Thứ Tư, 27 tháng 4, 2022

Nhân rộng mô hình giúp dân hiệu quả.

 

Ở mục “Đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, nêu rõ: “... Tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân...”.

Xây dựng, nhân rộng, lan tỏa những mô hình hiệu quả để góp phần làm sâu đậm hơn giá trị văn hóa, nhân văn của phẩm chất này chính là giải pháp thiết thực tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, thiết thực chống chủ nghĩa cá nhân ở các cơ quan, đơn vị.

Đúc kết kinh nghiệm từ những mô hình

Đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 4 tại TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam đã được khống chế từ cuối tháng 10-2021. Gần 6 tháng qua, các địa phương này thực hiện chiến lược thích ứng an toàn với dịch Covid-19, đưa đời sống xã hội trở lại trạng thái bình thường mới. Sau khi dốc toàn lực giúp dân chống dịch thành công, các đơn vị lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 7 lại tiếp tục triển khai các hình thức, giải pháp giúp dân khắc phục hậu quả dịch bệnh, chăm lo an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa...

Những ngày này, hòa trong không khí kỷ niệm 47 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2022), Bộ tư lệnh Quân khu 7 chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương đẩy mạnh các phong trào, hoạt động về nguồn, tri ân người có công, chăm lo công tác đền ơn đáp nghĩa. Thiếu tướng Đỗ Văn Bảnh, Phó chính ủy Quân khu 7 cho biết: "Nhiệm vụ “chống dịch, cứu dân” trong những tháng cao điểm dịch bệnh giữa năm 2021 đã để lại cho LLVT Quân khu 7 nhiều bài học quý về công tác dân vận (CTDV). Từ chủ trương thông suốt, nhất quán của Đảng ủy, Bộ tư lệnh quân khu, các cơ quan, đơn vị, địa phương đã năng động, linh hoạt, sáng tạo những mô hình giúp dân hiệu quả. LLVT quân khu đã tổ chức sơ, tổng kết, rút ra các giải pháp, kinh nghiệm huy động sức dân để lo cho dân, cách thức tiến hành CTDV trong hoàn cảnh khó khăn...

Có thể thấy, càng trong những hoàn cảnh nguy nan, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng. Đại dịch Covid-19 là một cuộc sát hạch lớn về kỹ năng ứng phó với hoàn cảnh nguy nan, phương án, giải pháp gần dân, về với dân, dựa vào dân để lo cho dân. Đó là cơ sở để củng cố niềm tin, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ máu thịt quân-dân; là bằng chứng sát thực đập tan những âm mưu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Khi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ tỏa sáng, mầm mống của chủ nghĩa cá nhân sẽ bị đẩy lùi, triệt tiêu...

Nhân rộng mô hình giúp dân hiệu quả
 Bộ đội giúp dân làm đường giao thông nông thôn. Ảnh tư liệu: TTXVN

Nhìn lại thời kỳ cao điểm của đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 4 tại TP Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam, có thể thấy, tính chủ động, sáng tạo, tinh thần quyết tâm, quyết liệt của LLVT Quân khu 7 được thể hiện một cách vừa bao quát, bao trùm, vừa cụ thể, tỉ mỉ. Chủ đề của Phong trào thi đua đặc biệt “chống dịch, cứu dân” do Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7 phát động đã thể hiện rõ chủ trương, giải pháp tiến hành CTDV trong nhiệm vụ “chống dịch như chống giặc”.

Với chức năng là lực lượng xung kích trên tuyến đầu, ngay trong tư duy, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ phải xác định đi trước một bước, xung phong tình nguyện thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, nguy cơ lây nhiễm cao, làm những việc người khác, lực lượng khác không làm được hoặc không có đủ điều kiện để làm. Phương châm “chống dịch, cứu dân” vì thế đã trở thành mệnh lệnh không lời, vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp của CTDV. Hàng loạt mô hình sáng tạo từ các đơn vị cơ sở đã hiện thực hóa chủ trương của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7.

Những mô hình tiêu biểu được đúc kết thành bài học về CTDV, đó là: “Đơn vị, địa phương tuyến sau hỗ trợ, giúp đỡ đơn vị, địa phương tuyến trước”; “Đơn vị, địa phương ngoài vùng dịch hỗ trợ, giúp đỡ đơn vị, địa phương trong vùng dịch; vùng có dịch ít giúp đỡ vùng có dịch nhiều”; “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”... Cùng với những mô hình ở cấp quân khu, nhiều mô hình hiệu quả ở các đơn vị, địa phương cũng được đúc kết thành bài học kinh nghiệm, tiêu biểu như: “Tất cả vì tuyến đầu chống dịch”, “Nhà trọ 0 đồng”, “Gian hàng 0 đồng”, “Phiên chợ 0 đồng”, “Cây ATM gạo nghĩa tình”, “Cây ATM khẩu trang”, “Hũ gạo tình thương”, “Bữa cơm nghĩa tình”, “Tủ cơm, cháo miễn phí”, “Tủ đồ dùng thiện nguyện”; “Tặng sản phẩm tăng gia sản xuất cho dân”; “Gói an sinh mùa Covid”..., các chương trình 1.000, 5.000, 20.000, 100.000 phần quà nghĩa tình... Tổng kinh phí huy động giúp dân từ các nguồn lực xã hội do LLVT Quân khu 7 thực hiện lên đến hơn 1.000 tỷ đồng, với sự tham gia của 100% cán bộ, chiến sĩ...

Nhiệm vụ “chống dịch, cứu dân” trong giai đoạn “nước sôi, lửa bỏng” đã hoàn thành, nhưng bài học kinh nghiệm về chủ trương gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trong cán bộ, chiến sĩ vẫn tiếp tục được đúc kết, làm đầy thêm, dày hơn, sâu hơn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nghị quyết 847 đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo: “Kịp thời phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt...”.

Như vậy, việc đúc kết bài học kinh nghiệm từ các mô hình giúp dân hiệu quả trong các nhiệm vụ là công việc phải được tiến hành kịp thời và thường xuyên. Phát hiện, nhân rộng các cách làm hay, mô hình hiệu quả, những điển hình tiên tiến... chính là sự cụ thể hóa phương châm lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy hoa thơm lấn át cỏ dại... trong môi trường văn hóa quân nhân.

Chuyển chủ trương thành hành động

Dịch bệnh, thiên tai, sự cố... đang là những thách thức lớn đối với đời sống xã hội, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Trong những hoàn cảnh ấy, Bộ đội Cụ Hồ luôn là lực lượng đi đầu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản và cuộc sống yên lành cho nhân dân. Có thể nói, đó chính là những “cuộc chiến thời bình” của Quân đội ta. Trong giai đoạn cao điểm bộ đội giúp dân phòng, chống dịch Covid-19, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo: “Bộ đội phải chủ động tìm đến với dân, không chờ dân khó khăn phải tìm đến bộ đội”.

Quan điểm chỉ đạo của đồng chí Bộ trưởng thể hiện tinh thần chủ động, linh hoạt, đi trước một bước trong nhiệm vụ giúp dân của Bộ đội Cụ Hồ. Những mô hình trong nhiệm vụ “chống dịch, cứu dân” của LLVT Quân khu 7 nói riêng, các đơn vị trong toàn quân tăng cường cho địa bàn Quân khu 7 thời gian qua nói chung, là một dấu mốc quan trọng trong bề dày truyền thống Quân đội ta. Đúc kết thành những bài học kinh nghiệm để ứng dụng, vận dụng, nhất là về quan điểm, chủ trương, quyết tâm, cách làm... là công việc cần thiết, thường xuyên của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong các cơ quan, đơn vị toàn quân.

Trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, Nghị quyết 847 chỉ rõ: “Tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nâng cao nhận thức, quán triệt, thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân và chức trách quân nhân...”. Bộ đội Cụ Hồ qua các thế hệ, ai cũng thuộc lòng 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, trong đó lời thề thứ 9 nêu rõ: “Khi tiếp xúc với nhân dân làm đúng ba điều nên: Kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân và ba điều răn: Không lấy của dân, không dọa nạt dân, không quấy nhiễu dân, để gây lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí”. Điều thứ 8 trong 12 điều kỷ luật, nêu rõ: “Phải bảo vệ tính mạng, tài sản của tập thể và Nhà nước”. Những điều ấy vừa mang tính bắt buộc, vừa thể hiện tinh thần tự giác của người quân nhân cách mạng. Trải qua bề dày lịch sử truyền thống, những điều ấy đã hun đúc thành bản sắc văn hóa, đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Quy luật phát triển của Quân đội ta mang tính kế thừa. Cùng với thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho bộ đội, cần phải có những hoạt động mang tính điểm nhấn, điển hình. Thông qua các mô hình hiệu quả, những tấm gương điển hình tiên tiến, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần chủ động, kịp thời, sáng tạo, có các hình thức tuyên truyền, giáo dục, học tập sinh động để những nét đẹp ấy thẩm thấu vào đời sống cán bộ, chiến sĩ, chuyển chủ trương thành hành động thiết thực. Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong mối quan hệ với nhân dân trên tinh thần tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân... chính là một trong những giải pháp giúp Quân đội ta giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó còn là vũ khí sắc bén đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, là môi trường góp phần đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân...

Rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.

 

Thực tiễn ra đời, phát triển, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta gần 80 năm qua đã chứng minh, bản lĩnh chính trị của Bộ đội Cụ Hồ là một thành tố rất quan trọng tạo thành chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội và là nền tảng bảo đảm cho quân đội luôn thực sự là đội quân vũ trang cách mạng, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


Thiếu bản lĩnh chính trị - nguy cơ dẫn đến thoái hóa, biến chất

Nhờ giữ gìn và phát huy bản lĩnh chính trị của Bộ đội Cụ Hồ nên trong suốt gần 8 thập niên qua, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn tỏ rõ lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; có tinh thần cảnh giác cách mạng và ý chí quyết tâm chiến đấu cao, không ngại gian khổ, hy sinh, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, trước những tác động mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, những năm qua, bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ vẫn còn hạn chế, với những biểu hiện như: Phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin, sa sút ý chí chiến đấu, hoài nghi, dao động; suy thoái về đạo đức, lối sống, tùy tiện, vô nguyên tắc, bị cám dỗ bởi vật  chất... vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị.

Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, song chủ yếu là do năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số cấp ủy, tổ chức đảng các cấp còn hạn chế và buông lỏng, xem nhẹ công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc và thiếu trách nhiệm giữ gìn, phát huy phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ; thiếu gương mẫu, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng... Những biểu hiện, hành vi đó đã làm tổn hại đến bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp và uy tín của quân đội; phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, từ đó làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và quân đội.

Bồi đắp niềm tin khoa học, tăng cường rèn luyện bản lĩnh cho quân nhân

Rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của Bộ đội Cụ Hồ là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, bảo đảm trong bất luận tình huống nào, quân đội cũng luôn trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Để khắc phục triệt để những hạn chế, khuyết điểm và rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới, trước hết cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ lý luận chính trị và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội.

Rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới
Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cần Yên, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng giúp đồng bào thu hoạch lúa. Ảnh: MINH TRƯỜNG 

Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng trong toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản, giá trị to lớn, bền vững của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được. Bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có niềm tin khoa học vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. 

Tập trung giáo dục, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới và nâng cao nhận thức, trách nhiệm, ý thức tự giác, vai trò tiên phong gương mẫu tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Chú trọng giáo dục mục tiêu, lý tưởng cách mạng, bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp, chức năng, nhiệm vụ của quân đội và đơn vị. Tăng cường giáo dục truyền thống của dân tộc, truyền thống của Đảng, truyền thống của quân đội và đơn vị. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục các giá trị chuẩn mực Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới với giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục kỷ luật, pháp luật...

Một giải pháp có ý nghĩa then chốt là tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Trung ương, của Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, có phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh, có kiến thức, năng lực toàn diện; thực sự nêu gương về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; dám nghĩ, dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám quyết liệt hành động vì lợi ích chung...

Cùng với đó, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh những quân nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tự kiểm tra của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; tăng cường việc kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên đối với cấp dưới. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, nhất là những lĩnh vực dễ nảy sinh tham nhũng, tiêu cực, vi phạm, nơi có nhiều bức xúc nổi cộm.

Phát huy dân chủ, siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong quân đội, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội. Đặc biệt, cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nêu cao vai trò, trách nhiệm chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn và bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước, quân đội. Kiên quyết, kịp thời xử lý nghiêm những người làm trái đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, vi phạm kỷ luật phát ngôn, làm lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, quân đội, tung tin thất thiệt, lan truyền tài liệu trái phép, đưa tin sai sự thật, xấu độc trên internet và mạng xã hội.

Trong tình hình hiện nay, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiếp tục triển khai, thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Chủ động nắm vững tình hình, tăng cường công tác dự báo tư tưởng, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, các lực lượng tạo thành sức mạnh tổng hợp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. 

Định kỳ tổ chức thông tin thời sự về tình hình trong nước và quốc tế. Sử dụng hệ thống thông tin đại chúng, hệ thống giáo dục lý luận chính trị, hệ thống tuyên truyền miệng, hệ thống thiết chế văn hóa và thông qua internet phổ biến, tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

thời sự

 Sáng nay (27/4), tại Hà Nội, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc - Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và an ninh, Thống lĩnh các Lực lượng vũ trang nhân dân - dự Lễ Xuất quân Đội Công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tại Abyei và Nam Sudan.

Đại tướng Phan Văn Giang - Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - chủ trì lễ xuất quân.

Kể từ khi Việt Nam bắt đầu tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc từ tháng 6/2014 đến nay, đây là lần đầu tiên chúng ta cử một lực lượng lớn tham gia - đội công binh lên tới 184 người và Bệnh viện dã chiến với 63 người.

Chiến sĩ "mũ nồi xanh" đã làm tỏa sáng hình ảnh đất nước Việt Nam

Phát biểu tại lễ xuất quân, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho biết, trong lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, với tinh thần "dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành độc lập, bảo vệ hòa bình và thống nhất đất nước". Vì vậy, Việt Nam luôn trân trọng và hiểu rõ giá trị của hòa bình đối với cuộc sống hàng ngày của nhân dân và sự phát triển của đất nước.

Tiếp nối truyền thống yêu chuộng hòa bình, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm và luôn nỗ lực đóng góp cho công việc chung của cộng đồng quốc tế.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, trong năm qua, lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc và đạt được những kết quả tích cực, được đông đảo các tầng lớp nhân dân trong nước ủng hộ, cộng đồng quốc tế và Tổ chức Liên Hợp Quốc đánh giá cao.

"Tinh thần cống hiến, làm việc trách nhiệm, tận tụy của các chiến sĩ mũ nồi xanh của Việt Nam đã làm tỏa sáng hình ảnh đất nước, con người Việt Nam yêu hòa bình, vì cộng đồng nhân loại thịnh vượng và phát triển. Qua đó, có thể khẳng định hoạt động tham gia gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc trong hơn 8 năm qua là điểm sáng đối ngoại, đa phương của Đảng, Nhà nước và Quân đội Nhân dân Việt Nam", Chủ tịch nước đánh giá.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhiệt liệt biểu dương, đánh giá cao những kết quả tốt đẹp của các chiến sĩ "mũ nồi xanh" Việt Nam, nhất là cán bộ, nhân viên Bệnh viện dã chiến cấp 2 trong thời gian qua. Đồng thời, những đóng góp này đã phát huy truyền thống mở đường thắng lợi của lực lượng công binh của quân đội nhân dân Việt Nam.

"Tôi cũng tin tưởng rằng, đội công binh đầu tiên của Việt Nam tham gia nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc sẽ phát huy bản lĩnh, trí tuệ, năng lực để thực hiện tốt các nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo, xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phái bộ và cơ sở hạ tầng dân sinh phục vụ nhân dân bản địa, đáp ứng các yêu cầu của Liên Hợp Quốc", Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trân trọng gửi lời cảm ơn tới Liên Hợp Quốc, các quốc gia đối tác, các tổ chức quốc tế đã có những đóng góp quý báu cho Việt Nam trong thời gian qua. Việt Nam cũng mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ hiệu quả trong giai đoạn chuẩn bị lực lượng triển khai và thực thi sứ mệnh tại các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc.

Lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản luật pháp quốc tế

Để tiếp tục tham gia sâu rộng, có hiệu quả của quá trình gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, Chủ tịch nước đề nghị Bộ Quốc phòng, các cá nhân được giao nhiệm vụ lần này thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

Các lực lượng, các cá nhân của Việt Nam tham gia gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc phải quán triệt, thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc, nhằm lan tỏa các phẩm chất cao đẹp của đất nước, của con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, luôn đấu tranh để bảo vệ hòa bình. 

