Thứ Năm, 21 tháng 4, 2022

NHỮNG NGƯỜI TRUNG THÀNH VỚI TỔ QUỐC DÙ Ở ĐÂU, THỜI NÀO CŨNG ĐƯỢC TRÂN TRỌNG

 

NHỮNG NGƯỜI TRUNG THÀNH VỚI TỔ QUỐC DÙ Ở ĐÂU, THỜI NÀO CŨNG ĐƯỢC TRÂN TRỌNG

      Tổng thống Putin của liên bang Nga đã đối nhân, xử thế rất sâu sắc với nguyên soái của Liên Xô tên là : Dimitry Yazov 94 tuổi. Ông chưa được Liên Xô phong Anh hùng.

       Nguyên soái là người bị Litva xử vắng mặt 10 năm tù hồi tháng 3/2019.

       Trước đây ông cũng bị Yeltsin xử tù vì qui chụp cho ông tội "phản quốc", vì ông kiên quyết chỉ huy Hồng quân Liên Xô bảo vệ chế độ Xô Viết. Nhưng Liên Xô vẫn tan rả vì bọn phản bội phá hoại.

       Ngược lại, nguyên soái được TT Putin kính trọng. Dịp mừng 90 tuổi của ông được tổ chức tại Trung tâm VH các LLVT của LB Nga theo nghi lễ rất trang trọng.

       Nhân sinh nhật lần 90 của ông, TT Putin dự cùng Bộ trưởng Quốc phòng Nga, TT Putin đã tặng cho ông danh hiệu : Huân chương Alexander Nevsky. Ông đã có công lao tăng cường:

      1- Phòng thủ đất nước xảy ra khi có nguy cơ xấu.

      2- Có trách nhiệm góp phần xây dựng LLVT Nga, với việc giáo dục lòng yêu nước cho thanh niên Nga.

      3- Cá nhân TT Putin còn tặng ông chiếc đồng hồ làm kỷ niệm.

      4- Bộ trưởng QP Nga tặng ông : Một thanh kiếm, bản sao bộ hồ sơ cá nhân của ông, một bức họa chân dung của ông.

         Đeo huân chương xong, cầm thanh kiếm trên tay, nguyên soái nói: Tay ông vẫn còn vững vàng, kẻ thù biết rằng ông vẫn đang trên lưng ngựa.

          TT Putin phát biểu tại buổi mừng SN lần 90 của ông: Mong ông tiếp tục giúp đỡ LLVT Nga, tiếp tục giáo dục thế hệ trẻ Nga về tinh thần yêu Tổ Quốc.

           Đối nhân, xử thế của TT Putin rất nhân văn, sâu sắc. Là cái tát vào kẻ phản bội lại Liên Xô. Putin đã cứu nhân loại trên thế giới giảm hủy diệt vì chiến tranh. Putin đang trân trọng lịch sử của LB Xô Viết, CM tháng 10 Nga, tôn trọng Đảng CS LB Nga, trung thành với CN Mac-Lenin. Mặc dù ông không xưng danh là Đảng viên CS. St3447

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

VIỆT NAM BỎ PHIẾU TRẮNG TRONG MỘT NGHỊ QUYẾT "LÊN ÁN NGA XÂM LƯỢC UKRAINE" CỦA LIÊN HỢP QUỐC.

 

VIỆT NAM BỎ PHIẾU TRẮNG TRONG MỘT NGHỊ QUYẾT "LÊN ÁN NGA XÂM LƯỢC UKRAINE" CỦA LIÊN HỢP QUỐC.

Trung Quốc, Lào, Cuba, Nam Phi, Ấn Độ... cũng bỏ phiếu trắng như Việt Nam.

Belarus, Triều Tiên, Syria, Eritrea... bỏ phiếu chống.

Còn lại bỏ phiếu đồng ý. Đáng chú ý có Thái Lan vì không chịu được sức ép đã đồng ý lên án. Nhưng Thái Lan không tham gia vào trừng phạt Nga. St/3447

BÀI HỌC CHO NHỮNG KẺ MÊ MUỘI, ẢO TƯỞNG VỀ CHIẾC BÁNH VẼ CỦA MỸ VÀ CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY

"Chúng ta đã bị bỏ lại một mình trong cuộc chiến bảo vệ đất nước. Ai sẵn sàng sát cánh chiến đấu cùng chúng ta? Tôi chẳng thấy một ai", Zelensky phát biểu qua video rạng sáng nay. "Ai sẵn sàng đảm bảo tư cách thành viên NATO cho Ukraine? Ai cũng lo sợ. Tôi đã hỏi tất cả các đối tác liệu họ có đứng về phía chúng ta không? Họ đứng về phía chúng ta, nhưng không sẵn sàng đưa chúng ta vào cùng liên minh với họ. Hôm nay tôi đã trực tiếp hỏi 27 lãnh đạo châu Âu liệu Ukraine có được gia nhập NATO hay không. Mọi người lo sợ, không trả lời...".st/3447

⭐TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐẸP HƠN BAO GIỜ HẾT ..!

 

⭐TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐẸP HƠN BAO GIỜ HẾT ..!

TẠI SAO VIỆT NAM BỎ PHIẾU TRẮNG TẠI HĐBA LHQ ?

Xin trích phát biểu của Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng - Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh:

"Có người đã hỏi tôi "Các ông có sợ nước lớn buộc các ông phải chọn bên?". Tôi bảo "Chúng tôi chọn chính chúng tôi. Không ai và không nước nào có thể bắt Việt Nam phải chọn bên vì chúng tôi độc lập, tự chủ, giành và giữ độc lập bằng sức của mình".

Có những nước luôn nói, khi họ sinh ra thế giới này đã là của họ, họ sẽ lãnh đạo, chi phối thế giới, nhưng Việt Nam không như thế. Chúng tôi quan niệm, Việt Nam là của thế giới, Việt Nam vì thế giới, nhưng giá trị của Việt Nam là của Việt Nam và Việt Nam tự bảo vệ lấy".

Việt Nam có thể nhỏ về diện tích nhưng chưa bao giờ nhỏ về tầm vóc, không ai có quyền yêu cầu Việt Nam theo phe này, phe kia, trung lập hoặc chống lại bất cứ quốc gia nào! St/3447

 

NGƯỜI PHÁT NGÔN BỘ NGOẠI GIAO NGA TRẢ LỜI BÁO CHÍ VỀ SỰ XÚC PHẠM CỦA TRUYỀN THÔNG UCRAINA ĐỐI VỚI CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

NGƯỜI PHÁT NGÔN BỘ NGOẠI GIAO NGA

TRẢ LỜI BÁO CHÍ VỀ SỰ XÚC PHẠM CỦA TRUYỀN THÔNG UCRAINA ĐỐI VỚI CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Tại cuộc họp báo diễn ra hôm 6/4 vừa qua, bà Maria Zakharova, người phát ngôn Bộ ngoại giao Nga đã trả lời câu hỏi của các nhà báo trong và ngoài nước. Mình dịch một câu hỏi và câu trả lời trong số đó.

 Tạp chí “Đời sống quốc tế”(Международная жизнь) hỏi:

“Bà có thể nói gì về phản ứng ở Việt Nam trước việc các ấn phẩm của truyền thông Ukraine, trong đó Hồ Chí Minh được so sánh với Pol Pot và bị đổ lỗi cho cái chết của hàng trăm ngàn thường dân?”

Bà Maria Zakharova trả lời:

“Đó là một chuyện thật tồi tệ (Это отвратительная история). Xét về một khía cạnh, điều này là bình thường đối với chế độ Kiev và đối với những người đi theo xu hướng  xuyên tạc lịch sử. Lần này, nó lại đụng chạm đến Việt Nam, đất nước đã trải qua một chặng đường khó khăn trong cuộc đấu tranh giành độc lập và đã đạt được những thành công đáng kể về kinh tế - xã hội.

Đối với nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh, Người là lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc đã được toàn thế giới công nhận, là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông đã  nhiều lần đến thăm đất nước chúng tôi, là người bạn lớn của đất nước chúng tôi. Thực tiễn (nguyên bản: Ví dụ) Liên Xô đã truyền nhiều cảm hứng cho ông.

Ngày nay, Hồ Chí Minh, với tư cách là một nhân vật lịch sử, được đồng bào của ông yêu mến vô bờ bến, uy tín của Người là điều hiển nhiên trong cộng đồng tiến bộ quốc tế.

