Tham
nhũng là hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với sự hình thành giai cấp và sự
ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước. Tham nhũng xảy ra ở tất cả các quốc gia
trên thế giới, không phụ thuộc vào chế độ chính trị do một đảng cầm quyền hay
đa đảng thay nhau cầm quyền, không kể giàu nghèo, đang ở trình độ phát triển
như thế nào. Nó xảy ra ở mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, phát triển và tồn
tại hằng ngày, hằng giờ, len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội. Ở Việt Nam,
khái niệm tham nhũng được quy định tại khoản 1, Điều 3 trong Luật Phòng, chống
tham nhũng năm 2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2019: “Tham nhũng là hành
vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.
Tuy khái niệm tham nhũng còn chưa đồng nhất, song về cơ bản, quan điểm của Việt
Nam đã trùng hợp với quan niệm phổ biến trên thế giới. Tham nhũng là hành vi lạm
dụng quyền lực, nó nảy sinh và gắn chặt với quá trình vận hành và sử dụng quyền
lực công. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng được coi là đấu tranh chống
lạm dụng, tha hóa quyền lực công, nhằm hoàn thiện bộ máy và bảo đảm hiệu lực,
hiệu quả trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm quyền lực của nhân
dân, do nhân dân ủy thác không bị lạm dụng. Với một đảng cầm quyền, mục tiêu chống
tham nhũng của Việt Nam còn là bảo đảm sự trong sạch, uy tín và sức chiến đấu của
Đảng, chống sự tha hóa trong tổ chức đảng và đảng viên. Kiểm soát xã hội là cơ
chế mà dựa vào đó, xã hội và các bộ phận của nó (các nhóm, các tổ chức) bảo đảm
việc tuân thủ các chế định xã hội, ngăn ngừa những hành vi gây tổn thất cho hoạt
động của hệ thống xã hội, cho bộ máy và công việc quản lý xã hội. Công việc kiểm
soát xã hội là do cơ quan nhà nước, các tổ chức, cũng như các nhóm xã hội tiến
hành, dưới nhiều hình thức: sự kiểm soát lẫn nhau của những người tham gia vào
quá trình kiểm soát, dư luận xã hội (chẳng hạn như lên án về mặt đạo đức, tẩy
chay không tiếp xúc)... Việc thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào hoạt động
của các cơ quan kiểm soát xã hội là cần thiết có tác dụng tích cực. Vì vậy, để
nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng rất cần có kiểm soát
xã hội với sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt
trận, báo chí, doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp - ngành nghề, ban thanh
tra nhân dân và đông đảo quần chúng nhân dân. Trong chế độ dân chủ và pháp quyền
xã hội chủ nghĩa thì quyền lực nhà nước không phải quyền lực tự có của nhà nước
mà quyền lực được nhân dân ủy quyền, nhân dân giao quyền. Vì thế, tất yếu nảy
sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soát quyền lực nhà nước. Theo
pháp luật hiện hành của nước ta đã hình thành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
bằng các phương thức, như giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của bộ
máy nhà nước; thanh tra, kiểm tra trong bộ máy hành pháp; giám sát, kiểm tra của
cơ quan cấp trên đối với cơ quan cấp dưới; giám đốc thẩm trong hoạt động xét xử
của tòa án… Tuy nhiên, chỉ có cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong nói
trên thì chưa đầy đủ và chưa phát huy được hiệu lực, hiệu quả như mong muốn.
Tình trạng lạm dụng quyền lực nhà nước dẫn đến tiêu cực, tham nhũng trong bộ
máy nhà nước ngày càng phức tạp, khiến lòng dân không yên. Vì thế, kiểm soát
quyền lực trong nhà nước pháp quyền chỉ có thể đạt được khi có một cơ chế và điều
kiện đầy đủ, cần thiết cho sự vận hành của nó trên thực tế. Cơ chế đó phải bao
gồm cả kiểm soát từ bên trong (các cơ quan nhà nước) lẫn kiểm soát từ bên ngoài
(kiểm soát xã hội) gồm kiểm soát của: Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội, báo chí, người dân, doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề trong tổ
chức quyền lực nhà nước và đều hướng tới việc bảo đảm cho quyền lực nhà nước được
sử dụng đúng mục đích, thực thi có hiệu lực, hiệu quả. Sự giám sát từ phía xã hội
có vai trò làm hạn chế tối đa sự lạm dụng quyền lực nhà nước vì mục đích cá
nhân. Nguồn gốc sâu xa của tệ tham nhũng, là do quyền lực luôn có nguy cơ bị
“tha hóa”, trong khi tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực nhà nước;
mặt khác, quyền lực nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước suy
cho cùng là giao cho những người cụ thể thực thi, “mà con người thì luôn chịu ảnh
hưởng của các loại tình cảm và dục vọng… khiến cho lý tính đôi khi bị chìm khuất”(3).
