Thứ Hai, 14 tháng 3, 2022

Hành động khuếch trương sức mạnh của Trung Quốc, làm căng thẳng tình hình

 

          Thời gian gần đây, Trung Quốc tăng cường các cuộc tập trận ở Biển Đông. Số liệu thống kê của MSA cho thấy trong năm 2021, Trung Quốc đã tiến hành ít nhất 51 cuộc tập trận, nhiều hơn so với con số 20 trong năm 2020. Nếu tính từ đầu năm 2022 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành ít nhất 7 cuộc tập trận ở Biển Đông, trong đó có 1 cuộc tập trận ở vịnh Bắc bộ.

          Trên cơ sở mổ xẻ từ nhiều góc độ, các chuyên gia quân sự cho rằng mục đích của các cuộc tập trận mà Trung Quốc tiến hành ở Biển Đông xuất phát từ âm mưu độc chiếm vùng biển này trên cơ sở “đường chín đoạn”. Đó là hành động khuếch trương sức mạnh, răn đe với các nước đang có tranh chấp chủ quyền trên biển với Trung Quốc. Đó cũng là hành động vừa cảnh báo, vừa có tính chất thăm dò xem phản ứng của Mỹ và các nước trước tham vọng độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh.

          Theo ông Collin Koh, nhà nghiên cứu tại Đại học Công nghệ Nanyang ở Singapore, cuộc diễn tập ở khu vực quần đảo Trường Sa mà Hải quân Trung Quốc thường tiến hành mang hàm ý nhằm phô trương sức mạnh để khẳng định những tuyên bố chủ quyền đơn phương. Còn nhà báo Javad Heydarian của Philippines thì nhận định: “Các cuộc diễn tập hải quân ngày càng hung hăng của Trung Quốc được nhiều người coi như một nỗ lực khai thác thế suy yếu của Mỹ để bảo đảm lợi thế mới trong các điểm nóng”.

          Chuyên gia hải quân Bryan Clark thuộc Học viện Hudson (trụ sở ở Washington, Mỹ) thì cảnh báo một mối nguy hiểm khác là “các cuộc tập trận của Trung Quốc không đơn thuần mô phỏng một cuộc tấn công vào các lực lượng quân sự khác, mà là sử dụng quân đội tương tự như hành động của cảnh sát để trấn áp tình trạng bất ổn dân sự tiềm tàng”.

          Lâu nay, thế giới đã biết tới chiến lược “vùng xám” của Trung Quốc, khi nước này lợi dụng lực lượng tàu cá, dân quân biển để cưỡng bức và ngăn chặn việc khoan dầu hay quấy rối ngư dân…các nước trong khu vực. Chiến thuật này không sử dụng lực lượng quân sự nhưng vẫn dựa trên cơ sở áp đặt bằng sức mạnh.

          Để phục vụ cho việc mở rộng hoạt động ở Biển Đông, hải quân của Trung Quốc được tăng cường đầu tư với tốc độ chóng mặt. Theo Văn phòng tình báo hải quân Mỹ (ONI), nếu như năm 2015, hải quân Trung Quốc chỉ có 225 chiến hạm trong biên chế thì tới cuối năm 2020, con số này đã là 360 chiến hạm, nhiều hơn Mỹ 63 chiếc. Dự kiến đến năm 2025, hải quân Trung Quốc có thể biên chế tới 400 chiến hạm, trong khi hải quân Mỹ chỉ đặt mục tiêu duy trì hạm đội 355 chiếc.

          Không chỉ gia tăng về số lượng, theo ông Andrew Erickson, chuyên gia tại Viện nghiên cứu hàng hải Trung Quốc thuộc Đại học Hải quân Mỹ, hải quân Trung Quốc không còn phải nhận hàng thải từ ngành công nghiệp đóng tàu, thay vào đó là những chiến hạm ngày càng tinh vi và có năng lực, trọng tải lớn và mang nhiều vũ khí hơn. Tàu hải quân Trung Quốc lại được bảo vệ bằng lực lượng tên lửa quy mô lớn tại đại lục, giúp tăng sức mạnh trong mọi cuộc xung đột gần nước này.

          Việc Trung Quốc tăng cường các hoạt động tập trận trên Biển Đông nhằm khuếch trương sức mạnh, từng bước hiện thực hóa tham vọng độc chiếm vùng biển này đã khiến tình hình khu vực thêm căng thẳng, tạo nguy cơ xung đột, đi ngược lại những nỗ lực nhằm duy trì hòa bình và ổn định của khu vực.

 

Tập trận trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và những toan tính của Trung Quốc

 

          Tuần trước, Cục Hải sự Trung Quốc (MSA) thông báo cuộc tập trận diễn ra ở Biển Đông từ ngày 4 đến 15/3 trong khu vực nằm giữa tỉnh Hải Nam của Trung Quốc và Việt Nam. Trung Quốc cũng cảnh báo tàu thuyền tránh xa khu vực này. Đối chiếu tọa độ mà phía Trung Quốc công bố, khu vực tập trận nằm gần ngay chính giữa thành phố Tam Á của đảo Hải Nam và thành phố Huế của Việt Nam. Một phần của khu vực mà Trung Quốc thao dượt quân sự nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam.

          Đây là diễn biến mới nhất trong chuỗi những hành động xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà Trung Quốc tiến hành, dựa trên tuyên bố chủ quyền phi pháp ở Biển Đông. Lâu nay, Trung Quốc đơn phương vạch ra “đường chín đoạn” hay “đường lưỡi bò’ – một yêu sách chủ quyền phi lý chiếm tới 80% diện tích Biển Đông dựa trên lập luận “quyền lịch sử”, lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của nhiều nước ven Biển Đông, trong đó có Việt Nam.       Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982, các quốc gia ven biển xác định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình với chiều rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở và thềm lục địa với chiều rộng không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không quá 100 hải lý. Các vùng biển ngoài phạm vi tài phán của các quốc gia ven biển gọi là biển quốc tế hay biển cả, đáy biển và tài nguyên khoáng sản ở vùng biển quốc tế là di sản chung của nhân loại.        UNCLOS cũng xác định các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên của vùng nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; thực hiện một số hoạt động kinh tế và quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Mọi hoạt động liên quan đến thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển phải được phép của quốc gia đó; mọi hoạt động không được cấp phép đều là bất hợp pháp, vi phạm các quy định của UNCLOS.

          Đều là thành viên UNCLOS nhưng Trung Quốc lại không tuân theo quy định trên mà tự xác định vùng biển của mình ở Biển Đông một cách phi pháp, dựa trên khái niệm mơ hồ “quyền lịch sử”. Liên quan đến vấn đề này, tháng 6/2016, Tòa trọng tài trong vụ Philippines kiện Trung Quốc đã ra phán quyết cho rằng không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy về mặt lịch sử Trung Quốc đã chỉ một mình thực hiện việc kiểm soát vùng nước trong “đường chín đoạn” cũng như tài nguyên tại đây. Vì vậy, Tòa kết luận không có cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách “quyền lịch sử” với “đường chín đoạn”.

          Như vậy, có thể thấy việc Trung Quốc tiến hành tập trận trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, dù dưới bất cứ lý do nào, là phi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982, của Việt Nam. Nó không tuân thủ Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển mà Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết năm 2011, vi phạm cam kết của Bắc Kinh với Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa Trung Quốc và các nước ASEAN năm 2002. Điều 5 của DOC đã nêu rõ “Các bên chịu trách nhiệm thực hiện sự tự chế trong việc thi hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và sự ổn định…”.

          Liên quan đến hoạt động diễn tập quân sự của Trung Quốc đang diễn ra ở Biển Đông, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã khẳng định: “Một phần khu vực thông báo hàng hải thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam được xác định theo UNCLOS 1982. Việt Nam đề nghị Trung Quốc tôn trọng và không vi phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, không có hành động làm phức tạp tình hình, qua đó góp phần duy trì hòa bình, an ninh, ổn định ở khu vực Biển Đông”.

QUY HOẠCH, XÂY DỰNG TRƯỜNG SA TRỞ THÀNH TRUNG TÂM KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI TRÊN BIỂN CỦA CẢ NƯỚC THÀNH TRÌ VỮNG CHẮC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN TỔ QUỐC

 

          Kết luận cuộc làm việc với lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa, Thủ tướng Phạm Minh Chính đặc biệt nhấn mạnh Khánh Hòa phải tạo cơ hội mới để thu hút nguồn lực quốc tế và quan tâm quy hoạch, xây dựng Trường Sa trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển, thành trì vững chắc bảo vệ chủ quyền biển đảo.

          Sáng ngày 13/3, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị năm 2021, phương hướng, nhiệm vụ năm 2022.

          Cùng tham dự cuộc làm việc có Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thể, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long, Thượng tướng Phạm Hoài Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa Nguyễn Hải Ninh, lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương.   Ngày 28/1/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chuyến công tác và cuộc làm việc của Thủ tướng cùng đoàn công tác nhằm mục tiêu tập trung triển khai có hiệu quả Nghị quyết 09, xây dựng chương trình hành động của Chính phủ và đề xuất cơ chế, chính sách trình Quốc hội quyết định theo tinh thần Nghị quyết 09.

          Các ý kiến tại cuộc họp đều đánh giá tiềm năng, thế mạnh, cơ hội rất lớn của Khánh Hòa trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là về điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên, truyền thống lịch sử - văn hóa, đặc biệt là biển và tài nguyên biển.