Chủ tịch nước yêu cầu các lực lượng phải tích cực chủ động hợp tác thực chất, hiệu quả với quốc gia, với các đối tác quốc tế để nâng cao năng lực, kinh nghiệm và tranh thủ nguồn lực hỗ trợ của quốc tế  cho lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc của Việt Nam. Từ đó, từng bước tham gia sâu rộng hơn nữa, tiến tới chủ động hoàn toàn về năng lực để tham gia hiệu quả vào các cơ chế, hợp tác khu vực và quốc tế về gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc; phải đảm bảo an ninh, an toàn ở mức cao nhất cho các lực lượng, cá nhân của Việt Nam làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc trên tất cả các địa bàn.

Tăng cường công tác giáo dục về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc nhằm tạo sự đồng thuận trong nước và thể hiện với bạn bè quốc tế là đất nước, con người và quân đội nhân dân yêu chuộng hòa bình, có trách nhiệm đóng góp  hiệu quả cho hòa bình, an ninh ở khu vực và quốc tế.

"Việc tham gia nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc của Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, với tâm  thế mới, thời cơ mới; những diễn biến nhanh chóng của tình hình thế giới hiện nay cũng là thách thức to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, phát huy những kết quả đã đạt được, với sự đồng hành của Liên Hợp Quốc và các quốc gia, bạn bè, tôi tin tưởng rằng, lực lượng mũ nồi xanh của Việt Nam sẽ tiếp tục làm giàu thêm truyền thống vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng, của đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế", Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cá nhân Chủ tịch nước đối với các lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc.

Quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc sẽ luôn luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thực sự là "sứ giả của hòa bình", là biểu tượng sinh động của chủ nghĩa nhân văn, tinh thần đoàn kết quốc tế và là hiện thân cho phẩm chất cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" trong thời đại mới và môi trường đa quốc gia, đa văn hóa của Liên hợp quốc như mong muốn của Chủ tịch nước./.

TA KHÔNG ĐƯỢC LỰA CHỌN LỊCH SỬ, TA ĐƯỢC SINH RA TỪ ĐÓ!

         "Tự do, hoà bình, không phải dễ. Có được bây giờ, cố gắng mà giữ.." - Câu nói và ánh mắt của người cựu chiến binh ấy làm tôi không thể nào quên.
Nhất là trong những ngày tháng tư này, hay câu chuyện đưa Lịch sử trở thành môn tự chọn đang được mọi người bàn gần đây…

Có lẽ việc định đoạt một thế hệ nên học cái gì là điều quá sức và tôi không có quyền làm điều đó. Nhưng sâu thẳm trong tôi, và nhiều người nữa, tin rằng lịch sử là thứ mà tất cả chúng ta phải trân trọng. Bác Hồ từng nói “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Với quá khứ đầy rẫy những mất mát sau bao cuộc chiến tranh vệ quốc, chúng ta phải biết sử, để yêu hòa bình. Chúng ta không muốn chiến tranh, nhưng chúng ta không được phép quên cách mình giành lấy độc lập.

Sử không phải môn yêu thích của tôi, dù rằng ngày trước tôi được điểm 10 khá dễ, chỉ cần học thuộc lòng trước khi kiểm tra là xong. Và, giờ, tôi không nhớ được nhiều nữa…

Năm 1975, đất nước thống nhất, bố tôi chỉ là đứa trẻ chưa được 10 tuổi. Tôi sinh ra gần 20 năm sau đó. Giờ, những gì tôi biết về chiến tranh, là chút kiến thức còn nhớ được từ những năm tháng đi học, và qua những câu chuyện của bà…

Tôi vẫn nhớ về chuyện cái tàu bay với quả đạn rocket bay vèo xuống cánh đồng, nơi cụ và những người nông dân khác đang cấy lúa, rồi bà mồ côi, 17 người hôm đấy… Tôi nhớ chuyện ngày xưa nạn đói, ở làng có nhiều người không trụ được, hằng đêm làng xóm không ánh đèn nhưng lập lòe lửa ma trơi.

Thời của bố mẹ tôi, là chuyện nhà ông kia có 2 bố con nhưng không đủ quần áo, đi mò cua bắt ốc, đánh dậm, đổi đồ ăn khi người vẫn còn dưới nước… Hay đơn giản như chuyện ngày xưa đi cấy lúa, bắt được con ba ba, con rùa, những con ốc nứa to gần bằng nắm tay, thứ mà ngày nay quê tôi không còn…

Nếu như không có những câu chuyện đó, tôi không còn là tôi với tâm thức của bây giờ. Chưa chắc đã biết quê mình nghèo, nước mình khổ, chiến tranh vốn khốc liệt, chưa chắc đã biết sợ hãi cái đói, cái chết để mà ham được sống, để mà cố gắng cho những điều tốt hơn như bây giờ…

Có lẽ, giữa việc được nghe kể chuyện, với việc phải học thuộc lòng, tự tôi đã biết mình hợp với điều gì rồi.

Ngày nay, có nhiều bạn trẻ nói với tôi, họ thích sử, nhưng không thích học sử. 

Ừ, có lẽ đúng. Tôi cũng có xem một vài kênh về lịch sử, và mơ hồ hiểu tại sao người ta lại xem, nghe sử chứ không thích học. Bởi vì thứ có trên đó, là nội dung, là câu chuyện, những thứ cuốn hút với hình ảnh, âm thanh, giọng đọc hay những thước phim, chứ không phải con chữ trên sách vở.

Ừ thì, cũng đâu đó giống với câu chuyện tôi nghe. À, còn nữa, đấy là không có bài kiểm tra…

Biết rằng, giáo dục là câu chuyện không dễ, nhưng có một điều tôi khác chắc: Nếu như thế hệ trước không ghi lại, thế hệ sau không đọc lại, thì những gì là quá khứ, sẽ rơi vào quên lãng. Không một ai nhớ tới, sẽ giống như không tồn tại…

Những người già sẽ không ở cùng chúng ta mãi, những câu chuyện một ngày nào đó, sẽ không còn được kể nữa…

Ai đó thể lựa chọn học hoặc không học sử khi vào cấp 3, nhưng nếu như thế, xin thầy cô, hãy để những gì các em được học trước đó, đủ để biết, đủ để nhớ, và đủ để kể lại… 

Một ngày tháng tư, "Tự do, hoà bình, không phải dễ. Có được bây giờ, cố gắng mà giữ..."

Tới tất cả những ai (có thể) ở trong câu chuyện học Lịch sử, mong rằng bằng cách nào đó, ai cũng sẽ phải hiểu được câu nói bên trên kia.

Bởi nếu như ta không biết được cái “không dễ” ấy là thế nào, thì liệu có thể “cố gắng” được không, tôi nghĩ mãi... 

(Chuyện của Hà Nội) 
- Ivan này, tao thấy sợ quá.
- Mày sợ gì, chết à?
- Không, tao sợ gì chết, còn đang muốn xuống với chúng mày đây.
- Chết không sợ thì còn sợ gì nữa hả Luka?
- Tao sợ một ngày tao chết đi, người ta sẽ quên tao, quên mày, quên đồng đội của chúng ta, quên những hy sinh của chúng ta. Và rồi Ivan ạ, người ta sẽ quay sang biết ơn lũ Phát xít, chúng sẽ kéo đến như những bầy thú khát máu quật mộ của tao với mày.
Đục bỏ những bức tượng dựng lên tưởng nhớ đồng đội chúng ta.
- Lúc đó chúng ta mới đã thực sự chết. Ivan nhỉ!!!
Yêu nước ST.

Chủ tịch nước, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra sân bay tiễn chiến sĩ 'mũ nồi xanh' đi làm nhiệm vụ

 Sáng ngày 27-4, tại Hà Nội, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và an ninh, thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân dự lễ xuất quân Đội Công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc tại Abyei và Nam Sudan.

Đại tướng Phan Văn Giang, bộ trưởng Bộ Quốc phòng, chủ trì lễ xuất quân.

Cùng dự có lãnh đạo Bộ Quốc phòng, lãnh đạo các ban, bộ ngành, đại diện thường trú Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam và đại sứ, tùy viên quốc phòng các nước tại Việt Nam.

Phát biểu tại lễ xuất quân, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho biết thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc, trong những năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc và đạt được nhiều kết quả tích cực, được đông đảo các tầng lớp nhân dân trong nước ủng hộ và cộng đồng quốc tế, Liên Hiệp Quốc đánh giá cao.

"Tinh thần cống hiến, làm việc trách nhiệm, tận tụy của các chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam đã làm tỏa sáng hình ảnh đất nước, con người Việt Nam yêu hòa bình, vì cộng đồng nhân loại thịnh vượng và phát triển. Qua đó, có thể khẳng định hoạt động tham gia gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc trong hơn 8 năm qua là một điểm sáng về đối ngoại đa phương của Đảng, Nhà nước và Quân đội của chúng ta" - Chủ tịch nước nói.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương, ông biểu dương, đánh giá cao những kết quả tốt đẹp của các chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam, nhất là cán bộ, nhân viên Bệnh viện dã chiến cấp 2 trong thời gian qua.

Đồng thời tin tưởng Đội Công binh đầu tiên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc sẽ phát huy bản lĩnh, trí tuệ, năng lực để thực hiện tốt các nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo, xây dựng cơ sở hạ tầng phái bộ và cơ sở hạ tầng dân sinh phục vụ nhân dân bản địa, đáp ứng các yêu cầu của Liên Hiệp Quốc.

Để tiếp tục tham gia sâu rộng, có hiệu quả vào quá trình gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc, Chủ tịch nước yêu cầu Bộ Quốc phòng và các lực lượng, cá nhân được giao nhiệm vụ lần này thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau.

Trước hết, quán triệt và thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc và tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Tích cực, chủ động, hợp tác thực chất, hiệu quả với các quốc gia, đối tác quốc tế để nâng cao năng lực, kinh nghiệm và tranh thủ nguồn lực hỗ trợ của quốc tế cho lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc của Việt Nam.

Từng bước tham gia sâu, rộng hơn nữa, tiến tới chủ động hoàn toàn về năng lực để tham gia hiệu quả vào các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế về gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc. 

Phải bảm bảo an ninh, an toàn ở mức cao nhất cho các lực lượng, cá nhân của chúng ta làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc trên tất cả các địa bàn.

Cùng với đó, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc, nhằm tạo sự đồng thuận trong nước và thể hiện với bạn bè quốc tế về một đất nước, con người và Quân đội nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, có trách nhiệm đóng góp hiệu quả, thiết thực cho hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế.

Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang, bộ trưởng Bộ Quốc phòng, cũng bày tỏ tin tưởng cán bộ, chiến sĩ Đội Công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến 2.4 sẽ kế thừa, phát huy tốt những kết quả, thành tích và kinh nghiệm đã đạt được trong thời gian qua, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là Bộ đội Cụ Hồ, "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua".

Đồng thời, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, thực hiện tốt vai trò "đại sứ" của hòa bình và tình hữu nghị, góp phần nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng khi thực hiện sứ mệnh quốc tế cao cả.

 

Không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo

 Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nói chung, các nhiệm vụ chính trị cụ thể nói riêng đạt được đến đâu, hiệu lực, hiệu quả ra sao, đều chịu sự ảnh hưởng, tác động sâu sắc của công tác KTGS. Từ các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo đương nhiệm của Đảng, Nhà nước ta và cả trong hệ thống các văn kiện của Đảng đều thể hiện rất rõ tinh thần nhất quán: Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo.

Nhận thức đúng giá trị của Chiến thắng 30-4-1975: Cơ sở của đạo đức, nhân cách và trí tuệ của người Việt Nam

 

Đất nước ta đang trong dịp kỷ niệm 47 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975/30-4-2022). Gần đến dịp kỷ niệm, thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị, những kẻ suy thoái tư tưởng chính trị đã tung ra những thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc phủ nhận giá trị, bản chất của Chiến thắng 30-4-1975 trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Đừng phủ nhận lịch sử

 

Thấy cháu nội đạp xe về nhà với vẻ mặt phấn khởi khác thường, ông Thành ngạc nhiên hỏi:

Lễ truy điệu, an táng 28 đặc công rừng Sác

Hôm nay (27/4) tại tỉnh Đồng Nai, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam dự lễ truy điệu và an táng 28 đặc công rừng Sác vừa được tìm thấy tại khu Gò Cát, ấp Bàu Bông, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch.


Tham dự buổi lễ còn có đại diện Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia 515 Trung ương; lãnh đạo Quân khu 7, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, các cựu chiến binh, thân nhân liệt sỹ…


Các đại biểu đã kính cẩn dâng hương bày tỏ lòng biết ơn tới các liệt sỹ và tổ chức nghi thức di quách các hài cốt đến an táng tại Công viên Nghĩa trang liệt sỹ huyện Nhơn Trạch.


Trước đó, tháng 3/2022, một gia đình tại ấp Bàu Bông, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch phát hiện 2 bộ hài cốt bọc trong túi vải dù bộ đội khi đang nạo vét ao nên đã báo chính quyền địa phương. Tỉnh Đồng Nai phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 7 tiến hành mở rộng tìm kiếm xung quanh và phát hiện thêm 26 bộ hài cốt liệt sỹ.


Sau khi xác minh, gặp gỡ các nhân chứng, 28 bộ hài cốt được xác định là các cán bộ, chiến sỹ Đoàn 10 Đặc công rừng Sác hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ./.

Theo VoV

KHÔNG THỂ ĐƯA LỊCH SỬ THÀNH MÔN HỌC TỰ CHỌN

Lịch sử rất quan trọng, vì thông qua lịch sử chúng ta hiểu hơn về dân tộc, đất nước mình, trên cơ sở đó hình thành nên lòng yêu nước và bản lĩnh văn hóa.

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG “MỞ ĐƯỜNG THẮNG LỢI”

Sáng 27-4, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã đến dự và phát biểu tại Lễ xuất quân Đội Công binh số 1 (ĐCB1) và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 (BVDC2.4) lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ). Sau đây là toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc:

TIẾP TỤC LAN TỎA VIỆT NAM

Sáng 27/4, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ xuất quân Đội công binh số 1 và Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Abyei và Nam Sudan. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, Thống lĩnh các Lực lượng vũ trang nhân dân dự và phát biểu động viên cán bộ, chiến sĩ tại buổi lễ.

Tăng cường quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Lào-Việt Nam

Chiều 26/4, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã tiếp xã giao đồng chí Pany Yathotou, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đang thăm chính thức Việt Nam.

XỬ LÍ VẤN ĐỀ PHỨC TẠP NGAY TỪ CƠ SỞ

Chiều 27/4, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân đến thăm, làm việc với Cục An ninh nội địa. Cùng dự có Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; Lê Khánh Hải, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; và lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Bộ Công an.

PHÁT HIỆN CÀNG SỚM THÌ NGĂN CHẶN CÀNG HIỆU QUẢ

Ngày 27/4, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo thảo luận, cho ý kiến chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo từ sau Phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo đến nay, xác định yêu cầu nhiệm vụ công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian tới.

ĐỂ TIẾP TỤC NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA KIỂM SOÁT XÃ HỘI TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

