xây dựng, bảo vệ môi trường thiên nhiên và tất nhiên không thể thiếu vai trò tiên phong trong lĩnh vực văn hóa.

          Để góp phần xây dựng con người Việt Nam có nhân cách, lối sống tốt đẹp, lành mạnh cốt lõi, trọng tâm của nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, với tư cách là lực lượng tiên phong, tổ chức lãnh đạo xã hội thì toàn Đảng, mỗi một đảng viên phải thật sự trở thành biểu tượng của phẩm giá, đạo đức con người Việt Nam trong thời đại ngày nay. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra rằng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống gây tổn hại lớn đến thanh danh và uy tín của Đảng và suy cho cùng đó chính là sự suy thoái về văn hóa trong Đảng.

          Chính vì vậy, việc xây dựng văn hóa trong Đảng không chỉ mang ý nghĩa thuần túy về phương diện văn hóa, mà còn có ý nghĩa cấp thiết về chính trị và xã hội. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) cũng như Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng đạo đức cán bộ, đảng viên, nhất là việc nêu cao gương mẫu của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Đó cũng chính là xây dựng Đảng về văn hóa.

          Nhiệm vụ đó tập trung tăng cường và thường xuyên giáo dục đạo đức, lối sống, bản lĩnh chính trị, tính tiền phong gương mẫu, ý thức trách nhiệm, tính trung thực của cán bộ, đảng viên. Sự giáo dục này có thể thông qua nhiều hình thức, biện pháp như thường xuyên đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đổi mới công tác giáo dục, đào tạo theo hướng quan tâm hơn vào giáo dục phẩm chất đạo đức, nhất là giáo dục pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật.

          Thực hiện chủ trương của Đảng là hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Đây thực chất là yếu tố cơ bản nhất để Đảng cầm quyền theo hiến pháp, pháp luật, đồng thời làm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo có được “văn hóa trách nhiệm” để làm tròn bổn phận của mình với tư cách là những “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

          Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần khẳng định phải xây dựng Đảng trong sạch, sau này có thêm cụm từ vững mạnh. Trong sạch thì mới có thể vững mạnh. Không trong sạch thì chắc chắn không thể vững mạnh. Trong sạch cũng chính là văn hóa. Trong sạch là không có mầm bệnh từ bên trong; trong sạch nhân dân mới tin vào sự chân chính. Được nhân dân tin yêu mới có nguồn sức mạnh lớn lao cho chiến thắng và thành công. Mất lòng tin là mất tất cả.

          Để có một Đảng trong sạch, được nhân dân tin yêu thì Đảng phải xác định rõ ràng mục đích phục vụ nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu. Đảng ta đã nhiều lần khẳng định Đảng không có mục đích nào khác ngoài mục đích phục vụ nhân dân, vì lợi ích chính đáng của nhân dân mà chiến đấu. Đảng không có lợi ích riêng, không phải muốn chiếm giữ quyền lực để cai trị nhân dân. Điều đó phải chứng minh bằng hành động cụ thể.

          Nhân cách, đạo đức, trí tuệ, tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp, đặc biệt là những người có chức vị cao trong Đảng và trong bộ máy Nhà nước sẽ là những biểu hiện thực tế nhất, sinh động nhất, thuyết phục nhất đối với nhân dân về sự chân chính và năng lực lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội của Đảng. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này trong thực tế, nếu cán bộ, đảng viên thoái hóa, “lợi ích nhóm” hoành hành thì mọi khẩu hiệu đều vô nghĩa, càng hô to càng phản cảm.

          Thực hiện tốt việc xây dựng Đảng về văn hóa đảm bảo cho Đảng thành công trong lãnh đạo phát triển đất nước, đồng thời chắc chắn Đảng sẽ được nhân dân tôn vinh và tự giác thừa nhận sự lãnh đạo lâu dài của Đảng. Nếu Đảng bị suy đồi về văn hóa thì chắc chắn chúng ta sẽ thất bại, có lỗi với nhân dân và lịch sử, đồng thời bản thân Đảng cũng không thể tồn tại. Trong công tác cán bộ phải luôn cảnh giác và luôn khắc phục khuyết điểm từ sự tác động bởi mặt trái của tư tưởng phong kiến và mặt trái của cơ chế thị trường. Đã có tình trạng chọn người là đệ tử, cùng phe cánh, trung thành, biết phục vụ, cung phụng cho cá nhân mình, mua quan bán chức. Đó chính là biểu hiện mặt trái của tư tưởng phong kiến và cơ chế thị trường. Toàn Đảng cần phải có quyết tâm chính trị để sửa chữa và ngăn ngừa để Đảng không bị suy thoái.

          Đồng thời với việc xây dựng văn hóa trong Đảng cần tập trung lãnh đạo, chăm lo xây dựng đạo đức xã hội. Đảng tồn tại trong xã hội, luôn chịu sự tác động hằng ngày, hằng giờ từ xã hội và luôn tác động trở lại xã hội. Sự tác động qua lại ấy, giữa Đảng và xã hội, có thể tích cực và cũng có thể tiêu cực, tùy thuộc vào Đảng tốt, môi trường xã hội tốt hoặc chưa tốt, không tốt. Trong mối quan hệ tác động qua lại ấy, Đảng phải chịu trách nhiệm đầu tiên, không đổ lỗi cho xã hội, vì Đảng lãnh đạo, phải đủ dũng cảm và bản lĩnh để đối mặt với sự thật khách quan, nhằm tìm cách cải tạo nó.

          Những năm qua, đạo đức xã hội có nhiều mặt suy thoái lo ngại, thậm chí có mặt nghiêm trọng, đáng báo động. Tình trạng đạo đức xã hội sa sút có nhiều nguyên nhân. Rất đáng lưu ý là hệ giá trị bị đảo lộn về vị trí, thang bậc. Nhân cách đáng ra phải luôn ở vị trí hàng đầu, trung tâm thì trong nhiều trường hợp đã xuống hàng thứ yếu, trong khi đồng tiền lại lên ngôi, chi phối nhiều mặt, nhiều việc. Vì tiền, con người ta đã vi phạm đạo đức, kể cả làm việc ác. Nhưng vì sao mà hệ giá trị lại bị đảo lộn?

          Đương nhiên có lý do từ mặt trái của cơ chế thị trường, nhưng không thể đổ lỗi cho cơ chế ấy, bởi vì nó là vậy, có nhiều mặt tích cực, tạo động lực phát triển, sự lựa chọn cơ chế thị trường là đúng, có một số mặt tiêu cực cần phải phòng tránh. Khuyết điểm đáng lưu ý là khi bước vào kinh tế thị trường, chúng ta chưa lường hết sự phức tạp, tác hại và nhất là chưa có giải pháp hữu hiệu chủ động phòng tránh để hạn chế tác hại của nó. Nói cách khác, chưa tạo ra và thực hiện được những cơ chế quản lý hữu hiệu để hạn chế tác hại bởi mặt trái của cơ chế thị trường.

          Mặt khác, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường lại trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền. Nhiều cán bộ, đảng viên có quyền lực, được giao quản lý tài nguyên, tài sản, tài chính, dự án và các mặt quan trọng của đời sống xã hội. Mặt trái quyền lực làm tha hóa con người khi không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực, để lựa chọn cán bộ có “đức trọng” mới giao “quyền cao”, để giám sát người có chức, quyền, dù lớn hay nhỏ.

          Khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường cộng hưởng với mặt trái của cơ chế quyền lực như hai con ngựa bất kham, trong khi cơ chế quản lý, giám sát, kiểm soát còn nhiều sơ hở, khiếm khuyết; việc tự rèn luyện nhân cách của từng người không thường xuyên liên tục, không gương mẫu, tức là chưa đủ độ chín về văn hóa; còn khuyết điểm trong giáo dục đạo đức, liêm sỉ, trong lựa chọn, bố trí và sử dụng cán bộ.

          Để phòng tránh và khắc phục những hạn chế trên, việc trước tiên là tiếp tục nhận thức sâu hơn tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội, trong xây dựng hệ thống chính trị. Đại văn hào Mắc-xim Goóc-ky đã nói, đối với ông, khi văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn là Tổ quốc lâm nguy. Về sâu xa, ông nói đúng.

          Nếu Tổ quốc lâm nguy mà văn hóa còn bền vững thì người ta sẽ giữ được Tổ quốc, lấy lại được Tổ quốc khi đã mất; còn nếu văn hóa lâm nguy thì chẳng những mất Tổ quốc mà còn mất cả dân tộc. Phải có quyết tâm cao và hành động thiết thực, bền bỉ. Lấy việc xây dựng con người - nhân cách làm trọng tâm, cốt lõi trong xây dựng văn hóa. Đồng thời xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình, cộng đồng làng, phố đến việc xây dựng văn hóa trong chính trị, nhất là nhân cách người lãnh đạo, sử dụng nhân tài và kiểm soát quyền lực; xây dựng văn hóa trong kinh tế, nhất là cơ chế quản lý đủ hiệu lực khống chế tác hại từ mặt trái của cơ chế thị trường.

          Các hoạt động văn hóa được tổ chức hiệu quả, giàu tính nhân văn nhằm gìn giữ, bồi đắp, sáng tạo và lan truyền các giá trị. Giáo dục, văn học, nghệ thuật, truyền thông là những công việc quan trọng bậc nhất trong các hoạt động văn hóa cần được tổ chức một cách rất khoa học, phù hợp quy luật văn hóa và quy luật tâm sinh lý con người, bảo đảm chất lượng và hiệu quả thiết thực, bền vững.

          Văn hóa trong Đảng mang đặc thù riêng, nhưng là bộ phận tiên tiến nhất, ưu tú nhất của văn hóa dân tộc. Chỉ trên cơ sở phát huy những tinh hoa văn hóa dân tộc thì mới có điều kiện xây dựng văn hóa trong Đảng một cách vững chắc và xây dựng văn hóa trong Đảng cần phải phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Xây dựng văn hóa trong Đảng chính là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Đảng phải thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh” thì mới tạo được lòng tin trong nhân dân, thu hút được sức mạnh to lớn, đồng thuận của nhân dân để lãnh đạo cách mạng đạt được những thành quả trong giai đoạn hiện nay./.

          Nguồn: QĐND

ĐỪNG VÔ TÌNH TIẾP TAY CHO KẺ XẤU!

     Vừa thấy tiếng xe máy của tôi về đến cổng, ông chú hàng xóm đã chạy ra chặn lại nhờ vả: “Cháu chơi thân với con trai chú, nhờ cháu khuyên em gỡ ngay mấy cái bài viết xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước trên Facebook xuống cho chú với”.

Nghe vậy, tôi lo lắng hỏi lại: “Cháu tưởng em ấy đang đi công tác ở trong Nam? Với lại, con trai chú là người điềm đạm, có nhận thức tốt, sao tự nhiên lại viết bài xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước được?”.

Thấy tôi hỏi vậy, chú liền lôi điện thoại ra, vừa lập cập bấm vào trang Facebook, vừa nói: “Nó viết bài yêu cầu Nhà nước ta phải lên tiếng về chiến sự ở Ukraine. Nó còn chê đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước, rồi lên tiếng phê phán này nọ. Như vậy không phải xuyên tạc, ngấm ngầm chống phá thì là gì hả cháu?

Tuổi trẻ chúng nó đã làm sao hiểu được để có nền hòa bình, độc lập, sự ổn định cho phát triển đất nước suốt mấy chục năm qua một phần là nhờ đường lối đối ngoại khoa học, sáng tạo "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Đảng, Nhà nước ta. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Chúng ta kiên quyết không liên minh với nước này để chống nước kia. Vậy mà một số người trẻ không nhận thức đầy đủ, chỉ vì chút cảm tính bồng bột yêu ghét nhất thời mà lại thể hiện phản ứng một cách thiếu kiềm chế, thiếu hiểu biết, thế có nguy hiểm không!”.

Trước sự nóng giận, lo lắng của một cựu chiến binh, tôi động viên chú cứ bình tĩnh, đưa bài viết của cậu em cho tôi xem để hiểu rõ sự việc. Quả thực, trên Facebook của con trai chú ấy chia sẻ một số bài viết từ nhiều nguồn khác nhau bình luận về chiến sự ở Ukraine, nhưng không phải do cậu ta trực tiếp viết ra.

Rồi tôi giải thích: “Em ấy mới chỉ chia sẻ lại bài viết từ một số phần tử xấu bị kích động, chống phá thôi. Có thể do em mới đọc lướt qua, thấy thích nên vội vàng chia sẻ ngay chứ chưa chắc đã có cùng suy nghĩ, tư tưởng như người viết những bài này. Chú cứ bình tĩnh tìm hiểu để có cách xử lý phù hợp. Giờ cháu sẽ gọi điện trao đổi trực tiếp để xem em ấy nói gì, chú nhé”.

Dứt lời, tôi rút điện thoại gọi cho cậu em hàng xóm, bấm loa ngoài để chú cùng nghe. Ban đầu, cậu khẳng định việc mình chia sẻ các bài viết kia là việc... bình thường. Sau khi được tôi phân tích hậu quả của hành động chia sẻ ấy, cậu đã hiểu ra sự nguy hại và đồng ý gỡ bỏ. Trước khi tắt máy, cậu em cười nói qua điện thoại: “Chúng em còn trẻ, nhiều chuyện tầm vĩ mô chưa thể nhận thức hết được nên đôi khi nóng vội, thiếu thận trọng khi tham gia mạng xã hội. Từ nay em sẽ cẩn thận hơn kẻo vô tình tiếp tay cho kẻ xấu mà không biết”.

Nghe con trai mình nói vậy, chú hàng xóm phấn khởi: “Thế là nó vẫn phân biệt được đúng-sai cháu nhỉ”./.

Môi Trường ST.