Đây là một vị anh hùng dân tộc, nếu như ta chưa nói đến tầm vóc  quốc tế của ông. Ông là một người được nhiều thế hệ và nhiều tầng lớp nhân dân, công chúng của một quốc gia cụ thể thừa nhận. Không cần các phương tiện truyền thông của chế độ Kiev thò mũi vào đó với các tiêu chuẩn luật lệ của họ. Thêm một lần nữa, hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa lại xuất hiện ở đây, nó được chế độ ở Kiev“dung nạp” hoặc “lây truyền”  kể cả mọi thứ liên quan đến nó. Lật bên phải và lật bên trái là sự bôi nhọ quá khứ của các quốc gia khác”.

(Hoá ra phản ứng của người dân VN trước việc kênh truyền hình 24 của Ukraina ngày 7/11/2017 đã phát bộ phim xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được báo giới và ngành ngoại giao Nga nắm rõ.

Những lời của bà Maria Zakharova cho thấy người phát ngôn BNG Nga hiểu biết rất rõ về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam và lịch sử của chúng ta) 3447/st

“Lá cờ mà vì nó cha mẹ tôi đã từng chiến đấu “

Đôi ba ngày nay, một đoạn video đang được lan truyền nhanh chóng trên Internet. 

Trong clip đó,  một bà cụ người Ukraina đã cầm quốc kỳ Liên Xô ra đón các quân nhân, mà bà nghĩ là họ là quân đội Nga.

Nhưng, bà đã nhầm. Các quân nhân đó là của  Lực lượng vũ trang Ukraina. Một trong số họ hỏi bà:

-Bà  có chờ đợi chúng tôi không?

- Có, tất nhiên, chúng tôi chờ đợi và cầu nguyện cho anh, cho Putin, và cho cả dân tộc.

“Bây giờ tôi sẽ cảm ơn bà,” quân nhân nọ vừa nói vừa đưa một túi quà viện trợ cho bà. Rồi anh ta hô “Vinh quang Ukraina”, giằng lá cờ đỏ, ném xuống đất và giẫm lên.

Nhìn thấy cảnh đó, bà cụ biết mình đã nhầm. Cụ đã đặt trả lại túi quà, rồi nói khảng khái:

"Tôi không cần. Anh đã giẫm lên lá cờ mà vì nó cha mẹ tôi đã chiến đấu»

Hành động dũng cảm, khảng khái của bà cụ người Ukraina đã gây xúc động đối với những ai biết tôn trọng lịch sử Xô viết. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, những người con của Liên Xô không phân biệt dân tộc Nga hay Ukraina, Gruzia hay Armenia, Uzbekistan hay Kazakhstan…đã sát cánh bên nhau chiến đấu, đổ máu hy sinh vì thắng lợi cuối cùng. Lá quốc kỳ Liên Xô đã tung bay trên nóc nhà Quốc hội Đức, cáo chung ngày tận thế của phát xít Đức vào tháng 5/1945. Vì lá cờ Chiến thắng đó, đã có 27 triệu người dân Xô viết đã nằm xuống vì sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, cứu nhân loại khỏi cơn ác mộng phát xít.

Hình ảnh bà cụ nhỏ nhắn choàng khăn xanh, cầm lá cờ đỏ đã được nhiều người coi là một biểu tượng. Họ vẽ lại hình ảnh của cụ lên tường, làm thơ về cụ…nhưng cũng đau lòng thay khi những người anh em cũ nay lại quay súng vào nhau. St/3447

PHẢN ĐỐI XẾP MÔN LỊCH SỬ LÀ MÔN TỰ CHỌN

 

PHẢN ĐỐI XẾP MÔN LỊCH SỬ LÀ MÔN TỰ CHỌN

(ĐƯỢC HIỂU LÀ KHÔNG THIẾT YẾU)

Gần đây, một số "chuyên gia" của Bộ Giáo dục đào tạo, một số giáo sư, tiến sĩ đăng đàn trên các mạng xã hội để nói bảo vệ cho quan điểm cho rằng môn Lịch sử là không thiết yếu bằng các môn toán, ngữ văn, ngoại ngữ. Theo tôi đây là một thủ đoạn "rút gạch chân tường".

Họ đưa ra cả một đống những ví dụ về nước này, nướckia đã không coi môn lịch sử là môn quan trọng, trong đó có Mỹ, các nước phương Tây, Israel  Australia.v.v... Không ai nhắc đến những trường hợp Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, CHDCND Triều Tiên, Cuba.v.v... vẫn duy trì môn lịch sử là môn bắt buộc. Vậy mục đích của các nước kia là gì ?

Tôi sẽ nói thẳng luôn là những nước muốn coi nhẹ môn lịch sử là gì. Đó là họ muốn xóa đi khỏi lịch sử nhân loại những tội ác tày trời mà họ đã gây ra khi thống trị các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam và nhiều quốc gia nhỏ yếu khác mà họ coi là mọi rợ, là dã man. Trong khi những tội ác của họ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ trong cuốn "Bản án chế độ thực dân Pháp" (xuất bản tại Parí năm 1921) còn cho thấy các chế độ thuộc địa còn độc ác và vô nhân đạo hơn cả những loài cầm thú.

Vì vậy, tôi xin gửi đến các bác lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đặc biệt tới Bộ Giáo dục đào tạo mấy ý kiến vắn tắt dưới đây:

1- Mỹ và phương Tây đang viết lại nhận thức về lịch sử thế giới theo hướng xuyên tạc:

- Đánh đồng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa phát xít.

- Phủ nhận độc lập, thống nhất dân tộc của Việt Nam, coi ngụy Sài Gòn là một quốc gia riêng, qua đó, âm mưu phục dựng "thây ma" ngụy Sài Gòn, dẫn đến sự vu cáo "miền Bắc xâm lược miền Nam".

- Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lịch sử hiện đại từ năm 1930 đến nay và quy kết Việt Nam đi theo chủ nghĩa xã hội, theo chủ nghĩa cộng sản là sai lầm.

2- Nhà cách mạng yêu nước Nam Phi Nelson Madela đã nhận định: "Muốn phá hủy một dân tộc, không cần đến vũ khí hạt nhân mà chỉ cần phá hủy lịch sử của nó". Điều này đã được chứng minh không chỉ ở Liên Xô mà còn ở Việt Nam. Trong 21 năm thống trị của giặc Minh (Trung Quốc), chúng đã đốt phá hầu hết các sách sử và văn chỉ của Việt Nam ta. Trong đó có cuốn Đại Việt Sử ký của sử gia Lê Văn Hưu (đời nhà Trần) đã vĩnh viễn thất truyền.

3- Nước nào coi nhẹ sử học thì kệ người ta. Đừng a dua như con gà thấy thóc vãi ra là chạy đến. Đã là người Việt thì phải gắng giữ lấy truyền thống lịch sử, phải dạy kỹ lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử thế giới.

4- Bác Hồ từng viết:

"Dân ta phải biết sử ta.

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"

Vậy mà không coi sử ta là môn quan trọng, thậm chí là đặc biệt quan trọng thì chỉ có thể là "MẤT GỐC".

Vì những lẽ trên, quan điểm của một số giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia biện hộ cho việc coi môn sử là môn học không bắt buộc là cực kỳ nguy hiểm, đặc biệt có hại cho nền giáo dục nước nhà. Cần phải phê phán, lên án. Một dân tộc mà không tôn trọng lịch sử của mình thì chỉ có thể làm nô lệ cho dân tộc khác mà thôi, bất kể kẻ muốn nô dịch ta là Mỹ, là Tàu, là Nhật.v.v...st/3447

QUYẾT LIỆT CHỐNG “CHẠY THÀNH TÍCH” VÀ “THỔI PHỒNG THÀNH TÍCH”

 


Trong 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân mà Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới chỉ ra, có hai lần từ “thành tích” được nhắc đến.

Đó là “chạy thành tích” và “thổi phồng thành tích”. Đây là mặt trái, cũng là biểu hiện của căn bệnh thành tích, nếu không sớm được phát hiện, ngăn chặn, triệt tiêu sớm sẽ làm ảnh hưởng xấu đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

Thành tích là kết quả được đánh giá tốt do nỗ lực mà đạt được. Do vậy, trong các phong trào thi đua cách mạng, thành tích là biểu hiện sinh động nhất của kết quả lao động, tinh thần dũng cảm chiến đấu, học tập chăm chỉ, công tác chuyên cần của một người hay một tập thể. Nên ai cũng quý thành tích là vậy!

Gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn phấn đấu không ngừng để đạt nhiều thành tích trên cả 3 chức năng của quân đội (đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động, sản xuất), góp phần bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc, chung tay vì sự bình yên của nhân dân, tạo ra nhiều của cải, vật chất làm giàu cho đất nước.

Phấn đấu để có thành tích không phải đơn giản, dễ dàng, mà phải bỏ ra nhiều tâm sức, trí tuệ, vượt nhiều gian khổ, khó khăn. Phấn đấu để ngày càng có thêm thành tích, cống hiến nhiều hơn cho cách mạng là yêu cầu của Đảng, của toàn dân, toàn quân đối với mỗi chúng ta, là thước đo đạo đức tài năng của mỗi cán bộ, đảng viên.

Đất nước ta sau hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Để đạt được mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần phát huy hơn nữa tinh thần cách mạng, khắc phục thái độ làm việc cầm chừng, dũng cảm vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, lập nhiều thành tích xuất sắc.

Tất cả mọi người, mọi cơ quan, đơn vị, địa phương đâu đâu cũng đều cố gắng thi đua lập thành tích thì sự nghiệp cách mạng, dù khó khăn, gian khổ đến mấy, cũng sẽ thắng lợi vẻ vang. Cho nên, chúng ta hết sức quý mến, cảm phục trước những con người, tập thể đã lập nên nhiều thành tích cho cách mạng, cho đất nước.

Đó là những tấm gương sáng để mọi người học tập và noi theo. Đảng, Nhà nước và các cấp, ngành, địa phương luôn quan tâm, khuyến khích động viên mọi người gắng sức để có nhiều thành tích. Những cá nhân và tập thể lập nhiều thành tích được biểu dương, khen thưởng bằng nhiều hình thức khác nhau; những cán bộ có nhiều thành tích được cất nhắc, đề bạt. Đó là sự ghi nhận cần thiết.

Có thể khẳng định: Thời gian qua, nhiều tập thể, cá nhân nhận thức đúng vấn đề thành tích và luôn ra sức phấn đấu để ngày càng có thêm nhiều thành tích với động cơ trong sáng, vô tư, đóng góp ngày càng nhiều vào sự nghiệp chung của cách mạng.

Tuy nhiên, cũng có một số cá nhân, đơn vị không có hoặc chưa có nhận thức và hành động đúng đắn trong vấn đề này. Biểu hiện là: Một số người, một số đơn vị khi đã có ít nhiều thành tích rồi thì sinh ra kiêu ngạo, tự mãn, ngủ quên trên “vòng nguyệt quế”, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên.

Tất nhiên, ai trong mỗi chúng ta đều có quyền tự hào với thành tích mình nỗ lực đạt được nhưng phải luôn giữ cho mình đức tính khiêm tốn, luôn xác định kết quả đạt được hôm nay chỉ là thành quả bước đầu trong cả quá trình phấn đấu lâu dài. Nếu ai cũng bằng lòng với thành tích đạt được hôm nay, không tiếp tục tự học tập, rèn luyện, vươn lên gặt hái những thành công tiếp theo thì sự nghiệp cách mạng sẽ chững lại, các phong trào thi đua thiếu đi động lực mới, quyết tâm mới.

Một số khác do mang nặng chủ nghĩa cá nhân mà mắc bệnh thành tích. Họ làm việc gì cũng chỉ vì thành tích, lúc nào cũng nghĩ đến thành tích. Vì mắc bệnh thành tích mà họ sẵn sàng làm gian dối; họ thích được ca ngợi, thích được khen thưởng, “thổi phồng thành tích” và thù ghét những ai “vạch mặt, chỉ tên” những hạn chế, khuyết điểm của mình.

Ở mức độ nghiêm trọng hơn, những người mắc bệnh thành tích còn “chạy thành tích” và "nặn ra thành tích" bằng cách lo lót cho một số cán bộ có chức quyền, báo cáo gian dối, xuyên tạc kết quả. Khi không lo lót được thì họ dùng những mánh khóe để đánh lừa cấp trên và dư luận...

Có thể nói, bệnh thành tích đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều cơ quan, đơn vị, hệ lụy dẫn đến là những báo cáo không trung thực, bao che khuyết điểm, thổi phồng thành tích. Căn bệnh này cần những “phương thuốc hữu hiệu” để chữa trị kịp thời, nếu không sẽ làm ảnh hưởng đến mặt tích cực của thành tích trong các phong trào thi đua cách mạng.

Để chữa căn bệnh này, trước hết mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng động cơ thi đua đúng đắn trong mỗi cán bộ, đảng viên. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Phải làm cho nhân dân, cán bộ, chiến sĩ hiểu được lợi ích của thi đua trên là vì nước, dưới là vì nhà, một là ích nước, hai là lợi dân.

Xác định động cơ đúng đắn thi đua vì lợi ích chung giúp mỗi cán bộ, đảng viên biết tự thanh lọc tâm hồn; nâng cao ý thức trách nhiệm, phòng ngừa những biểu hiện của bệnh thành tích; đồng thời, nỗ lực phấn đấu, cống hiến bằng chính năng lực của bản thân.

Mỗi cơ quan, đơn vị cần căn cứ vào điều kiện thực tế của mình, từ đó đăng ký các nội dung, phong trào, chỉ tiêu thi đua phù hợp. Tránh tình trạng phô trương, hình thức, dẫn tới chạy thành tích; đánh giá, khen thưởng không đúng người, đúng việc, đúng thành tích, gây ra những phản ứng ngược trong thi đua.

Chú trọng phát huy vai trò giám sát, đánh giá của các tổ chức quần chúng, đoàn thể trong thi đua. Đây được xem là biện pháp rất quan trọng để chữa trị bệnh thành tích. Bởi quần chúng vừa là người có “trăm tay, nghìn mắt”, vừa là người thực hành, giám sát những việc làm của cán bộ. Họ hiểu rõ hơn ai hết cán bộ nào có tài đức, vì lợi ích chung; cán bộ nào chỉ “sính” thành tích mà làm ẩu nhưng báo cáo hay.

Chú trọng phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là người đứng đầu trong việc công tâm, khách quan trong đánh giá, nhận xét thành tích các tập thể, cá nhân trong các phong trào thi đua. Trên thực tế, ở đâu người đứng đầu giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ kỷ cương, kỷ luật; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết thì sẽ chữa trị bệnh thành tích trong đơn vị một cách hiệu quả nhất.

Ngoài những giải pháp trên, để bệnh thành tích được ngăn chặn thì rất cần tới sự trong sáng, khách quan của các cơ quan chức năng trong xem xét, đánh giá để quyết định khen thưởng đúng người, đúng việc. Trong đó, các cơ quan chức năng cần thay đổi phương pháp đánh giá mang tính định lượng nhiều hơn thay cho định tính, theo từng tháng thi đua; có điểm “cộng” và “trừ” rõ ràng để tránh tình trạng những cơ quan, đơn vị làm nhiều nhưng chỉ vì một sơ suất nhỏ (chủ yếu do nguyên nhân khách quan) thì lại bị “trừ” hết thi đua.

Mặt khác, cần sự nghiêm minh và kiên quyết trong công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát; kịp thời loại khỏi đội ngũ số cán bộ, đảng viên mắc sai phạm trầm trọng bởi bệnh thành tích, góp phần ngăn ngừa và đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Nhận thức đúng đắn về thành tích để nỗ lực hơn nữa vì lợi ích chung, vì sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đồng thời triệt tiêu những mặt trái của bệnh thành tích, để cán bộ, chiến sĩ toàn quân tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp, danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội.

Qua đó, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội, các cấp ủy, tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; quân đội vững mạnh về chính trị; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng quân đội hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng. st/3447

 

Lời Bác Hồ dạy

 


 “…Trong lúc lật đổ những tường vách cũ kỹ và đang xây đắp những ngôi lâu đài mới thì chắc chắn không khỏi có những mụn bào gạch bể và những thứ ghét rác khác. Chúng ta sẽ quét sạch dần dần…”.

Trích trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời ông Hoàng Phan Kính và ông Trần Lê Hữu ngày 2 tháng 4 năm 1949. Bản chất câu nói đó của Bác, chính là sự đổi mới. Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy. Đổi mới là thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ đã lỗi thời, lạc hậu, bằng cách nghĩ, cách làm mới khoa học hơn, hiệu quả hơn, hợp với quy luật của sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm, nghệ thuật trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha, ông; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nhân loại, Bác đã cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, với bước đi, hình thức và cách làm phù hợp, không nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, không phủ định sạch trơn… với mục tiêu: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã và đang đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng.

