Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2022

TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH: ''MUA VŨ KHÍ HIỆN ĐẠI ĐỂ KHÔNG PHẢI BẮN''!

         Khi đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới cuối những năm 1990, chúng ta tuyên bố với thế giới "Việt Nam mong muốn là bạn của tất cả các nước, là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế". Nhưng suốt nhiều năm, chúng ta quan niệm rằng một quốc gia là bạn khi họ hoàn toàn đứng về phía mình, ngược lại tức là thù. Tư duy này vào năm 2000 cơ bản đã lỗi thời, lý do quan trọng nhất là bức màn sắt đã bị gỡ bỏ, thế cục hai phe trên thế giới không còn nữa.

Việc định nghĩa lại khái niệm bạn - thù là nhiệm vụ đặt ra cho Hội nghị TW8 (Khóa IX). Khi đó, Tổng cục 2 chúng tôi có nhiệm vụ đóng góp ý kiến, phục vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và lãnh đạo cấp trên. Dù đã có chính kiến, nhưng tôi rất phân vân, không thể tự đánh giá được. Tôi tìm đến người mà tôi tin cậy nhất cả về mặt tình cảm, trí tuệ lẫn tầm nhìn chiến lược là Đại tướng Lê Đức Anh. Thời điểm đó, các ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt đều không còn làm cố vấn, nhưng họ vẫn là chỗ dựa tinh thần và là những người thầy lớn của tôi.

Khi đặt câu hỏi với ông Lê Đức Anh: "Thưa chú, bức màn sắt đã rơi xuống rồi, không còn hai phe nữa, thì xác định bạn - thù thế nào đây?", tôi đã chuẩn bị sẽ nghe ông la rầy, rằng tôi đã đánh mất quan điểm, mà với người làm tình báo, mất quan điểm là hỏng hết. Trái với lo ngại của tôi, ông trả lời rất mạnh mẽ: "Chuyện nào có lợi cho đất nước thì mình làm, sự hợp tác nào đem lại lợi ích cho đất nước thì mình bắt tay, còn cái gì có khả năng xâm hại đến quốc gia, dân tộc thì mình phải chống, phải hóa giải". Rồi ông giải thích cặn kẽ từng điểm, chúng ta cần làm gì để "làm bạn với bốn phương, nhưng không đánh mất mình". Ông Sáu khuyên tôi gặp ông Đỗ Mười và ông Võ Văn Kiệt. Ông Đỗ Mười nói: "Đúng quá rồi còn gì. Nhưng phải xác định rõ thế nào là có lợi, thế nào là không có lợi cho đất nước mình". Tôi vào TP HCM, đem chuyện này hỏi ông Võ Văn Kiệt, ông trả lời không chút do dự: "Bây giờ mới đặt vấn đề này là chậm rồi".

Cả ba "Ông già lớn" đều cho rằng vấn đề trên là cấp bách. Sự ủng hộ này tiếp thêm động lực để chúng tôi có chính kiến mạnh mẽ báo cáo cấp trên. Tôi nhắc lại câu chuyện với sự biết ơn ba ông cố vấn, và cũng để thấy tầm nhìn xa, sự nhạy bén và thái độ quyết tâm đổi mới của các ông. Dĩ nhiên tham gia vào việc này còn nhiều cơ quan khác và nhiều người khác, nhưng theo những gì tôi biết, đó là những người đầu tiên ủng hộ cách tiếp cận mới về kế sách Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Khi đó, vấn đề xác định bạn - thù đã tạo ra những ý kiến khác nhau trong nội bộ, Quân đội cũng không ngoại lệ. Có những tướng lĩnh lão thành phản ứng với sự thay đổi, phần vì tín điều quá nặng, phần vì chưa đủ thông tin. Cũng có những người băn khoăn vì chưa thực sự tin tưởng thế hệ tiếp theo sẽ có quyết sách chính xác và vững vàng. Nhưng việc ông Sáu Dân (tên gọi thân mật của ông Võ Văn Kiệt), người đã mất bạn đời và hai con trong một ngày vì bom Mỹ mà còn thấy cần phải thay đổi, thì nhiều người buộc phải hiểu rằng sự thay đổi là tất yếu.

Cuối cùng thì Nghị quyết TW8, Khóa IX được thông qua. Đó có thể coi là dấu mốc lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khi lần đầu tiên chúng ta hình thành khái niệm mới: thay "phân chia bạn - thù" bằng "Không có kẻ thù, chỉ có đối tượng và đối tác". Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là vừa phải hợp tác, vừa phải đấu tranh với mọi quốc gia có quan hệ với Việt Nam.

Bây giờ nhìn lại mới thấy, nhận định đó vô cùng đúng đắn, sáng suốt và đặc biệt kịp thời. Nhờ đó mà gần 20 năm qua, thế giới có bao nhiêu biến động, khiến nhiều quốc gia chao đảo, nhưng đất nước ta vẫn đứng vững, ổn định và phát triển. Nếu gọi Nghị quyết 15 khóa III là Nghị quyết của chiến thắng, của chiến tranh giải phóng dân tộc, thì tôi cho rằng có thể coi Nghị quyết 8 khóa IX là Nghị quyết của hòa bình, ổn định và của kỷ nguyên phát triển đất nước.

Năm 2000, tôi được bổ nhiệm Tổng cục trưởng Tình báo vào thời điểm đất nước và quân đội có những bước chuyển mạnh mẽ về tư duy bảo vệ Tổ quốc. Năm đó, Tổng cục Tình báo tổ chức lễ trao quyết định nghỉ hưu cho ba "cây át chủ bài" của tình báo quốc phòng là các Thiếu tướng, Anh hùng LLVT Hai Trung, Hai Nhạ, Ba Quốc. Buổi lễ ấy có rất nhiều chuyện để kể, nhưng ở đây tôi chỉ nhắc lại câu nói của đồng chí Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn): "Tình báo giờ phải mở mạnh ra ngoại quốc, phải coi thế giới họ thay đổi như thế nào. Đương nhiên tình báo phải đi tìm địch, nhưng thời đại hiện nay tình báo cũng phải tìm bạn mà chơi, thậm chí phải chơi được cả với kẻ thù, để không cho nó đánh mình". Tôi nhớ mãi câu nói ấy của nhà tình báo lỗi lạc, và đến giờ vẫn chính xác với những gì đang diễn ra.

Cũng trong năm 2000, có lần tôi tháp tùng Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đi công tác nước ngoài, một chuyến đi đầy khó khăn nhưng đặc biệt thành công. Trong bữa tiệc chiêu đãi trước khi về nước, lãnh đạo nước bạn đi chúc rượu, đột nhiên dừng lại bên tôi và hỏi: "Đồng chí là cán bộ tình báo, sao lại phục vụ đồng chí Tổng Bí thư trong công tác đối ngoại?". Tôi đáp: "Thưa đồng chí, trong thời chiến thì tình báo tìm địch để đánh thắng, còn trong thời bình tình báo tìm bạn để có hòa bình và hữu nghị". Hai đồng chí lãnh đạo cùng cười vui vẻ.

Ba tôi (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh) từng nói với mẹ tôi khi từ chiến trường miền Nam ra: "Trước mỗi chiến dịch, Thanh (ông thường xưng hô với mẹ tôi như thế) không nghĩ đến việc mình có thể hy sinh, không nghĩ đến khó khăn phải đối mặt, mà cái khó nhất là biết được anh em mình có thể sẽ không tránh khỏi hy sinh mà vẫn phải đánh". Đưa người chiến sĩ ra chiến trường, đối mặt với hòn tên mũi đạn nhưng không thể không hạ lệnh: "Đánh!" là điều thế hệ ba tôi đã làm, vì khi đó chúng ta chẳng còn lựa chọn nào khác. Nhưng khi đã có hòa bình mà phải làm như thế thì là điều muôn vàn cẩn trọng và phải cố gắng cao nhất để nó không xảy ra.

Thế hệ chúng tôi sau này trưởng thành trong hòa bình và hội nhập, không có được những kinh nghiệm dày dặn và quá khứ hào hùng trong chiến tranh, nhưng lại có khát khao bảo vệ Tổ quốc bình yên, đất nước giàu mạnh. Đó là những người đã chứng kiến sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu, chứng kiến ranh giới hòa bình - chiến tranh sụp đổ chỉ trong chớp mắt. Nên sự thay đổi nhận thức là tất yếu. Mấy chục năm trời, hình ảnh của Quân đội Việt Nam luôn gắn liền với chiến tranh. Nhưng trong bối cảnh thế giới thay đổi mạnh mẽ thì quân đội cũng phải thay đổi, phải hội nhập, phải hợp tác, phải tham gia vào các công việc quốc tế và khu vực, đó là xu thế, là yêu cầu bắt buộc.

Công tác đối ngoại quốc phòng được xúc tiến ngay khi quân đội mới thành lập, đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Nhưng trong các giai đoạn ấy, chúng ta chủ yếu chỉ tập trung vào quan hệ với Lào - Campuchia và các nước thuộc phe XHCN. Với các nước bạn láng giềng, thì chủ yếu là "ta giúp bạn", còn với các nước phe XHCN thì ngược lại, chủ yếu là "bạn giúp ta". Bên cạnh đó, quân đội đã tham gia rất tích cực vào nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao với Pháp, Mỹ... để góp phần đem lại hòa bình cho đất nước sau chiến tranh.

Sau những năm 1990, tình hình đã thay đổi căn bản, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã, nên "bạn" chỉ còn những người anh em láng giềng và Cu Ba xa xôi. Chính những bước đi đầu tiên đánh dấu bằng những chuyến thăm cấp cao quốc phòng đến với các nước, đặc biệt là nước lớn đã hình thành nền móng cho những mối quan hệ song phương đa dạng và thực chất như hiện nay, với hơn 80 quốc gia có quan hệ quốc phòng với Việt Nam.

Tôi nhớ khi đó anh Ba Kiên (Thượng tướng Phan Trung Kiên, Anh hùng LLVTND) là Thứ trưởng Quốc phòng tham gia Đoàn của Bộ trưởng Phạm Văn Trà thăm Mỹ. Khi qua cổng từ kiểm tra an ninh, máy kêu, anh Ba Kiên quay lại bỏ hết đồ trong túi ra, máy vẫn kêu. Hải quan Mỹ hỏi: "Trong người ông có kim loại không?". Anh Ba Kiên thản nhiên đáp: "Có! Nhiều lắm. Đều là mảnh bom đạn của Mỹ", nói xong anh ngẩng đầu đi thẳng trước sự sững sờ của người Mỹ. Các tướng thắng trận của chúng ta thể hiện tâm thế hiên ngang như thế, để khẳng định một thông điệp là Việt Nam mong muốn hợp tác và chung sống trong hòa bình, nhưng cũng sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc bằng mọi biện pháp, dù có phải chiến đấu một lần nữa.

Tôi nhớ lại mùa thu năm 2009 tại Bangkok, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh tuyên bố: "Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức ADMM+ đầu tiên vào mùa thu năm 2010". Đấy là một tuyên bố rất mạnh mẽ, quyết đoán, nhưng cũng đầy thách thức. Vì lúc đấy ta vẫn tay trắng, nội dung, thành phần, thể thức còn chưa có gì cả. Cần biết rằng ADMM+ là ước mong của nhiều nước trong ASEAN, việc này đã được nêu ra từ mấy năm trước, nhưng chưa nước nào đủ tự tin, và Việt Nam là nước đầu tiên làm được. Tổ chức một Hội nghị có sự tham gia của 18 bộ trưởng quốc phòng (10 nước ASEAN và 8 cường quốc lớn) là không hề đơn giản, nhưng chúng ta đã thành công khi tìm ra được điểm chung chiến lược của chừng đó nước, đồng thời phù hợp lợi ích nước mình. Bài học rút ra là nếu chỉ nghĩ đến lợi ích của mình thì sẽ thất bại, nhưng nếu ta không bảo vệ lợi ích của mình thì sẽ có hại cho đất nước. Công thức đối ngoại thành công nhất là khi cả hai bên cùng thắng.

Sau sự kiện này, đối ngoại quốc phòng vốn từ hoạt động mang tính hình thức chuyển sang thực chất. Từ đây, số người không ủng hộ hoạt động đối ngoại, nghi ngờ tính phi quân sự của quốc phòng... đã thay đổi thái độ. Nhiều người vẫn mang tâm lý, quân đội súng ống đầy người mà chăm chăm vào hoạt động phi quân sự là thiếu dũng cảm, là "hòa bình chủ nghĩa". Nhưng thế giới bây giờ, người ta nói: "Luyện quân tốt để không phải đánh, mua vũ khí hiện đại để không phải bắn". Nếu thiếu dũng cảm để đem lợi ích cho đất nước, thì người lính như tôi sẵn sàng mang cái tiếng xấu ấy.

Sau đó một thời gian chúng ta bắt đầu đưa quân tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc. Hơn mười năm chuẩn bị, nhiều vấn đề vẫn chưa ngã ngũ, như: Làm việc này lợi ích gì cho đất nước? Chúng ta có làm được không? Cấp trên giao tôi dẫn đầu một đoàn cán bộ đi nghiên cứu thực tiễn ở Châu Phi và Liên Hợp Quốc. Và câu trả lời của đoàn công tác là: cần phải làm nếu chúng ta muốn thật sự là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế và chúng ta có thể làm được.

Thực tế đã chứng minh, chúng ta đã chọn đúng thời điểm, đúng nội dung, đúng cách thức để tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình với mục tiêu đem lại lợi ích cho đất nước, tôn thêm hình ảnh tốt đẹp của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Việc đó đã đóng góp tích cực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, cũng như chiến tranh bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, thế hệ trước như cha tôi và đồng chí của ông không có lựa chọn nào khác là phải đánh. Khi đó chúng ta bị xâm lược, không thể có một sự lựa chọn khác ngoài việc dùng một cuộc chiến chính nghĩa để chống lại chiến tranh xâm lược phi nghĩa. Dù là khi ấy hay bây giờ, không thể có tiếng nói khác, vì như thế là hèn nhát và phản bội.

Nhưng cần nhớ rằng, thế hệ cha anh chúng ta đánh giặc thì mục đích cao nhất luôn là "Đánh để có độc lập tự do", "Vì hòa bình mà đánh". Trong tuyên bố chiến thắng ngày 1/5/1975, được soạn thảo dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Lê Duẩn, Đảng và Nhà nước ta đã gửi lời chào đến nhân dân Mỹ, bày tỏ mong muốn có quan hệ hữu nghị với nước Mỹ và kêu gọi hãy cùng bước ra khỏi đau thương của chiến tranh để tìm kiếm mối quan hệ tốt đẹp trong hòa bình.

Sự nghiệp mà tôi theo đuổi những năm qua, chính là tiếp nối sự nghiệp của các thế hệ đi trước, bảo vệ những gì họ đã đem lại cho đất nước. Đó là độc lập tự do, là toàn vẹn lãnh thổ, là lợi ích quốc gia dân tộc, là hòa bình. Họ đã đánh thắng rồi, nhân dân ta đã hy sinh xương máu rồi, bây giờ làm sao để đừng phải đánh nữa mà vẫn giữ được thành quả của cha ông, để công sức họ không đổ xuống sông, xuống biển. Vì vậy, thế hệ cha tôi không thể không chọn chiến tranh, nhưng chúng tôi thì không thể không bảo vệ nền hòa bình của đất nước trong độc lập tự do và toàn vẹn lãnh thổ.