          Quần đảo Trường Sa có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng

          Khánh Hòa nằm ở trung tâm các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có 3 vịnh lớn, thềm lục địa và vùng lãnh hải rộng lớn, có quần đảo Trường Sa có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; là tâm điểm kết nối vùng giữa Tây Nguyên với Nam Trung bộ, là cửa ngõ giao thương quốc tế cho cả khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

          Tình nằm trên các trục giao thông đường bộ quan trọng của cả nước, có các cảng biển nước sâu, nằm gần đường hàng hải quốc tế sôi động, có sân bay quốc tế Cam Ranh với lưu lượng khách quốc tế đứng thứ 3 cả nước… Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông trong vùng đang được đầu tư, hoàn thiện đồng bộ (đường bộ, đường sắt, đường biển, hàng không).

          Với khí hậu ôn hòa, "biển xanh, cát trắng, nắng vàng", cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa dạng, người dân hiền hòa, Khánh Hòa đã trở thành địa chỉ du lịch nổi tiếng mang tầm khu vực và quốc tế.

          Báo cáo của tỉnh và các đại biểu đã tập trung phân tích về một số định hướng lớn, đột phá phát triển Khánh Hòa trong thời gian tới. Trong đó, nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cả hệ thống chính trị tỉnh trong năm 2022 là chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương tham mưu Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị và đề xuất Quốc hội thông qua Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển tỉnh Khánh Hòa.

          Đặc biệt lưu ý việc quy hoạch xây dựng huyện đảo Trường Sa Về nhiệm vụ cụ thể, trước hết, Thủ tướng yêu cầu tập trung nhiều hơn nữa và dứt điểm cho công tác quy hoạch theo Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị và Luật Quy hoạch. Quy hoạch phải có tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược, quy hoạch đi trước một bước, chỉ ra, phát huy được tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của các lĩnh vực, khu vực, địa phương; tạo ra cơ hội mới để thu hút nguồn lực; tháo gỡ, hóa giải những hạn chế, yếu kém, mâu thuẫn, thách thức, khó khăn.

          Thủ tướng đặc biệt lưu ý việc quy hoạch xây dựng huyện đảo Trường Sa trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển của cả nước và là thành trì vững chắc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Việc này cần làm càng sớm càng tốt và ngay sau quy hoạch phải dành nguồn lực để thực hiện, trước mắt ưu tiên nguồn lực xây dựng trung tâm hậu cần nghề cá tại đây; tiếp tục vận động người dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, ổn định cuộc sống lâu dài trên huyện đảo, theo đúng đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Cùng với đó, tỉnh cần tập trung nghiên cứu, đề xuất một số cơ chế, chính sách để thực hiện Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị; xây dựng chương trình, kế hoạch để cụ thể hóa và triển khai ngay các chủ trương, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết.

          Một nhiệm vụ khác là kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, hoàn thành việc tiêm vaccine cho người dân theo yêu cầu của Chính phủ, nâng cao năng lực y tế dự phòng, y tế cơ sở đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch trong điều kiện hiện nay. Thủ tướng yêu cầu dứt khoát rà soát lại, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả đầu tư công, mạnh dạn cắt bỏ những dự án chưa cần thiết, tránh dàn trải, chia cắt, manh mún gây kéo dài, lãng phí, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, dồn nguồn vốn tập trung cho các dự án lớn có tác động lan tỏa, lâu dài. Cơ cấu lại thu chi cho hợp lý trong bối cảnh ngân sách có hạn, nâng tỷ lệ đầu tư cho phát triển, nhất là cho các dự án hạ tầng chiến lược. Về phát triển du lịch, cần cơ cấu lại thị trường du lịch phù hợp với những diễn biến, tình hình thế giới.

          Cho ý kiến cụ thể về các đề xuất, kiến nghị của tỉnh, Thủ tướng một lần nữa nhấn mạnh yêu cầu phát huy tinh thần tự lực, tự cường, không trông chờ, ỷ lại, đi lên từ "bàn tay, khối óc, chân trời, cửa biển" của mình; đồng thời tự tạo cơ hội mới để thu hút nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là nguồn lực đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, nguồn vốn.

 

 

        

CÒN MÃI TINH THẦN VÀ KHÍ PHÁCH GẠC MA

 

          34 năm đi qua, sóng biển có thể đã xóa nhòa mọi dấu vết nhưng không thể xóa được ký ức bi tráng của người dân Việt Nam, về những con người quả cảm mà sự hy sinh của họ được dựng thành những tượng đài bất tử về tình yêu Tổ quốc. Tinh thần chiến đấu của các anh là một dấu son trong lịch sử dân tộc mà thế hệ hôm nay và mai sau phải khắc cốt ghi tâm.

          34 năm trước, vào ngày 14/3/1988, 64 người lính Hải quân bảo vệ đảo Gạc Ma, trong cuộc chiến không cân sức, một bên chỉ có cuốc xẻng, súng AK giữa mênh mông biển khơi, một bên là tàu lớn, súng to, đã vĩnh viễn nằm xuống dưới làn mưa đạn. 64 người lính đã tỏ rõ lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân. Trong giờ phút sinh tử, giữa họng súng quân thù, các chiến sĩ Hải quân đã nắm chặt tay nhau tạo thành vòng tròn bảo vệ lá cờ Tổ quốc. Họ dặn nhau “Không được lùi bước. Phải để cho máu mình tô thắm lá cờ Tổ quốc và truyền thống vinh quang của Quân chủng Hải quân Anh hùng” (câu nói của Anh hùng liệt sỹ Trần Văn Phương). Câu nói ấy không chỉ thể hiện khí phách anh hùng, mà còn là tư thế của người làm chủ thực sự biển đảo dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó là một tuyên ngôn bất tử về Trường Sa - tuyên ngôn của thế hệ trẻ hôm nay không sợ hy sinh, gian khổ, quyết đem cả tính mạng của mình bảo vệ từng tấc đất, sải sóng thiêng liêng của Tổ quốc.

          Thời gian có dài bao nhiêu, lịch sử có đổi thay thế nào, thì cuộc chiến đấu tự vệ và bảo vệ Trường Sa của Hải quân Nhân dân Việt Nam năm 1988 vẫn thức tỉnh trái tim người Việt về nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

          Nhớ lại sự kiện Gạc Ma không chỉ là thể hiện lòng biết ơn trước sự hy sinh anh dũng của 64 chiến sĩ Hải quân cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc mà tấm gương của những anh hùng liệt sĩ ấy còn là bài học lịch sử bằng máu không bao giờ được lãng quên./.

Quy định về cách ly F0 tại nhà có gì mới?

 

Ngày 14-3, Bộ Y tế ban hành hướng dẫn mới về quản lý tại nhà đối với người mắc Covid-19.

Văn hóa trong Đảng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức

 

Đảng càng văn minh, nhân văn, càng phải lấy văn hóa làm nền tảng. Khi nói văn hóa làm nền tảng cho công việc xây dựng Đảng tức là chủ yếu nói đến văn hóa trong chính trị, trong nhân cách của cán bộ, đảng viên.

TRÒ HỀ CỦA MỘT TÚM LUẬT SƯ!

         Theo trend ủng hộ Ukraine bây giờ là chuyện bình thường bởi thế mới thể hiện mình yêu hòa bình và ghét chiến tranh. Nhưng thể hiện một cách lố bịch, thiếu nhận thức như một túm luật sư do ông Ngô Ngọc Trai đứng đầu thì không khác một trò hề diễn cho nó có nhưng lại rất tồi.
Một bức thư kêu gọi hòa bình do luật sư Ngô Ngọc Trai cầm đầu đã được dịch ra 3 thứ tiếng, gửi đồng thời cho Đại sứ Nga tại Việt Nam và Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh. Hai thứ tiếng kia tôi không rành chứ thấy cái bức thư kêu gọi hòa bình bằng tiếng Việt thật lem nhem và thể hiện cái trình độ nhận thức của một vài xã viên trong HTX toàn thua, HTX kịch khung thật là kém.
Về mặt hình thức thì các vị luật sư này không biết trình bày văn bản. Bởi lẽ, trong bản tiếng Việt và tiếng Anh (chắc có đôi chút trình độ, tự dịch cho đỡ phí tiền) thì đầu đoạn, các luật sư không thèm lùi dòng vào trong. Một sự cẩu thả hay ngày xưa các luật sư đi học đến đoạn này cô giáo ốm nhưng có thể thấy, bản dịch tiếng Nga lại khá chuẩn chỉ (đúng là kém tiếng Nga, thuê người dịch nên trình bày tươm tất hơn).
Về mặt nội dung, bỏ qua quan điểm ủng hộ ai, chê ai, phê phán ai bởi đây là quyền của mỗi người. Nhưng khi nói về lịch sử nước mình thì túm luật sư này lại cho rằng: “thưa Tổng thống Putin, không chỉ mình ông đã làm điều kỳ quặc, chỉ mới vài chục năm trước đây thôi người Việt Nam chúng tôi cũng đã chia làm hai phía chiến tranh với nhau, khi đó mỗi bên đều cho việc làm của mình là chân lý đúng đắn, để rồi dù chiến thắng đất nước cũng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề, mà nhiều Việt Nam chúng tôi hiện nay còn đang chất vấn ký ức lương tâm dân tộc mình, vì sao phải có chiến tranh, vì sao phải bỏ lỡ con đường hòa bình”.
Xin hỏi nhận thức của túm luật sư đó, kháng chiến chống Mỹ các vị cho là nội chiến chăng? Chân lý đúng đắn của sự tồn tại ngụy quyền, ngụy quân là gì? Đàm phán Paris chỉ có Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chủ thể chính, cỡ như Việt Nam Cộng hòa chỉ biết đặt bút ký vì bị ép ký mà thôi. Những kẻ chất vấn lương tâm dân tộc mình mà như luật sư nói chính là bè lũ xét lại lịch sử, là loại ăn cháo đá bát, là những kẻ học lịch sử dân tộc không đến nơi đến chốn khi chính Mỹ, phương Tây là kẻ năm lần, bảy lượt từ chối thiện chí muốn hòa bình của Việt Nam, muốn đô hộ nước ta thêm một lần nữa không thì cũng chia cắt nước ta lâu dài.
Chính những kiểu luật sư như túm luật sư như thế này ở tại Ukraine mà đã góp phần đẩy đất nước đó đến thảm cảnh ngày hôm nay. Và cũng thật buồn cười khi bức thư đó gửi cho một người Việt, một người Nga mà phải mất công dịch ra tiếng Anh là sao? Cho ai đọc à?
Yêu nước ST.