     Hơn 10 năm qua, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, quyết liệt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, cơ quan báo chí, nhân dân, công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục được tăng cường, đẩy mạnh với cách làm bài bản, quyết liệt, đồng bộ, đi vào chiều sâu và hiệu quả hơn, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Qua đó, tiếp tục khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong công tác phòng, chống tham nhũng, giữ vững niềm tin của nhân dân. Tuy tham nhũng đang từng bước được kiềm chế và có chiều hướng thuyên giảm nhưng vẫn còn phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực và ngày càng tinh vi hơn, nhất là tình trạng “tham nhũng vặt”, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc để vụ lợi. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, như tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước còn bất cập, kém hiệu quả; sự chỉ đạo của các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước trong công tác phòng, chống tham nhũng tại các cấp, các ngành chưa chặt chẽ, quyết liệt; việc xử lý tham nhũng còn chưa nghiêm; chính sách, pháp luật chưa đầy đủ, đồng bộ; việc huy động sự vào cuộc của nhân dân, báo chí, doanh nghiệp, các cơ quan truyền thông, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận chưa được quan tâm đúng mức trên cả hai phương diện xây dựng thể chế và tổ chức thực tiễn. Nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, Đảng và Nhà nước ta cần tiếp tục hoàn thiện một cách căn bản thể chế, chính sách, pháp luật về đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói chung; thể chế, chính sách, pháp luật về phát huy vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nhũng nói riêng; đồng thời, triển khai đồng bộ và quyết liệt những biện pháp trước mắt cũng như lâu dài nhằm phát huy vai trò của kiểm soát xã hội trong công tác này. Phát huy vai trò của kiểm soát xã hội trong phòng, chống tham nhũng phải được coi là biện pháp căn bản và mang tính quyết định đến hiệu quả của cuộc đấu tranh này trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, nâng cao vị trí, vai trò và sự phối kết hợp giữa Nhà nước và xã hội trong phòng, chống tham nhũng. Để nâng cao hơn nữa vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, đòi hỏi trách nhiệm, sự nỗ lực và tích cực từ cả hai phía, từ các cơ quan nhà nước và xã hội. Bản thân các cơ quan nhà nước cần nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của xã hội trong công tác này, những tác động, hiệu quả to lớn của việc huy động đông đảo các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đông đảo quần chúng nhân dân tham gia giám sát; phát hiện và tố cáo các hành vi tham nhũng trong bộ máy công quyền. Đồng thời, bản thân mỗi tổ chức xã hội và người dân cũng phải thấy rõ trách nhiệm, vai trò, thực hiện một cách tự giác, có trách nhiệm những quyền và nghĩa vụ của mình trong cuộc đấu tranh cam go này.

Hai là, hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm phát huy vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nhũng. Nhằm phát huy vai trò của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, các cơ quan nhà nước cần thường xuyên rà soát, bổ sung, sửa đổi, ban hành mới những quy định bảo đảm cơ sở pháp lý và điều kiện cần thiết để người dân và toàn xã hội tham gia giám sát hành vi của cán bộ, công chức. Theo đó, cần hoàn thiện pháp luật về dân chủ và các quy định về công khai, minh bạch để người dân và các tổ chức xã hội có điều kiện giám sát hoạt động của các cơ quan đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên. Ban hành các quy định cụ thể để Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp, doanh nghiệp, báo chí và người dân chủ động tham gia, tránh tình trạng chỉ khi được giao nhiệm vụ hoặc “được mời” thì mới tham gia. Hiện nay, quyền của các tổ chức xã hội trong phòng, chống tham nhũng về cơ bản đã có nhiều nhưng chủ yếu mang tính nguyên tắc, cần phải cụ thể hơn, nhất là về điều kiện bảo đảm và chế tài để bảo vệ các quyền này. Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 10-1-2019, của Bộ Chính trị, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; Quy định số 11-QĐi/TW, ngày 18-2-2019, của Bộ Chính trị, về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân; quy định về xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, đơn vị; quy định về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; cơ chế bảo vệ người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; cơ chế kiểm soát quyền lực trong phòng, chống tham nhũng … Triển khai thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 bảo đảm kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu lực, hiệu quả; đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, nhất là sửa đổi, bổ sung Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Giám định tư pháp, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư… Rà soát, xác định rõ những cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội còn thiếu chặt chẽ, sơ hở, chồng chéo, dễ bị lợi dụng, dễ làm nảy sinh tham nhũng; những khâu, những lĩnh vực quản lý còn bị buông lỏng dẫn đến những cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất đã lợi dụng để tham nhũng; đặc biệt là cơ chế, chính sách và công tác quản lý trên những lĩnh vực mà thực tế thời gian qua xảy ra nhiều sai phạm, tham nhũng lớn, như đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, quản lý vốn và tài sản nhà nước trong doanh nghiệp,… để từ đó khẩn trương có giải pháp khắc phục, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả.

Ba là, nâng cao năng lực của các tổ chức xã hội và người dân trong phòng, chống tham nhũng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, tổ chức xã hội, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, các cơ quan báo chí, doanh nghiệp và nhân dân tăng cường phối hợp, tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ và chính quyền các cấp thực hiện tốt các hoạt động giám sát, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tích cực đóng góp ý kiến xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật và cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm mọi biểu hiện tiêu cực, tham nhũng cả trong khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò và trách nhiệm của toàn xã hội trong công tác phòng, chống tham nhũng. Tăng cường chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân nhất là đối với các văn bản chính sách, pháp luật có khả năng tạo ra cơ hội, điều kiện phát sinh tham nhũng, kể cả đối với công tác tổ chức, cán bộ. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, xác định rõ trách nhiệm của các bên nhằm phối hợp, huy động các nỗ lực của toàn xã hội trong phòng, chống tham nhũng theo quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc năm 2015. Tích cực phát huy vai trò của báo chí trong phát hiện tham nhũng; chủ động cung cấp, định hướng thông tin tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng theo Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 3-2-2017, của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Có cơ chế, biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích, động viên, bảo vệ những nhà báo dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; bảo đảm báo chí đưa tin khách quan, kịp thời, hiệu quả về các vụ, việc tham nhũng. Xây dựng và thực hiện trong cộng đồng doanh nghiệp quy tắc đạo đức kinh doanh, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích, ngăn chặn hành vi tham nhũng và xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, phi tham nhũng. Bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ quan trong việc hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các ban thanh tra nhân dân nhằm nâng cao hơn nữa năng lực đấu tranh phòng, chống tham nhũng của nhóm chủ thể này.

Bốn là, tăng cường bảo vệ, tôn vinh, khen thưởng, nhân rộng điển hình phòng, chống tham nhũng, bảo vệ người đấu tranh phòng, chống tham nhũng và xây dựng đạo đức, văn hóa liêm chính cho toàn dân. Cùng với việc tôn vinh về mặt tinh thần, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội cần có cơ chế khen thưởng thích đáng, phù hợp với thực tế nhằm khuyến khích, thúc đẩy sự tham gia của người dân trong việc giám sát, phát hiện và phản ánh, tố cáo các hiện tượng tham nhũng. Điều này cần thực hiện chủ động và trước hết từ phía Nhà nước, nhất là trong công tác bảo vệ người tố cáo và nhân chứng trong các vụ việc tham nhũng. Việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng cần được xây dựng trên nền tảng đạo đức xã hội nói chung. Trước mắt, Đảng và Nhà nước ta, các cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục công lập và dân lập, các tổ chức xã hội và mỗi người dân cần đặc biệt quan tâm xây dựng các chuẩn mực đạo đức, văn hoá và coi trọng giáo dục về nhân cách, đạo đức công dân, kiến thức pháp luật cho mọi tầng lớp trong xã hội, nhất là cho thế hệ trẻ có thái độ không chấp nhận tham nhũng, từng bước hình thành văn hoá liêm chính. Công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng cần gắn với nhiệm vụ xây dựng đạo đức của tổ chức đảng và đảng viên, văn hoá công sở, văn hoá doanh nghiệp - doanh nhân./.

THỰC TRẠNG CỦA KIỂM SOÁT XÃ HỘI TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

     Theo quy định của pháp luật, kiểm soát xã hội trong phòng, chống tham nhũng gồm có bốn chủ thể: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; cơ quan báo chí, nhà báo; doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề; công dân, ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng. Từ vị trí của mình trong hệ thống chính trị Việt Nam, thời gian qua, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, doanh nghiệp và các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, báo chí và các đoàn thể nhân dân có vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Thứ nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội, góp phần không nhỏ vào kết quả của công cuộc phòng, chống tham nhũng thời gian qua.