Lứa tuổi chúng tôi bố mẹ đều ở chiến trường, hầu như gia đình nào cũng có người trong quân ngũ, nên danh từ "Ông Tướng" luôn là niềm ngưỡng mộ của mọi người, từ trẻ đến già. Cả triệu quân, chỉ có vài mươi tướng, thế mà vẫn đánh thắng hết cường quốc này đến cường quốc khác. Vì vậy, "Tướng" của những năm tháng chiến tranh can trường, tài giỏi, cao đẹp, vĩ đại vô cùng... Nói đến "Tướng" là phải cầm quân và đánh thắng. Sự khốc liệt của chiến tranh sẽ không dung thứ sự hèn nhát, không cho phép thất bại, không được sai lầm. Nếu chỉ huy kém thì hoặc là hy sinh, hoặc là phải rời vị trí. Thế nên cha tôi mới nói, làm Tướng là cái nghiệp xả thân.

Làm Tướng thời bình có cái khó của Tướng thời bình, nhưng cuối cùng vẫn là hoàn thành nhiệm vụ. Với riêng tôi, tôi chưa dám nhận mình là Tướng, mà chỉ là người được mang quân hàm Tướng. Để xứng đáng với nó, tôi phải không ngừng cống hiến cho đất nước và quân đội, dù ở bất kỳ vị trí nào.

Từ khi 4 tuổi, tôi đã được cha mình thêu trên ve áo hai miếng dạ màu đỏ không sao, không gạch, gọi tôi là "Binh bét" và bảo rằng sau này con đường của tôi là trở thành bộ đội. Giờ sắp nghỉ hưu rồi, tôi chỉ có thể đứng trước bàn thờ cha mình mà nói rằng, với tư cách là một người lính, tôi đã làm tốt từng nhiệm vụ được giao. Chỉ như vậy thôi. Tôi biết ơn Đảng, Chính phủ, Quân đội với quân hàm Thượng tướng mà tôi được trao, nhưng niềm tự hào theo suốt đời tôi là quân hàm "Binh bét" mà cha trao tặng.

Điều làm tôi trăn trở nhất suốt đời bình nghiệp là còn nhiều lắm những hài cốt liệt sĩ trong chiến tranh, kể cả trên đất mẹ cũng như đất khách, là hài cốt các liệt sĩ ở Gạc Ma chưa đưa về được. Trước lúc Đại tướng Lê Đức Anh mất, di nguyện của ông là phải đưa bằng được họ về quê nhà. Đó cũng là điều mà tôi day dứt vì chưa làm được...
Yêu nước ST.

Đừng vì thiếu hiểu biết, hám lợi mà làm cái “nghề phản động”, chống phá Đảng, Nhà nước ta

Bên cạnh cách làm ăn chân chính của những người dân lương thiện để kiếm tiền chăm lo cuộc sống gia đình; có một số người ham cuộc sống giàu sang, thích chi tiêu xa đọa, tham quyền lực, có lòng tham chính trị nhưng lại lười làm ăn chân chính và phấn đấu theo con đường chính đáng đã tìm cách để đạt được mục đích của bản thân thông qua một cái nghề rất hèn hạ, đó là “nghề phản động”. Thực chất những đối tượng phản động, chống đối là những kẻ bất đồng về hệ tư tưởng, quan điểm chính trị. Chúng tìm mọi cách, lợi dụng mọi vấn đề, mọi sự kiện xã hội để phủ nhận, phản bác những Chủ nghĩa Mác - Lênin; xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội, chúng cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là một cái gì đó rất mơ hồ, không có thật trên thực tiễn”. Bên cạnh đó chúng hết sức tôn thờ chủ nghĩa tư bản rồi dẫn đến hoang tưởng và tự vẽ ra một cuộc sống tốt đẹp, văn minh dưới chế độ tư bản chủ nghĩa. Không chỉ vậy, không ít kẻ làm nghề phản động là những người “có máu tham lam chính trị”, tham lam quyền lực, có tham vọng nhưng do không muốn và không đủ ý chí phấn đấu bằng con đường chính đáng nên đã chọn cách “đi tắt đón đầu”, bằng cách đầu quân cho các tổ chức phản động hoặc câu kết, móc nối với các đối tượng phản động, tiêu cực, bất mãn, cơ hội chính trị với mong muốn được “đổi đời” một cách nhanh chóng. Thực chất, mầm mống sinh ra “nghề phản động” chỉ đơn giản vì tiền. Xuất phát từ lợi ích vật chất từ việc làm phản động, không ít những người tham gia phản động cho rằng đây là một cái “nghề” kiếm sống. Điều này nghe có vẻ rất vô lý nhưng lại vô cùng có lý. Thực tế, có rất nhiều tổ chức phản động, chống đối được thành lập ra là để nhằm mục đích “câu tiền” từ các thế lực thù địch bên ngoài, các đối tượng tham gia các tổ chức phản động hoặc làm việc phản động cũng chỉ vì muốn có tiền; không sai đâu, sau khi hoàn thành việc làm phản động được các tổ chức phản động giao, thì một người có thể nhận được số tiền rất hậu hĩnh mà lại rất đơn giản. Cái giá vài trăm nghìn USD cho một bài viết có nội dung chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay là vài nghìn USD cho một hoạt động kích động biểu tình, gây rối an ninh trật tự là một điều rất khó cưỡng lại và đã có rất nhiều người thiếu hiểu biết hoặc cố ý đã chọn cái “nghề” này để kiếm tiền. Suy cho cùng, chính lòng hám lợi và ý thức chống đối nhen nhóm trong tư tưởng đã đẩy những con người này quay lại chống phá đất nước, đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc. Cách gọi của các tổ chức phản động dành cho các đối tượng làm “nghề” này cũng khá là hoa mỹ, ví dụ như là: “nhà dân chủ”, “nhà tự do”… nhưng thực chất đây là những kẻ “thần kinh chính trị”, tự cao tự đại và có cả những kẻ cuồng dâm, vô văn hóa. Tổ chức phản động lưu vong cũng trưng dụng tối đa số cặn bã của xã hội, những kẻ đã bị trục xuất do kém tài, thất đức vào hoạt động chống phá ta, vì những kẻ này có những thứ “vốn trong người” phù hợp với khẩu vị của các tổ chức phản động là: Vô đạo đức lại lười lao động, những kẻ này sẽ làm rất tốt việc kiếm tiền nhàn hạ thông qua phát huy được sở trường chửi rủa, “ăn không nói có” của bản thân. Nói tóm lại, hầu hết các tổ chức phản động do những kẻ ngông cuồng, tham lam và ảo tưởng cầm đầu, được lập nên chỉ nhằm mục đích lừa đảo, ăn chặn tiền của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Các đối tượng tham gia phản động cũng chỉ vì muốn có tiền theo cách nhàn hạ, không muốn làm ăn chân chính vì sợ vất vả, cực nhọc nhưng lại muốn hưởng thụ mà chọn làm “nghề phản động”. Với sự trong sáng, hết mình vì Tổ quốc và nhân dân của Đảng, Nhà nước ta và với lòng tin sắt đá của nhân dân với Đảng; chẳng luận điệu xuyên tạc nào có thể ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Kiếm tiền không phải là tội lỗi, nhưng đừng chọn cách phạm tội để kiếm tiền!

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ cấp cách, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay

Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Trong bối cảnh đó, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” luôn là nhiệm vụ cấp cách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam. Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch đẩy mạnh một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn. Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng. tiêu cực để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và Nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam. Chúng đặc biệt coi trọng phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: Tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an… Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp. Để đấu tranh có hiệu quả với âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, giữ vững lập trường, tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chủ động phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là gốc, rễ sinh ra tham nhũng, tiêu cực, ảnh hưởng đến sự tồn vong chế độ ta

Đại hội XIII đã được Đảng ta xác định nhiệm vụ trọng tâm là: “Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... Tại Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và các quyết định, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Tuy nhiên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ rõ, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:“Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng” và biện pháp quan trọng hàng đầu để đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí chính là giáo dục tư tưởng cho quần chúng. Người nói: “Làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng trăm, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”. Thời nay, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn là phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Hai lĩnh vực này có liên quan đến nhau, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến tham nhũng, đây là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống. Lợi ích kinh tế thường gắn liền với quyền lợi chính trị, chức quyền, với sự hư hỏng về đạo đức, lối sống. Cùng với sự phát triển của kinh tế, nhất là nền kinh tế thị trường, tham nhũng, tiêu cực dần trở lên nghiêm trọng tại nước ta. Tham nhũng, tiêu cực gây xói mòn, mất niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, Đảng ta khẳng định, tham nhũng là “quốc nạn”, là “giặc nội xâm” và lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt vấn đề phòng, chống tham nhũng, nhất là sau các Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 khóa XI và XII. Chúng ta đã đẩy mạnh đấu tranh, kiên quyết xử lý các cán bộ, đảng viên vi phạm với nguyên tắc “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, bất kỳ ai vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh, theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2013 - 2020 đã xử lý kỷ luật 131.000 cán bộ, đảng viên, trong đó có nhiều trường hợp liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Cũng từ năm 2013 - 2020, đã có 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý, trong đó có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, 30 Tướng lĩnh lực lượng vũ trang. Tính riêng từ năm 2016 - 2020, đã kỷ luật 87.000 cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 3.200 trường hợp liên quan tới tham nhũng. Từ năm 2013 đến năm 2020, các cơ quan có thẩm quyền đã kiến nghị thu hồi 700.000 tỷ đồng, 20.000 ha đất, kiến nghị xử lý trách nhiệm 14.000 tập thể và cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý 700 vụ việc có dấu hiệu tội phạm. Từ 2013 - 2020, cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra truy tố xem xét hơn 1.900 vụ án tham nhũng với 4.400 bị cáo trong đó có 18 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự, bao gồm 1 nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, 7 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Bộ trưởng và nguyên Bộ trưởng, 7 sĩ quan cấp Tướng. Có thể nói chưa bao giờ có một số lượng lớn cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất, vi phạm về đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật bị xử lý nhiều như vậy trong cùng giai đoạn. Bên cạnh việc Đảng và Nhà nước kiên quyết, đẩy mạnh hơn việc phát hiện, xử lý thì số lượng lớn cán bộ, đảng viên vi phạm cũng cho thấy tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản.

72 TÊN PHẢN ĐỘNG ĐÒI BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP NƯỚC CHXHCN 72 TÊN ĐÒI ĐA ĐẢNG LẠI ĐƯỢC VIẾT SÁCH LẠI ĐƯỢC LÀM KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CHÚNG HẦU PHÁ NÁT NGÀNH GIÁO DỤC NHƯNG KỲ LẠ THAY KHÔNG MỘT CƠ QUAN NÀO ĐÁM LÊN TIẾNG. NGƯỜI DÂN SỢ NHẤT BAN NGÀNH LÊN TIẾNG ĐỂ (NGHIÊN CỨU)!

         72 đòi bỏ Điều 4 Hiến nước CHXHCN Việt Nam, 72 tên đòi đa nguyên đa đảng nhưng chúng lại được viết sách làm kế hoạch giáo dục để cho con cháu chúng ta học.
Sách chúng làm ra bẩn thỉu nhưng con em nước cộng hòa XHCN Việt Nam phải học.
Giá sách cao ngất ngưởng tiền chúng nó bỏ túi. Ngành sử thì như bị chúng bôi đen.
Chúng đầu độc thế hệ trẻ một cách rõ và công khai như chỗ không người nhưng không tổ chức nào dám lên tiếng. Có lên tiếng chỉ là rút kinh nghiệm mà cái dân sợ nhất là hai chữ (nghiên cứu).
Đất nước này hàng triệu người ngã xuống để cho một nhóm người làm giàu trên xương máu của họ hay sao?
Bọn giáo dục bẩn chúng đang chuyển chế độ XHCN Việt Nam giống như Liên Xô bị sụp đổ./.




Môi trường ST.

PHÒNG VÀ CHỐNG SUY THOÁI TỪ SỚM, TỪ XA!

         Với nội dung ngắn gọn trong "Tư cách một người cách mệnh", có thể thấy ngay từ khi chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không chỉ nhận thức sâu sắc vai trò của đạo đức; yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải rèn luyện đạo đức cách mạng mà còn coi đạo đức là gốc, là nền tảng, liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng.

95 năm sau khi được Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông xuất bản (1927-2022), tác phẩm Đường Cách mệnh - tập hợp những bài giảng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tại các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, Trung Quốc trong những năm 1925-1927; trong đó "Tư cách một người cách mệnh" là bài giảng đầu tiên của Người vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự, có ý nghĩa quan trọng đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng luôn trong sạch vững mạnh.

1. Bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Cách mệnh

Tác phẩm Đường Kách mệnh (bìa cuốn sách xuất bản năm 1927 là chữ "Kách", sau này đã dùng chữ "Cách"- Đường Cách mệnh) không phải là cuốn sách chuyên viết về đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, song trên thực tế được xem như tác phẩm đầu tiên của Người nói về đạo đức cách mạng

Thấu hiểu sâu sắc lời dặn của cổ nhân: Đạo đức là gốc rễ, tài là ngọn cành, người cách mạng muốn hoàn thành nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó thì tất yếu phải có đủ cả hai đức tính quý báu đó, nên "Tư cách một người cách mệnh" được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nêu ra cụ thể trong 23 điều sau:

“Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”[1] .

Nội dung 23 điều này bao gồm 3 mối quan hệ mật thiết với nhau (với tự mình; với người và với công việc), hàm chứa trong đó tinh thần đạo đức truyền thống của dân tộc và đạo đức mới của thời đại - Đó là đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Xuất hiện lần đầu trong tác phẩm Đường Cách mệnh, những chuẩn mực và yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của người cách mạng/người cán bộ, đảng viên ngày càng được Người nêu đầy đủ hơn trong các bài nói, bài viết sau này, như: Người cán bộ, đảng viên phải "cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư", phải "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng", phải "trung với nước, hiếu với dân",v.v.. Sau đó, Người đã cụ thể những yêu cầu về đạo đức cách mạng thành: phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân”, phải “đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, phải “suốt đời đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân”…

Với nội dung ngắn gọn trong "Tư cách một người cách mệnh", có thể thấy ngay từ khi chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không chỉ nhận thức sâu sắc vai trò của đạo đức; yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải rèn luyện đạo đức cách mạng mà còn coi đạo đức là gốc, là nền tảng, liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Thể hiện rõ trên 3 mối quan hệ, nên tuy ngắn gọn, song 23 điều này đã chỉ rõ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên cần phải có. Đó là, trong mọi lĩnh vực công tác cũng như cuộc sống đời thường, trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, người cán bộ, đảng viên đều:

- "Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật" chính là thái độ, hành vi đầu tiên mà người cán bộ, đảng viên phải chú trọng rèn luyện. Bởi đó vừa là yêu cầu vừa là mệnh lệnh, đồng thời cũng là những chỉ dẫn phải được thực hiện/thực hiện nghiêm túc suốt đời. Đây không chỉ là vấn đề đặc biệt quan trọng, quyết định tới tư cách của một người cách mệnh mà còn là yêu cầu đối với sự mẫu mực nêu gương về đạo đức của người cán bộ, đảng viên.

- "Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người" là nguyên tắc ứng xử của người cách mạng với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp của mình và đối với với quần chúng nhân dân, để xứng đáng với vị thế vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

- "Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể” là trí tuệ, bản lĩnh, phong cách công tác của người cán bộ, đảng viên trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm; thể hiện rõ vai trò, tinh thần trách nhiệm của mình trước trọng trách được giao.

Trong 23 điều răn về đạo đức người cách mệnh cần phải có, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành 14 điều răn để dành cho phần tự mình phải, thể hiện rõ nội hàm của các phẩm chất "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư". Ở phần đối người phải, Người dành 5 điều răn, thể hiện sự khoan dung, lòng nhân nghĩa của người cách mạng. Phần nói làm việc phải có 4 điều răn, thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm và lòng dũng cảm, bản lĩnh của người cách mạng. Ý nghĩa của những điều trong "Tự mình phải", "Đối người phải" và "Làm việc phải" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra không chỉ bao hàm những vấn đề cơ bản về nhân sinh quan và thế giới quan cách mạng, về ý thức và phương pháp tư tưởng của giai cấp công nhân, mà còn đồng thời khẳng định rằng: Đạo đức cách mạng và rèn luyện đạo đức cách mạng là một trong những nguyên tắc cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng/đội ngũ cán bộ, đảng viên chân chính, tiến tới xây dựng Đảng Mácxít cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.