ĐỪNG TIẾN VỀ MOSCOW!

         Đó là quy tắc số 1 mà Thống chế Bernard Montgomery (1887-1976), một danh tướng của nước Anh đã khuyên các nước Tây Âu và Đông Âu. Đặc biệt ông đã chỉ trích gay gắt cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam trong thế kỷ 20.
Có lẽ vào thời điểm 1975, đại thắng mùa xuân của dân tộc Việt Nam vừa chấm dứt, thời gian chưa đủ để danh tướng này rút ra thêm một quy tắc nữa là “Đừng bao giờ tiến vào Việt Nam!”, mặc dù là trước đó ông đã chỉ trích cuộc xâm lược Việt Nam của Mỹ. Hậu duệ của ông đã đúc kết một điều rằng, Việt Nam là một trong năm quốc gia không thể bị khuất phục.
Tất cả những người có lương tri trên thế giới đều đứng về phía dân tộc và nhân dân Việt Nam, chỉ trừ những kẻ cơ hội, tham lam vật chất và danh vọng hão.
Trong lúc người dân Việt Nam vừa kết thúc năm 2020 với nhiều thành tựu nổi bật, đặc biệt là chống dịch virus Corona thành công và kinh tế phát triển dương, mặc dù chỉ đạt mức tăng trưởng 2,91% nhưng là nược đạt mức tăng trưởng cao nhất thế giới, thì nước Nga đang phải đương đầu với vị Tổng thống Mỹ của phái diều hâu, vị Tổng thống đã chìa ra cho danh hài của nước Ucraina một chiếc bánh mà bảo rằng, chống Nga đi rồi ta đây sẽ kết nạp mi vào NATO.
Chúng ta vẫn nhớ ơn người Nga, khi cùng hội cùng thuyền cũng như khi khác hội khác thuyền thì nước Nga vẫn thể hiện là người bạn chung thủy. Ông Tổng thống của Nga còn gọi những nhà lãnh đạo Việt Nam là đồng chí.
Tổng thống Mỹ tuyên bố cứng rắn, sẽ có chiến tranh với Nga, nếu như Nga đem quân đánh Ucraina! Ngay lập tức, thứ trưởng Ngoại giao Nga Ryabkov tuyên bố một câu xanh rời: “Mỹ là kẻ thù của Nga!”. Là kẻ thù trên mặt trận quân sự, mặt trận kinh tế và mặt trận ngoại giao.
Và, trong thông điệp đầu năm, ngài Putin đã báo cho các nước có thái độ thù địch biết, “KHÔNG ĐƯỢC VƯỢT QUA LÀN RANH ĐỎ!” nếu không muốn lãnh hậu quả!
Nước Nga của năm 2021 khác nhiều lắm rồi. Mỹ cấm vận ư? Nga cấm vận lại. Mỹ trừng phạt các cá nhân ư? Nga trừng phạt đủ bằng con số Mỹ trừng phạt. Mỹ bao vây quân sự ư? Nga đem các vũ khí mà Mỹ chưa sản xuất được, đặt chung quanh nước Nga, chĩa vào các nước thuộc NATO và vào cả lục địa Huê Kỳ.
Nếu tính từ năm 1999 (năm Putin làm người đứng đầu chính phủ Nga) đến nay mới có 22 năm chứ mấy, mà người Nga đã “biến lượng thành chất”, có nghĩa là theo triết học Mác-Lê thì một khi lượng đã đủ thì tất yếu có sự nhảy vọt thành chất.
Một khi Nga tuyên bố “Mỹ là kẻ thù” thì nhiều anh sợ. Trước mắt là anh hề của xứ Ucraina. Khi Nga triển khai 2 quân đoàn và 7 đơn vị tinh nhuệ ra sát biên giới để nghênh chiến với ai thích gây chiến. Thế là anh hề vội vã tuyên bố, sẽ không dùng vũ lực ở khu vực Donbass nữa. Ngài Tổng thống thứ 46 của Mỹ thì hủy bỏ kế hoạch đưa hai tàu khu trục vào Biển Đen. Ngoài ra ngài còn tuyên bố muốn gặp trực tiếp anh Putin ở nước thứ ba.
Chưa hết, Nga tuyên bố giảm các chuyến bay ra, vào từ Thổ (Turkey) sang Nga và ngược lại. Mỗi năm Thổ đón khoảng 7 triệu khách du lịch Nga, thu về khoảng 3 tỷ USD/năm. Nay thi khoản này sẽ chẳng còn được bao nhiêu. Chẳng những thế, Thổ còn phụ thuộc vào vũ khí của Nga, và Nga quyết chơi tới bến đám tay sai của Thổ ở Syria.
Người đứng đầu CIA, William Burns, người đã từng là đại sứ Mỹ tại Nga đã khuyến cáo Thượng viện Mỹ: “đừng coi thường người Nga” và bây giờ “đừng đánh giá thấp người Nga”. Chả biết được đâu, có khi Nga chiếm lấy vùng Donbass chẳng tốn một viên đạn, vì đã có trên 600 ngàn người ở vùng này hiện đã được cấp hộ chiếu Nga. Không biết có sảy ra một ngày, anh Putin lại làm cuộc trưng cầu dân ý ở hai khu tự trị Donesk và Luhanck, trên 50% số dân đồng ý sáp nhập vào Nga, thì những người đứng đầu NATO và anh hề cứ trơ mắt ra mà nhìn. Nước Ucraina trở thành một quốc gia không có biển, giống nước Tây Việt (hàng xóm của Đông Lào) hiện nay. Thế thì vui nhỉ?

Tiếng chuông ở diện Kremlin đã đổ, bình minh đã ló dạng. Nước Nga cứ như một con gấu mới trải qua giấc ngủ đông, sức mạnh đã được tích lũy. Vươn mình lên thôi!./.
Ảnh: Hạm đội biển Đen.
Yêu nước ST.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ KỶ LUẬT VÀ THI HÀNH KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG


       Là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam - Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động; lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, đòi hỏi phải có kỷ luật nghiêm minh. Kỷ luật của Đảng có tầm quan trọng đặc biệt trong việc giữ vững và nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng. Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về kiểm tra và kỷ luật đảng, phù hợp với đặc điểm, thực tiễn của Đảng ta và của cách mạng Việt Nam.


      Theo Hồ Chí Minh, kỷ luật bao giờ cũng là một vấn đề gắn liền với công tác kiểm tra; là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, và là một trong những vấn đề có tính quy luật trong hoạt động lãnh đạo của Đảng.


       Thông qua thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng, tầm quan trọng của tỉnh tổ chức, kỷ luật đảng được Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Từ trước tới nay, Đảng ta gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng ta vẫn phát triển được là nhờ có tính tổ chức, tính kỷ luật”; “Kinh qua bao nhiêu cơn sóng gió, bao nhiêu bước khó khăn, càng nhiều gian nan, Đảng ta càng nhiều rèn luyện, càng thêm vững chắc và rộng lớn. Nhờ chính sách đúng, lãnh đạo chắc, kỷ luật nghiêm, nhờ tư tưởng thống nhất, mà Đảng ta và dân tộc ta được những thắng lợi vẻ vang ngày nay”.


       Quan điểm sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần tự giác, ý thức tổ chức kỷ luật cao của cán bộ, đảng viên được Hồ Chí Minh nhắc đi nhắc lại nhiều lần qua các thời kỳ cách mạng. Sức mạnh của Đảng còn được thể hiện ở sức mạnh của kỷ luật chặt chẽ, của việc thường xuyên siết chặt kỷ luật. Kỷ luật đảng vừa thể hiện tính nghiêm minh, vừa thể hiện tính dân chủ, nhân văn sâu sắc. Mục đích của kỷ luật đảng là để sửa chữa, uốn nắn, ngăn ngừa thiếu sót và sai lầm của cán bộ, đảng viên và của tổ chức đảng trong thực tiễn hoạt động lãnh đạo.


       Đảng Cộng sản Việt Nam gồm những người con ưu tú của dân tộc. Đường lối, chính sách của Đảng sẽ không thể biến thành hiện thực sinh động trong cuộc sống nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên kém ý thức tổ chức kỷ luật. Muốn chủ trương, đường lối của Đảng đi vào thực tiễn đời sống rất cần phải có kỷ luật tự giác. Kỷ luật của người cán bộ, đảng viên hoàn toàn xuất phát từ bản chất khoa học và cách mạng của Đảng ta-nơi hội tụ những người hăng hái, ưu tú, trung thành, tự nguyện tự giác đứng vào hàng ngũ tiên phong, chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Chính vì vậy, nhiều lần, Hồ Chí Minh khuyên nhủ, nếu ngại gian khổ, khó khăn, nếu sợ mình không toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, sợ khép mình vào tổ chức, sợ kỷ luật sắt của Đảng thì đừng vào Đảng hoặc hãy khoan vào Đảng.