Với vai trò là tổ chức chính trị - xã hội lớn nhất Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc luôn đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động chính trị - xã hội, hỗ trợ Nhà nước thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách, pháp luật thông qua các hoạt động tuyên truyền, động viên nhân dân tích cực tham gia vào việc phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức và các cơ quan nhà nước. Việc thực hiện các chức năng này của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên có thể độc lập hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan phòng, chống tham nhũng chuyên trách. Trong thời gian qua, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành các văn bản phối hợp nhằm đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục nhân dân và các tổ chức thành viên của Mặt trận thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Động viên các tầng lớp nhân dân, hội viên, đoàn viên tích cực phát hiện, tố cáo những hành vi tham nhũng, có biện pháp bảo vệ và hình thức khen thưởng xứng đáng đối với những người đã có hành động dũng cảm phát hiện, tố cáo những hành vi tham nhũng đúng, chính xác. Hoạt động phòng, chống tham nhũng của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể tuy không mang tính chuyên nghiệp như các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng với ưu thế là có hệ thống rộng khắp, phương pháp mềm dẻo nên có nhiều cơ hội và điều kiện để thu hút sự tham gia rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Trong những năm qua, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chương trình hành động thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí giai đoạn 2018 - 2021. Tham gia xây dựng và triển khai thực hiện quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”. Phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức thành công hai Giải “Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí” năm 2018, 2019; năm 2020 bước sang năm thứ 3 tổ chức giải. Hoạt động giám sát công tác phòng, chống tham nhũng của Mặt trận Tổ quốc các cấp được tiến hành đồng bộ với hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, tập trung vào các lĩnh vực quản lý khó, phức tạp, nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, như quản lý đất đai, đầu tư xây dựng, quản lý tài sản nhà nước, đền bù giải phóng mặt bằng; tái định cư khi thu hồi đất, cấp phép xây dựng, kinh doanh,... Trong giai đoạn 2014 - 2019, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh chủ trì và tham gia giám sát liên ngành được 4.093 cuộc; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện chủ trì giám sát được 22.679 cuộc; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã chủ trì giám sát được 466.012 cuộc; Ủy ban Mặt trận các cấp đã tổ chức được 86.872 cuộc phản biện xã hội về nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, đề án, dự thảo luật quan trọng; trong đó: Ủy ban Mặt trận cấp tỉnh chủ trì phản biện xã hội được 4.059 cuộc; Ủy ban Mặt trận cấp huyện chủ trì phản biện được 15.166 cuộc; Ủy ban Mặt trận cấp xã chủ trì phản biện xã hội được 69.710 cuộc . Tuy nhiên, hoạt động này cũng chịu những thách thức nhất định, do không mang tính quyền lực, nên hoạt động giám sát, phản biện của Mặt trận có những hạn chế và thường chịu “lép vế” trong các quan hệ với các cơ quan nhà nước là đối tượng chịu sự kiểm tra, giám sát; chưa tổ chức được nhiều chương trình giám sát độc lập; chưa có cơ chế, quy trình thích hợp phát huy vai trò giám sát thường xuyên của nhân dân. Hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc mới chỉ tập trung nhiều ở cấp Trung ương và cấp tỉnh.

Thứ hai, đề cao vai trò, trách nhiệm, hiệu quả của báo chí và truyền thông trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí nhấn mạnh, việc thực hiện tốt công tác truyền thông về phòng, chống tham nhũng, đề cao vai trò, trách nhiệm của báo chí trong phòng, chống tham nhũng; khắc phục tình trạng thông tin một chiều, bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; xử lý nghiêm việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt gây hậu quả xấu. Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 cũng chỉ rõ, một trong những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng là đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân về biểu hiện, tác hại của tham nhũng; phát huy vai trò của báo chí, bảo đảm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về các vụ việc tham nhũng cho các cơ quan báo chí. Điều 75 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định các cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm đấu tranh chống tham nhũng, khi đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng phải khách quan, trung thực, giữ quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Thời gian qua, báo chí đã thể hiện tốt vai trò tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng, chống tham nhũng. Tình hình tham nhũng, kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng, hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật, việc xử lý những vụ án tham nhũng trọng điểm được báo chí thông tin thường xuyên. Báo chí đã phản ảnh và thể hiện rõ quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, góp phần tạo được sự đồng thuận của nhân dân trong cuộc đấu tranh này bằng nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng, như thông qua chuyên mục riêng, các tọa đàm về pháp luật, giao lưu trực tuyến, cuộc thi tìm hiểu về phòng, chống tham nhũng. Chủ động lồng ghép nội dung phòng, chống tham nhũng với các nội dung tuyên truyền, giáo dục khác như học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh... và đã mang lại những kết quả nhất định. Không chỉ làm nhiệm vụ đưa tin, báo chí còn là diễn đàn để các tầng lớp nhân dân thông tin, trao đổi, phản ánh, qua đó thể hiện nhận thức, quan điểm, thái độ đối với thực trạng tham nhũng, kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng hoặc đối với các vụ việc, hành vi tham nhũng cụ thể. Thực tế cho thấy, các hành vi tham nhũng xảy ra trong nội bộ cơ quan, đơn vị nhà nước dù bị phát hiện nhưng thường ít bị tố cáo, vì cán bộ, công chức, viên chức trong cùng cơ quan, hệ thống mang tâm lý sợ bị trù dập, lo kẻ tham nhũng có “ô dù” bao che hoặc nể nang, né tránh, sợ mất thành tích chung, nên vụ, việc thường bị ỉm đi hoặc xử lý nội bộ. Cho nên, báo chí với vị trí và tư cách khách quan, là lực lượng đi đầu trong đấu tranh và phát hiện vụ, việc tham nhũng, phanh phui trước công luận, khiến các cơ quan chức năng không thể không quan tâm xử lý. Hoạt động của báo chí đã tạo ra áp lực dư luận khiến các cơ quan chức năng phải tăng cường trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng; là công cụ hữu hiệu trong việc thúc đẩy việc chỉ đạo, xem xét, xử lý hành vi tham nhũng bảo đảm kịp thời, chính xác, khách quan và đúng pháp luật. Nhiều vụ việc tham nhũng lớn, được báo chí phản ánh đã được Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo điểm các vụ án gần đây, như các vụ án “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” xảy ra tại Ngân hàng Phương Nam; “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Công ty Hải Thành, Quân chủng Hải Quân; “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” liên quan đến dự án 8-12, Lê Duẩn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”, xảy ra tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) và một số công ty có liên quan. Khẩn trương điều tra, xử lý nghiêm minh sai phạm của các tổ chức, cá nhân liên quan trong các vụ án: “Buôn lậu; vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; rửa tiền; vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Nhật Cường và một số đơn vị liên quan; “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi; “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước gây thất thoát, lãng phí; tham ô tài sản” xảy ra tại Tổng Công ty nông nghiệp Sài Gòn (SAGRI); “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty Gang thép Thái Nguyên; “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh; lợi dụng chức vụ, quyền trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Cục Quản lý dược, Bộ Y tế, Công ty VN Pharma và các cơ quan, đơn vị liên quan ...

Thứ ba, trách nhiệm của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề. Chiến lược phòng, chống tham nhũng quốc gia đến năm 2020 xác định, doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có trách nhiệm phòng, chống tham nhũng thông qua việc xây dựng và thực hiện văn hóa kinh doanh lành mạnh, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn và phát hiện kịp thời hành vi nhũng nhiễu, đòi hối lộ của cán bộ, công chức. Điều 76 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định: Doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có trách nhiệm tuyên truyền, động viên người lao động, thành viên, hội viên của mình thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; tổ chức, thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; kịp thời thông báo với các cơ quan có thẩm quyền về hành vi tham nhũng; có trách nhiệm kiến nghị hoàn thiện chính sách về phòng, chống tham nhũng; tổ chức các diễn đàn để trao đổi, cung cấp thông tin, phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng. Trên thực tế, các doanh nghiệp thường là nạn nhân của tệ tham nhũng, sách nhiễu từ những người có chức vụ, quyền hạn. Mặt khác, nhiều doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận hoặc lợi thế trong kinh doanh thường tìm mọi cách để lót tay, hối lộ cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, trong bản thân các doanh nghiệp cũng luôn tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, làm thất thoát tài sản của Nhà nước, của doanh nghiệp, làm tổn hại các quan hệ lành mạnh trong nội bộ, làm xấu đi môi trường kinh doanh, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội, ảnh hưởng đến những doanh nghiệp làm ăn chân chính. Trong thời gian qua, các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề đã có những hoạt động cụ thể, thiết thực, chủ yếu là tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, xây dựng và thực hiện quy tắc ứng xử trong hoạt động của doanh nghiệp, từng bước kiến tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, góp phần vào nỗ lực chung phòng, chống tham nhũng của toàn xã hội. Việc thực hiện Quy chế Dân chủ, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử trong kinh doanh, nhằm xác định những tiêu chuẩn hành xử trong nghề nghiệp, trong doanh nghiệp và với đối tác kinh doanh được coi là một trong các biện pháp phòng ngừa tham nhũng khá hiệu quả. Coi đây là tiền đề để xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, phi tham nhũng.