Nhìn lại chặng đường hơn 30 năm đổi, Đảng ta đã đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu; đó là: Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Cùng với đổi mới và phát triển, phải kiên quyết đấu tranh xoá bỏ những tàn dư của xã hội cũ, nhất là những tập tục, nếp nghĩa, cách làm đã lạc hậu; đổi mới, phát triển, đồng thời phải biết kế thừa những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp..

Thấm nhuần lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, mà thường xuyên, trực tiếp là Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân đã luôn đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trong lộ trình tiến lên hiện đại đã lựa chọn, ưu tiên, đầu tư cho một số quân, binh chủng, vừa bảo đảm việc tăng cường sức mạnh và tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, vừa không ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội. Trên mọi lĩnh vực công tác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng đổi mới, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, huấn luyện, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật hiện có và mới, hiện đại được biên chế, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.st/3447

Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với kiểm tra, giám sát phòng, chống tham nhũng.

 

Nghiên cứu nhằm đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn là công việc cần thiết trong xây dựng Đảng. Trong bài, tác giả đã đề cập một số nội dung của Đề tài độc lập cấp quốc gia với chủ đề trên do TS. Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm Chủ nhiệm đề tài.

 1. Quan niệm về đổi mới nội dung lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng

Nội dung lãnh đạo của Đảng rất rộng, bao quát tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế - xã hội - văn hoá, đối nội, đối ngoại, an ninh - quốc phòng... Có thể khái quát các nội dung lãnh đạo của Đảng trên các mặt sau: một là, nội dung lãnh đạo về chính trị; hai là, nội dung lãnh đạo về tư tưởng; ba là, nội dung lãnh đạo về tổ chức và thực hiện. Nội dung lãnh đạo của Đảng thể hiện ở chiến lược, sách lược - Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị… do Đảng đề ra và lãnh đạo, tổ chức thực hiện trong từng giai đoạn cách mạng được cụ thể hoá trong các văn bản (nghị quyết, chỉ thị, kết luận...) của Đảng. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị có khác nhau phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò của tổ chức đó.

Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) ngày 21-8-2006 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã thẳng thắn thừa nhận: Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Nguyên nhân là do cơ chế, chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở, nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung. Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, của bộ máy nhà nước nói riêng, còn nhiều khuyết điểm, chất lượng và hiệu quả chưa cao. Chưa thực sự dựa vào dân và chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống. Không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp, còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức; chưa đi đầu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Cần phải đẩy mạnh toàn diện và kiên quyết cuộc đấu tranh này. Đồng thời, đề ra mục tiêu, quan điểm, chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, trong đó có chủ trương, giải pháp về công tác kiểm tra, giám sát là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng, tăng cường giám sát của nhân dân và các cơ quan dân cử.

Sau 6 năm thực hiện Nghị quyết Trung 3, Hội nghị Trung ương 5 (khoá XI) ban hành Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-5-2012, trong đó đánh giá những nội dung đã làm được, những hạn chế, yếu kém, tiếp tục khẳng định những mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp cần phải tăng cường thực hiện.Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) và hơn 4 năm thực hiện Kết luận 21-KL/TW, Bộ Chính trị (khoá XII) ban hành Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26-12-2016 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X), trong đó nhấn mạnh phải kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ. Quy định rõ chế tài xử lý đối với người kê khai tài sản không trung thực. Xây dựng đề án tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực; thiết lập cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực thật sự có hiệu lực, hiệu quả để ngăn ngừa tham nhũng, lãng phí. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí nói chung, nhất là đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng nói riêng còn thể hiện rõ trong nhiều văn bản của Đảng đối với  công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng. Gần đây, Quy định số 01-QĐ/TW ngày 10-5-2018 của Bộ Chính trị (khoá XII) về trách nhiệm và thẩm quyền của uỷ ban kiểm tra trong công tác phòng, chống tham nhũng đã quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của uỷ ban kiểm tra từ cấp huyện và tương đương trở lên, trong đó quy định rõ nội dung về trách nhiệm, thẩm quyền của uỷ ban kiểm tra trong phòng ngừa và phát hiện tham nhũng; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo và xử lý hành vi tham nhũng.

Nội dung các văn bản trên đã thể hiện sự đổi mới nội dung lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng.

2. Quan niệm về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng

Mỗi bước trưởng thành của Đảng, của hệ thống chính trị đòi hỏi phải có sự cải tiến, đổi mới phương thức lãnh đạo. Phương thức lãnh đạo của Đảng vừa tuỳ thuộc, vừa phản ánh sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lý luận và thực tiễn cho thấy, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng được thể hiện qua 5 phương thức lãnh đạo của Đảng. Một là, Đảng lãnh đạo bằng các chủ trương, nghị quyết, quy định, quy chế, kết luận về công tác kiểm tra, giám sát nói chung, kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng nói riêng. Hai là, lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên thể hiện qua việc kiện toàn uỷ ban kiểm tra các cấp và củng cố, kiện toàn cơ quan uỷ ban kiểm tra (lãnh đạo bằng công tác tổ chức - những nhiệm kỳ vừa qua, uỷ ban kiểm tra các cấp được tăng cường, củng cố, quy định số lượng thành viên uỷ ban, quy chế làm việc của uỷ ban kiểm tra...). Ba là, lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát thể hiện ở công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng vừa qua, nhất là từ đầu Đại hội XII đến nay được đổi mới, tăng cường cả về nguyên tắc, nội dung, nhiệm vụ, quyền hạn và phương pháp, quy trình. Bốn là, lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động về công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng. Năm là, lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên trong công tác kiểm tra, giám sát việc phòng, chống tham nhũng...

3. Sự cần thiết phải đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát phòng, chống tham nhũng

Xuất phát từ lý luận

Để thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả mục tiêu, nội dung đã đề ra, Đại hội XII của Đảng đã yêu cầu phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: Nâng cao hiệu quả thực hiện và tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh đạo thể chế hoá các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phát huy mạnh mẽ vai trò, hiệu lực của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị hoạt động năng động, có hiệu lực và hiệu quả.

Tiếp tục cụ thể hoá phương thức lãnh đạo của Đảng được xác định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Đảng ta yêu cầu: “Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi, khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế khuyến khích và bảo vệ tổ chức, cá nhân phát hiện, tố cáo tham nhũng, lãng phí.

Công tác kiểm tra, giám sát là bộ phận cấu thành quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Đảng ta đã nhận thức rõ: Công tác kiểm tra, giám sát có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Kiểm tra, giám sát và giữ gìn kỷ luật là nhiệm vụ của toàn Đảng. Không kiểm tra, giám sát coi như không lãnh đạo. Ngay từ ngày thành lập, Đảng ta đã rất quan tâm, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát và việc giữ gìn kỷ luật đảng. Trong các văn kiện, Điều lệ Đảng, các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng… đều đề cập và nhấn mạnh đến công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Đảng ta luôn yêu cầu, phải tăng cường công tác kiểm tra và giám sát của Đảng đối với cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, đồng thời chỉ rõ: Hiệu lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện đòi hỏi phải hết sức coi trọng và tăng cường công tác giám sát và kiểm tra việc thực hiện. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, việc đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng là tất yếu và rất quan trọng.

Xuất phát từ thực tiễn

Đại hội X của Đảng chỉ rõ: Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng. Chậm nghiên cứu và ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước, chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc, thực hiện nói đi đôi với làm; tình trạng nói nhiều làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi. Do đó, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết và quan trọng.

Trong hơn 30 năm đổi mới, công tác kiểm tra, giám sát đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đường lối, quan điểm, các nguyên tắc của Đảng; thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; góp phần tăng cường, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất và nâng cao, hoàn thiện nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng… Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm chưa cao, chưa đủ sức góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng. Nhiều khuyết điểm, sai lầm của tổ chức đảng, đảng viên chậm được phát hiện, kiểm tra, xử lý hoặc xử lý kéo dài, nên kỷ cương, kỷ luật ở một số nơi chưa nghiêm; chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát. Chính vì vậy, nhiều vụ việc xảy ra mới đi kiểm tra, làm rõ sai phạm hoặc chủ yếu do nhân dân phát giác, tố cáo và công luận phản ánh dẫn đến một số tổ chức đảng và đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, chủ nghĩa cá nhân phát triển, thoái hoá về phẩm chất, đạo đức, lối sống.