       Kỷ luật của Đảng trước hết buộc mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng phải tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin; chấp hành vô điều kiện cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng. Chính vì vậy, nếu không có sự thống nhất về tư tưởng, lý luận thì hành động của người cán bộ, đảng viên sẽ không thống nhất, ý thức tổ chức kỷ luật sẽ lỏng lẻo. Sự nhất trí về tư tưởng và hành động là yêu cầu đầu tiên của vấn đề tăng cường kỷ luật sắt, kỷ luật nghiêm minh, kỷ luật tự giác của Đảng. “Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng...”. Với Hồ Chí Minh, thực hiện tốt kỷ luật đảng cũng có nghĩa là thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; tức là cá nhân tuyệt đối phục tùng tổ chức, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Đây cũng là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động lãnh đạo của Đảng.


       Muốn bảo đảm được sự thống nhất về phương diện lý luận thì phải hết sức chú trọng vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc phải làm cho toàn Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên hành động đúng và tôn trọng quy luật khách quan, cũng có nghĩa là tuân thủ kỷ luật của Đảng một cách tự nguyện, tự giác. Sức mạnh kỷ luật tự giác của cán bộ, đảng viên là chấp hành vô điều kiện nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng. Như thế cũng có nghĩa là đường lối, chủ trương của Đảng phải bảo đảm được tính đúng đắn của nó. Khi đường lối, chủ trương càng đúng đắn thì sự thống nhất, kỷ luật của toàn Đảng càng được chặt chẽ và nâng cao hơn; nghị quyết của Đảng vì thế nhanh chóng biến thành hành động cách mạng của cán bộ, đảng viên và quần chúng, đi vào thực tiễn đời sống. Do vậy mà kỷ luật trong Đảng, kỷ cương phép nước được tăng cường.


       Hồ Chí Minh luôn khẳng định sức mạnh của tinh thần tự giác và tính tổ chức, kỷ luật cao trong Đảng. Điều đó đòi hỏi đảng viên phải tuyệt đối tránh độc đoán, chuyển quyền, cá nhân chủ nghĩa. Mục đích của việc thi hành kỷ luật nghiêm ngặt trong Đảng là để đảm bảo cho tư tưởng nhất trí và hành động thống nhất trong toàn Đảng. Việc chấp hành nghiêm kỷ luật, gắn mọi hoạt động của bản thân mỗi cán bộ, đảng viên với tính tổ chức, kỷ luật cao chính là một bảo đảm chấn chắc cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị: “Tất cả cán bộ, đảng viên phải giữ tính kỷ luật, tính tổ chức. Nhớ rằng không có việc gì làm ngoài tổ chức, ngoài kỷ luật mà thành công”.


        Qua thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng, Hồ Chí Minh chỉ rõ chi bộ, tổ chức cơ sở đảng là nơi quản lý, giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách trực tiếp và cụ thể nhất. Do vậy, một vấn đề quan trọng được đặt ra trong bảo đảm kỷ luật của Đảng là phải tăng cường chất lượng của chi bộ, chất lượng của tổ chức cơ sở đảng. Đã xác định kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt thì mỗi tổ chức cơ sở đảng phải là một tổ chức nghiêm túc, chặt chẽ; phải thực hiện tốt các nguyên tắc sinh hoạt đảng, tránh tình trạng phân tán tổ chức, tư tưởng và hành động; hoặc hiện tượng thiếu thống nhất, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”,...


       Theo Hồ Chí Minh, cũng như công tác kiểm tra, kỷ luật đảng đòi hỏi đề cao tính tích cực, chủ động và đều nhằm mục đích ngăn ngừa những sai phạm, nhằm nâng cao đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên. Kỷ luật không phải là trừng phạt, truy xét, mà cao hơn thế là giúp cho người mắc khuyết điểm, sai lầm nhận rõ lỗi lầm, vị phạm của mình và có hướng sửa chữa, khắc phục.


        Đảng ta là đảng cầm quyền, do đó Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến những thứ bệnh có thể dẫn đến nguy cơ của đảng cầm quyền, làm suy yếu cơ thể Đảng và bộ máy chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị, như bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu, cá nhân chủ nghĩa, bệnh vô kỷ luật, “đi không xin phép, về không báo cáo”; trong đấu tranh tự phê bình và phê bình thì e dè, nể nang, theo kiểu “bắn súng chỉ thiên”; “tưởng là đảng viên thì muốn làm trời làm đất gì thì làm”, Hồ Chí Minh phê phán nghiêm khắc hiện tượng “khinh rẻ ý kiến cấp dưới. Xem thường chỉ thị của cấp trên”: “Vừa qua có hiện tượng: Thủ tướng, Phó Thủ tướng đã ra lệnh, nhưng cấp dưới không thi hành mà cũng không có kỷ luật. Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử phạt kịp thời,... Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm. Chúng ta cần phải chú ý hơn nữa đến việc giáo dục ý thức tổ chức, kỷ luật trong Đảng và phải thực hiện đúng chính sách khen thưởng và kỷ luật của Đảng và Nhà nước”. Chỉ dẫn này của Người vẫn giữ nguyên tính thời sự trong thực tiễn đời sống chính trị đất nước hôm nay.


        Người yêu cầu phải đưa những kẻ sâu mọt, hủ bại ra khỏi Đảng và thường xuyên bổ sung cho Đảng những thành phần ưu tú. Đây là một vấn đề có tính quy luật đào thải nghiêm khắc của Đảng Cộng sản; làm được như vậy tức là bảo đảm tính nghiêm minh cua ky luật đảng.


       Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề kỷ luật đảng luôn thể hiện rõ tính dân chủ, lòng bao dung, độ lượng sâu sắc. Hồ Chí Minh quan niệm, đời người ai cũng có khuyết điểm; tuy nhiên chúng ta không sợ sai lầm, khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa và cũng chỉ sợ người lãnh đạo không biết tìm đúng cách để giúp cán bộ, đảng viên sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm. Hồ Chí Minh cho rằng kỷ luật trong Đảng phải là sự thống nhất biện chứng giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy giáo dục là chính, nhưng đồng thời cũng phải rất nghiêm khắc trước những vi phạm kỷ luật đảng.


        Mọi vi phạm kỷ luật đảng đều phải được xem xét, nếu đến mức phải thi hành kỷ luật đảng thì xử lý thích đáng, không có vùng cấm, không có đảng viên nào có thể đứng trên Đảng, tự cho mình là hơn Đảng. Người còn chỉ rõ, sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích, thuyết phục, cảm hoá, dạy bảo, song cũng cần phải kết hợp với biện pháp xử lý kỷ luật. Trong xem xét, thi hành kỷ luật đảng không những phải đảm bảo tính khách quan, thận trọng, mà còn hết sức tránh hình thức, qua loa, chiếu lệ. Đứng trước mỗi khuyết điểm, sai lâm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, trực tiếp là cấp uỷ các cấp phải đi sâu tìm hiểu, phân tích thấu đáo, cặn kẽ đến tận gốc rễ” nguyên nhân gây ra khuyết điểm, sai lầm (cả chủ quan và khách quan, do cố ý hay do trình độ hạn chế mà mắc phải) để có quyết định và áp dụng hình thức, mức độ xử lý kỷ luật phù hợp. Hồ Chí Minh yêu cầu chủ thể kiểm tra cần phải phân tích rõ nguyên nhân dẫn tới sai lầm, phải xét kỹ lưỡng vi phạm nặng hay nhẹ, phải dùng mức xử phạt cho đúng.


        Trong chấp hành kỷ luật đảng, Hồ Chí Minh chỉ rõ một hiện tượng nguy hại: “có những người cậy mình là “công thần cách mạng” rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng và của Chính phủ. Thế là họ kiêu ngạo, họ phá kỷ luật của Đảng, của Chính phủ”. Với những sai phạm của các đối tượng này, “Cần phải mời các ông đó xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật, để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ vững kỷ luật của Đảng và của Chính phủ”. Chính điều đó làm cho kỷ luật đảng được thi hành từ trên xuống dưới, mọi người đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, qua đó bảo đảm tính công minh, nghiêm minh của kỷ luật đảng, tạo tính thuyết phục, tác dụng giáo dục, cảm hoá, làm cho người có lỗi lầm thực sự “tâm phục khẩu phục”, làm chuyển biến tư tưởng và nhận thức theo hướng tích cực của cá nhân cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm, sai lầm.


       Trong thi hành kỷ luật đảng, Người rất chú ý đến tính tự giác nhận khuyết điểm, lỗi lầm và đưa ra hướng sửa chữa, khắc phục, trên tinh thần đó mà “khoan hồng đại độ”; nhưng đồng thời cũng hết sức nghiêm khắc đối với thói thiếu trung thực và những hành động, thủ đoạn bao che trước những vi phạm của cán bộ, đảng viên. Vấn đề quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh là phải luôn chú ý tới những biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa những sai phạm của tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên ngay từ khi mới manh nha, có dấu hiệu vi phạm, chứ không để những vi phạm đó trở thành nghiêm trọng mới xem xét, xử lý kỷ luật, theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Người nói: “Nếu để sai lầm khuyết điểm trở nên to tát rồi mới đem ra “chỉnh” một lần, thế là “đập” cán bộ. Cán bộ bị “đập”, mất cả lòng tự tin, người hùng hái cũng hoá thành nản chí, từ nản chí đi đến vô dụng”.


       Trong thi hành kỷ luật đảng, Hồ Chí Minh nhìn nhận những lỗi lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên rất biện chứng, để từ đó đưa ra những chỉ dẫn đúng đắn cho việc thi hành kỷ luật: “Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm...Vì vậy, đối với cán bộ bị sai lầm, ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế, mà công kích họ. Trái lại, ta phải dùng thái độ thân thiết, giúp họ tìm ra cái cớ vì sao mà sai lầm? Sai lầm như thế sẽ có hại đến công việc thế nào? Làm thế nào mà sửa chữa? Tóm lại, phải phê bình cho đúng?


        Với Hồ Chí Minh, dù quy định, kỷ luật của Đảng có được bổ sung, hoàn thiện như thế nào chăng nữa, thì điều quan trọng trước hết vẫn là tính tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Kỷ luật là ý thức tự giác trong nhận thức và hành động về cái tất yếu. Mỗi đảng viên, dù là đảng viên giữ trọng trách trong bộ máy Đảng và Nhà nước, thì trước hết phải là một công dân gương mẫu. Ngoài việc chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật đảng, các nghị quyết, chỉ thị, cương lĩnh, Điều lệ Đảng, phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật. Bất kỳ trong hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ cần phải luôn luôn ra sức phấn đấu, ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hoá, tri thức và nâng cao bản lĩnh chính trị, luôn luôn giữ gìn kỷ luật; xứng đáng là người cán bộ, đảng viên của Đảng.


        Không chỉ định hướng cách thức, phương pháp xử lý kỷ luật "phù hợp, đúng đắn trước những sai phạm của cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ những hạn chế, yếu kém trong việc thi hành kỷ luật đảng, như: xử lý kỷ luật, xét thư khiếu nại còn chậm chạp; kiểm tra đảng viên phạm sai lầm còn chưa chủ động; hướng dẫn vận dụng phương châm kỷ luật chưa chặt chẽ, để cho kỷ luật đảng có chỗ bị buông lỏng, vì vậy mà thiếu tác dụng giáo dục và ngăn ngừa đảng viên khỏi phạm kỷ luật; hoặc hiện tượng: “Nhiều nơi các đồng chí phạm lỗi, nhưng không bị trừng phạt xứng đáng, có đồng chí bị hạ tầng công tác nơi này, đi nơi khác lại ở nguyên cấp cũ hay chỉ bị hạ tầng công tác theo hình thức, nhưng vẫn ở cấp bộ cũ làm việc. Có đồng chí đáng phải trừng phạt, nhưng vì cảm tình nể nang chỉ phê bình, cảnh cáo qua loa cho xong chuyện, thậm chí có nơi che đậy cho nhau, tha thứ lẫn nhau, lừa dối cấp trên, giấu giếm Đoàn thể Đảng-NV). Thi hành kỷ luật như vậy làm cho các đồng chí không những không biết sửa lỗi mình mà còn khinh thường kỷ luật”.


        Như vậy, bất kỳ một tổ chức xã hội, một tổ chức chính trị nào cũng cần tính tổ chức kỷ luật. Kỷ luật càng cao, càng nghiêm minh, chặt chẽ thì sức mạnh của tổ chức vì thế càng được củng cố, tăng cường. Vấn đề kiểm tra và kỷ luật đảng luôn là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với một tổ chức chính trị, nhất là đối với Đảng Cộng sản cầm quyền. Đảng điều chỉnh hành vi của tổ chức đảng, đảng viên bằng Điều lệ, kỷ luật đảng. Buông lỏng kỷ luật, sớm hay muộn Đảng sẽ bị suy yếu, tan rã. Thực tiễn phong trào cộng sản thế giới cho thấy, nếu xa rời những nguyên lý Mác-Lênin về xây dựng Đảng, trong đó có vấn đề thực hiện kỷ luật đảng nghiên minh và tự giác, tất yếu sẽ dẫn đến sự sai lầm về đường lối, đánh mất niềm tin vào lý tưởng, tất sẽ dẫn đến tình trạng vô tổ chức, vô kỷ luật trong Đảng. Kết quả sẽ làm cho xã hội rối loạn, mất ổn định chính trị, kỷ cương phép nước bị xem thường và điều đó tác động tiêu cực trở lại bản thân Đảng, làm suy thoái Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên; dẫn đến nguy cơ mất còn của Đảng, của chế độ. Đúng như V.I. Lênin đã chỉ rõ: “... những người Bonsvích sẽ không giữ được chính quyền, tôi không nói được đến hai năm rưỡi, mà ngay cả đến hai tháng rưỡi cũng không được nữa, nếu Đảng ta không có kỷ luật hết sức nghiêm minh, kỷ luật sắt thực sự”.


        Sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam bắt nguồn từ nhiều yếu tố, trong đó có vai trò hết sức quan trọng của việc xây dựng tổ chức chặt chẽ và kỷ luật tự giác. Vấn đề kỷ luật trong Đảng vì vậy trở thành một trong những nhân tố quyết định sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam.


        Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề kỷ luật đảng tiếp tục soi sáng cho công tác kiểm tra và kỷ luật đảng hiện nay. Vấn đề đặt ra là chúng ta nhận thức được tầng sâu bản chất các quan điểm, tư tưởng đó như thế nào và hành động ra sao trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sự nghiệp đổi mới đất nước càng đi vào chiều sâu thì càng đòi hỏi phải nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng và của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên trong đó nêu cao kỷ luật đảng, giữ nghiêm kỷ luật đảng vẫn là đòi hỏi cấp thiết của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi “là đạo đức, là văn minh”; tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm và phẩm giá của dân tộc./.


       Tổng hợp từ: Sách Tư Tưởng Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh Về Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh "Là Đạo Đức, Là Văn Minh".

ĐỐI NGOẠI CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC, LINH HOẠT, SÁNG TẠO


Năm 2021, trong bối cảnh chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19, công tác đối ngoại của tỉnh vẫn có nhiều điểm sáng, đóng góp vào phòng, chống dịch, phục hồi và phát triển kinh tế. Năm 2022, đại dịch Covid-19 với các biến chủng mới tiếp tục gây ra những tổn thất nặng nề về kinh tế - xã hội, công tác đối ngoại của tỉnh tiếp tục được triển khai chủ động, tích cực, linh hoạt và sáng tạo. Qua đó góp phần quan trọng tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội. 


Nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam, có vị trí trọng yếu về kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh và đối ngoại, tỉnh Quảng Ninh có gần 119km đường biên giới trên bộ và 191km đường biên giới trên biển với Trung Quốc. Quảng Ninh được đánh giá là một trong 3 đầu tàu (cùng với Hà Nội, Hải Phòng) phát triển kinh tế của vùng, một trung tâm trung chuyển hàng hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước ASEAN. Những lợi thế đó đưa Quảng Ninh sớm trở thành cửa ngõ hội nhập quốc tế của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cầu nối hợp tác giữa Việt Nam với các nước ASEAN và khu vực Đông Bắc Á.


Ngay từ thời điểm đầu tiên dịch Covid-19 bùng phát năm 2020, dù còn nhiều khó khăn, nhưng tỉnh Quảng Ninh đã đi trước, thực hiện tích cực việc chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, hỗ trợ quốc tế tạo dựng hình ảnh về địa phương. Tỉnh đã gửi Công hàm động viên, chia sẻ và hỗ trợ vật tư y tế, hợp tác trao đổi thông tin về tình hình dịch bệnh với các đối tác chiến lược, bạn bè truyền thống là Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc), 3 tỉnh Luông Pha Băng, Hủa Phăn, Xay Nhạ Bu Ly (Lào); hỗ trợ gần 1 tỷ đồng và 1 triệu khẩu trang y tế, 2.000 chai nước sát khuẩn cho Quảng Tây; gần 100.000 khẩu trang y tế, 14.000 bộ trang phục phòng hộ y tế và nhiều vật tư y tế khác cho 3 tỉnh Bắc Lào... Sự hỗ trợ kịp thời vào thời điểm tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, khan hiếm vật tư y tế, đã nhận được sự cảm kích của các địa phương bạn, là minh chứng cho mối quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp, tương trợ lẫn nhau, góp phần nâng cao hình ảnh của tỉnh đối với bạn bè quốc tế.


Tại buổi trao tặng hàng hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19 cho Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) đầu tháng 2/2020, ông Tôn Đại Vĩ, Phó Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, đã bày tỏ sự xúc động và khẳng định: Trong lúc dịch Covid-19 đang có diễn biến phức tạp, sự giúp đỡ, ủng hộ bằng cả vật chất và tinh thần của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) là hết sức quý báu, thể hiện tình hữu nghị, đoàn kết, gắn bó của 2 địa phương. Tin tưởng với sự hỗ trợ này, Quảng Tây nói riêng và Trung Quốc nói chung sẽ có thêm động lực để sớm khống chế thành công dịch Covid-19.