Thứ tư, thúc đẩy mạnh mẽ vai trò của công dân, ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng trong phòng, chống tham nhũng. Trong xã hội hiện nay, mỗi người dân Việt Nam thường là thành viên của ít nhất một tổ chức xã hội trong cộng đồng. Có 75% số công dân Việt Nam là thành viên của ít nhất một tổ chức, 62% là thành viên của 2 tổ chức trở lên, bình quân, mỗi người dân tham gia từ 2 đến 3 tổ chức . Tính liên kết cộng đồng như vậy đã tạo ra nhiều cơ hội cho người dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Ngoài việc tự mình đấu tranh chống tham nhũng, người dân có thể thông qua tổ chức mà mình là thành viên hoặc ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng để phản ánh các hiện tượng tham nhũng. Kết quả giải quyết vụ việc được thông báo đến người dân thông qua cơ quan, tổ chức đã tiếp nhận ý kiến phản ánh. Nhiều người dân đã chủ động thông qua tổ chức của mình giám sát đối với các hoạt động của bộ máy nhà nước, nhất là ở chính quyền cơ sở, thực hiện tốt các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở. Vai trò của ban thanh tra nhân dân thể hiện chủ yếu thông qua hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cơ sở. Hiện nay, cả nước có 10.956 ban thanh tra nhân dân và 12.946 ban giám sát đầu tư cộng đồng. Trong 5 năm qua (2014 - 2019), ban thanh tra nhân dân thực hiện được 189.461 cuộc giám sát, giá trị tiền thu hồi đạt trên 6 tỷ đồng; ban giám sát đầu tư cộng đồng thực hiện 173.929 cuộc giám sát, giá trị tiền thu hồi đạt gần 12 tỷ đồng. Những địa phương có ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng hoạt động hiệu quả là thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, các tỉnh: Bắc Giang, Quảng Ninh, Nghệ An, An Giang….Nhìn chung, hoạt động của ban thanh tra nhân dân đã góp phần tích cực trong phòng, chống tham nhũng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các cơ quan, đơn vị, địa phương vì nó khơi dậy không khí dân chủ và thực thi dân chủ; lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và trực tiếp tham gia giải quyết kịp thời những bức xúc trong nhân dân. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, hoạt động của ban thanh tra nhân dân ở hầu hết các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước còn hình thức, kém hiệu quả, mờ nhạt. Vẫn lúng túng về nội dung, phương thức hoạt động; chất lượng và hiệu quả hoạt động chưa cao. Các quy định pháp luật về trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp chưa rõ ràng. Năng lực của các thành viên ban thanh tra nhân dân nhìn chung còn bất cập so với yêu cầu thực tiễn./.

QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA KIỂM SOÁT XÃ HỘI TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

Tham nhũng là hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước. Tham nhũng xảy ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới, không phụ thuộc vào chế độ chính trị do một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền, không kể giàu nghèo, đang ở trình độ phát triển như thế nào. Nó xảy ra ở mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, phát triển và tồn tại hằng ngày, hằng giờ, len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, khái niệm tham nhũng được quy định tại khoản 1, Điều 3 trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2019: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Tuy khái niệm tham nhũng còn chưa đồng nhất, song về cơ bản, quan điểm của Việt Nam đã trùng hợp với quan niệm phổ biến trên thế giới. Tham nhũng là hành vi lạm dụng quyền lực, nó nảy sinh và gắn chặt với quá trình vận hành và sử dụng quyền lực công. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng được coi là đấu tranh chống lạm dụng, tha hóa quyền lực công, nhằm hoàn thiện bộ máy và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm quyền lực của nhân dân, do nhân dân ủy thác không bị lạm dụng. Với một đảng cầm quyền, mục tiêu chống tham nhũng của Việt Nam còn là bảo đảm sự trong sạch, uy tín và sức chiến đấu của Đảng, chống sự tha hóa trong tổ chức đảng và đảng viên. Kiểm soát xã hội là cơ chế mà dựa vào đó, xã hội và các bộ phận của nó (các nhóm, các tổ chức) bảo đảm việc tuân thủ các chế định xã hội, ngăn ngừa những hành vi gây tổn thất cho hoạt động của hệ thống xã hội, cho bộ máy và công việc quản lý xã hội. Công việc kiểm soát xã hội là do cơ quan nhà nước, các tổ chức, cũng như các nhóm xã hội tiến hành, dưới nhiều hình thức: sự kiểm soát lẫn nhau của những người tham gia vào quá trình kiểm soát, dư luận xã hội (chẳng hạn như lên án về mặt đạo đức, tẩy chay không tiếp xúc)... Việc thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào hoạt động của các cơ quan kiểm soát xã hội là cần thiết có tác dụng tích cực. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng rất cần có kiểm soát xã hội với sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, báo chí, doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp - ngành nghề, ban thanh tra nhân dân và đông đảo quần chúng nhân dân. Trong chế độ dân chủ và pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì quyền lực nhà nước không phải quyền lực tự có của nhà nước mà quyền lực được nhân dân ủy quyền, nhân dân giao quyền. Vì thế, tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soát quyền lực nhà nước. Theo pháp luật hiện hành của nước ta đã hình thành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bằng các phương thức, như giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước; thanh tra, kiểm tra trong bộ máy hành pháp; giám sát, kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan cấp dưới; giám đốc thẩm trong hoạt động xét xử của tòa án… Tuy nhiên, chỉ có cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong nói trên thì chưa đầy đủ và chưa phát huy được hiệu lực, hiệu quả như mong muốn. Tình trạng lạm dụng quyền lực nhà nước dẫn đến tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy nhà nước ngày càng phức tạp, khiến lòng dân không yên. Vì thế, kiểm soát quyền lực trong nhà nước pháp quyền chỉ có thể đạt được khi có một cơ chế và điều kiện đầy đủ, cần thiết cho sự vận hành của nó trên thực tế. Cơ chế đó phải bao gồm cả kiểm soát từ bên trong (các cơ quan nhà nước) lẫn kiểm soát từ bên ngoài (kiểm soát xã hội) gồm kiểm soát của: Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí, người dân, doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề trong tổ chức quyền lực nhà nước và đều hướng tới việc bảo đảm cho quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích, thực thi có hiệu lực, hiệu quả. Sự giám sát từ phía xã hội có vai trò làm hạn chế tối đa sự lạm dụng quyền lực nhà nước vì mục đích cá nhân. Nguồn gốc sâu xa của tệ tham nhũng, là do quyền lực luôn có nguy cơ bị “tha hóa”, trong khi tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực nhà nước; mặt khác, quyền lực nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước suy cho cùng là giao cho những người cụ thể thực thi, “mà con người thì luôn chịu ảnh hưởng của các loại tình cảm và dục vọng… khiến cho lý tính đôi khi bị chìm khuất”(3). Đặc biệt là khi lý tính bị chi phối bởi các dục vọng, thói quen hay tình cảm thì khả năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực nhà nước càng lớn. Do đó, việc tổ chức và sử dụng quyền lực nếu không có những rào chắn, sự kiểm soát thì quyền lực rất dễ bị thao túng, sử dụng vì mục đích cá nhân. Trong một xã hội dân chủ, sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía xã hội được mở rộng, khi mọi hoạt động của nhà nước đều phải công khai, minh bạch và nằm trong tầm kiểm soát của xã hội, mọi sự lạm quyền hay tùy tiện của nhà nước thông qua hành vi của công chức nhà nước sẽ ít có cơ hội diễn ra và do đó, tham nhũng cũng khó nảy sinh. Từ góc độ này có thể thấy rằng, ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía xã hội là đương nhiên, tất yếu, xuất phát từ chính nguồn gốc ra đời của nhà nước. C. Mác và Ph. Ăng-ghen trong khi hình dung một xã hội mới là xã hội xã hội chủ nghĩa để thay thế các chế độ cũ (chế độ người bóc lột người), thì một trong những vấn đề được đặt ra là phải tổ chức một bộ máy nhà nước như thế nào để có thể khắc phục được tệ nạn tham nhũng như một căn bệnh thâm căn, cố đế của các bộ máy nhà nước cũ, để thực sự trở thành một nhà nước của nhân dân. V.I. Lê-nin cho rằng, tham nhũng chính là kẻ thù bên trong, những kẻ thù nguy hiểm nhất, khi mà chủ nghĩa xã hội còn đang trong “thời kỳ thoát thai, quá độ”, khi mà những dấu vết của xã hội cũ vẫn còn, thì những hành vi tham nhũng vẫn còn, vẫn tồn tại không những trong các cơ quan xô-viết, mà trong cả các cơ quan của Đảng nữa. Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, dù Nhà nước dân chủ nhân dân mới ra đời nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng việc chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, chống quan liêu. Hồ Chí Minh coi tham ô, tham nhũng, lãng phí là tội lỗi đê tiện nhất. Người viết: “… Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư. Đục khoét của nhân dân. Ăn bớt của bộ đội. Tiêu ít mà khai nhiều…”. Kế thừa quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ kinh nghiệm phát huy vai trò của nhân dân trong các cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước trong hơn 90 năm qua, Đảng ta luôn coi trọng công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay. Điều đó được thể hiện trong các văn kiện Đại hội của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng... Trong các quan điểm, chủ trương của Đảng thì phát huy vai trò của xã hội, của nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng được coi là một biện pháp quan trọng. Điều này thể hiện ngay trong Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 15-5-1996, của Bộ Chính trị, “Về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng” - Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng ta về đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã chỉ rõ vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, quần chúng nhân dân và báo chí trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, “… nêu cao trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, động viên tính tích cực của nhân dân, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh chống tham nhũng...”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII tiếp tục khẳng định vai trò của nhân dân, của báo chí trong phòng, chống tham nhũng và “... chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng nêu gương “người tốt, việc tốt” giới thiệu kinh nghiệm của các điển hình tiên tiến; lên án cái xấu, cái ác, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa IX cũng chỉ rõ: “Đổi mới cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm những điều kiện cần thiết và thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo luật định; đề cao vai trò giám sát, hướng mạnh về cơ sở…”. Đại hội X của Đảng đặt nhiệm vụ đấu tranh chống tham nhũng là một nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Theo đó, phải “Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của Mặt trận, các đoàn thể và của các cơ quan thông tin đại chúng”; “Thiết lập cơ chế khuyến khích, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” đã đề ra 5 quan điểm chỉ đạo đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, trong đó, vai trò của xã hội được coi là định hướng quan trọng. Đó là: “Đề cao vai trò của báo chí trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí;… Bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí…Tăng cường công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng; Nâng cao hiệu quả của thanh tra nhân dân..”  và “… hình thành cơ chế nhân dân giám sát hoạt động của cán bộ, công chức…”. Nghị quyết Đại hội XI, XII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm “Phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và của nhân dân trong đấu tranh phòng; chống tham nhũng, lãng phí”. Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị về việc ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” đã nêu rõ mục đích của giám sát, xác định chủ thể giám sát là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở; đối tượng giám sát là các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến cơ sở; cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước. Thể chế hóa quan điểm của Đảng, tại Khoản 2, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam... chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình” và “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” (Điều 8, Hiến pháp năm 2013). “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước,... Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động” (Điều 9). Và “… Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Điều 28, Hiến pháp năm 2013).

Khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò của xã hội luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong những biện pháp cơ bản trong đấu tranh chống tham nhũng và được thể chế hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quan trọng đầu tiên được kể đến là Việt Nam tham gia đàm phán, xây dựng, chính thức phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng vào ngày 30-6-2009 và chính thức có hiệu lực từ ngày 18-9-2009. Đây được coi là sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng thể hiện quyết tâm và cam kết của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế trong công cuộc phòng, chống tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2007, 2012), Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã tạo lập khung pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng đã tạo ra môi trường thể chế ngày càng công khai, minh bạch; từng bước tăng cường sự tham gia của người dân trong phòng, chống tham nhũng; cơ chế kiểm soát tài sản đối với cán bộ, công chức, viên chức và chế độ công vụ ngày càng được quan tâm; việc xử lý người có hành vi tham nhũng và tài sản tham nhũng cũng được chú trọng và nâng cao hiệu quả; bộ máy cơ quan phòng, chống tham nhũng bước đầu được củng cố, kiện toàn. Bên cạnh đó, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp và gián tiếp quy định về phòng, chống tham nhũng đã được ban hành và phát huy tác dụng trong thực tiễn, như Luật Thanh tra năm 2010; Luật Tố cáo năm 2018; Luật Khiếu nại năm 2011; Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 và 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, sửa đổi, bổ sung năm 2015; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015; Luật Tiếp công dân năm 2013; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Nghị quyết số 21/NQ-CP, ngày 12-5-2009, của Chính phủ, “Ban hành chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020”; Nghị định số 47/2007NĐ-CP, ngày 27-3-2007, “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng”; Nghị định số 90/2013/NĐ-CP, ngày 8-8-2013, “Quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao”; Chỉ thị số 10/ CT-TTg, ngày 12-6-2013, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục - đào tạo từ năm học 2013 - 2014”...Như vậy có thể thấy, dù quy định trực tiếp hay gián tiếp, Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật đều nhất quán thừa nhận, khẳng định vai trò của xã hội, của công dân trong phòng, chống tham nhũng. Đây là một biểu hiện tiến bộ của dân chủ, vì sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía xã hội là một điều kiện để phòng ngừa tham nhũng từ xa, hiệu quả. Điều này khẳng định, ở Việt Nam, vai trò của xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng không chỉ xuất phát từ lý thuyết về sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía xã hội mà còn xuất phát từ bản chất của Nhà nước Việt Nam theo ghi nhận của Hiến pháp “là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Khi lợi ích của Đảng đồng thời được coi là lợi ích của Nhà nước và của nhân dân thì hành vi tham nhũng làm tổn hại đồng thời đến lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội. Do vậy, tham nhũng là kẻ thù chung, chống tham nhũng không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, của Đảng, mà là nhiệm vụ của toàn xã hội./.

 

CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN TỐT GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI THỜI GIAN TỚI

     Một là, thực hiện tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong đời sống chính trị - xã hội đất nước. Chỉ khi vai trò làm chủ của nhân dân được phát huy, dân chủ trong Đảng, trong xã hội được thực hành thực chất và rộng rãi, thì việc huy động tính tích cực cách mạng của quần chúng nhân dân trong GSPBXH mới hiệu quả, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đòi hỏi phải thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng, các quy chế, hướng dẫn trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện Cương lĩnh, nghị quyết của Đảng; Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thời gian tới, tập trung thực hiện việc “tăng cường phối hợp giữa giám sát của Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, không hiệu quả… Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”.

Hai là, kiên quyết, kiên trì thực hiện tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để thực hiện có hiệu quả hoạt động GSPBXH. Thực hiện tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ thúc đẩy việc thực hiện GSPBXH một cách có hiệu quả và ngược lại. Thực hiện tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải bắt đầu từ việc thực hiện những quy định về xây dựng chương trình hành động bám sát nội dung các nhiệm vụ được đại hội đảng các cấp đề ra; xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế làm việc, quy chế phối hợp giữa các thành viên hệ thống chính trị…; và quan trọng hơn cả là việc kiểm tra, giám sát các hoạt động nói trên, gắn với thực hiện tốt công tác GSPBXH của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân. “Coi trọng kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên thực hiện các quy định nêu gương”(12). Đồng thời, thực hiện tốt công tác GSPBXH sẽ góp phần ngăn chặn tình trạng tha hóa về quyền lực, lạm dụng quyền lực vì mục đích, lợi ích cá nhân của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Ba là, tiếp tục đổi mới phương thức, nội dung hoạt động của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có hoạt động GSPBXH. Trong Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống của Mặt trận Dân tộc Thống nhất, tổ chức tiền thân của MTTQVN, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá cao những đóng góp của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta hiện nay. Đồng thời, cũng thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế của các tổ chức này thời gian qua: “Hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân các cấp có lúc, có nơi chưa sâu sát; còn có biểu hiện hành chính hóa, chưa thiết thực, hiệu quả. Sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới; công tác giám sát, phản biện xã hội còn hạn chế”. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng cũng đã đánh giá: “Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”, “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên còn thụ động, hiệu quả thấp”. Để khắc phục những hạn chế nói trên, các giải pháp được đưa ra để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội, nhất là trong hoạt động GSPBXH là: “Hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp”(1, “Mặt trận cần thực sự tham gia vào quá trình hoạch định và thực hiện chính sách, pháp luật chứ không chỉ làm nhiệm vụ động viên, kêu gọi, tổ chức các phong trào. Đó chính là cách làm cho Mặt trận mới hơn, ngày càng thiết thực, hiệu quả hơn”./.