Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022
“ĐÀI RÈ”LẠI MỞ CỦA NGUYỄN VĂN ĐÀI
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 20/6
TẠI MỸ, HỌC SINH CẤP 3 ĐƯỢC DẠY THẾ NÀO VỀ "CHIẾN TRANH VIỆT NAM"?
Cần xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo công
tác xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng với tư
cách là ba thành tố trụ cột của hệ thống chính trị nước ta.
Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò
to lớn của Đảng: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái
có vững thuyền mới chạy”; muốn cách mạng thắng lợi, Đảng phải giác ngộ, tổ chức
và giáo dục nhân dân thành một đội quân thống nhất ý chí và hành động, phấn đấu
cho sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, sau
khi cách mạng thắng lợi, Đảng trở thành Đảng cầm quyền “quần chúng vẫn cần có Đảng
lãnh đạo” để xây dựng xã hội mới, đồng thời xây dựng Đảng
trong sạch, vững mạnh là vấn đề hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi
của cách mạng Việt Nam. Đảng thật sự vững mạnh phải thường xuyên chú
ý xây dựng Đảng về tư tưởng lý luận, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Thứ hai, Hồ Chí Minh khẳng định vị trí quan trọng
của việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; nhà nước hoạt động theo
nguyên tắc phục vụ nhân dân một cách vô tư, các cơ quan của Chính phủ là đầy
tớ của nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Nước ta là nước dân
chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”. Nhà nước của dân và do dân lập
nên, vì vậy phải làm cho dân hiểu biết về địa vị của mình để nhân dân đề cao
trách nhiệm làm chủ trong xây dựng Nhà nước. Nhà nước vì dân là nhà nước mà mọi
hoạt động đều vì lợi ích chính đáng của nhân dân, là nhà nước mà việc gì lợi
cho dân, phải hết sức làm; việc gì hại cho dân, phải hết sức tránh. Mọi chủ
trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đều hướng tới làm cho dân có ăn, làm
cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành.
Để có Nhà nước trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phải
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài, vì muôn việc thành công hay
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; phải phòng, chống những khuyết điểm trong tổ
chức và hoạt động của Nhà nước, đặc biệt là nạn đặc quyền, đặc lợi và bệnh
“quan cách mạng”; phải tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ,
công chức.
Thứ ba, Hồ Chí Minh yêu cầu xây dựng Mặt trận
dân tộc thống nhất vững chắc, rất rộng rãi và thiết thực; chính sách Mặt trận
phải phù hợp với nguyện vọng thiết tha của toàn thể đồng bào. Trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là quan điểm xuyên suốt, là vấn đề có ý nghĩa
chiến lược, nhất quán, quyết định thành công tiến trình cách mạng và xây dựng
xã hội mới vì hạnh phúc của nhân dân. Để Mặt trận có thể đoàn kết rộng rãi và
thiết thực phải tin tưởng, tôn trọng nhân dân, phải yêu dân, tin dân, dựa vào
dân.
Vận dụng những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống
chính trị, bài viết đề xuất một số giải pháp sau:
Một là, trong xây dựng hệ thống chính trị phải đặc
biệt coi trọng xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân
Cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần quan điểm: “rời xa dân
chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”; sự lãnh đạo của Đảng và quản
lý của Nhà nước là lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho
dân. Hồ Chí Minh cho rằng: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu
không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác” và “dân
chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những
người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Do đó, việc xây
dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý
nghĩa quan trọng đặc biệt đối với xây dựng hệ thống chính trị.
Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Mọi hoạt động của hệ
thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục
vụ lợi ích của nhân dân”(15). Để phục vụ tốt nhân dân, các
thành viên của hệ thống chính trị phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Đại
hội XIII chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan
đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trọng
dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với
dân; tăng cường phối hợp, thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính
trị; nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân;
cụ thể hóa phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát,
dân thụ hưởng(16). Theo đó, phương hướng là cần tăng cường mối quan
hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng;
khắc phục triệt để bệnh quan liêu, mệnh lệnh cửa quyền trong đội ngũ cán bộ, đảng
viên.
Mặt khác, để tăng cường mối quan hệ giữa hệ thống chính trị
với nhân dân, phải bồi dưỡng nhận thức cho nhân dân về Đảng cầm quyền, về Nhà
nước, về vai trò, vị trí, chức năng và nguyên tắc hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, Đảng phải giúp nhân dân nhận thức rõ quyền
lợi và nghĩa vụ đối với đất nước, hiểu rõ đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, chính sách của Mặt trận; phải định hướng nhân dân xác lập niềm tin vào sự
lãnh đạo của Đảng, đồng lòng thực hiện sự nghiệp của Đảng và xây dựng Nhà nước
vững mạnh.
Đại hội XIII đúc kết bài học kinh nghiệm quý báu là:
Trong mọi công việc, Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân
là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân; thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"; thắt chặt mối quan hệ mật thiết
giữa Đảng với nhân dân; tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước,
chế độ xã hội chủ nghĩa.
Hai là, trong xây dựng hệ thống chính trị phải đặc
biệt chú trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng vững mạnh
thì mới lãnh đạo được Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần
chúng một cách hiệu quả. Xây dựng Đảng vững mạnh có ý nghĩa quyết định
đối với xây dựng hệ thống chính trị. Sự vững mạnh của Đảng “là do mỗi một chi bộ
mạnh. Chi bộ mạnh là do mỗi một đảng viên ra sức làm tròn nhiệm vụ”.
Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định nhiệm vụ
“xây dựng Đảng là then chốt” trong chiến lược phát triển tổng
thể của đất nước. Đại hội XIII đề ra yêu cầu: Tăng cường xây dựng
Đảng về chính trị; tập trung xây dựng Đảng về đạo đức; tích cực đấu
tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn tình trạng
suy thoái "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ;
phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức
vụ càng cao càng phải gương mẫu.
Là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị, Đảng phải
đổi mới phương thức lãnh đạo, trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo trong hệ
thống tổ chức của Đảng; đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của
các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở; đổi mới mạnh mẽ phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội thông qua tổ
chức bộ máy và đội ngũ cán bộ của Đảng, do đó phải đổi mới bộ máy của Đảng và đổi
mới mạnh mẽ công tác cán bộ để đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị
vững mạnh.
Văn kiện Đại hội XIII khẳng định, “Với một đảng cách mạng
chân chính, trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín
lãnh đạo như Đảng ta, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, chúng ta sẽ có một
sức mạnh to lớn, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, không thế lực
nào ngăn cản nổi dân tộc ta đi lên, lập nên những kỳ tích mới trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”.
Ba là, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của
Nhà nước - thành tố trung tâm của hệ thống chính trị
Nhà nước là thành tố trung tâm của hệ thống chính trị. Sự
lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, thể hiện trực tiếp nhất bằng Nhà
nước và thông qua Nhà nước. Vì vậy, xây dựng Nhà nước mạnh là sự phản
ánh quan trọng nhất hiệu quả lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với hệ thống chính
trị.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, việc thường xuyên phải làm là: “Kiện
toàn tổ chức và lề lối làm việc; nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật và đạo đức
cách mạng của toàn thể cán bộ” việc đổi mới tổ chức bộ máy nhà
nước phải gắn với đổi mới phương thức làm việc: “Khi đã có chính sách đúng, thì
sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công việc, nơi lựa
chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy
cũng vô ích”.
Đại hội XIII của Đảng đề ra quan điểm chỉ đạo là
“xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với
tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp
chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật
thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp
xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; định hướng của Đại
hội XIII là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước trong sạch, vững mạnh,
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự
phát triển của đất nước; tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải
trình; tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong
hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức.
Bốn là, tăng cường vai trò, trách nhiệm của Mặt
trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội
Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị - xã hội có vai trò hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng,
xây dựng khối đại đoàn kết, đồng thuận xã hội; có chức năng giám sát
và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Đại hội XIII của Đảng chủ trương: tăng cường vai trò
nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính
trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động
nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước; đổi mới tổ chức bộ máy,
nội dung và phương thức hoạt động; nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; hướng mạnh hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội về
cơ sở, địa bàn dân cư. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội chú trọng
thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội
viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng.