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình hình trên là nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng chậm được đổi mới. Cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực trong phòng, chống tham nhũng còn bất cập; chưa có cơ chế hữu hiệu ngăn chặn sự tác động vào quá trình phát hiện, điều tra, xử lý tham nhũng. Thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng còn chưa nghiêm... Những người có chức vụ, quyền hạn có thể lợi dụng để tham nhũng hầu hết là đảng viên, chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng và giám sát của Nhân dân. Song, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng. Tham nhũng với biểu hiện ngày càng tinh vi. phức tạp, xảy ra trên diện rộng, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, đang là vấn đề thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Điều này chứng tỏ nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng còn bất cập, hạn chế, phải tiếp tục đổi mới. Cần nhận thức rõ đổi mới nội dung, phương thức kiểm tra, giám sát nói chung, trong công tác phòng, chống tham nhũng nói riêng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng.

Trong lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát, các cấp uỷ cần quan tâm và coi trọng việc nghiên cứu lý luận và tổng kết phương thức lãnh đạo đối với công tác kiểm tra, giám sát nói chung, trong đổi mới công tác kiểm tra, giám sát phòng, chống tham nhũng nói riêng để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tiếp tục tổ chức tốt việc quán triệt, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn Đảng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng Đảng và trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và trong phòng, chống tham nhũng nói riêng.  Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng từ khâu xây dựng, ban hành đến việc lãnh đạo tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng và thực hiện tốt dân chủ trong nội bộ Đảng. Đổi mới và hoàn thiện phong cách kiểm tra, giám sát, tập trung vào xây dựng phong cách người đứng đầu và phong cách kiểm tra, giám sát theo phong cách Hồ Chí Minh. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, đặc biệt là giám sát của nhân dân đối với tổ chức đảng, đảng viên; kết hợp chặt chẽ giám sát trong Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân; coi trọng việc xây dựng hệ thống phản biện xã hội đối với hoạt động lãnh đạo và kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng. 

Một số giải pháp xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng.

 Những năm qua, công tác xây dựng, củng cố TCCSĐ được các tỉnh ủy, thành ủy quan tâm thường xuyên; chỉ đạo thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, củng cố TCCSĐ yếu kém và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị.

Hoàn thiện mô hình TCCSĐ

Giải pháp củng cố TCCSĐ được các tỉnh, thành ủy thực hiện có hiệu quả là hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình TCCSĐ theo hướng gắn TCCSĐ với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội; chăm lo kết nạp đảng viên, nhất là ở những địa bàn, đơn vị chưa có tổ chức đảng. Ban Thường vụ (BTV) Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu đã sắp xếp, chuyển giao một số tổ chức đảng thuộc ngành dọc, theo Kết luận 31-KL/TW ngày 6-11-2008 của Ban Bí thư. Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết số 22 -NQ/TW ngày 30-1-2008 về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, các cấp ủy trực thuộc Tỉnh ủy đã thành lập mới 78 TCCSĐ, 563 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở. Hầu hết các TCCSĐ đều rà soát, bổ sung xây dựng quy chế hoạt động kịp thời sau khi tổ chức đại hội hoặc khi thành lập mới, kể cả những nơi thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn; bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Quy chế làm việc quy định rõ thẩm quyền trách nhiệm của tập thể cấp ủy, cá nhân và có chế tài xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm.

Từ năm 2008 đến năm 2018, Tỉnh ủy Tây Ninh đã thành lập, chia tách, sáp nhập, giải thể 146 TCCSĐ (thành lập, chia tách 75; sáp nhập 48; giải thể 10); thành lập mới 7 đảng bộ bộ phận ấp và 374 chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo ban thường vụ các huyện ủy và Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh chuyển giao 18 TCCSĐ loại hình doanh nghiệp về Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp tỉnh; chuyển giao 2 chi bộ trong doanh nghiệp tư nhân ra ngoài tỉnh; giữ ổn định mô hình tổ chức đối với các TCCSĐ thuộc loại hình doanh nghiệp nhà nước có mối quan hệ gắn bó về quyền lợi, chính sách xã hội và ảnh hưởng lớn với nông dân tại địa phương như: Công ty Cao su Tân Biên, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xí nghiệp Thủy lợi tỉnh...

Thực hiện Hướng dẫn số 38-HD/BTCTW ngày 9-3-2010 của Ban Tổ chức Trung ương về xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức trong các loại hình TCCSĐ, BTV Tỉnh uỷ Tây Ninh xây dựng kế hoạch và triển khai thí điểm sáp nhập 50 chi bộ cơ sở cơ quan đảng, đoàn thể, chính quyền để thành lập 4 đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ TP. Tây Ninh và Đảng bộ huyện Châu Thành. Đến nay, các tổ chức đảng bước đầu ổn định về mặt tổ chức, đi vào hoạt động theo mô hình mới. Trong thời gian thí điểm, tỉnh đã thực hiện chi phụ cấp trách nhiệm (bằng 0,2 mức lương tối thiểu) cho cấp ủy viên các chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở này. Nhìn chung, việc thành lập, sắp xếp lại các mô hình tổ chức đảng cơ bản đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở cơ sở, tạo thuận lợi trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, mô hình này cũng đang có những khó khăn do chưa có quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, các cấp ủy còn lúng túng trong xây dựng quy chế, nghị quyết, kế hoạch hoạt động.

Chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ

Chất lượng sinh hoạt chi bộ là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng hoạt động của mỗi tổ chức đảng. Các tỉnh ủy, thành ủy luôn chú trọng chỉ đạo các TCCSĐ không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhằm tăng cường tính giáo dục, tính chiến đấu của mỗi tổ chức đảng. Ở Bà Rịa - Vũng Tàu, việc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ được các tổ chức đảng thực hiện thường xuyên, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII). Các cấp ủy đảng đã quán triệt các chi, đảng bộ khi  kiểm điểm tự phê bình và phê bình phải chú trọng nhận diện 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để từng cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên “tự soi”, “tự sửa”. Tại nhiều cơ sở, đảng viên mạnh dạn, thẳng thắn thảo luận, bàn bạc tham góp ý kiến xây dựng chi bộ. Thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, BTV Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch số 36-KH/TU ngày 23-11-2007 và nhiều văn bản để chỉ đạo triển khai, đồng thời tiến hành khảo sát, đánh giá tình hình triển khai và tổ chức sinh hoạt ở một số chi bộ cơ sở, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở. Bên cạnh đó, đã thành lập 9 Tổ công tác của Tỉnh ủy theo dõi, giám sát, dự sinh hoạt chi bộ ở các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, phân công các đồng chí Ủy viên BTV Tỉnh ủy làm tổ trưởng. Đối với các cấp ủy trực thuộc cũng thành lập 119 tổ công tác theo dõi, giám sát thực hiện nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.

BTV Tỉnh uỷ Tây Ninh đã quan tâm chỉ đạo nhiều chủ trương, giải pháp nhằm xây dựng, củng cố TCCSĐ, trong đó chú trọng xây dựng TCCSĐ tại 5 huyện biên giới; thực hiện mục tiêu xây dựng các TCCSĐ ở 20 đảng bộ xã biên giới trong sạch, vững mạnh, không có TCCSĐ yếu kém theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra. BTV tỉnh chỉ đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy triển khai ứng dụng Đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”; chỉ đạo Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp các huyện ủy biên giới lãnh đạo thực hiện tốt việc giới thiệu đảng viên đồn biên phòng tham gia sinh hoạt tại chi bộ ấp, nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ, xây dựng địa bàn biên giới vững mạnh.

BTV Tỉnh ủy Bình Định chỉ đạo thực hiện chủ trương tăng cường cán bộ chỉ huy đồn biên phòng tham gia đảng ủy các xã khu vực biên giới biển từ năm 2011, đến năm 2015 đã có 17 cán bộ chỉ huy đồn biên phòng có quyết định tham gia đảng ủy xã. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quy định số 04-QĐ/TU ngày 22-3-2013 về “Trách nhiệm, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng viên đồn biên phòng tham gia sinh hoạt tại chi bộ thôn, khu vực thuộc đảng bộ các xã, phường”, đến nay đã có 36 lượt đảng viên là bộ đội biên phòng sinh hoạt tại 28 chi bộ thôn, khu vực thuộc 21 đảng bộ xã, phường trong tỉnh.