Đặc biệt là khi lý tính bị chi phối bởi các dục vọng, thói quen hay tình cảm
thì khả năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực nhà nước càng lớn. Do đó, việc
tổ chức và sử dụng quyền lực nếu không có những rào chắn, sự kiểm soát thì quyền
lực rất dễ bị thao túng, sử dụng vì mục đích cá nhân. Trong một xã hội dân chủ,
sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía xã hội được mở rộng, khi mọi hoạt động
của nhà nước đều phải công khai, minh bạch và nằm trong tầm kiểm soát của xã hội,
mọi sự lạm quyền hay tùy tiện của nhà nước thông qua hành vi của công chức nhà
nước sẽ ít có cơ hội diễn ra và do đó, tham nhũng cũng khó nảy sinh. Từ góc độ
này có thể thấy rằng, ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, sự kiểm soát quyền
lực nhà nước từ phía xã hội là đương nhiên, tất yếu, xuất phát từ chính nguồn gốc
ra đời của nhà nước. C. Mác và Ph. Ăng-ghen trong khi hình dung một xã hội mới
là xã hội xã hội chủ nghĩa để thay thế các chế độ cũ (chế độ người bóc lột người),
thì một trong những vấn đề được đặt ra là phải tổ chức một bộ máy nhà nước như
thế nào để có thể khắc phục được tệ nạn tham nhũng như một căn bệnh thâm căn, cố
đế của các bộ máy nhà nước cũ, để thực sự trở thành một nhà nước của nhân dân.
V.I. Lê-nin cho rằng, tham nhũng chính là kẻ thù bên trong, những kẻ thù nguy
hiểm nhất, khi mà chủ nghĩa xã hội còn đang trong “thời kỳ thoát thai, quá độ”,
khi mà những dấu vết của xã hội cũ vẫn còn, thì những hành vi tham nhũng vẫn
còn, vẫn tồn tại không những trong các cơ quan xô-viết, mà trong cả các cơ quan
của Đảng nữa. Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công,
dù Nhà nước dân chủ nhân dân mới ra đời nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi
trọng việc chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, chống quan liêu. Hồ Chí Minh coi
tham ô, tham nhũng, lãng phí là tội lỗi đê tiện nhất. Người viết: “… Đứng về
phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư. Đục khoét của nhân
dân. Ăn bớt của bộ đội. Tiêu ít mà khai nhiều…”. Kế thừa quan điểm cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng “lấy dân làm gốc”
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ kinh nghiệm phát huy vai trò của nhân dân trong
các cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước trong hơn 90 năm qua, Đảng ta
luôn coi trọng công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là từ khi
tiến hành công cuộc đổi mới đến nay. Điều đó được thể hiện trong các văn kiện Đại
hội của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng... Trong các quan điểm, chủ trương của Đảng
thì phát huy vai trò của xã hội, của nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống
tham nhũng được coi là một biện pháp quan trọng. Điều này thể hiện ngay trong
Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 15-5-1996, của Bộ Chính trị, “Về lãnh đạo cuộc đấu
tranh chống tham nhũng” - Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng ta về đấu
tranh phòng, chống tham nhũng đã chỉ rõ vai trò của các tổ chức chính trị - xã
hội, quần chúng nhân dân và báo chí trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, “… nêu cao trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, động viên
tính tích cực của nhân dân, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại
chúng trong đấu tranh chống tham nhũng...”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần
2) khóa VIII tiếp tục khẳng định vai trò của nhân dân, của báo chí trong phòng,
chống tham nhũng và “... chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng nêu gương “người
tốt, việc tốt” giới thiệu kinh nghiệm của các điển hình tiên tiến; lên án cái xấu,
cái ác, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu”. Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 9 khóa IX cũng chỉ rõ: “Đổi mới cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm
những điều kiện cần thiết và thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân
các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo luật định; đề cao vai trò giám
sát, hướng mạnh về cơ sở…”. Đại hội X của Đảng đặt nhiệm vụ đấu tranh chống
tham nhũng là một nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Theo đó, phải
“Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của Mặt trận, các đoàn thể và của các
cơ quan thông tin đại chúng”; “Thiết lập cơ chế khuyến khích, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của những người phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng”. Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 3 khóa X “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” đã đề ra 5 quan điểm chỉ đạo đối với
công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, trong đó, vai trò của xã hội được
coi là định hướng quan trọng. Đó là: “Đề cao vai trò của báo chí trong phòng,
chống tham nhũng, lãng phí;… Bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo
tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí…Tăng cường công tác
giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng; Nâng cao hiệu quả của
thanh tra nhân dân..” và “… hình thành
cơ chế nhân dân giám sát hoạt động của cán bộ, công chức…”. Nghị quyết Đại hội
XI, XII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm “Phát huy vai trò của các cơ
quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin
đại chúng và của nhân dân trong đấu tranh phòng; chống tham nhũng, lãng phí”.
Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị về việc ban hành
“Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn
thể chính trị - xã hội” đã nêu rõ mục đích của giám sát, xác định chủ thể giám
sát là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung
ương đến cơ sở; đối tượng giám sát là các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến cơ
sở; cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước. Thể chế
hóa quan điểm của Đảng, tại Khoản 2, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng
Cộng sản Việt Nam... chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân
dân về những quyết định của mình” và “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức
nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với
nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu
tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”
(Điều 8, Hiến pháp năm 2013). “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... giám sát, phản biện
xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước,... Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội
khác hoạt động” (Điều 9). Và “… Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản
lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến,
kiến nghị của công dân” (Điều 28, Hiến pháp năm 2013).
Khuyến khích sự
tham gia và phát huy vai trò của xã hội luôn được Đảng và Nhà nước ta coi là một
trong những biện pháp cơ bản trong đấu tranh chống tham nhũng và được thể chế
hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quan trọng đầu tiên được kể
đến là Việt Nam tham gia đàm phán, xây dựng, chính thức phê chuẩn Công ước của
Liên hợp quốc về chống tham nhũng vào ngày 30-6-2009 và chính thức có hiệu lực
từ ngày 18-9-2009. Đây được coi là sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng thể
hiện quyết tâm và cam kết của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế trong công cuộc
phòng, chống tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ
sung các năm 2007, 2012), Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã tạo lập
khung pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham
nhũng ở nước ta. Các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng đã tạo ra môi
trường thể chế ngày càng công khai, minh bạch; từng bước tăng cường sự tham gia
của người dân trong phòng, chống tham nhũng; cơ chế kiểm soát tài sản đối với
cán bộ, công chức, viên chức và chế độ công vụ ngày càng được quan tâm; việc xử
lý người có hành vi tham nhũng và tài sản tham nhũng cũng được chú trọng và
nâng cao hiệu quả; bộ máy cơ quan phòng, chống tham nhũng bước đầu được củng cố,
kiện toàn. Bên cạnh đó, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp và
gián tiếp quy định về phòng, chống tham nhũng đã được ban hành và phát huy tác
dụng trong thực tiễn, như Luật Thanh tra năm 2010; Luật Tố cáo năm 2018; Luật
Khiếu nại năm 2011; Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 và 2015; Bộ luật
Tố tụng hình sự 2003, sửa đổi, bổ sung năm 2015; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
năm 2015; Luật Tiếp công dân năm 2013; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Nghị
quyết số 21/NQ-CP, ngày 12-5-2009, của Chính phủ, “Ban hành chiến lược quốc gia
phòng, chống tham nhũng đến năm 2020”; Nghị định số 47/2007NĐ-CP, ngày
27-3-2007, “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng,
chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham
nhũng”; Nghị định số 90/2013/NĐ-CP, ngày 8-8-2013, “Quy định trách nhiệm giải
trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao”;
Chỉ thị số 10/ CT-TTg, ngày 12-6-2013, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc đưa nội
dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục - đào tạo từ
năm học 2013 - 2014”...Như vậy có thể thấy, dù quy định trực tiếp hay gián tiếp,
Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật đều nhất quán thừa nhận, khẳng định
vai trò của xã hội, của công dân trong phòng, chống tham nhũng. Đây là một biểu
hiện tiến bộ của dân chủ, vì sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía xã hội là
một điều kiện để phòng ngừa tham nhũng từ xa, hiệu quả. Điều này khẳng định, ở
Việt Nam, vai trò của xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng không chỉ
xuất phát từ lý thuyết về sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía xã hội mà còn
xuất phát từ bản chất của Nhà nước Việt Nam theo ghi nhận của Hiến pháp “là Nhà
nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Khi lợi ích của Đảng đồng thời
được coi là lợi ích của Nhà nước và của nhân dân thì hành vi tham nhũng làm tổn
hại đồng thời đến lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội. Do vậy, tham
nhũng là kẻ thù chung, chống tham nhũng không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, của
Đảng, mà là nhiệm vụ của toàn xã hội./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét