Thứ Ba, 14 tháng 6, 2022
XIN ĐỪNG VÔ ƠN VÀ CŨNG ĐỪNG LÃNG QUÊN!
NGỤY SỬ SẼ BỊ DẸP TAN!
Từ năm 2004-2008, đồng chí Biên là Bí thư chi bộ thôn Nà Khao, xã Yên Thắng; từ năm 2009 thực hiện sáp nhập thôn, đồng chí tiếp tục được cán bộ, đảng viên tín nhiệm bầu làm Bí thư chi bộ kiêm Trưởng Ban Công tác mặt trận thôn Thâm Pồng. Với vai trò của mình, đồng chí Biên đã cùng với tập thể Chi bộ, Ban Công tác mặt trận, đoàn thể tuyên truyền, vận động nhân dân trong thôn tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
Phát huy trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, nữ Bí thư chi bộ thôn Thâm Pồng luôn tiên phong trong mọi công việc, gắn bó mật thiết với nhân dân. Nhờ gần gũi bà con tuyên truyền, vận động, đồng chí Biên đã giúp bà con hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa của chương trình xây dựng nông thôn mới, nhờ đó tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương, thôn Thâm Pồng đã vận động được 30 hộ hiến 1.100m2 đất làm đường giao thông nông thôn, 1.590m đường bê-tông nội thôn, bê-tông hóa 150m đường ngõ xóm. Nhân dân trong thôn cũng đóng góp xây dựng cơ sở vật chất nhà văn hóa, lắp ca-mê-ra an ninh, xây dựng đường điện “ánh sáng đường quê” hàng trăm triệu đồng. Bên cạnh đó, đồng chí Biên đã chỉ đạo công tác phối hợp giữa các đoàn thể xây dựng đoạn đường tự quản, trồng hoa đoạn đường dài 1.500km, hằng tháng đều huy động nhân dân vệ sinh, quét dọn, chăm sóc cây, tạo cảnh quan xanh, sạch, đẹp.
Để lãnh đạo chi bộ thực hiện nghị quyết của đảng ủy xã về phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, đồng chí Biên cùng những đảng viên trong chi bộ tích cực tuyên truyền bà con nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế. Nhờ những đảng viên tiên phong, gương mẫu làm trước, các hộ trong thôn làm theo, đến nay đã mở rộng được 14,5ha cây lâm nghiệp (quế, bồ đề…) và cây ăn quả (cam, quýt…); nhiều hộ gia đình mở rộng chăn nuôi gia súc, gia cầm. Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi đã góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình trong thôn Thâm Pồng, nhiều hộ vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng. Hiện nay, thôn Thâm Pồng đang tập trung xây dựng trở thành thôn nông thôn mới kiểu mẫu năm 2021.
Trong công tác chi bộ, đồng chí Biên luôn năng nổ, nhiệt tình, có nhiều giải pháp sáng tạo nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Đặc biệt, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong chi bộ được đồng chí Bí thư chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và hiệu quả. Chi bộ và các đảng viên xây dựng kế hoạch học tập và làm theo Bác cụ thể, thiết thực, gần gũi với đời sống.
Với sự đóng góp của đồng chí Biên, nhiều năm qua, Chi bộ thôn Thâm Pồng nhiều năm liền được Đảng bộ xã Yên Thắng công nhận là Chi bộ trong sạch, vững mạnh, được tuyên dương, khen thưởng. Bí thư Mông Thị Long Biên nhiều năm liền là đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhận nhiều bằng khen, giấy khen của cấp ủy các cấp. Năm 2019, đồng chí Mông Thị Long Biên tham dự và đạt giải cao tại Cuộc thi Bí thư chi bộ giỏi do huyện Lục Yên tổ chức. Tháng 6-2021, đồng chí vinh dự là đại diện điển hình của tỉnh Yên Bái được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ nhân dịp sơ kết toàn quốc 5 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
- Thường xuyên “vun gốc, tỉa cành”
1. Mỗi kỳ đại hội Đảng toàn quốc, công tác cán bộ luôn là một trong những vấn đề quan trọng được xem xét, bàn thảo kỹ lưỡng, về những thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân của hạn chế, yếu kém. Đặc biệt, trên cơ sở tổng kết 10 năm đổi mới, BCH Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh”.
Những năm gần đây, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận về công tác cán bộ. Trong đó phải kể đến Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 26-NQ/TW (khóa XII) về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.
Sau 23 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển nhiều mặt. Sự trưởng thành, phát triển của đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng đã góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước, giúp đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín lớn mạnh nhất từ trước đến nay.
Để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, Đảng đã tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, lấy phòng ngừa làm trọng, lấy xây là chính; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, ngăn chặn những hành vi vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu gương mẫu trong cuộc sống với mục đích “trị bệnh cứu người”. Đảng kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, đến sự phát triển của đất nước. Rõ nhất là từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự…
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc chuẩn bị đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng” chỉ rõ yêu cầu, nội dung, phương pháp, cách thức tiến hành. Qua đó khẳng định mục tiêu là phải lựa chọn được những đồng chí thật sự tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn. Đồng thời không để lọt vào BCH Trung ương khóa XIII những người có một trong 6 nhóm khuyết điểm đã được chỉ ra. Đó là những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính…
Để có được nguồn cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, đặc biệt từ khi có Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhiều văn bản của Đảng về công tác cán bộ được ban hành. Trong đó nổi bật là Quy chế đánh giá cán bộ, công chức (ban hành theo Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 8-2-2010 của Bộ Chính trị khóa X). Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đánh giá cán bộ, Bộ Chính trị (khóa XII) có Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Tiêu chuẩn cán bộ và khung tiêu chí đánh giá từng loại cán bộ được ban hành theo Quy định số 89-QĐ/TW, Quy định số 90-QĐ/TW đã thể hiện quyết tâm của Đảng trong đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, đấu tranh không khoan nhượng với tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, lợi ích nhóm trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đây cũng là công cụ để Đảng kiểm soát quyền lực cán bộ, nhân dân giám sát, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên trong việc sử dụng quyền lực được giao.
Việc thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và nghị quyết các kỳ đại hội; nghị quyết, quy định của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng không ngừng được kiện toàn, được đào tạo cơ bản và tương đối toàn diện về chính trị cũng như chuyên môn, nghiệp vụ. Đặc biệt là đã xuất hiện nhiều cán bộ trẻ tài năng, là nguồn kế cận thế hệ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược trong tương lai với tư duy, tầm nhìn mới.
2. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, công tác cán bộ của Đảng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất. Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh. Năng lực chưa đồng đều; nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp. Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và những mặt trái của quá trình toàn cầu hóa, một bộ phận cán bộ của Đảng đã bị thoái hóa, biến chất, tình trạng ngại phấn đấu, rèn luyện đã xuất hiện trong số cán bộ trẻ.
Điều đáng quan tâm là một số cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến mức tha hóa, biến chất, tham nhũng, vi phạm kỷ luật, pháp luật, bị khai trừ Đảng, bị xử lý hình sự những năm qua thật đau xót. Trong đó có những đảng viên 30-40 tuổi đảng, cán bộ cấp Trung ương quản lý, phần đông cán bộ có chức vụ chính quyền và đều tham gia cấp ủy, hoặc đứng đầu cấp ủy. Nhiều người có học hàm giáo sư, phó giáo sư, là tiến sĩ, nhiều người có 2-3 bằng thạc sĩ, cử nhân và phần lớn cán bộ các cấp vi phạm kỷ luật và phạm tội nêu trên đều có trình độ lý luận chính trị cao cấp. Trong đó, vụ việc gần đây khi nhiều cán bộ bị bắt liên quan đến Công ty Việt Á hay các chuyến bay giải cứu công dân trong bối cảnh đại dịch đã gây nhiều bức xúc đối với dư luận…
Điểm lại như thế để thấy rất rõ không chỉ có số lượng vụ án tham nhũng, mà hành vi tham nhũng và đối tượng tham nhũng ngày càng tinh vi, tập trung vào những người có chức quyền, học thức, đã từng có nhiều đóng góp cho đất nước trên cương vị công tác của bản thân. Điều này một lần nữa giong lên hồi chuông báo động về tình trạng tham nhũng, tiêu cực, cần phải kiên quyết, có biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn.
Câu chuyện về chống tham nhũng và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xử lý những cán bộ thoái hóa, biến chất đến nay vẫn là bài học kinh nghiệm còn nguyên giá trị. Bác ví von độc đáo, một thân cây đã bị sâu đục những lỗ to, chảy hết nhựa, muốn cứu cái cây phải bắt giết hết những con sâu. Với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng thế, nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo.
3. Với quyết tâm chính trị cao, vận dụng sáng tạo và hiệu quả tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ vào thực tiễn, Đảng đề ra nhiều biện pháp tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định: "Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Đây là lần đầu tiên nội dung “xây dựng, chỉnh đốn Đảng về cán bộ” được cụ thể, nhắc đến với tư cách là nội dung thứ năm nằm trong mệnh đề về xây dựng Đảng, nhằm tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh hơn nữa vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ. Dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên phát huy năng lực, sở trường trong công tác, ngay đầu nhiệm kỳ XIII, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Điều này một lần nữa khẳng định đây là vấn đề được Đảng rất quan tâm, qua đó giúp cán bộ, đảng viên tự tin hơn, dám bước qua những lối mòn, thách thức, có thêm những cơ hội để cống hiến cho đất nước, nhân dân. Đây chính là sự cụ thể hóa phương hướng của nhiệm kỳ Đại hội XIII là xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Mặt khác, nhằm khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, Kết luận 14-KL/TW nêu vấn đề “khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp. Những định hướng này góp phần tạo niềm tin và động lực để cán bộ, đảng viên dám dấn thân cống hiến vì lợi ích chung. Việc xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm là giải pháp căn cơ đối với công tác cán bộ, qua đó thúc đẩy sự phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương và rộng hơn là sự phát triển của cả đất nước. Đây chính là cơ chế tạo động lực cho sự đổi mới, bứt phá, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, của cán bộ.
Cùng với sự khuyến khích đột phá, Bộ Chính trị ban hành Quy định 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ, mở đường cho sự tự sàng lọc cán bộ sát với thực tế hiện nay. Quy định nêu rõ kiên quyết, kịp thời xem xét cho miễn nhiệm, từ chức với cán bộ khi có đủ căn cứ. Việc ban hành Quy định số 41-QĐ/TW là một bước hoàn thiện hơn công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng ta, để việc từ chức của những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực trình độ dần trở thành nét "văn hóa" trong hoạt động của Đảng.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong đó tiếp tục xác định cán bộ, công tác cán bộ là vấn đề then chốt của then chốt. Các nghị quyết, quy định, kết luận của Đảng cùng với việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tổ chức luân chuyển rèn luyện thực sự là “công việc gốc của Đảng” thường xuyên “vun gốc, tỉa cành” nhằm xây dựng được một đội ngũ cán bộ “có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu” để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng, kịp thời giải quyết những tư tưởng mới nẩy sinh, nhạy bén trước những thủ đoạn, luận điệu của kẻ thù, những tác động tiêu cực của xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường để ngăn ngừa và định hướng tư tưởng cho bộ đội.
Thường xuyên làm tốt công tác quản lý con người, quản lý tư tưởng bộ đội. Thực hiện nghiêm quy định về bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, quản lý đơn vị mọi mặt, phát huy dân chủ đề cao kỷ luật, triệt để chấp hành mệnh lệnh trong bất kỳ tình huống và hoàn cảnh nào, chủ động kiên quyết làm thất bại chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, ý đồ móc nối phá hoại nội bộ của ta, kịp thời phát hiện ý đồ phá hoại của địch để chủ động đối phó làm thất bại mọi âm mưu hành động phá hoại của chúng từ khi mới manh nha. Chủ động phát hiện những sơ hở thiếu sót của đơn vị trong quản lý nội bộ, phòng gian bảo mật, chấp hành các nội quy, chế độ ra vào doanh trại để chấn chỉnh kịp thời. Quản lý chặt chẽ các mối quan hệ xã hội của bộ đội, không để kẻ địch lợi dụng, kích động, lôi kéo mua chuộc.
Nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố trận địa tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ trong quân đội là một nội dung rất quan trọng, cấp thiết trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội trong giai đoạn mới của cách mạng. Thực hiện tốt các giải pháp trên góp phần xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố trận địa tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ trong quân đội một nội dung biện pháp quan trọng trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động.
Không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" của địch.
Để nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị, phải đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp giáo dục cho phù hợp với từng đối tượng và nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị. Tập trung giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu, thủ đoạn chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Thường xuyên thông tin những diễn biến tình hình trong nước và trên địa bàn đóng quân, nhằm làm cho bộ đội thấy hết tính chất nguy hiểm, phức tạp của chiến lược "diễn biến hoà bình". Nắm vững phương châm: Tích cực, chủ động, kịp thời, kiên quyết, lấy phòng ngừa là chính. Trên cơ sở đó phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo, luôn luôn đề cao cảnh giác với những phương thức tác động từ xa như: Đài phát thanh, tranh ảnh, băng hình, sách báo phản động đồi truỵ tác động thâm nhập vào đơn vị.
Duy trì thường xuyên các hình thức thông báo chính trị, nói chuyện thời sự, đọc báo, điểm báo, bản tin truyền thanh, bản tin tuần, thi tuyên truyền viên cũng như các hình thức sáng tạo khác. Khi cung cấp thông tin cho bộ đội phải bảo đảm tính tư tưởng, chân thực, có tác dụng giáo dục cho bộ đội và đẩy lùi các luồng thông tin từ các kênh không chính thức khác.
Tích cực tổ chức cho bộ đội luyện tập thành thục các phương án bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong đơn vị và khu vực đóng quân, thực hành tuyên truyền giáo dục về âm mưu thủ đoạn của kẻ thù trong thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình" với cách mạng nước ta cho nhân dân khu vực đóng quân. Kết hợp chặt chẽ giữa xây với chống, kịp thời đấu tranh với nhận thức tư tưởng sai trái trong cán bộ, chiến sĩ, nhất là những biểu hiện hoang mang dao động trước sự tấn công của chiến lược "diễn biến hoà bình" do các thế lực thù địch tiến hành với cách mạng nước ta. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với tự giáo dục, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong tập thể đơn vị, khen thưởng và xử phạt nghiêm minh, chính xác và kịp thời.
Tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình” của địch.
Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò, chức năng trong lãnh đạo, tổ chức đấu tranh chống "diễn biến hoà bình" của địch. Hàng tháng, hàng quý, trong từng nhiệm vụ, căn cứ vào nghị quyết của cấp trên, tình hình thực tiễn của đơn vị, nhất là tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, âm mưu, thủ đoạn cụ thể của địch ở khu vực đóng quân, xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp. Tập trung chăm lo giáo dục, rèn luyện đảng viên, nhất là nâng cao giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước, nhiệm vụ của quân đội, đơn vị, nhiệm vụ cụ thể của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Những yêu cầu về phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống cho mọi cán bộ đảng viên, làm cho mỗi đảng viên của chi bộ, đảng bộ, thực sự mẫu mực về mọi mặt cho mọi người học tập và noi theo. Đồng thời, uốn ắn những nhận thức lệch lạc, những quan điểm mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh đạo của Đảng. Động viên hướng dẫn đội ngũ đảng viên tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, đạo đức cách mạng. Coi đó là một nhiệm vụ bắt buộc của người đảng viên. Định kỳ kiểm tra rút kinh nghiệm kịp thời. Chi bộ, đảng bộ khuyết khích đảng viên tích cực tham gia và trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong đơn vị và khu vực đóng quân, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của địch.
Chú trọng các biện pháp lãnh đạo quản lý tốt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Cần có kế hoạch quản lý chặt chẽ, phân công giao nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ, đảng viên, đảm bảo nắm chắc tình hình tư tưởng không để xẩy ra hiện tượng đột biến về tư tưởng. Kịp thời nắm bắt, giải quyết những tư tưởng mới nẩy sinh, nhạy bén trước những thủ đoạn, luận điệu chống phá của kẻ thù, những tác động tiêu cực của xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường. Nắm chắc diễn biến tình hình mọi mặt định hướng kịp thời đúng đắn nhận thức, tư tưởng cho mọi người khi có tình huống tư tưởng nảy sinh, hạn chế thấp nhất những sai sót, tiêu cực có thể xẩy ra.
Trong củng cố xây dựng tổ chức,làm tót công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là trong công tác kết nạp đảng viên, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ… Tiến hành thường xuyên, có chất lượng công tác kiểm tra, giám sát. Kịp thời xử lý đúng đắn những trường hợp vi phạm có liên quan đến vấn đề chính trị, không để xẩy ra hậu quả nghiêm trọng. Phát huy tốt sức mạnh tổng hợp, nhất là vai trò cấp uỷ, cán bộ chủ trì, cán bộ chuyên môn và vai trò của quần chúng trong các hoạt động nói trên. Kịp thời thông báo bằng những hình thức thích hợp tình hình đất nước, quân đội, đơn vị các hoạt động phá hoại của "diễn biến hoà bình" nhất là khu vực đóng quân của đơn vị. Định hướng nhận thức đúng đắn giúp mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có ý thức cảnh giác cao, tin tưởng và chủ động trong các hoạt động. Làm tốt công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nhiệm đơn vị và trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" làm cho chi bộ, đảng bộ thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị của Đảng ở đơn vị cơ sở. Trực tiếp làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của địch từ cơ sở.
Tăng cường giáo dục chính trị tư tư tưởng,kết hợp chặt chẽ với huấn luyện quân sự để xây dựng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa tư tưởng cho bộ đội .
Xây
dựng bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa tư tưởng cho bộ đội phải
được quán triệt vào quá trình giáo dục, huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu
biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt với thực hiện nhiệm vụ chính
trị của đơn vị và các mặt công tác khác, trước hết là nâng cao chất lượng huấn
luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.
Giáo dục, huấn luyện phải hướng vào
bồi dưỡng năng lực cụ thể trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà
bình", "phi chính tri hoá" quân đội cho cán bộ, chiến sĩ. Trong
huấn luyện, cần tổ chức huấn luyện cho bộ đội sát với yêu cầu nhiệm vụ phòng
chống chiến lược "diễn biến hoà bình", phi chính trị hoá" quân
đội. Thường xuyên bổ sung, hoàn thiện phương án chiến đấu đặc biệt coi trọng
thành thục về kỹ thuật, chiến thuật, hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng,
các bộ phận. Nắm vững phương châm và nguyên tắc để giải quyết đúng đắn, linh
hoạt các tình huống phức tạp, nhất là các tình huống A2. Các nội dung huấn
luyện phải quán triện rõ phương châm: "Lấy xây dựng bên trong là chính để
hỗ trợ cho bên ngoài" và ngược lại. Quá trình giáo dục, huấn luyện phải
được cụ thể hoá vào trong nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hoà bình",
sát với nhiệm vụ tác chiến khu vực phòng thủ, nhiệm vụ A2. Kết hợp giáo dục,
huấn luyện toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các bộ phận hoạt động nhỏ
bé, xa đơn vị và khi làm nhiệm vụ đột xuất.
Công tác tư tưởng cần hướng vào thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của
đơn vị. Trước khi bước vào giai đoạn huấn luyện mới, vào hình thức mới cần tổ
chức quán triệt, nâng cao ý thức trách nhiệm trong huấn luyện cho bộ đội. Công
tác giáo dục chính trị tư tưởng cần bám sát từng hình thức phù hợp. Đồng thời
công tác tư tưởng cần bám sát từng đối tượng phân tích đúng, kịp thời diễn biến
tư tưởng của bộ đội, để có biện pháp phối hợp với hoạt động giáo dục, huấn
luyện tạo định hướng đúng đắn tư tưởng cho bộ đội.
Nhận diện rõ thủ đoạn và làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự. 16 tôn giáo gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tôn giáo Baha’I, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Cơ đốc Phục lâm, Phật giáo Tứ Ân Hiếu nghĩa, Minh Sư đạo, Minh lý đạo - Tam Tông Miếu, Bà-la-môn giáo, Mặc môn, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Bửu Sơn Kỳ Hương10. Tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định: Tiếp tục phát huy vai trò, tác động tích cực của tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó, Đảng ta nhấn mạnh yếu tố văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; thực hiện đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mục tiêu trong thực hiện công tác tôn giáo. Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Đảng ta đặt mục tiêu của công tác tôn giáo là đoàn kết tôn giáo trong mục tiêu chung đại đoàn kết toàn dân tộc là phù hợp, kế thừa, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phản ánh đúng ý chí, khát vọng của người Việt Nam hiện nay, trong đó có đồng bào có đạo. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người là sự khái quát đầy đủ chủ trương nhất quán của Đảng ta đối với vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo. Chủ động lắng nghe, giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân, chủ động, kịp thời phát huy những tác động tích cực, hạn chế, phê phán, đấu tranh, xử lý các biểu hiện tiêu cực liên quan đến tôn giáo.
Như vậy, Đảng ta đã kế thừa, bổ sung, tiếp thu những đóng góp quý báu từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, nhất là nguyện vọng của đồng bào có đạo, phù hợp với thực tiễn sinh động của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đây là cơ sở định hướng trong nhận thức và thực hiện có hiệu quả công tác tôn giáo, tiếp tục phát huy “các nguồn lực của các tôn giáo” cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đồng thời đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta./.
Đập tan những luận điệu xuyên tạc, lố bịch
Cần khẳng định ngay rằng, đây là luận điệu xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử hết sức lố bịch. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã được thế giới (ngay cả những chính khách, tướng lĩnh Mỹ từng trực tiếp tham gia cuộc chiến đó) ghi nhận như một biểu tượng của tinh thần quả cảm, không chịu khuất phục của phẩm giá con người.
Khi thực dân Pháp đứng trước nguy cơ bị thất bại ở Việt Nam và Đông Dương, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự cho Pháp. Theo thống kê của BQP Mỹ, tính tới năm 1954, Mỹ đã chi tới 78% chiến phí cho Pháp; đã gửi hàng trăm phi công, cố vấn quân sự để giúp quân đội viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ. Thậm chí khi Điện Biên Phủ nguy cấp, Chính quyền Mỹ đã tính đến kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân để cứu nguy cho Pháp nhưng không được Quốc hội đồng ý. Sau khi Hiệp định Giơ/ne/vơ được ký kết, Mỹ đã thay chân Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm để phá hoại Hiệp định; mặt khác, tìm cách can thiệp trực tiếp bằng quân sự vào Việt Nam. Chính quyền Mỹ đã dựng lên cái gọi là “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” (ngày 04-8-1964), mà sau này, những người đứng đầu chính giới Mỹ lúc bấy giờ, là Tổng thống Giôn-xơn, Bộ trưởng Quốc phòng Mắc-na-ma-ra đều phải thừa nhận là “sự dối trá tai hại nhất” để mở đầu cho cuộc “thập tự chinh” ở Việt Nam, cho phép Tổng thống Giôn-xơn quyền không giới hạn để ngăn chặn “sự hiếu chiến của Cộng sản”.
Như vậy, cuộc kháng chiến hào hùng oanh liệt của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là bản hùng ca bất diệt, mãi mãi đi vào lịch sử, khẳng định tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Nó thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, từ cường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và nhiều thử thách, cam go, ác liệt nhất. Chiến thắng 30/4 là chiến công oanh liệt của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Phát huy tinh thần cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc ta lại vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.
Nhận rõ mặt kẻ xuyên tạc lịch sử
Hằng năm, cứ vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám 1945, trên các trang mạng, các thế lực thù địch lại tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc ý nghĩa của sự kiện này. Chúng tuyên truyền rằng: Cách mạng Tháng Tám 1945 với việc lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền chỉ là sự "ăn may" khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh...
Có thể khẳng định, Cách mạng Tháng Tám thành công, dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của quân và dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra kỷ nguyên mới, bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. Trong suốt chiều dài lịch sử, từ khi CMT8 thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng là chặng đường kiên trì, bền bỉ phấn đấu hy sinh vượt qua nhiều thử thách, cam go ác liệt. Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, đưa cả nước bước vào thời kỳ mới với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay, chúng ta đã gặt hái được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những thành tựu ấy là minh chứng hùng hồn đầy sức thuyết phục cho vị thế và giá trị đích thực của hòa bình, tự do, độc lập mà Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đem lại. Bất cứ người Việt Nam yêu nước chân chính nào cũng nhận thấy giá trị cao quý, thiêng liêng và rất đỗi tự hào trước những thành quả mà cách mạng đem tới. Giá trị lịch sử, ý nghĩa thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 là không thể phủ nhận. Thời gian càng lùi xa thì tầm vóc, vị thế và giá trị thời đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 ngày càng tỏa sáng. “Ôn cố tri tân” vừa là đạo lý, vừa là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nhiệm vụ giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử, truyền thống dân tộc trong xu thế hội nhập là yêu cầu tất yếu, là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách với chúng ta.
Vững tin hành động
Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ ban hành đầu năm 2021 thể hiện quyết tâm cao, hành động quyết liệt, nhất quán thực hiện hiệu quả mục tiêu kép, vừa phòng, chống bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển KT-XH. Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác để kích thích tổng cầu phù hợp, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng; đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Theo dõi sát diễn biến tình hình trong nước và quốc tế, kịp thời dự báo và chuẩn bị phương án, kịch bản, biện pháp, đối sách ứng phó hiệu quả với những biến động, vấn đề mới phát sinh. Tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch Covid-19.
Từ kinh nghiệm và kết quả ứng phó, khống chế dịch Covid-19 trong năm 2020, 2021 vừa qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn có niềm tin vững chắc vào sự thành công trong nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian tới. Hiện nay chúng ta đã phủ vawcxin với tỷ lệ cao, hầu hết các ổ dịch đã được khống chế hiệu quả. Hiệu quả vượt bậc của chiến lược tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo 3 trục sản phẩm, gồm: Nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm là đặc sản địa phương là một điển hình. Chiến lược tái cơ cấu này đã và đang tạo nên những bước đột phá vượt bậc, đưa hàng loạt sản phẩm và vùng sản phẩm nông nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, nâng cao năng suất, hiệu quả và đặc biệt là giá trị sản phẩm cao gấp hàng chục lần so với sản xuất truyền thống trước đây. Thực hiện mục tiêu kép, các hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn được duy trì, phát triển trong trạng thái bình thường mới. Học sinh các cấp đã được đến trường, kinh tế đang phục hồi nhanh, du lịch bắt đầu khởi sắc... niềm tin của dân với Đảng, Nhà nước tăng cao. Đó là những bằng chứng hùng hồn sinh động thể hiện rõ một đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đang đi đúng hướng.
Tẩy chay luận điệu của các “nhà” tự xưng
Để tăng độ "nóng" cho các luận điệu xuyên tạc hiện
nay, một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử
dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ
bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà
bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi
trường”, “chuyên gia của dân oan”... Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà”
này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa
đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống KT-XH để
lèo lái dư luận. Tuy nhiên, khi vào trang cá nhân trên MXH của một số loại
“nhà” này thì thấy, không ít đối tượng đã lợi dụng chiêu trò để đánh bóng tên
tuổi, bán hàng online, kinh doanh kiếm tiền. Mục tiêu của nhiều đối tượng dạng
này là trở thành những “Kols” (Key Opinions Leaders, nghĩa là những người có
tầm ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng, thường được mời tham gia các chiến dịch
truyền thông để tạo sức lan tỏa). Lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận, họ
không ngừng đánh bóng tên tuổi để trở thành “Kols”, xâm hại lợi ích quốc gia,
ám chỉ, bịa đặt, gây tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân... Đây là
chiêu trò rất nguy hiểm, từ những thông tin kiểu dẫn dụ ấy, một số cá nhân,
trong đó có cả một số người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí... lại cả
tin hùa theo, phát ngôn thiếu suy nghĩ kiểu ngẫu hứng cá nhân, bỡn cợt, đả
kích, gây hoang mang dư luận.
Không khó nhận ra chân tướng của những chiêu trò này để phân
biệt đâu là vàng, đâu là thau, đâu là hàng xi mạ bóng bẩy. Trong đối tượng có
đối tác và trong đối tác có đối tượng. Hãy nhìn cách họ thể hiện thái độ, bày
tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng để chúng ta có cách ứng xử phù hợp.
Cách tốt nhất là cùng nhau tẩy chay, đấu tranh thẳng thắn với những đối tượng
có hành vi lệch lạc về tư tưởng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng
thời góp ý chân thành, thẳng thắn với những cá nhân có biểu hiện dao động, bị
lôi kéo, dụ dỗ. Bảo vệ môi trường văn hóa tư tưởng lành mạnh, nhất là trên
không gian mạng, phải bắt đầu từ những việc làm mang tinh thần xây dựng, theo
phương châm lấy xây để chống, nhận diện rõ bộ mặt, chiêu trò lố bịch của chúng
để tẩy chay, loại bỏ.
NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
Hội nghị Trung ươpng 4 khóa XII đề ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là “xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm. Theo đó phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái”.
Xuất phát từ những lời dạy của Hồ Chí Minh và các giải pháp Trung ương nêu ra, xin nhấn mạnh, làm rõ mấy điểm như sau:
Thứ nhất, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và XIII đều đề cập công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Vấn đề đặt ra là phải xem lại chúng ta đã thực hiện nhiệm vụ, giải pháp này đến đâu? Như thế nào? Cái gì làm tốt, cái gì chưa tốt, nguyên nhân, giải pháp? Phải chăng công tác giáo dục chính trị tư tưởng vẫn chưa thật sự thấm sâu vào tim, óc của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy đảng các cấp và cán bộ, đảng viên nhận thức và thực hiện nhiệm vụ này chưa thấu.
Trong những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, có một điều rất quan trọng thể hiện tư cách của một Đảng chân chính cách mạng, xuyên suốt trong lãnh đạo của Đảng. Đó là “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(9).
Nhiệm vụ, giải pháp hàng đầu và xuyên suốt là phải xem xét lại việc giáo dục chính trị tư tưởng để có biện pháp ráo riết, triệt để khắc phục những gì làm chưa được, chưa tốt. Bởi vì, có được giáo dục chính trị tư tưởng một cách thật sự mà cụ thể là giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và trình độ chính trị, mới chống được chủ nghĩa cá nhân, làm tốt công tác Đảng giao phó cho mình.
Không ít cấp ủy, cán bộ, đảng viên xem nhẹ, coi thường việc học tập chính trị tư tưởng. Họ không hiểu rằng nhận thức sai thì hành động sai; nhận thức lệch lạc, méo mó thì hành động lệch lạc, méo mó. Hiểu không thấu thì làm không đúng. Vấn đề là học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn.
Thứ hai, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu lại, nhấn mạnh việc phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận. Đây là nhiệm vụ, giải pháp rất quan trọng và rất cần thiết được Hồ Chí Minh bàn tới rất sớm, sâu sắc, toàn diện. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII đã đề cập. Muốn nhân dân, báo chí, công luận thực hiện được vai trò giám sát thì điều quan trọng nhất là xây đắp, vun bồi nền dân chủ. Phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân. Đây là cốt lõi của giải pháp hoàn thiện tính khoa học của bộ máy và cơ chế.
Dân giám sát là một điểm mới, điểm nhấn trong Đại hội XIII. Muốn thực hiện tốt điều này, không gì tốt hơn học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Trước hết, cán bộ, đảng viên phải hiểu thấu rằng “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn… Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”(10). Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, khuyến khích, tạo điều kiện cho quần chúng nói. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Điều quan trọng nhất là để cho dân nói. Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng phải bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay”(11). Theo Hồ Chí Minh, nhân dân kiểm soát là tốt nhất, đó là kiểm soát từ dưới lên. Người viết: “Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này là cách tốt nhất”(12).