Chủ trương trên đã giúp cho các đảng ủy xã và đồn biên phòng kịp thời nắm bắt tình hình, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị; chủ động, kịp thời trao đổi thông tin, tham mưu cho đảng ủy các xã có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác quốc phòng, an ninh; đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho đồn biên phòng tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở các xã vùng biển, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc ở khu vực biên giới biển, nâng cao hiệu quả công tác biên phòng, xây dựng địa bàn vững mạnh về mọi mặt, nhất là xây dựng nông thôn mới.

Tập trung củng cố TCCSĐ yếu kém

Tỉnh ủy Bình Định xác định, trong củng cố TCCSĐ không hoàn thành nhiệm vụ cần phải thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, giám sát gắn với trách nhiệm cụ thể. Việc này phải được thực hiện thường xuyên, không chỉ “khắc phục” mà còn để phòng ngừa các tổ chức đảng lơ là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo. Bởi, nguyên nhân của việc TCCSĐ không hoàn thành nhiệm vụ là do tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên chưa cao. Một số cán bộ, đảng viên chưa ý thức với trách nhiệm được giao. Bên cạnh đó, công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi nhiệm vụ của một số cấp ủy, tổ chức đảng thiếu chặt chẽ, dẫn đến chất lượng hoạt động và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ còn hạn chế.

Năm 2018, tỉnh Bình Định có 636 TCCSĐ được đánh giá, xếp loại chất lượng, trong đó có 5 TCCSĐ không hoàn thành nhiệm vụ, gồm đảng bộ các xã Mỹ An (Phù Mỹ), Hoài Thanh Tây (Hoài Nhơn), An Quang, Canh Thuận (Vân Canh) và Đảng bộ Khối chính quyền huyện An Lão. Đối với chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, có 3.403/3.443 chi bộ được đánh giá, trong đó có 12 chi bộ không hoàn thành nhiệm vụ. Các TCCSĐ không hoàn thành nhiệm vụ do để xảy ra sai phạm trong quản lý tài chính ngân sách, quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy...., gây dư luận không tốt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của đảng bộ.

Xác định được nguyên nhân chính, từ đó  ngăn ngừa sai phạm, Huyện ủy Hoài Nhơn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; chú trọng kiểm tra, giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề đối với các ngành thuộc UBND trong thực hiện nhiệm vụ được giao, đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chính quyền trong thực hiện quy chế làm việc. Qua đó, kịp thời phát hiện, góp ý, nhắc nhở, chấn chỉnh, không để xảy ra vi phạm.

Quá trình củng cố TCCSĐ không hoàn thành nhiệm vụ, các cấp ủy ở Bình Định luôn nhấn mạnh đến vai trò của người đứng đầu, người được phân công phụ trách. BTV Huyện ủy Vân Canh phân công đồng chí Ủy viên BTV, Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy là tổ trưởng tổ công tác theo dõi, chỉ đạo, giám sát Đảng bộ xã Canh Thuận. Cùng với việc phân công nhiệm vụ, gắn trách nhiệm cụ thể, Huyện ủy cũng xác định, việc củng cố, kiện toàn nhân sự cấp ủy, nhất là nhân sự người đứng đầu, ổn định tình hình địa phương là giải pháp tiên quyết. Đồng thời, quá trình khắc phục phải gắn với trách nhiệm của ủy viên BTV, đảng viên đương chức ở cấp huyện được phân công phụ trách; khi TCCSĐ, chi bộ hoàn thành hoặc không hoàn thành nhiệm vụ thì người phụ trách địa bàn không thể xếp loại cao hơn.

Hằng năm, BTV Tỉnh ủy Vĩnh Long xây dựng kế hoạch kiểm tra đối với cấp ủy cấp dưới về việc chỉ đạo thực hiện nghị quyết năm, các kế hoạch, chương trình, mục tiêu, chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, chấp hành Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Qua kiểm tra, giám sát đã kịp thời xử lý tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, phát hiện những hạn chế, yếu kém và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của cơ sở, cho ý kiến chỉ đạo trực tiếp giúp cơ sở điều chỉnh, bổ sung các giải pháp tổ chức thực hiện, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.

Trong 10 năm thực hiện Nghị quyết 22, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long đã xử lý kỷ luật 7 TCCSĐ và 1 chi bộ trực thuộc; xử lý kỷ luật 1.574 đảng viên (trong đó, khiển trách 692, cảnh cáo 560, cách chức 115, khai trừ 207). Việc chú trọng công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm theo Điều lệ Đảng đã giúp các cấp ủy phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và đảng viên vi phạm khuyết điểm để đấu tranh, ngăn chặn.

Trong thời gian qua, các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh và TP. Cần Thơ duy trì tốt việc phân công các đồng chí Ủy viên BTV Tỉnh ủy trực tiếp phụ trách địa bàn các huyện, thành phố; các huyện, thành phố phân công các đồng chí ủy viên BTV huyện ủy, thành ủy phụ trách địa bàn các xã, phường, thị trấn. Việc phân công ủy viên BTV đã giúp cấp ủy cấp trên nắm tình hình cơ sở và chỉ đạo giải quyết các vấn đề nổi cộm, bức xúc trong nhân dân, uốn nắn, chấn chỉnh kịp thời những biểu hiện lệch lạc, sai trái, qua đó nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đề xuất với cấp ủy, chính quyền giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc ở cơ sở. 

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ BÔI NHỌ, KÍCH ĐỘNG!

         Cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), những kẻ "lật sử" lại tìm mọi cách để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam và công cuộc thống nhất đất nước của toàn dân ta.
Lợi dụng tính đại chúng của mạng xã hội, thành phần bất mãn mượn cớ khoa học hay tự xưng là “người cầm bút chân chính” đăng đàn các nội dung cho rằng, có những sự thật lịch sử, nhân vật lịch sử trong dịp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cần phải xem xét lại (!). Một số kẻ giở trò “nước mắt cá sấu” để kêu thay, vái đỡ cho nhóm người bất mãn, “bên kia chiến tuyến” với luận điệu "thống nhất đất nước là sai lầm" (!); nhiều người đang tha hương, lưu lạc, vì sợ mà không dám trở về quê hương... Dù xảo quyệt đến đâu, ngôn từ có hùng hồn hay tỏ ra bi lụy thì tựu trung lại, chúng đều tỏ rõ bộ mặt thật của những kẻ có mưu đồ bất chính, hòng phủ nhận các giá trị lịch sử dân tộc, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất Bắc-Nam một nhà.

Lật tẩy chiêu trò bôi nhọ, kích động
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 
Thực tế là, bao thế hệ cha anh đã đoàn kết một lòng, không tiếc máu xương để đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, đập tan ngụy quân, ngụy quyền, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Những chiến sĩ cách mạng bước ra từ cuộc chiến ấy mỗi người một công việc, tiếp tục cống hiến, chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải như luận điệu của các thế lực thù địch, bất mãn đang rêu rao rằng có nhiều người đang “tranh công, đổ lỗi...”.

Bên cạnh đó, với chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta luôn sẵn sàng chào đón tất cả kiều bào trở về đóng góp cho quê hương, đất nước... Nhiều năm qua, các hoạt động chăm lo cho kiều bào ta ở nước ngoài đã được tổ chức thiết thực. Nhà nước luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện để kiều bào trở về quê hương, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dĩ nhiên, chẳng ai lại chào đón những thành phần bất mãn, thù địch, có âm mưu chống phá.

Và sự thật không ai có thể phủ nhận là, cứ mỗi dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tất cả người dân đất Việt đều tự hào với hai tiếng Việt Nam, đều xúc động rưng rưng khi giai điệu hùng hồn của bản Quốc ca vang lên dưới cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, bởi đất nước thống nhất giúp toàn dân tộc không phải chịu cảnh ly tán, khổ đau do cùng dòng tộc, thân thiết với nhau mà phải chia ly, cách biệt. Chắc chắn cũng chẳng luận điệu nào có thể làm lu mờ chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"./.
Yêu nước ST.

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN,

 

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

TĂNG CƯỜNG SỨC ĐỀ KHÁNG VĂN HOÁ ĐỂ CHỐNG XÂM LĂNG VĂN HOÁ!