Với quan niệm mới về đạo đức cách mạng theo lý tưởng cộng sản được nêu trong "Tư cách một người cách mệnh", có thể thấy đây không chỉ là yêu cầu đầu tiên mà còn là bài học quan trọng đối với những thanh niên Việt Nam yêu nước thời kỳ đó (vì phần đông lớp cán bộ thời dựng Đảng là những trí thức, tiểu tư sản thành thị). Việc chọn "Tư cách một người cách mệnh" là bài giảng đầu tiên Người dành để giảng tại các lớp Huấn luyện chính trị, không chỉ cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trong công tác cán bộ nói chung mà còn coi đạo đức là một trong 2 tiêu chuẩn (đức và tài, nhưng đức là gốc) của người cán bộ cách mạng/người đảng viên cộng sản nói riêng trong cán bộ và công tác cán bộ của Đảng. Đây không chỉ là quan niệm mới, một triết lý mới về đạo đức cách mạng khác với đạo đức yêu nước của các bậc tiền bối, mà còn là một sáng tạo độc đáo về đạo đức, nâng đạo đức lên một tầm cao mới, mang hơi thở của thời đại mới, mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.
Thông qua "Tư cách một người cách mệnh", có thể thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một người cách mạng/người đảng viên cộng sản khi đã dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng, muốn hoàn thành được trọng trách của mình trước Tổ quốc và nhân dân thì trước hết/đầu tiên phải có đạo đức cách mạng, phải rời xa chủ nghĩa cá nhân. . Thực tế cho thấy rằng, vấn đề trọng yếu này đặc biệt được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Bởi vì trong điều kiện lịch sử mới, để Đảng luôn xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức, danh dự và lương tâm của cả dân tộc; để Đảng không thay đổi bản chất, không thay đổi mục đích, lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người thì Đảng càng phải chú trọng vấn đề đạo đức. Đồng thời, cán bộ, đảng viên càng phải nỗ lực rèn luyện về đạo đức cách mạng, càng phải nghiêm cẩn thực thi các nguyên tắc xây dựng Đảng và phòng, chống chủ nghĩa cá nhân để quyền lực cùng những đặc quyền, đặc lợi của nó không làm tha hóa, không làm biến chất, suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Từ những tiềm ẩn về nguy cơ suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định: "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng"[2], mà Người còn nhấn mạnh Đảng cầm quyền càng phải chú trọng công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cụ thể, Người khẳng định trong tác phẩm Sửa đối lối làm việc (1947): "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì"[3] và trong tác phẩm Đạo đức cách mạng (1958): "Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh, mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang"[4].

Từ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, có thể thấy rằng, dù nêu ra ở những thời điểm khác nhau, song trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề đạo đức cách mạng nói chung, đặt lên hàng đầu việc mỗi người cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức, nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân nói riêng, để bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và kỷ luật; để sâu sát thực tế, hướng về nhân dân, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm tốt mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó luôn là nhất quán. Điều đó cũng có nghĩa là, trong hoàn cảnh nào cũng vậy, còn hoạt động bí mật hay khi đã trở thành Đảng cầm quyền, thời chiến hay thời bình, thì việc tu dưỡng đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên cũng cần phải tập trung vào 3 mối quan hệ "Tự mình phải", "Đối người phải" và "Làm việc phải" và đó cũng chính là gắn đạo đức cách mạng với thực tiễn cuộc sống, với văn hoá và sự phát triển, để người cán bộ, đảng viên xứng đáng với trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ của nhân dân; vừa là chính mình vừa là tấm gương đạo đức để quần chúng nhân dân tin tưởng, ủng hộ.

2. Tiếp tục đẩy mạnh học và làm theo "Tư cách một người cách mệnh" để xây dựng và chỉnh đốn Đảng

95 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra những yêu cầu về "Tư cách một người cách mệnh", có thể thấy những điều răn đó vẫn rất ý nghĩa, rất thời sự trong quá trình xây dựng đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa nói chung, xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng. Từ những diễn biến phức tạp về đạo đức dưới tác động của nền kinh tế thị trường; từ thực trạng xuống cấp đạo đức trong xã hội nói chung, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng, có thể thấy một trong những nguyên nhân quan trọng của vấn nạn này chính là việc mỗi người, mỗi cán bộ, đảng viên đã không tuân thủ thực hiện nguyên tắc rèn luyện đạo đức cách mạng theo 23 điều răn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong tác phẩm Đường Cách mệnh.

Ai cũng hiểu, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên được nêu ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng những nhiệm kỳ gần đây; trong các Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" và trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về "Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"" cùng các Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương" và Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về "Những điều đảng viên không được làm"… và việc phải triển khai thực hiện theo các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định này chính là nhằm phòng, chống để ngăn chặn sự xuống cấp đạo đức; là để thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh.

Tuy nhiên, dường như cùng với thời gian, cùng với những hệ lụy từ bối cảnh toàn cầu hóa và của nền kinh tế thị trường, chủ nghĩa cá nhân - loại "vi trùng mẹ" - kẻ thù "nội xâm"/thứ trái ngược với những yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "Tư cách một người cách mệnh" ngày một tác oai, tác quái trong đời sống xã hội, khiến một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa vào và đã tự mình "trở thành người có tội với cách mạng", khiến quần chúng nhân dân bức xúc. Trước thực trạng một số cán bộ, đảng viên dao động, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin và ý chí chiến đấu; thực dụng, cơ hội, chạy theo danh vị, chức quyền, lợi ích cục bộ, thu vén cá nhân; lợi dụng chức quyền, cương vị công tác để tham ô, tham nhũng, ăn hối lộ, làm giàu bất chính… dẫn đến vi phạm pháp luật, vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng; trước những vụ án về tham ô, tham nhũng đã khiến riêng năm 2021: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 32 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó 26 cán bộ diện Trung ương quản lý liên quan đến các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, gồm: 4 Uỷ viên, nguyên Uỷ viên Trung ương; 2 nguyên Bộ trưởng, 1 bí thư tỉnh uỷ, 5 thứ trưởng, nguyên thứ trưởng; 2 nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố; 3 nguyên phó bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ; 13 sĩ quan đương chức cấp tướng trong lực lượng vũ trang… chúng ta càng thấm thía và càng hiểu được vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chọn bài đầu tiên để giảng cho người cách mạng là "Tư cách một người cách mệnh".

Đồng thời, càng đứng trước những khó khăn, thử thách; và nhất là khi Đảng chú trọng đẩy mạnh công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh chống tham ô, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác, chúng ta càng thấy ý nghĩa lớn lao từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và rèn luyện đạo đức cách mạng trong các tác phẩm của Người, nhất là tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân nhân kỷ niệm Ngày thành lập Đảng năm 1969 và lời dặn lại cuối cùng trong Di chúc Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân"[5].

Thực tế, những chỉ dẫn, cảnh báo, dự liệu của Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trước những tác động xấu từ chủ nghĩa cá nhân - kẻ thù của đạo đức xã hội chủ nghĩa, kẻ thù của người cán bộ, đảng viên cộng sản chân chính cho thấy rằng: Muốn phòng và chống sự suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên từ sớm, từ xa thì trước hết mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng cần phải thấm nhuần sâu sắc hơn nữa, học tập và làm theo nghiêm túc hơn nữa theo đúng yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "Tư cách một người cách mệnh".

Thực tế cũng cho thấy là, trong rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến sự suy thoái, thì nguyên nhân chủ yếu nhất chính là không ít cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao thiếu gương mẫu trong rèn luyện bản thân, chưa tự giác, nghiêm túc thực hiện đúng nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, Điều lệ và kỷ luật của Đảng; mang nặng chủ nghĩa cá nhân nên không chỉ cơ hội, tham vọng quyền lực mà còn lợi dụng/lạm dụng quyền lực để mưu cầu danh lợi cho mình và nhóm lợi ích… Đồng thời, mỗi cấp uỷ, mỗi tổ chức Đảng chưa thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát cũng như chưa phát huy tốt vai trò của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên từ cơ sở. Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động lại không ngừng thực chiến lược "diễn biến hoà bình", gia tăng các hoạt động tuyên truyền, chống phá, thổi phồng những sai lầm và khoét sâu vào sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, để từ đó phủ nhận sự tiên phong, gương mẫu của người cán bộ cách mạng và đòi xóa bỏ vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng…

Vì thế, để lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[6] được quán triệt trong nhận thức, tư tưởng và hành động; để mỗi cán bộ, đảng viên luôn xứng đáng với vai trò tiền phong, thì từng cấp ủy, từng tổ chức Đảng trong cả hệ thống chính trị không những phải nâng cao nhận thức mà còn phải tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" nói chung, về "Tư cách một người cách mệnh" nói riêng với Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", coi đó như là một nhu cầu tự thân, trở thành nền nếp. Đồng thời, phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi và quét sạch chủ nghĩa cá nhân để phòng và đấu tranh chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đạt được hiệu quả cao nhất.

Cùng với đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động tự bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp, tác phong công tác trên tinh thần nghiêm túc đánh giá bản thân, tự soi, tự sửa những hạn chế, khuyết điểm của mình; nói đi đôi với làm, xây đi đôi với chống, nêu gương về đạo đức và phải tu dưỡng đạo đức suốt đời để phòng và chống nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ sớm, từ xa. Đồng thời, đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, kiểm soát quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng gắn với chủ động phòng và đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức./.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2, tr.280-281
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.289
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.292-293
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.11, tr.601
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr. 622
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.672.
Yêu nước ST.

“HIỂU CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN LÀ PHẢI SỐNG VỚI NHAU CÓ TÌNH CÓ NGHĨA"!

         Đây là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi làm việc với đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương vào ngày 17-6-1968 về việc xuất bản cuốn sách “Người tốt, việc tốt” nhằm tuyên truyền, nêu gương những nhân tố tích cực, những cách ứng xử đúng đắn. Người đã dặn: "Hiểu Chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu Chủ nghĩa Mác - Lênin được"./.
Môi trường ST.

Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2022

Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự trong thời kỳ mới

 

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự là sự kế thừa truyền thống giữ nước của dân tộc, kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Ngày 25-10-2013, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Đây là nghị quyết đặc biệt quan trọng, thể hiện tư duy mới của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Chương trình hành động, các ban, bộ, ngành ở Trung ương cụ thể hóa bằng các chiến lược chuyên ngành, chương trình, đề án. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xây dựng và trình Bộ Chính trị ban hành Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự,...; đồng thời, xây dựng các kế hoạch, đề án và làm nòng cốt trong triển khai thực hiện. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước, các cấp, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội tổ chức quán triệt, nắm vững các quan điểm chỉ đạo và triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, quyết liệt các giải pháp để đưa nội dung các chiến lược vào hoạt động thực tiễn, nâng cao ý thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn quân và toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc. Tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự, triển khai Chiến lược quốc phòng dưới sự lãnh đạo của Đảng và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Qua đó, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ chế độ, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại Đại hội XIII của Đảng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(1). Các chiến lược đã đánh dấu bước phát triển mới về tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. 

Những năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, song, tình hình thế giới, khu vực biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo; các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại, phát triển. Các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp; kinh tế toàn cầu tuy phục hồi sau đại dịch COVID-19 nhưng chưa thực sự vững chắc, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực; tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với các quốc gia trên thế giới. Xung đột cục bộ có thể diễn ra ở nhiều nơi; cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và tập hợp lực lượng diễn biến phức tạp, gay gắt hơn; nhiều nước đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, tăng cường năng lực quân sự; đặc biệt, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới, làm thay đổi môi trường chiến lược... Bối cảnh này đặt ra những thách thức mới đối với hòa bình, ổn định trên thế giới và ở khu vực. Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, trở thành địa bàn cạnh tranh chiến lược trọng điểm của các nước lớn, tiềm ẩn nhiều bất ổn, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn sẽ tác động sâu sắc, toàn diện tới Việt Nam.

Ở trong nước, sau hơn 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đại dịch COVID-19 và các thách thức an ninh phi truyền thống; bốn nguy cơ được Đảng ta xác định qua các kỳ đại hội vẫn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ngày càng công khai, quyết liệt và trực diện hơn. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra động lực, thời cơ và thách thức trong xây dựng, phát triển đất nước, đồng thời tác động lớn đến xây dựng nền quốc phòng toàn dân, hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự... và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”(2). Theo đó, chúng ta cần phát huy kết quả đã đạt được; đồng thời, phải nắm vững các quan điểm chỉ đạo và tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

Thứ nhất, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong triển khai thực hiện các chiến lược.

Đây là quan điểm chỉ đạo, đồng thời là giải pháp quan trọng hàng đầu, cơ bản, xuyên suốt trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện toàn diện, có hiệu quả các chiến lược; nhằm tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp; không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; tiếp tục thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng bằng hệ thống pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, người đứng đầu các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương và cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang trong lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các chiến lược. Quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các quan điểm trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp; thực hiện nghiêm Hiến pháp, Luật Quốc phòng, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự... Củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác quân sự, quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế về quốc phòng; quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương, bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và tăng cường công tác quản lý, thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về quốc phòng bằng pháp luật.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân; bảo đảm để Đảng nắm chắc lực lượng vũ trang trong mọi tình huống, là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của lực lượng vũ trang. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”(3), thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

    Thứ hai, nắm vững mối quan hệ giữa Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, tiếp tục cụ thể hóa trong quá trình triển khai thực hiện.

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược quốc phòng là những chiến lược quốc gia. Chiến lược quân sự là chiến lược chuyên ngành, có mối quan hệ, tác động hữu cơ nhưng không đồng nhất với hai chiến lược đó. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hai chiến lược cơ bản, quan trọng hàng đầu; là những chiến lược quốc gia bao trùm, nền tảng mang tính chỉ đạo chiến lược đối với việc xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược chuyên ngành. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc là mưu lược, kế sách quốc gia nhằm xác định mục tiêu, quy tụ lực lượng và lựa chọn giải pháp có tính khả thi, tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chiến lược quốc phòng là chiến lược phòng thủ quốc gia, bảo vệ đất nước, giữ nước “từ sớm”, “từ xa”, từ khi nước chưa nguy, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Đây là chiến lược mang tính chất hòa bình, tự vệ, bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; dựa trên đường lối chính trị đúng đắn là nhân tố quyết định, sức mạnh quốc phòng là then chốt, sức mạnh quân sự là đặc trưng, trực tiếp là sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân; xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Chiến lược quốc phòng là bộ phận chủ đạo, cụ thể hóa Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, cùng với các chiến lược khác thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chiến lược quân sự là nội dung nòng cốt, cụ thể hóa Chiến lược quốc phòng, là cơ sở để xây dựng, hoàn chỉnh phương án tác chiến, thế trận, tổ chức quân đội, bảo đảm trang bị, đào tạo nguồn lực, huấn luyện,... sẵn sàng đối phó với các hình thái chiến tranh hiện đại. Do đó, quá trình thực hiện các chiến lược đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải nắm vững mối quan hệ, các quan điểm chỉ đạo và nội dung của từng chiến lược để tổ chức thực hiện có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn.