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh, phải có “cái lồng nhốt” quyền lực. “Cái lồng” đó là vai trò, trách nhiệm của các tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát, cấp ủy. Nhưng nhất định phải dựa vào “cái lồng nhân dân” với nội dung cốt tủy là dân chủ thật sự.
Cơ chế, bộ máy, trong đó có khía cạnh tính nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì hàng đầu, xuyên suốt là giải thích, thuyết phục, cảm hóa, giáo dục. Nhưng không phải là không xử phạt. Nếu không xử phạt thì mất hết kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Theo Hồ Chí Minh, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(13).
Thứ ba, ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nêu gương của cán bộ, đảng viên là hết sức quan trọng, vì “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Mặt khác, tính xấu của môt người thường, chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.
Bộ máy, cơ chế dù hoàn thiện đến đâu mà con người hư hỏng thì sẽ phá tan bộ máy. Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Tư tưởng, đạo đức, phong cách, phương pháp của các đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp có ảnh hưởng, tác động rất lớn tới quần chúng nhân dân và xã hội. Công cuộc đổi mới thuận lợi hay khó khăn, thành công nhiều hay ít đều do cán bộ tốt hay kém.
Hy vọng và tin tưởng rằng, nếu nhận thức và hành động đúng thì khía cạnh nhỏ sẽ đem lại kết quả lớn trong việc quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng./.
CẦN NHẬN RÕ NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC CỦA CÁCH MẠNG DO ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ NHỮNG TIÊU CỰC TRONG ĐẢNG
Trong mỗi nhiệm kỳ Đại
hội Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ tư thường diễn ra vào quý IV năm đầu của
nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương lần thứ tư các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và XIII
của Đảng đều có nội dung bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó cho
thấy, Đảng ta đặc biệt quan tâm tới sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi
mới. Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XIII là sự kế thừa, phát triển các
nghị quyết hội nghị Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong 35 năm đổi
mới, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XI và XII.
Nghị quyết Trung ương
4 khóa XIII nêu rõ thành tựu của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Đó là “từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng
đắn, sáng suốt, và nhờ thế đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác,
lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh
đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị
thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản
chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta -Đảng do Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam
anh hùng”.
Đồng thời, Nghị quyết
cũng vạch ra những tiêu cực, hư hỏng của cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, nhấn mạnh nhất là sự “phai
nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao
động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm đường lối của Đảng; sa sút
về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh;
thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không
còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được
giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt
Đảng”.
Trung ương nhấn mạnh
nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, “bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản
thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không
vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng,
trước dân”. Vì vậy, Trung ương nhấn mạnh phải “kiên quyết đấu tranh quét sạch
chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng”.
Nhân đây, cần nói
thêm, nhấn mạnh mấy điểm về chủ nghĩa cá nhân.
Chủ nghĩa cá nhân là quan điểm của người chỉ
chú trọng đến quyền lợi riêng của mình, đặt quyền lợi của cá nhân mình lên trên
quyền lợi của toàn thể và của xã hội. Khác với cá nhân
chủ nghĩa là nói đến hành vi cụ thể chỉ
nghĩ đến quyền lợi của riêng mình, không nghĩ đến quyền lợi của người khác hay
của tập thể, nói chủ nghĩa cá nhân là nói
đến quan điểm, tức là cách xem xét và giải quyết vấn đề
quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung theo lập
trường, quan điểm và tư tưởng nào? Trung ương nói tới chủ nghĩa cá nhân là nói
tới cái nguồn, cái gốc có tính chất bao trùm, xuyên suốt, cao hơn, rộng hơn,
sâu hơn cá nhân chủ nghĩa, “cha đẻ” của mọi thứ xấu xa, tội lỗi, trong đó, có
cá nhân chủ nghĩa. Vì vậy, muốn đẩy lùi các tiêu cực, suy thoái, tha hóa của
cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thì phải tiêu
diệt, quét sạch, nhổ tận gốc là chủ nghĩa cá nhân.
Đánh giá tư tưởng và ý
thức của đảng viên là thông qua cách xem xét, bàn bạc và hành động của đảng
viên đối với các vấn đề quan trọng của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng, tổ
chức, đường lối cách mạng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Xem thái độ và lập trường của
mọi người đối với những vấn đề căn bản của cuộc đấu tranh chính trị, xem cách
bàn bạc hành động, xem kế hoạch, phương châm của họ đối với những vấn đề ấy,
thì ta biết rõ họ đại biểu cho tư tưởng, quan điểm, mong muốn, và lợi ích của
giai cấp nào”(1).
Chủ nghĩa cá nhân là
trái ngược với chủ nghĩa tập thể. Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa tập thể là luôn
luôn xuất phát từ lợi ích cách mạng để phục vụ cho lợi ích cách mạng. Ý thức và
tư tưởng của giai cấp vô sản biểu hiện cụ thể, rõ ràng trong lập trường và thái
độ, đường lối và phương châm trong hoạt động và đấu tranh chính trị phục vụ cho
lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Người nhận thức rõ và đề cao chủ nghĩa tập thể
là người có đảng tính. Tức là bất kỳ bao giờ, ở đâu, bất kỳ việc gì dù lớn hay
bé đều phải tính đến lợi ích chung của cách mạng. Tư tưởng của những người theo
chủ nghĩa tập thể là chỉ có sự nghiệp của Đảng và dân tộc, lợi ích của dân tộc,
của Tổ quốc, việc của cá nhân và lợi ích cá nhân để lại sau. Hồ Chí Minh chỉ
rõ: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”(2).
Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa cá nhân là xuất
phát từ cá nhân để phục vụ cho cá nhân. Do đó, cách giải quyết của người mang nặng
chủ nghĩa cá nhân, thậm chí chỉ dính vào chủ nghĩa cá nhân là khi thấy lợi ích
cá nhân và lợi ích của Đảng, của cách mạng, Tổ quốc, nhân dân có mâu thuẫn, thì
họ không sẵn sàng, không kiên quyết đặt lợi ích chung của cách mạng lên trên
hết, lên trước hết. Thậm chí họ làm ngược lại, đặt lợi ích cá nhân ra trước lợi
ích của Đảng; lợi ích của nhân dân phục tùng lợi ích cá nhân; lợi ích toàn thể
phục tùng lợi ích nhóm. “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân,
việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình. Họ không lo “mình vì mọi người”
mà chỉ muốn “mọi người vì mình”(3).
Vấn đề chủ nghĩa cá nhân đã được Hồ Chí Minh
đề cập từ rất sớm. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người chỉ ra “trong Đảng ta
còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho
nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân.
Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh
nguy hiểm”(4). Chỉ dẫn của Hồ Chí Minh cho ta nhận thức chủ nghĩa cá
nhân là bệnh gốc, bệnh mẹ; là vi trùng rất độc; chống chủ nghĩa cá nhân phải đi
liền với thực hành chí công vô tư, nêu cao chủ nghĩa tập thể.
Trong di sản của mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ
nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi
xuống dốc. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người
cách mạng phải tiêu diệt nó. “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội
không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(5).
Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.
Cần phải hiểu thấu,
nói đến chủ nghĩa cá nhân là nói đến tư tưởng tiểu tư sản ở trong mỗi người. Nó
chờ dịp thất bại hoặc thắng lợi là ngóc đầu dậy. Nhưng thể hiện từng nơi, từng
lúc, từng trình độ, cương vị công tác khác nhau.
Nghị quyết Trung ương
chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích
kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực;
bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn,
bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn
tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn,
nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thể lực xấu,
thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân
tộc.
Phải nhận thức đúng
đắn rằng “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích
cá nhân”(6). Bởi vì, “mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường
riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá
nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu”(7).
Vấn đề là ở chỗ “lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi
ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi
ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”(8).
Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo là giá trị bền vững của văn hóa Việt Nam.
Yêu nước, thương người là sự cao quý của tư tưởng và tâm hồn Việt Nam, là giá trị nhân cách của con người Việt Nam, đó là truyền thống dân tộc trải qua bao biến thiên của lịch sử vẫn tồn tại một cách bền bỉ và tỏa sáng rạng rỡ trên gương mặt tinh thần của cả dân tộc. Đó cũng là một truyền thống văn hóa, văn hóa chính trị gắn liền với văn hóa đạo đức của dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn truyền thống của Việt Nam được sản sinh và nuôi dưỡng trong lịch sử dựng nước và giữ nước hằng nghìn năm cho tới ngày nay vừa anh hùng vừa bi tráng. Cốt cách Việt Nam định hình trong thử thách khắc nghiệt chống thiên tai và chống ngoại xâm, đoàn kết và cố kết cộng đồng, nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển, bởi sức mạnh của hợp tác và đồng thuận. Sức mạnh ấy chẳng những được quy định thành văn mà còn được tổng kết thành triết lý sống và thành phương châm ứng xử, chỉ dẫn hành động, sự khẳng định các giá trị. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống có trong mối liên kết giữa Nhà với Làng với Nước, là liên kết cộng đồng, lấy sức mạnh ở tổng thể, trong đó từng cái riêng, đơn lẻ và cá thể được tập hợp và hòa đồng trong cái chung của cộng đồng rộng lớn, lấy tương đồng, cố kết cộng đồng để khắc phục những khác biệt và những xung đột.
Nhà là biểu hiện đầu tiên, là điểm xuất phát và cũng là chỗ trở về trong mục đích hòa đồng để phát triển của Nước.
Làng là sự mở rộng của Nhà và Nước là sự mở rộng và tập hợp của các làng mà thành. Trong tâm thức con người Việt Nam, làng là quê hương, là cái nôi thiêng liêng. Tổ quốc cũng vậy. Nước là đất nước, là nhà nước.
Giá trị và sức mạnh cộng đồng là một nét nổi bật, là một đặc tính truyền thống Việt Nam, trước hết là trong chống thiên tai và sau đó là chống giặc ngoại xâm.
Trong thời hiện đại, trong bối cảnh mở cửa, hội nhập, giá trị và sức mạnh ấy cũng phải phát huy và đồng thời cũng cần khắc phục những hạn chế của chính giá trị này, sao cho cố kết cộng đồng không bao giờ buông lỏng mà tự do cá nhân cũng không thể xem thường. Hài hòa giữa những “cái tôi” với “cái chung” trong phát triển đòi hỏi những tác động sâu xa của dân chủ và sự công phu trong giáo dục văn hóa lối sống, để vừa phát triển hợp lý, chính đáng những cá thể, vừa phát triển lành mạnh cộng đồng xã hội – những tập thể chân chính chứ không phải những cộng đồng trừu tượng, hư ảo, những biến tướng “giả tập thể” của những phường hội, cục bộ, chủ nghĩa địa phương, cát cứ và bè phái.
Đó chính là sự khắc phục những hạn chế có trong “tính lưỡng diện văn hóa” của tâm lý, lối sống truyền thống mà cơ sở kinh tế – xã hội đã sản sinh ra nó chính là nền kinh tế nông nghiệp của xã hội nông thôn với cộng đồng nhưng tiểu nông tư hữu, sản xuất nhỏ. Di tồn này vẫn còn trong xã hội Việt Nam ngày nay vốn chưa được cải tạo hết, từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại chưa hoàn thành. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống bao hàm cả xây dựng và cải tạo, cả kế thừa và loại bỏ, đổi mới để phát triển.
Cuộc đấu tranh giữa cái mới tiên tiến với cái lạc hậu, bảo thủ là một cuộc đấu tranh phức tạp và lâu dài. Theo V.I. Lê-nin, thói quen là điều đáng sợ nhất. Yêu nước, thương người, chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn truyền thống là những giá trị văn hóa, những triết lý văn hóa bền vững và đặc sắc nhưng cũng biến đổi khi hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đã thay đổi. Nội dung yêu nước ở thời hiện đại, trong bối cảnh quốc tế hiện nay đã có thêm những biểu hiện mới, yêu cầu mới. Tình cảm thương người, vị tha, nhân ái cũng vậy, nó không chỉ thể hiện trong quan hệ giữa người và người trong cộng đồng, trong sự gắn bó, chia sẻ với số phận chung của dân tộc khi gặp hoạn nạn với những thử thách mất – còn, tự do và nô lệ. Ngày nay, trong kinh tế thị trường, trong phát triển để vượt qua cái nghèo vươn tới giàu có, khi cá nhân và lợi ích cá nhân được đề cao, thậm chí phát triển thái quá thành chủ nghĩa cá nhân cực đoan… thì những giá trị trong văn hóa truyền thống nêu trên không tránh khỏi những thách thức. Quan niệm mới và cách thức giải quyết mới, nếu không rõ ràng, không được hướng dẫn và giáo dục thì những lệch lạc về định hướng giá trị và chuẩn mực giá trị sẽ có thể xảy ra. Nó biểu hiện thành hành vi ứng xử ở những đối tượng nào đó, những nhóm xã hội nào đó, cả thế hệ và lứa tuổi, có thể như một sự suy đồi văn hóa, suy đồi đạo đức.