         Triết học văn hóa lấy con người là nội dung cơ bản của văn hóa, con người vừa là chủ thể sáng tạo vừa là đối tượng thụ hưởng văn hóa. Con người trong xã hội hiện đại chủ yếu thể hiện năng lực của mình qua tư cách văn hóa, đồng thời con người cũng là thước đo văn hóa của đất nước, dân tộc, thời đại. Do vậy, nhiều người đã rất đúng khi cho rằng, nói đến văn hóa là nói đến con người, phát triển văn hóa là phát triển con người, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người!
     Vấn đề không mới nhưng chúng tôi xin nói lại như vậy để làm điểm tựa cho bài viết của mình: Tăng cường sức đề kháng văn hóa để chống xâm lăng văn hóa. Rõ hơn là xem xét các giải pháp tăng cường sức đề kháng văn hóa cho con người.

1. Trong hoàn cảnh toàn cầu hóa hiện nay, đặc biệt là sự phát triển vũ bão của internet, của các phương tiện truyền thông, thì cả thế giới như trở thành một... cái làng. Chỉ ngồi một chỗ và qua một cú nhấp “chuột”, người ta cũng có thể biết được tin tức mới mẻ nhất ở mọi nơi trên hành tinh. Chưa bao giờ cầu nối giữa con người với con người, quốc gia với quốc gia, và dĩ nhiên cả cầu nối giữa các nền văn hóa bị rút ngắn đến mức thấp nhất như vậy. Điều ấy cũng là sự minh chứng cho môi sinh văn hóa của con người đang ngày càng bị thu hẹp. Một môi sinh chật chội cả về nghĩa đen và nghĩa bóng. Chỉ vài chục năm về trước muốn giao tiếp với ai, muốn đi đến một nơi nào đó, với phương tiện nhanh nhất cũng phải đi cả ngày, có khi cả tuần. Ngày nay, chỉ cần cầm lấy điện thoại di động, muốn biết gì chỉ cần vào mạng… Con người ngày một đông lên, xu hướng đô thị hóa ngày một tăng cao, rồi bị hít thở khói bụi công nghiệp, phải nghe bao tiếng ồn, phải chứng kiến bao tai họa của nhân tai và thiên tai… Cả thế giới này như dồn lại, co lại, chồng lấn, chèn ép nhau. Thế là cả không gian vật lý và không gian tâm lý đều tạo ra cảm giác chật chội. Mà chật chội thì thường gây khó chịu, căng thẳng. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến con người dễ bị bức xúc trước một vấn đề có khi chỉ là nhỏ nhặt. Từ bức xúc dẫn đến manh động là khoảng cách không xa. Tình hình sẽ ngày càng phức tạp hơn nếu con người không có cách giải quyết phù hợp.

2. Tiếp biến văn hóa là một khuynh hướng không thể cưỡng lại. Tiếp biến bao giờ cũng có hai mặt. Con người luôn được tiếp nhận cả mặt tích cực lẫn tiêu cực từ khắp nơi trên thế giới. Điều quan trọng nhất là phải bồi dưỡng một bản lĩnh văn hóa cần thiết để chế ngự cái xấu mà tiếp thu cái tốt. Ví dụ, rất khó để ngăn cấm trẻ em vào các trang mạng xấu trên internet, do vậy chỉ có cách giáo dục cho các em phân biệt ở tuổi ấy thì nên đọc, nên xem những khu vực kiến thức này, ở các địa chỉ kia… Vì thế giải pháp cơ bản, quan trọng nhất là giáo dục nhân cách văn hóa. Nhất là ở độ tuổi mẫu giáo, tiểu học thì điều trước tiên là quan tâm đến việc dạy người trước rồi mới dạy chữ. Cách dạy nhồi nhét kiến thức ở cấp tiểu học (và cả trung học cơ sở) hiện nay vừa phản khoa học vừa phản văn hóa, vì nó bắt các em làm người lớn quá sớm, vất vả quá sớm, khôn quá sớm so với độ tuổi cần được chơi nhiều hơn học. Trong việc dạy người thì phải coi trọng hàng đầu cách ứng xử văn hóa. Câu chuyện thầy đánh trò rồi trò đánh lại thầy vừa qua chính là sự minh chứng cho người thầy đã không coi trò như một nhân cách văn hóa mà đối xử với trò quá thô bạo. Còn trò đánh lại thầy thì quả là sự không thể chấp nhận vì nó vi phạm nghiêm trọng một mẫu mực trong ứng xử văn hóa truyền thống giữa người với người. Lại có những người trẻ muốn thể hiện cái tôi lớn thì viết tên mình (có khi còn làm thơ) lên di sản thiên nhiên hay di sản văn hóa. Đó là lối ứng xử rất đáng chê, vì họ không hiểu giá trị nhân văn của thiên nhiên, của quá khứ lịch sử. Điều này cho thấy chúng ta chưa quan tâm đúng mức tới việc giáo dục tư cách văn hóa cho trẻ em. Có một thực tế dễ thấy: Trong nhà trường phổ thông hôm nay môn giáo dục công dân chưa được đánh giá đúng, bị coi là môn phụ, thậm chí giáo viên nào dạy cũng được. 

3. Hiện nay trẻ em mê chơi game trên mạng (mà là những trò độc hại xa lạ với văn hóa Việt) hơn mê học bài; biết tên các danh thủ bóng đá, các tài tử nghệ thuật thế giới hơn là biết các danh nhân văn hóa Việt Nam… Cũng dễ hiểu, vì chúng không có chỗ chơi, không có trò chơi hấp dẫn. Các trò chơi có trong truyền thống hàng ngàn năm như đi kheo, đánh khăng, nhảy dây, chơi đu… phù hợp với thể chất, tính cách người Việt thì hầu như bị quên lãng. Do vậy, cần một giải pháp quan trọng là phục hưng văn hóa, tức là làm sống lại những giá trị văn hóa cổ truyền. Nhưng lại xảy ra tình trạng có nơi quá chú ý tới hình thức hơn là chú ý tới nội dung của văn hóa. Ví dụ việc tổ chức lễ hội tràn lan, thiếu chọn lọc nên hội đông mà không vui, tiền thu được thì có thể nhiều nhưng lợi ích văn hóa thì ít thấy. Nhiều người đi hội chỉ chăm chăm cúng lễ, khấn vái…, thậm chí cướp lộc “thánh” chứ không mấy quan tâm tới lịch sử lễ hội, ý nghĩa ngày tưởng nhớ tôn vinh các vị thánh thần có công với hậu thế, như thế thì tấm lòng không thanh tịnh (vì không nhận được bài học giáo dục), không thư thái vui vẻ (vì không được tiếp nhận ý thức thẩm mỹ) vốn là những yêu cầu đặc trưng về mặt tinh thần của lễ hội truyền thống.

4. Những hiện trạng trên dẫn tới phải có những giải pháp quản lý văn hóa một cách chặt chẽ về mặt nhà nước. Tại sao có quy định hẳn hoi mà vẫn có nhiều sinh viên (là trí thức) khi đến Văn Miếu vẫn sờ, thậm chí còn ngồi cả lên đầu rùa? Tại sao tình trạng “chặt chém” khách du lịch diễn ra thường xuyên? Tại sao lại có thịt thú rừng bày bán la liệt ở khu vực lễ hội lẽ ra phải là một không gian trong lành, chay tịnh, hòa hợp với thiên nhiên…? Vì ý thức kém của con người, và rõ ràng có nguyên nhân từ phía cơ quan chủ quản chưa có một điểm tựa pháp luật để răn đe, xử phạt. Nghĩa là chúng ta phải sớm luật hóa lễ hội, phải có những văn bản pháp quy dưới luật làm căn cứ để quản lý. Không chỉ lễ hội mà còn bao phương diện khác của văn hóa đời sống cần được luật hóa, như chuyện đánh cãi nhau, chuyện đổ rác sai quy định… Những điều này trong Bộ luật Hồng Đức cách nay trên dưới sáu trăm năm lại được ghi rất cụ thể. Ở nông thôn nên phục hồi các hương ước, tất nhiên chỉ giữ lại những điều gì tiến bộ và phù hợp với thời đại mới. Bởi hương ước chính là văn hóa, là pháp luật thành văn đã tồn tại, được thử thách, được chấp nhận trong lịch sử. Hương ước cùng với pháp luật hiện đại sẽ cùng nhau quy định những ứng xử văn hóa, giữ cho con người hài hòa giữa văn hóa truyền thống và nếp sống văn minh công nghiệp.

5. Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin, thời mà ai cũng có thể phát ngôn, ai cũng có quyền bày tỏ chính kiến qua các phương tiện truyền thông, đặc biệt là trên các trang mạng xã hội. Ai cũng có thể nghe, tìm hiểu bất kỳ một quan điểm nào đó có thể là cực đoan, có thể là sai trái. Đây chính là con đường xâm lăng văn hóa cần phải cảnh giác nhất và cũng khó ngăn chặn nhất. Có một quy luật tiếp nhận thông tin là người đọc hay quan tâm đến những phát ngôn ngược với quan điểm chính thống, vì nó lạ, gây tò mò. Lợi dụng điều này, nhiều blog cá nhân, nhiều trang mạng nước ngoài, để thu hút lượng người đọc bèn cố tình đưa ra những thông tin sai lạc, thậm chí phản động. Chống lại những ý đồ này thì giải pháp lâu dài và cơ bản vẫn là sự tuyên truyền giáo dục phân biệt đúng sai cho mọi người dân, mọi lứa tuổi. Trước hết là tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào bản chất tốt đẹp nhân văn, vì con người của chế độ. Nhưng niềm tin của người dân chỉ có thể được củng cố khi họ tin tưởng vào sự liêm khiết, trong sạch, bản lĩnh của những người lãnh đạo họ. “Con sâu làm rầu nồi canh”, từ một số hiện tượng cán bộ suy thoái đạo đức, lối sống, sống xa cách dân, quan liêu, tham nhũng... người dân sẽ nghi ngờ tính trong sạch của cả một bộ máy. Kẻ thù sẽ lợi dụng khoét sâu, tung hỏa mù, đánh lạc hướng… Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ phải “Cần, kiệm, liêm, chính”, cũng là bốn nội dung chủ yếu của đạo đức cách mạng, với người cán bộ thời nay càng phải lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, tu dưỡng. Bác Hồ từng mượn lời các bậc đại Nho, cũng là những nhà văn hóa lớn của phương Đông và nhân loại để nhắc nhở về tư cách văn hóa người lãnh đạo: “Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử nói: "Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996, tập 5, tr 641). “Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ” (Sđd, tập 5, tr 644).

Cơ thể con người càng khỏe mạnh thì càng có sức đề kháng trước các yếu tố bất lợi của thiên nhiên, thời tiết. Chống xâm lăng văn hóa thì điều trước tiên là tăng cường cho cơ thể con người những phẩm chất cao về văn hóa, nhất là đối với những người là cán bộ, đảng viên./.

Yêu nước ST.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm đổi mới hệ thống chính trị.

 Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm đổi mới hệ thống chính trị là tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Giai đoạn này là thời cơ thuận lợi, với những điều kiện chín muồi để Việt Nam đổi mới hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.


Quang cảnh Hội thảo quốc gia lần thứ ba về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Ảnh: TTXVN.

Là nhiệm vụ rất quan trọng nên từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Đề án chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng năm 2045, gồm 21 thành viên, trong đó có 9 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị và Bí thư Trung ương Đảng. Đề án xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, tư pháp theo nguyên tắc pháp quyền song hành với kiểm soát quyền lực, đồng thời xây dựng hệ thống pháp luật bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thúc đẩy đổi mới sáng tạo với tinh thần quyết liệt, hiệu quả. Ba hội thảo quốc gia đã được tổ chức tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh để khơi dây trí tuệ, trước hết của các nhà khoa học, các chuyên gia, nhưng đồng thời là của toàn xã hội, khởi động và kích hoạt tư duy của xã hội để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

Nghiên cứu lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật cho thấy, nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung của nhân loại tiến bộ, đề cao pháp luật, thể hiện ước muốn, khát vọng của con người về một xã hội dân chủ và bình đẳng. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm và thể hiện ngày càng rõ hơn trong Hiến pháp năm 1946, Cương lĩnh 1991. Sau đó, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Đại hội VII đã chính thức xác định: "Xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân". Cương lĩnh 2011 khẳng định: "Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo" là một trong 8 đặc trưng của xã hội XHCN Việt Nam. Đến Đại hội XIII, Đảng ta lần đầu tiên đề ra nhiệm vụ "Nghiên cứu ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam...".

Theo đó, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là quá trình Nhà nước ta thiết lập và vận hành những nguyên lý, đặc trưng phổ quát, tiến bộ của nhà nước pháp quyền hiện đại, mang định hướng XHCN, bảo đảm bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, do Đảng lãnh đạo, nhằm mục tiêu phát triển đất nước, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, nhiệm vụ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam mà Đại hội XIII của Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và nguyện vọng của Nhân dân.

Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, với nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân càng được đặt ra rất cấp bách. Đây cũng là quan điểm nhất quán của Đảng, thể hiện bản chất của chế độ XHCN, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là một quá trình rất lâu dài, cần nhiều sự nỗ lực đóng góp của cả hệ thống chính trị về lý luận và thực tiễn. Kết quả đạt được sẽ tạo nền tảng vững chắc cho tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tương lai.


Hội thảo khoa học “Cơ sở đề xuất bổ sung, sửa đổi Quy định thi hành Điều lệ Đảng gắn với đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng”

 Sáng ngày 20-4-2022, Vụ Tổ chức - Điều lệ phối hợp với Viện Khoa học tổ chức, cán bộ, Ban Tổ chức Trung ương và Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lào Cai đồng tổ chức Hội thảo khoa học trực tuyến với chủ đề “Cơ sở đề xuất bổ sung, sửa đổi Quy định thi hành Điều lệ Đảng gắn với đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng” với mục tiêu trao đổi, thảo luận, làm rõ hơn các nội dung, căn cứ khoa học và thực tiễn về sửa đổi, bổ sung Quy định thi hành Điều lệ Đảng, góp phần phục vụ việc tham mưu tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng, gắn với những với nội dung dự kiến đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.

GS, TS. Phùng Hữu Phú, Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ quan đảng Trung ương phát biểu tại Hội thảo.


Tại điểm cầu Ban Tổ chức Trung ương, GS, TS. Phùng Hữu Phú, Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ quan đảng Trung ương và TS. Nguyễn Thanh Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Điều lệ, Ban Tổ chức Trung ương chủ trì Hội thảo. Tại điểm cầu Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lào Cai, đồng chí Lê Quang Minh, tỉnh ủy viên, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Tỉnh ủy và Đồng chí Ngô Hữu Quý, Phó Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy chủ trì.

Phát biểu tại Hội thảo, TS. Nguyễn Thanh Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Điều lệ, Chủ nhiệm Đề án đã khẳng định: Quy định thi hành Điều lệ Đảng là văn bản quan trọng cụ thể hóa quy định của Điều lệ Đảng để tạo ra sự thống nhất trong nhận thức, tổ chức và hoạt động của Đảng. Để sửa đổi, bổ sung Quy định thi hành Điều lệ Đảng một cách toàn diện, lâu dài, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác xây dựng Đảng cần phải gắn với sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng trên cơ sở thực tiễn và xuất phát từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng. Đây là vấn đề khó, lớn và hệ trọng, gắn liền với những phát sinh trong bối cảnh mới, điều kiện mới. Nhóm nghiên cứu sẽ tiếp thu tối đa các ý kiến, nghiêm túc đầu tư, chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo cả về lý luận và thực tiễn để xây dựng, hoàn thiện báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu Đề án.

Hội thảo đã nhận được 18 tham luận của các chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ, đảng viên có kinh nghiệm thực tiễn trong công tác tham mưu về công tác tổ chức xây dựng Đảng tại Trung ương và địa phương. Tại Hội thảo, các đại biểu thống nhất tầm quan trọng của việc cần phải nghiên cứu đề xuất, sửa đổi Điều lệ Đảng, Quy định thi hành Điều lệ Đảng và hoan nghênh những chuẩn bị sớm trong công tác nghiên cứu của Ban Chủ nhiệm Đề án.

Phát biểu kết luận tại Hội thảo, GS, TS. Phùng Hữu Phú, Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ quan đảng Trung ương đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Hội thảo, đánh giá cao các tham luận cũng như ý kiến phát biểu đến từ những chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ có thời gian công tác qua nhiều nhiệm kỳ đại hội, từng trực tiếp tham mưu xây dựng sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng và các văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể việc thi hành Điều lệ Đảng. Các ý kiến phát biểu rất phong phú, cụ thể, thiết thực, bám sát mục tiêu, yêu cầu đặt ra đã làm cho chủ đề Hội thảo thêm sâu sắc.

QUYẾT TÂM MẠNH MẼ CỦA VIỆT NAM TRONG THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI


Với nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sau 10 năm triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, Việt Nam đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong các lĩnh vực, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.