Trên cơ sở các chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thực hiện nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự và thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Chương trình hành động của Quân ủy Trung ương, Kế hoạch của Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự để bổ sung, cụ thể hóa những nội dung mới bằng các chương trình, đề án, kế hoạch. Trong đó, cần xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá phù hợp với tình hình theo chức năng, nhiệm vụ của các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm sát với yêu cầu thực hiện các chiến lược trong thời kỳ mới. Việc triển khai toàn diện, đồng bộ cần phải thống nhất theo lộ trình tổng thể thực hiện nhiệm vụ chính trị của các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương, các lực lượng vũ trang. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc ở mỗi cấp, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức.

Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác dự báo, tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng trong triển khai thực hiện các chiến lược.

Đây là một giải pháp rất quan trọng trong hoạch định và triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự. Chất lượng công tác nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược cần được nâng cao toàn diện về tổ chức, cơ chế, năng lực, tham mưu đề xuất các chủ trương, đối sách, giải pháp sát, đúng, kịp thời, cung cấp luận cứ khoa học vững chắc, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; xử lý kịp thời, có hiệu quả các tình huống chiến lược, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, phục vụ nghiên cứu phát triển lý luận về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và chỉ đạo, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp đối với các hoạt động nghiên cứu dự báo chiến lược. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp cần nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác nghiên cứu dự báo chiến lược quốc phòng; mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh. Nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng theo quy định.

Công tác nghiên cứu dự báo chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; kết hợp với các văn bản có tính pháp quy của cơ quan có thẩm quyền, tạo cơ sở pháp lý tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu dự báo chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng. Theo đó, cần bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế chỉ đạo, điều hành, phối hợp nghiên cứu dự báo, tham mưu chiến lược quốc phòng. Xác định nội dung, xây dựng chương trình nghiên cứu dự báo chiến lược quốc phòng 5 năm, 10 năm, phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ nghiên cứu dự báo dài hạn với ngắn hạn và đột xuất. Tập trung xây dựng và triển khai chương trình nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo và tham mưu Chiến lược quốc phòng giai đoạn 2020 - 2025 và những năm tiếp theo.

Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, ứng dụng công nghệ hiện đại trong nghiên cứu dự báo, tham mưu. Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu dự báo chiến lược lĩnh vực quốc phòng, quân sự với nghiên cứu khoa học. Xây dựng, chuẩn hóa hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đồng bộ, ngày càng hiện đại, bảo đảm thuận tiện trong chia sẻ, liên kết giữa các cơ quan thông tin, tư liệu nhằm cung cấp thông tin đa chiều, khách quan, tin cậy từ các nguồn khác nhau.

Xây dựng, củng cố các cơ quan nghiên cứu Chiến lược quốc phòng theo hướng tập trung, chuyên sâu, đúng chức năng, xây dựng cơ chế phối hợp, bảo đảm,... đáp ứng nhu cầu nghiên cứu dự báo chiến lược trước mắt cũng như lâu dài. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ học vấn cao với số lượng hợp lý, chất lượng cao. Quan tâm chế độ, chính sách hoạt động nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược trong lĩnh vực quốc phòng. Đẩy mạnh công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ nghiên cứu dự báo chiến lược. Nâng cao hiệu quả hợp tác, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nghiên cứu chiến lược của các ban, bộ, ngành trong nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược.

Thứ tư, tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong triển khai thực hiện các chiến lược.

Nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự là nhiệm vụ, giải pháp quan trọng, kế sách giữ nước “từ sớm”, “từ xa”; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Tăng cường vị thế quốc tế và độc lập, tự chủ của đất nước; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Quán triệt và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Tăng cường công tác đối ngoại quốc phòng cùng với đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Tăng cường lòng tin chiến lược, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”. Thực hiện hội nhập quốc tế toàn diện, phát triển quan hệ đối ngoại cả chiều rộng và chiều sâu nhằm tạo thế chiến lược mới. Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc phòng tin cậy với các đối tác, nhất là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, với các nước lớn, nước láng giềng, bạn bè truyền thống; tập trung vào những lĩnh vực các bên có thế mạnh; xây dựng lòng tin, tạo sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để ngăn ngừa nguy cơ và đối phó với chiến tranh xâm lược. 

    Tích cực, chủ động tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Mở rộng quy mô, phạm vi tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa; hợp tác quốc tế về khắc phục hậu quả chiến tranh; tích cực tham gia nỗ lực chống phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt hàng loạt. Chú trọng tăng cường hợp tác bảo vệ và giao lưu hữu nghị biên giới với các nước có chung đường biên giới, như hợp tác tuần tra chung, trao đổi kinh nghiệm trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia; tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai...  Củng cố tổ chức, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng. Đổi mới nội dung, hình thức hợp tác tổ chức các hội nghị, hội thảo, diễn tập chung. Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và dư luận quốc tế về chính sách quốc phòng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển của Việt Nam. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế phối hợp với các cơ quan đối ngoại; gắn kết, thu hút sự tham gia, đóng góp về tinh thần và vật chất của các tổ chức, cá nhân, nhất là đội ngũ trí thức người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ năm, chú trọng sơ kết, tổng kết, bổ sung các chiến lược đã ban hành; nghiên cứu các chiến lược chuyên ngành mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Quá trình triển khai thực hiện các chiến lược, theo từng giai đoạn có những thay đổi, phát triển mới của tình hình trong thời gian 5 năm, từ 10 đến 20 năm..., cần chú trọng sơ kết, tổng kết để kịp thời bổ sung, điều chỉnh chiến lược cho phù hợp với yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong sơ kết, tổng kết thực hiện các chiến lược, cần đánh giá trung thực, khách quan, toàn diện, sâu sắc, nghiêm túc; chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, làm cơ sở điều chỉnh mục tiêu, yêu cầu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, khâu đột phá cho giai đoạn tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn. Trong giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cần chủ động nâng cao chất lượng tổng kết 40 năm đổi mới về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (2013 - 2023); sơ kết 5 năm thực hiện các chiến lược chuyên ngành đã ban hành; hoàn thiện lý luận về xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Tiếp tục nghiên cứu tham mưu xây dựng các chiến lược chuyên ngành khác, như Chiến lược phòng thủ dân sự; chuyển đổi số trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong Quân đội... Trên cơ sở sơ kết, tổng kết thực hiện các chiến lược để bổ sung, điều chỉnh các chiến lược đã ban hành và nghiên cứu đề xuất các chiến lược chuyên ngành mới thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Nắm vững quan điểm chỉ đạo và triển khai thực hiện có hiệu quả, toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm”, “từ xa” là một yêu cầu tất yếu khách quan, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, nòng cốt là lực lượng vũ trang. Với những thành tựu, kết quả đã đạt được, cần tiếp tục tiến hành nhiều nội dung, giải pháp nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức, sự đồng thuận trong xã hội, thực hiện toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả các chiến lược trong thời gian tới. Đề cao tinh thần trách nhiệm, sự năng động, sáng tạo của các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương, của cả hệ thống chính trị và toàn quân theo phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực trong tổ chức thực hiện nhằm cụ thể hóa các chiến lược, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.

--------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 104
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 160
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 158

Theo Tạp chí Cộng sản ngày 14/6/2022 (Đại tướng Lương Cường Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam)

🇻🇳 VIỆT NAM THAM DỰ TRIỂN LÃM VŨ KHÍ TRANG BỊ LỤC QUÂN LỚN NHẤT THẾ GIỚI

 

Nhận lời mời của Bộ Quân đội Pháp, từ 10-17/6, đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Việt Nam do Trung tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm trưởng đoàn, đã tham dự Triển lãm Vũ khí Lục quân EUROSATORY được tổ chức tại Khu triển lãm Villepinte, phía Bắc thủ đô Paris, Cộng hòa Pháp.
EUROSATORY là một trong những triển lãm vũ khí trang bị Lục quân lớn nhất trên thế giới, với sự tham gia của gần 160 nước, gồm các doanh nghiệp quốc phòng hàng đầu thế giới.
Từ năm 1998 đến nay, tại hầu hết các kỳ triển lãm, Bộ Quốc phòng Việt Nam đều cử đoàn đại biểu tham dự, qua đó nhằm tìm hiểu công nghệ mới, cập nhật những tiến bộ khoa học kỹ thuật, xu hướng phát triển trang bị của Lục quân các nước và tìm kiếm cơ hội hợp tác.

Về quan điểm sai trái, thù địch vin vào yếu tố thời đại để xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay

 

Về quan điểm sai trái, thù địch vin vào yếu tố thời đại để xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay

Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Có quan điểm vin vào yếu tố thời đại để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Quan điểm đó cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, hoặc cùng lắm là đầu thế kỷ XX, nó chỉ thích hợp với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai, chỉ thích hợp với văn minh cơ khí, còn bây giờ nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI - là thời đại của cách mạng khoa học - công nghệ, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, văn minh tin học, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn thích hợp nữa, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã bị lỗi thời (!).

Thời đại mà chúng ta đang sống khác rất nhiều so với thời đại của Mác - Ăng-ghen - Lê-nin, đã có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc về kinh tế, xã hội, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Không nhận thức được những biến đổi to lớn của thời đại sẽ không hiểu đúng bản chất của thời đại. Tuy nhiên, những biến đổi đó không vượt ra ngoài những quy luật, những nguyên lý chung nhất mà C. Mác đã khám phá ra. Chẳng hạn, đó là những quy luật phổ biến của phép biện chứng duy vật, những quy luật phổ biến của sự phát triển xã hội loài người, như quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, kinh tế xét đến cùng quyết định chính trị, quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp, quy luật giá trị thặng dư, những nguyên lý khoa học về nhà nước, cách mạng xã hội, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân...

Trên quan điểm khách quan, có một số luận điểm cụ thể của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin không còn phù hợp với điều kiện lịch sử mới, đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua, song những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, bản chất khoa học và cách mạng vẫn giữ nguyên giá trị cần phải bảo vệ. Hoàn cảnh lịch sử cụ thể luôn luôn thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài người mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin nêu lên là không thay đổi, có giá trị trường tồn. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà không một học thuyết nào có thể thực hiện được vai trò đó./.

 

Về quan điểm sai trái, thù địch cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin du nhập vào Việt Nam là sai lầm lịch sử

 

Về quan điểm sai trái, thù địch cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin du nhập vào Việt Nam là sai lầm lịch sử

Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Có quan điểm cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của Việt Nam, nó là “ngoại lai”, “ngoại nhập” từ phương Tây, không phù hợp với Việt Nam là một xã hội phương Đông, kinh tế lạc hậu; thậm chí có ý kiến nói “du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử”, do đó “cần phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin”.

Đây là quan điểm sai lầm, cố tình hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vì không hiểu được sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa của lý luận Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là lý luận khoa học nên cũng giống như các khoa học khác (kể cả khoa học tự nhiên) có giá trị phổ quát, vượt biên giới quốc gia - dân tộc, còn khi áp dụng nó đương nhiên phải chú ý đến điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia - dân tộc để tránh giáo điều, máy móc. Mặc dù chủ nghĩa Mác có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ các nước phương Tây, như Đức (về triết học), Anh (về kinh tế chính trị), Pháp (về lý luận chủ nghĩa xã hội), nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, không thể cấm bổ sung chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông. Nhưng khi nói vậy, Người vẫn khẳng định “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó”- tức ở phương Đông. Những quy luật của chủ nghĩa Mác vạch ra không chỉ đúng với các nước phát triển mà còn đúng cả với các nước kém phát triển. Vì, về mặt phương pháp luận như C.  Mác đã từng chỉ ra, trong cái phát triển cao chứa đựng cái phát triển ở trình độ thấp hơn dưới dạng lọc bỏ.

Mặt khác, nếu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý thì những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam từ khi chủ nghĩa Mác  - Lê-nin được truyền bá vào Việt Nam - một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lạc hậu, kém phát triển nhưng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo, đưa đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới mạnh mẽ, toàn diện đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều đổi mới về tư duy lý luận, đã nhận thức lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin theo tinh thần khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời loại bỏ những nhận thức không đúng, ấu trĩ, giáo điều về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới trên một loạt vấn đề, như mục tiêu, đặc trưng và phương hướng cơ bản của xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,... đó là những vấn đề không có sẵn trong di sản kinh điển mác-xít. Không có sự vận dụng, phát triển sáng tạo đó thì không có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân Việt Nam đạt được trong 35 năm đổi mới toàn diện đất nước./.

 

Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch đối lập chủ nghĩa nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

 

Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch đối lập chủ nghĩa nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Có quan điểm sai lầm đem đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin, đối lập C. Mác với V.I. Lê-nin để phủ nhận cả chủ nghĩa Mác lẫn chủ nghĩa Lê-nin, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói chung. Họ viện dẫn ra sự “đối lập” là C. Mác và Ph.Ăng-ghen cho rằng, cách mạng vô sản phải nổ ra đồng thời trong các nước tư bản, ít ra là trong các nước tư bản phát triển, còn V.I. Lê-nin lại cho rằng cách mạng XHCN có thể nổ ra và thành công ở một số nước, thậm chí ở một nước riêng lẻ, còn lạc hậu, còn nhiều tàn tích của chế độ nông nô như nước Nga.

Lịch sử nhân loại đã ghi nhận thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 – cuộc cách mạng đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm và phương pháp của V.I. Lê-nin. Sự đối lập giữa C. Mác với V.I.Lê-nin mà họ dựng lên là giả tạo, bịa đặt. V.I. Lê-nin là người mác-xít, ông đã tự nhận mình là học trò của Mác: Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lê-nin thống nhất với nhau về bản chất. Chủ nghĩa Lê-nin là chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản. C.Mác và V.I.Lê-nin sống ở hai thời đại khác nhau, C.Mác sống ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tự do cạnh tranh, còn đến V.I. Lê-nin chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi đó cách mạng vô sản, phong trào giải phóng dân tộc nổi lên, mỗi ông phải giải quyết những nhiệm vụ do thời đại của mình đặt ra. V.I. Lê-nin không thể máy móc, giáo điều ngồi chờ cho cách mạng vô sản nổ ra đồng thời ở các nước tư bản phát triển được, mà phải chủ động nhận thức thời cơ, tình thế cách mạng và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga. V.I.Lê-nin trung thành với chủ nghĩa Mác trong bản chất cách mạng, khoa học, biện chứng, chứ không phải trung thành một cách máy móc bởi vì học thuyết của các ông không phải giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động.

Chúng đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận cả chủ nghĩa Mác - Lê-nin lẫn tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là sai lầm cả về lịch sử và lô-gic. Về mặt lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn và được hình thành từ việc tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là nguồn gốc lý luận quan trọng nhất, là cơ sở chủ yếu nhất để hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Thông qua hoạt động trí tuệ và thực tiễn sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để nghiên cứu thực tiễn và tìm ra con đường cách mạng Việt Nam, vượt lên trước những nhà yêu nước đương thời, khắc phục được sự khủng hoảng về con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện lịch sử mới. Như vậy, về mặt lô-gic, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin chứ không có sự đối lập như một số người tưởng tượng ra. Và do đó cũng không có cái gọi là “cuộc nội chiến về tư tưởng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin” từ năm 1930 đến nay ở Việt Nam như có người nhận định. Một số người nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Họ nói tư tưởng Hồ Chí Minh mới là sản phẩm của Việt Nam, có nguồn gốc Việt Nam, còn chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “ngoại lai”, “ngoại nhập”, không phù hợp với Việt Nam, thậm chí có người muốn đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh (!). Quan điểm đó nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất, trực tiếp và gián tiếp chính là nhằm phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đảng ta xác định nền tảng tư tưởng của Đảng gồm chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là rất đúng đắn, phù hợp, thể hiện mối quan hệ biện chứng, thống nhất, gắn bó giữa hai bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng./.