Đúng với tinh thần "ngoại giao tâm công, từ trái tim đến trái tim", "tình cảm, chân thành, tin cậy, bình đẳng, tôn trọng, hiệu quả, cùng phát triển" như Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo, Quảng Ninh đã tích cực thực hiện các chương trình hỗ trợ quốc tế, trao đổi thông tin về tình hình dịch bệnh với các đối tác chiến lược. Đó cũng là nền tảng để ngay sau khi Chính phủ triển khai chiến dịch tiêm vắc-xin, Quảng Ninh đã chủ động, thực hiện đúng tinh thần “đã quyết tâm, càng quyết tâm cao hơn nữa”, “đã cố gắng, càng cố gắng hơn nữa” để kêu gọi, tiếp cận nguồn vắc-xin và vật tư y tế phòng chống dịch Covid-19 nhanh, nhiều và sớm nhất.  


Quảng Ninh đã nhận được ủng hộ nhanh chóng của các địa phương bạn, đối tác nước ngoài. Cụ thể: Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) hỗ trợ 200.000 liều vắc-xin, 420.000 khẩu trang ngoại khoa, 50.000 khẩu trang N95, 40.000 bộ quần áo bảo hộ và lô thiết bị y tế phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19; tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) hỗ trợ 10.000 khẩu trang D918; tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) hỗ trợ 40 máy tạo oxy, 4 máy thở; tỉnh Xay Nhạ By Ly (Lào) hỗ trợ 50 triệu Kíp (tương đương 110 triệu VND); Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc (Trung Quốc) tại Việt Nam hỗ trợ 1.000 bộ trang phục phòng hộ, 50.000 khẩu trang y tế; Phòng Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam hỗ trợ 120 bộ trang phục bảo hộ, 47.000 khẩu trang. Sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế là nguồn động viên to lớn, thiết thực để tỉnh Quảng Ninh đi đầu trong công tác tiêm chủng vắc-xin, thành công trong việc thực hiện "mục tiêu kép".


Đến nay, Quảng Ninh đã cơ bản hoàn thành tiêm chủng diện rộng vắc-xin phòng Covid-19 mũi 3 cho nhân dân, đạt trên 94%. Theo kế hoạch, trong tháng 3/2020, tỉnh tiếp tục tiêm vét cho gần 10.000 trường hợp đủ điều kiện tiêm mũi 3. Trong hơn 2 năm xảy ra dịch Covid-19, tỉnh đã phối hợp với các cơ quan trung ương, các địa phương, doanh nghiệp tổ chức đón, bố trí địa điểm cách ly phòng chống dịch Covid-19 cho gần 33.000 công dân Việt Nam và hơn 14.000 người nước ngoài là đoàn các nhà ngoại giao, nhà đầu tư, chuyên gia, lao động kỹ thuật cao người nước ngoài đến Việt Nam làm việc qua Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, qua Cửa khẩu quốc tế Móng Cái.


Ông Phạm Ngọc Sáu, Giám đốc Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, chia sẻ: Mặc dù là sân bay mới đưa vào nghiệm thu và vận hành vào cuối năm 2018, nhưng Cảng đã được chỉ định đón chuyến bay giải cứu đầu tiên đón công dân Việt Nam từ TP Vũ Hán (Trung Quốc) - nơi khởi phát dịch Covid-19, trở về nước an toàn, kịp thời. Ngay sau khi được Thủ tướng Chính phủ tin tưởng, giao nhiệm vụ, chúng tôi đã cùng các đơn vị chức năng trong tỉnh triển khai nhiệm vụ và đón thành công chuyến bay giải cứu, từ đó góp phần tạo niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là kiều bào ta ở nước ngoài về sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Trong năm 2021, Cảng đã đón gần 290 chuyến bay từ nhiều nước và vùng lãnh thổ giải cứu bà con kiều bào và đưa chuyên gia, quản lý, lao động kỹ thuật cao vào Việt Nam. Qua đó tạo dựng thương hiệu cho Cảng hàng không  quốc tế Vân Đồn nói riêng, tỉnh Quảng Ninh nói chung.


Trong hơn 2 năm đại dịch Covid-19 bùng phát đã tác động tiêu cực chưa từng có đến kinh tế, gây xáo trộn về an sinh xã hội, nhưng với phương châm “đánh giặc” từ xa, từ sớm và đoàn kết, thống nhất ý chí hành động, tự lực, tự cường, tỉnh Quảng Ninh đã linh hoạt, sáng tạo trong phòng, chống dịch, trở thành địa phương dẫn đầu cả nước về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 với việc giữ vững đà tăng trưởng kinh tế.


Sở Ngoại vụ với vai trò cơ quan tham mưu đối ngoại của tỉnh đã bám sát mục tiêu các hoạt động đối ngoại đi trước, mở đường, chủ động tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi để triển khai hiệu quả nhiệm vụ ngoại giao phát triển kinh tế, ổn định an sinh xã hội. Trong điều kiện dịch bệnh, trọng trách này càng nặng nề, đòi hỏi cần có sự phản ứng linh hoạt hơn để thực hiện thành công “mục tiêu kép”. Theo bà Đặng Thúy Doan, Phó Giám đốc Sở Ngoại vụ, để thích ứng trong tình hình mới, Sở quyết tâm nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao kinh tế, lấy người dân, doanh nghiệp và địa phương làm trung tâm phục vụ; tiếp tục đẩy mạnh tham mưu về các biện pháp phòng, chống dịch, mở cửa đi lại, phục hồi kinh tế; thu hút các dự án hướng vào các lĩnh vực ưu tiên của tỉnh. Đồng thời nghiên cứu, triển khai các hướng đi mới, cách làm mới, như ngoại giao số, ngoại giao về biến đổi khí hậu...


Với việc củng cố hình ảnh Quảng Ninh là điểm đến an toàn, có nhiều lợi thế, tỉnh đã đón nhiều làn sóng đầu tư quốc tế và được cụ thể hóa bằng những con số cụ thể, ấn tượng: Thu hút đầu tư ngoài ngân sách tăng cao, đạt 361.143  tỷ đồng, trong đó thu hút FDI đột phá, đạt trên 1 tỷ USD trong năm 2021. Đặc biệt, tỉnh đã thu hút Dự án Công nghệ tế bào quang điện Jinko Solar PV Việt Nam của nhà đầu tư Hồng Kông với số vốn đầu tư trên 498 triệu USD. Đây là dự án FDI có vốn đầu tư cao nhất thu hút vào địa bàn các KCN, KKT của tỉnh Quảng Ninh.


Bên cạnh ngoại giao kinh tế, hoạt động đối ngoại của tỉnh Quảng Ninh được triển khai đồng bộ, hiệu quả: Tổ chức đón tiếp các đoàn làm việc của đại sứ các nước; tham dự các chương trình hội nghị hợp tác do bộ, ngành trung ương tổ chức; tham dự tích cực các hội nghị trực tuyến hợp tác đầu tư... Đặc biệt, với hình ảnh của một địa phương có hoạt động đối ngoại sôi động, hiệu quả, tỉnh Quảng Ninh đã được các chính phủ, cơ quan trung ương tin tưởng lựa chọn tổ chức các hoạt động đối ngoại quan trọng, như: Lễ kỷ niệm 20 năm ký kết Hiệp định biên giới và 10 năm thực hiện 3 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc (tháng 8/2020); Đối thoại chiến lược quốc phòng Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 7, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 6 (tháng 4/2021). Các sự kiện đối ngoại được tổ chức thành công mang ý nghĩa chính trị quan trọng của Việt Nam nói chung, đóng góp vào tăng cường quan hệ hữu nghị vùng biên giới Quảng Ninh - Quảng Tây nói riêng. Đó cũng là sự khẳng định khả năng thích ứng, linh hoạt của hoạt động đối ngoại trong bối cảnh dịch Covid-19.


Năm 2022, thế giới chuyển từ “ứng phó với khủng hoảng” sang “thích ứng an toàn” với đại dịch Covid-19, trạng thái “bình thường mới” từng bước định hình với việc gỡ bỏ các biện pháp phong tỏa, giãn cách xã hội, mở cửa trở lại nền kinh tế. Các vấn đề về phát triển kinh tế đối ngoại bền vững, ứng phó an ninh truyền thống và phi truyền thống tác động gay gắt hơn đến phát triển và an ninh của đất nước nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Trước bối cảnh này, công tác đối ngoại của tỉnh bám sát nhiệm vụ của ngành ngoại giao, tập trung “nâng cao chất lượng, hiệu quả, sâu rộng hơn về lĩnh vực và lực lượng tham gia, đồng bộ chặt chẽ hơn về phối hợp, chủ động tích cực hơn trong triển khai”, theo tinh thần chủ động, tích cực, toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả, từ sớm, từ xa.


Tỉnh đặt nhiệm vụ kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Bên cạnh đó, đẩy mạnh ngoại giao phục vụ phát triển, quyết tâm đi vào những lĩnh vực, hướng đi mới, chuyển biến mạnh mẽ hơn trong hợp tác kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, lao động, giao lưu nhân dân, chống biến đổi khí hậu... Đồng thời, tiếp tục đi đầu trong tham mưu chủ trương, chính sách và triển khai đối ngoại phục vụ phòng, chống dịch, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, công nghệ, kinh nghiệm quản lý..., phục vụ quá trình chuyển đổi, tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

THẤY GÌ Ở VIỆT NAM ?

 

Cuộc chiến nảy lửa giữa Nga - Ucraina đang được diễn ra hết sức phức tạp, gây ra sức nóng hơn bao giờ hết. Việc Tổng thống Nga Putin thông báo về việc tiến hành đem quân sang đánh Ucraina khiến cho nhiều nước Mỹ và phương Tây sẵn sang áp dụng các biện pháp trừng trị đối với những hành vi trên. Tuy nhiên, cuộc chiến ấy sẽ có nhiều nguyên do về chính trị ở trong đó; đó cũng là một bài học lớn. Và đặc biệt hơn, nhìn Ucraina chúng ta mới thấy sự đúng đắn trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta như thế nào.


Sẽ gọi là rất khó khăn khi thể hiện quan điểm sẽ ủng hộ Nga hay Ucraina trong cuộc chiến nảy lửa này. Bởi rằng, cuộc chiến đó không hề xâm lại đến quyền và lợi ích quốc gia Việt Nam và cũng dựa trên các nguyên tắc mà Việt Nam đã tham gia và kí kết là không can thiệp vào nội bộ của các nước và nguyên tắc tôn trọng lẽ phải. Hoà bình chính là cái đích đến mà ai hay bất kỳ quốc gia nào cũng khao khát có được. Nguyên tắc lẽ phải mà ở đây có nghĩa là trật tự quốc tế và chúng ta sống trong hoà bình; chúng ta đứng trên lập trường hoà bình.


Tình hình xảy ra cuộc chiến này đều tiềm ẩn nhiều lí do về mặt chính trị, tàn khốc của chiến tranh là không ai mong muốn. Sẽ rất khó để nói lên quan điểm trong vấn đề xung đột Nga- Ucraina nếu chỉ dựa vào những thực tế xảy ra, mà không xem nguồn cơn bắt đầu từ đâu khi hai nước là một thời chung một đất mẹ. Việt Nam làm bạn với tất các cả nước và trong đó có Nga và Ucraina, bản thân tôi luôn mong muốn cuộc chiến này sẽ kết thúc và sẽ có một cuộc đàm phán có lợi cho cả hai bên.


Việt Nam chúng tôi không chọn bên mà sẽ chọn lẽ phải, chúng tôi trôn trọng hoà bình. Tất nhiên để có thể được như vậy thì đòi hỏi phải có sự lãnh đạo đúng đắn cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược như thuyết ngoại giao cây tre của Việt Nam.


Nguồn: QPVN

VÀI MẨU CHUYỆN VỀ ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH


• Sử sách ghi lại, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào tháng 8-1945, khi nghe có tên Nguyễn Chí Thanh trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nguyễn Vịnh quay sang hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp: "Nguyễn Chí Thanh là ai mà nghe lạ thế!".

Đồng chí Võ Nguyên Giáp mỉm cười trả lời: "Là anh chứ ai nữa, chính Bác đặt tên cho anh đấy". Nguyễn Vịnh vừa ngỡ ngàng, vừa sung sướng! Từ đó, cái tên Nguyễn Chí Thanh trở thành một phần lịch sử của quân đội, của cách mạng Việt Nam.


• Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, có rất nhiều câu chuyện kể về ông thể hiện phẩm chất của nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, một đồng chí cán bộ chính trị mến yêu của cán bộ, chiến sĩ quân đội, vị tướng của nông dân. Chuyện kể rằng, năm 1951, là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, có lần ông cùng đơn vị đi chiến dịch. Khi ngang qua con suối rộng, một cán bộ đi giày đinh chiến lợi phẩm dáng sĩ quan, sợ ướt giày, đang loay hoay thì thấy ông, trong bộ quần áo nâu bạc đi qua, liền gọi lại và nói: “Ông chịu khó cõng mình qua suối một tí”. Thế là không ngần ngại, Nguyễn Chí Thanh ghé lưng, vén quần cõng anh cán bộ. Nửa chừng anh cán bộ liền hỏi: "Cậu ở đơn vị nào nhỉ?". Nguyễn Chí Thanh trả lời: "Tớ ở Tổng cục Chính trị". "Cậu làm gì ở đó?". Nguyễn Chí Thanh trả lời: "Tớ là Chủ nhiệm Tổng cục"!

Nghe vậy, người cán bộ định bỏ lưng ông, nhưng Nguyễn Chí Thanh điềm tĩnh nói: “Cậu cứ để yên” và ông đã cõng người cán bộ sang bờ bên kia. Lúc này, với giọng miền Trung nghiêm khắc, Nguyễn Chí Thanh nói: "Hôm nay tớ giúp cậu vì xét ra cậu cũng cần giúp nhưng nhớ lần sau đừng bắt anh em cõng như thế nữa nhé".


• Năm 1954, từ chiến khu trở về Hà Nội, cơ quan định bố trí cho gia đình ông một biệt thự đẹp bên hồ Trúc Bạch. Nhưng ông đã từ chối và đề nghị bố trí một chỗ ở trong khu quân đội. Ông nói: "Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, khó tránh khỏi chớm nở trong bộ đội tư tưởng đòi hưởng thụ. Mình ở nhà sang quá thì khó gần gũi anh em, mà có khi muốn nói điều cần nói cũng khó lọt tai người nghe".


• Cố nhà báo Hữu Thọ kể rằng, ngày về Hợp tác xã Đại Phong (Lệ Thủy, Quảng Bình) nghiên cứu tình hình, tổng kết công tác nông nghiệp, Đại tướng mặc bộ áo quần màu nâu, trên đầu mũ lá, lội đầm băng phá qua bao cánh đồng sâu. Nhiều lần ông còn ngồi bệt xuống đất ven bờ sông Kiến Giang trò chuyện với cán bộ xã và nông dân. Về kiểm tra một hợp tác xã ở Nam Định, ông hỏi vì sao năm qua số tiền bỏ vào xây dựng cơ bản chỉ có 600 đồng. Cán bộ hợp tác xã nói, chúng tôi không có “khả năng”.  “Thế tại sao các đồng chí lại có khả năng bỏ ra những 2.300 đồng để liên hoan các khoản?”-đồng chí Thanh hỏi.


• Nhà báo Hữu Thọ cho biết, khi tổng kết công tác, đồng chí Nguyễn Chí Thanh thường nêu những khẩu hiệu cổ vũ phong trào rất dễ nhớ. Với nông nghiệp, ai cũng nhớ câu “bám đội, lội đồng” thể hiện tác phong sát dân, sát đồng ruộng của người lãnh đạo, quản lý. Trong đánh Mỹ, ông nêu khẩu hiệu: “Nắm thắt lưng địch mà đánh”.


• Với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, “ở đâu nghèo đói gọi-xung phong; ở đâu tiền tuyến cần-anh đến”; thực hiện lời dạy của Bác Hồ, coi đạo đức của người cộng sản là gốc, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một trong những người tiên phong chống chủ nghĩa cá nhân trong quân đội.

ST từ nguồn: Báo QĐND Online

GIÁ TRỊ CỦA HÒA BÌNH


"Lịch sử của Việt Nam được viết bởi những cuộc chiến tranh và những chiến thắng. Đó là một nỗi niềm tự hào mà không phải dân tộc nào cũng có được, nhưng bên cạnh niềm tự hào thì còn những mất mát. Một thế hệ chiến thắng cũng chính là một thế hệ phải nếm trải đủ những đau thương."


Nhìn từ xung đột Ukraine - Nga, tôi càng thêm khâm phục những gì mà cha ông ta đã làm được hồi trước.


Không chấp nhận là một quốc gia thuộc địa, họ kiên cường đấu tranh trong bao nhiêu năm tháng. Họ thành lập quân đội, thành lập Việt Minh, đứng lên chống Pháp và Nhật. Họ đấu tranh bền bỉ, họ đánh Pháp ở Điện Biên Phủ. Họ khiến Pháp phải kí Hiệp định Genève qua đó Pháp phải rút quân khỏi Việt Nam và chấm dứt chế độ thực dân cho toàn cõi Đông Dương. 


Nhưng một lần nữa, lịch sử lại thử thách họ và đất nước “chia đôi”. Nhưng cuộc chiến lần này nhiều máu và nước mắt hơn. Và họ lại tiếp tục chiến đấu, hết lớp người này đến lớp người khác. Họ chiến đấu ở Quảng Trị, ở Củ Chi, ở Bến Tre, ở Trường Sơn… họ chống lại “những vũ khí hiện đại nhất thế giới lúc ấy” - trừ bom hạt nhân. Họ bắn rụng B52 - chiếc máy bay “vô đối” và không thể bị bắn hạ bấy giờ. Rồi một hiệp định nữa ra đời, người Mỹ phải rút quân và ngừng can thiệp vào Việt Nam. Đến mùa Xuân 1975, cuối cùng thì lãnh thổ Việt Nam thống nhất, họ nghĩ rằng đây sẽ là cuộc chiến cuối cùng của họ.


Nhưng chỉ ít lâu sau, một chế độ diệt chủng ra đời, hàng ngàn người ở Ba Chúc bị thảm sát, biên giới Tây Nam bị đe dọa. Họ đưa những bằng chứng xác thực ra quốc tế nhưng không mấy ai quan tâm và một lần nữa, họ lại phải cầm súng. Và ở phía Bắc, những  người đã-từng-là-đồng-chí tấn công Việt Nam, họ phải đối đầu với 2 kẻ địch một lúc. Kinh tế đi lùi mấy mươi năm, vừa phải chiến đấu, vừa phải chịu cấm vận, vừa phải chịu điều tiếng... 


Thật may là những điều trên đã là quá khứ. Nhưng hòa bình vẫn mới chỉ hơn 30 năm mà thôi, bằng khoảng ⅓ quãng thời gian chiến tranh ngày trước.