Vì vậy, việc xây dựng quan niệm mới về giá trị, đổi mới nhận thức về giá trị văn hóa truyền thống, chú trọng giáo dục văn hóa, đặc biệt là giáo dục giá trị để hướng dẫn dư luận và thực hành trong lối sống, trong đời sống văn hóa là một đòi hỏi bức xúc, cần thiết. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống hướng tới phát triển có ý nghĩa như là hiện đại hóa truyền thống.
Văn hóa do con người sáng tạo ra
Việt Nam, xét trên phương diện đất nước học, là cả một địa – văn hóa hết sức độc đáo bên cạnh một địa – kinh tế và địa – chính trị rất đặc thù.
Lịch sử hằng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã tạo cho Việt Nam có một truyền thống lâu đời, bền vững đó là truyền thống lịch sử, truyền thống dân tộc. Cái hồn của truyền thống ấy là văn hóa và bản lĩnh sáng tạo, sức sống của con người Việt Nam. Dân tộc Việt Nam có một truyền thống từ lâu đời về văn hóa và văn hiến, kết tinh thành hệ giá trị chân – thiện – mỹ như một hệ giá trị phổ quát của văn hóa, của mọi dân tộc trong quốc gia – dân tộc mình và trong cộng đồng nhân loại. Song mỗi dân tộc, do những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử riêng của mình, từ những trải nghiệm trực tiếp trong thực tiễn lao động và đấu tranh, trong môi trường tự nhiên và xã hội để tồn tại và phát triển, lại có những quan niệm và cách thức biểu hiện riêng của mình về chân – thiện – mỹ. Nó biểu hiện thành tâm lý và ý thức, phong tục tập quán và lối sống, tạo thành tính cách của con người và cộng đồng dân tộc. Các giá trị văn hóa truyền thống đó kết tinh lại trong quan niệm, tư tưởng, triết lý, trong đạo đức và cách thức ứng xử, phản ánh diện mạo tinh thần, tâm hồn và tình cảm của cả một dân tộc, có trong các sản phẩm vật thể và phi vật thể của văn hóa. Trong văn hóa tinh thần (phi vật thể) và đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam truyền thống, qua các thời đại lịch sử cần đặc biệt chú trọng tới một lĩnh vực rất phong phú và tinh tế nằm chung trong cấu trúc của văn hóa, ấy là văn học, nghệ thuật, bao gồm cả dòng văn học dân gian và dòng văn học bác học. Đây là di sản tinh thần rất quan trọng mà các thế hệ người Việt Nam từ xa xưa – tổ tiên, ông cha chúng ta đã sáng tạo ra, đã để lại cho đời sau. Nó phải được bảo tồn và phát huy, được kế thừa và phát triển trong những điều kiện lịch sử mới. Nó cần phải có mặt trong hành trang của những con người Việt Nam hiện nay, nhất là thế hệ trẻ nhập cuộc với đổi mới để phát triển, đổi mới trong nội tại của đất nước, con người và dân tộc mình đồng thời hội nhập với bên ngoài để phát triển và hiện đại hóa.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người
Hồ Chí Minh khẳng định, con người là vốn quý nhất, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Theo Người, “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”.
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Con người là mục tiêu của cách mạng, nên mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người, có thể là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt; lợi ích cả dân tộc và lợi ích của bộ phận, giai cấp, tầng lớp và cá nhân.
Không phải mọi con người đều trở thành động lực mà phải là những con người được giác ngộ và tổ chức. Họ phải có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền tảng truyền thống lịch sử và văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam... Chính trị, văn hóa, tinh thần là động lực cơ bản trong động lực con người. Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi họ hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo. Vì vậy, cần có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Hồ Chí Minh khẳng định: “Trồng người” là yêu cầu khách quan, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cách mạng. Con người phải được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với nghĩa rộng, vừa nằm trong chiến lược giáo dục - đào tạo theo nghĩa hẹp...
Trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Điều này cần được hiểu là ngay từ đầu phải đặt ra nhiệm vụ xây dựng con người có những phẩm chất cơ bản, tiêu biểu cho con người mới xã hội chủ nghĩa, làm gương, lôi cuốn xã hội. Đây là một quá trình lâu dài, phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao; là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, gia đình và của chính bản thân mỗi người.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa gồm hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau. Một là, kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống (Việt Nam và phương Đông). Hai là, hình thành những phẩm chất mới như: có tư tưởng xã hội chủ nghĩa; có đạo đức xã hội chủ nghĩa; có trí tuệ và bản lĩnh để làm chủ (bản thân, gia đình, xã hội, thiên nhiên...); có tác phong xã hội chủ nghĩa; có lòng nhân ái, vị tha, độ lượng. Chiến lược “trồng người” là một trọng tâm, một bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Để thực hiện chiến lược “trồng người”, cần có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục và đào tạo là biện pháp quan trọng bậc nhất. Bởi vì, giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tương lai tươi sáng cho thanh niên. Ngược lại, giáo dục tồi sẽ ảnh hưởng xấu đến thanh niên. Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể, mỹ; phải đặt đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. “Trồng người” là công việc “trăm năm”, không thể nóng vội “một sớm một chiều”, “việc học không bao giờ cùng, còn sống còn phải học”.
Xây dựng Đạo đức CM cho cán bộ của Đảng
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; coi đó là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Theo Bác, “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”1. Người khái quát nội hàm đạo đức cách mạng là: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”2; “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích gì khác”3.
Vận dụng tư tưởng của Người vào thực tiễn hiện nay, cần tập trung giải quyết một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, tập trung nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.
Thứ hai, tiếp tục nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, gắn với xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.
Thứ ba, không ngừng rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo hướng thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Thứ tư, xây dựng Đảng về đạo đức phải được tiến hành thường xuyên, đồng bộ, bằng nhiều hình thức, theo phương châm kết hợp biện pháp tư tưởng và tổ chức, lý luận và thực tiễn, giữa giáo dục, nâng cao nhận thức lý luận, quan điểm, tư tưởng với rèn luyện trong thực tiễn, tự phê bình và phê bình.
Thứ năm, xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân.
Đảng muốn vững mạnh, phải thường xuyên giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên. Đó là việc hết sức quan trọng và rất cần thiết của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phải trở thành việc làm tự giác, nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên.
Cần kiên quyết trong phòng chống “TDB”, “TCH”
Trong
đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến",
"tự chuyển hóa", cần tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Cần tập trung: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn,
đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp. Vấn đề
này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những
kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê
bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần
phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi
quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không
loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng
ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết
trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa
nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.