Có một đoạn hội thoại không rõ thực hư rằng: Có sợ không? - Sợ. Nhưng tại sao sợ mà vẫn đánh? - Sợ mất nước.


Đó là vì sao mà tôi ghét sự xét lại lịch sử, ghét những luồng tư tưởng “đa chiều” nhưng chỉ toàn là “chiều phía bên kia”. Cách đây ít năm, lần đầu tiên được xem đoạn clip về những người lính Hồng quân Ukraine bị lứa trẻ tạt nước và chửi bới, mình đã nghĩ rằng liệu những điều này liệu có xảy ra trong tương lai ở Việt Nam hay không? 


Nhìn về chiến tranh, để biết giá trị của hòa bình, nhìn về quá khứ để phát triển tương lai. Hãy nhìn về nước bạn, như Ukraine, Yemen, Syria… đã và đang trong vòng chiến để biết rằng cách đây nhiều năm, người nước ngoài nhìn về Việt Nam cũng như vậy. Đến nay, nhiều người nước ngoài vẫn nghĩ rằng Việt Nam vẫn còn chiến tranh, bạo lực, xung đột… 


Sau chiến tranh thì sẽ là hòa bình. Nhưng có một nghịch lý là, phần lớn những người đã chiến đấu trong chiến tranh lại sẽ không thấy được hòa bình. Và phần lớn những người sống trong hòa bình lại không biết được chiến tranh ác liệt, dã man như thế nào. Phim ảnh, báo chí hay những thước phim chưa bao giờ mô tả được hết những gì đã diễn ra.


Những người đã chiến đấu hết mình bằng tình yêu Tổ Quốc và niềm tin vào tương lai độc lập. Còn những người đang sống trong hòa bình, hãy kế thừa niềm tin đó và giữ vững giá trị của hòa bình. 



CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG!

         Thời gian qua, các đối tượng phản động, cơ hội chính trị có nhiều bài viết trên các mạng xã hội xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng, đặc biệt là công tác quy hoạch cán bộ nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
     Chúng ta đều biết, công tác cán bộ của Đảng, nhất là từ sau Đại hội XII của Đảng đã có nhiều điểm mới, được tập trung lãnh đạo toàn diện, đồng bộ và đạt được một số kết quả quan trọng, đội ngũ cán bộ ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Báo cáo chính trị và Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng tại Đại hội XIII của Đảng đã đề ra 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có nhóm nhiệm vụ, giải pháp: Tăng cường xây dựng Đảng về cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu.
     Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ... Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”.
     Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 50-QĐ/TW, về công tác quy hoạch cán bộ. Đây là sự cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII, Quy định nêu rõ 5 nguyên tắc, trong đó, bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, liên thông, công khai, minh bạch trong công tác quy hoạch cán bộ. Đẩy mạnh việc phân cấp phân quyền trên cơ sở nêu cao trách nhiệm của các cấp ủy, tăng cường kiểm tra, giám sát trong công tác quy hoạch cán bộ. Coi trọng chất lượng, bảo đảm cân đối, hài hòa, hợp lý giữa quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng; giữa đánh giá với quy hoạch, giữa cán bộ quy hoạch với cán bộ đương nhiệm… Quy hoạch cấp ủy các cấp phải gắn với quy hoạch lãnh đạo, quản lý; quy hoạch cấp dưới làm cơ sở cho quy hoạch cấp trên, gắn kết chặt chẽ quy hoạch cán bộ của các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị với quy hoạch cán bộ cấp chiến lược.
     Như vậy có thể khẳng định rằng những luận điệu của các đối tượng phản động, cơ hội chính trị đang xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, mục đích của chúng nhằm gây mất đoàn kết trong nội bộ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao cảnh giác, vạch trần và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái đó. Góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh./.
Yêu nước ST.

“CON NGƯỜI TA TRƯỚC HẾT PHẢI CÓ ĐẠO ĐỨC”


Cách đây 97 năm, ngày 14-5-1922, Nguyễn Ái Quốc tham dự cuộc biểu tình phản đối chiến tranh do Đảng Cộng sản Pháp và Công đoàn Cách mạng quận Seine tổ chức tại Paris.


Ngày 14-5-1924, tập san “Inprekorr” của Quốc tế Cộng sản đăng bài “Sự phá sản của chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc.


Nhân việc Albert Sarraut, nguyên Toàn quyền Đông Dương và từng là bộ trưởng Bộ Thuộc địa phải rời khỏi Chính phủ, bài viết đưa ra lời bình luận: “Việc cách chức này một lần nữa lại chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng chế độ thực dân Pháp đã phá sản”, đồng thời lên án: “Chế độ thực dân Pháp chỉ làm lợi cho một bọn đầu cơ, cho những tên chính khách bất lương và vô tài ở chính quốc, cho bọn buôn rượu và thuốc phiện, cho lũ con buôn vô liêm sỉ và bọn lý tài xấu xa”.


Ngày 14-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Hội đồng Chính phủ tiếp tục nghe phái đoàn Chính phủ từ Hội nghị trù bị ở Đà Lạt trở về báo cáo tình hình và bàn về một số vấn đề ngoại giao. Trong ngày, Bác còn gửi điện đến Cao ủy Đô đốc D’Argenlieu cảm ơn việc Chính phủ và Quốc hội Pháp đã đón tiếp trọng thị Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu đã đến nước Pháp. Bác bày tỏ: “Ao ước rằng những cuộc thương thuyết sau này tại Paris cũng sẽ thân mật như thế để mưu sự thịnh vượng chung cho cả hai dân tộc”.


Ngày 14-5-1954, Bác trả lời phỏng vấn của Hãng thông tấn Nam Dương Antara (Indonesia) sau một tuần Chiến thắng Điện Biên Phủ và vào thời điểm Hội nghị Genève đang họp. Bác nêu rõ quan điểm: “Nhân dân Việt Nam anh dũng chiến đấu, mục đích là thực hiện một nước hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do… Nhân dân Việt Nam luôn luôn muốn giành độc lập và giải phóng nước Việt Nam bằng con đường hòa bình... Lập trường của chúng tôi để thương thuyết với Pháp đặng ngừng bắn, đình chiến và lập lại hòa bình ở Đông Dương là: thật sự độc lập, thống nhất và dân chủ tự do... Thế giới hòa bình có thể thực hiện được nếu các nước trên thế giới, nhất là những nước lớn, đều sẵn sàng giải quyết những xích mích giữa các nước bằng cách thương lượng và nếu nhân dân thế giới không chịu để bọn gây chiến lừa phỉnh, mà tự nhận lấy trách nhiệm bảo vệ hòa bình thế giới… Tất cả các nước Á châu đã bị hoặc đang bị ngoại quốc nô dịch và biến thành thuộc địa phải cùng nhau đoàn kết để đấu tranh chống lại chính sách nô lệ và xâm lược ấy”.


Ngày 14-5-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường đi thăm và nghỉ ở Quế Lâm (Trung Quốc), nơi mà 20 năm trước Bác đã từng hoạt động sôi nổi nhằm chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng Tháng Tám 1945.


Ngày 14-5-1966, Bác đến thăm và nói chuyện với lớp huấn luyện đảng viên mới tổ chức tại Hà Nội để xác định phẩm chất của đảng viên trong thời kỳ cách mạng này và kết luận: “Con người ta trước hết phải có đạo đức, sống với nhau phải có tình, có nghĩa. Nếu đọc bao nhiêu sách chủ nghĩa Mác-Lênin mà sống với nhau không có tình, có nghĩa, thì chỉ là giáo điều, sách vở”.



ĐẢO GẠC MA NGÀY ẤY

 

Ai còn nhớ đảo GẠC MA ngày ấy

Đã lâu rồi nay trỗi dậy trong tôi

Đã trải qua ba mươi bốn năm rồi

Bọn người xấu sang đảo ta quấy rối

Dạ đen tối chúng đã gây bao tội

Đàn áp nước mình hòng cướp đảo của ta

Đảo GẠC MA thuộc quần đảo Trường Sa

Mấy nghìn năm lưu truyền trên sử sách

Vậy mà lòng tham chúng tìm mọi cách

Vẽ lại bản đồ hòng cướp của dân ta

Nước láng giềng to lớn thật xấu xa

Chúng hèn hạ tham lam tranh dành cùng nước nhỏ

Ai còn nhớ trận GẠC MA ngày đó

Mặt biển xanh đã nhuộm dòng máu đỏ

Sáu tư người chiến sỹ công binh

Chiến đấu ngoan cường đã anh dũng hy sinh

Họ ngã xuống và ra đi mãi mãi

Nhưng tên tuổi các anh vẫn còn ở lại

Trong lòng dân và Tổ quốc thân yêu

Biển đảo Trường Sa của ta đẹp rất nhiều

Vậy mà chúng ngang nhiên xây thành căn cứ

Đem quân sang xây pháo đài quân sự

Với mưu đồ hòng bá chủ Biển Đông 

Đảo GẠC MA ngày ấy bạn nhớ không ?

Bao người lính đã chìm sâu trong lòng biển

Mãi mãi không về bỏ lại những ước mơ

Biển đảo GẠC MA vẫn đẹp như thơ

Bởi linh hồn các anh vẫn ngày đêm canh đảo

Sóng căm hờn vẫn gầm gào như vũ bão

Muốn nhấn chìm quân xâm lược

....... hòng bá chủ biển đông 

Thơ : Bích Liên 

( kỷ niệm 34 năm ngày quân TQ sang quấy rối đảo GẠC MA

Ngày 14/3/1988

.........14/3/2022 )