Như vậy, để xây dựng hệ thống chính trị theo mục tiêu của Đại
hội XIII cần quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động của bộ máy nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - mô hình tổng quát phát triển Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - mô hình tổng quát phát triển Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Có thể khái quát nội dung cơ bản nhất của mô hình phát triển
Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi xướng là độc lập dân tộc và CNXH. Nghiên cứu toàn
bộ di sản của Người có thể thấy: con đường cách mạng của Hồ Chí Minh là giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người nói rõ: “Tôi chỉ
có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc
lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được
học hành”. Khi nói chuyên với các nhà báo, Hồ Chí Minh chia sẻ: cả đời Người
“chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ,
tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Theo Hồ Chí Minh, trước hết phải làm cách mạng giải phóng
dân tộc, giành được độc lập, tiếp đó là xây dựng CNXH; nước có độc lập thì dân
phải được hưởng tự do, hạnh phúc, vì tự do, hạnh phúc là thước đo giá trị của độc
lập dân tộc. Muốn có tự do, hạnh phúc thì độc lập dân tộc phải gắn liền với
CNXH. Người nhấn mạnh: chỉ có trong chế độ XHCN thì mỗi người mới có điều kiện
để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường
riêng của mình, chăm lo cho con người và con người có điều kiện phát triển toàn
diện. Khi Hồ Chí Minh xác định giành độc lập theo con đường cách mạng vô sản tức
là đã khẳng định độc lập dân tộc đi tới CNXH.
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, CNXH không phải là mong muốn
chủ quan, không tưởng, mà là sự vận động lịch sử tất yếu, hiện thực, xuất phát
từ thực tiễn khách quan, từ đặc điểm Việt Nam và xu thế của thời đại.
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là con
đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam để đạt được mục tiêu độc lập, tự do,
hạnh phúc. Đó cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên suốt đường
lối và thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Người cho rằng, CNXH là chế độ xã hội làm cho nhân dân lao động
thoát nạn bần cùng, ai cũng có việc làm, được tự do, ấm no và hạnh phúc; giải
phóng nhân dân lao động khỏi nghèo nàn, lạc hậu, xóa bỏ chế độ người bóc lột
người, xây dựng một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền
lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, ai làm ít thì hưởng ít, ai không làm
không hưởng.
Tự do, hạnh phúc - theo quan điểm Hồ Chí Minh - là người dân
được hưởng đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần do chủ CNXH đem lại. Đời sống
vật chất là, trên cơ sở một nền kinh tế phát triển dựa trên lực lượng sản xuất
hiện đại, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người dân từ chỗ có
ăn, có mặc, có chỗ ở đến chỗ ăn ngon, mặc đẹp, đời sống sung túc; người đủ ăn
thì vươn lên khá giàu; người khá giàu thì giàu thêm. CNXH là cùng với việc
không ngừng nâng cao đời sống vật chất, phải không ngừng nâng cao đời sống tinh
thần. Trong điều kiện nước ta, nhiều khi đời sống tinh thần, văn hóa phải đi
trước. Trả lời câu hỏi của phóng viên báo L’Humanité về nhân tố nào biến nước
Việt Nam lạc hậu thành một nước tiên tiến, Hồ Chí Minh trả lời: “Có lẽ cần phải
để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa. Chủ nghĩa
thực dân đã kìm hãm nhân dân chúng tôi trong vòng ngu muội để chúng dễ áp bức.
Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tôi tiến bộ”. Từ rất
sớm, ngay khi còn phải tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là giành độc lập dân tộc,
Hồ Chí Minh đã nhìn thấu ý nghĩa và sức mạnh của văn hóa, của đời sống tinh thần.
Người cho rằng, con người cần có đời sống văn hóa tinh thần, vì đó là lẽ sinh tồn
và mục đích cuộc sống.
Trong đời sống tinh thần, yếu tố quan trọng hàng đầu là phát
huy quyền làm chủ của nhân dân. Bởi vì, CNXH là do quần chúng nhân dân tự xây dựng
lấy, là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng,
Trong điều kiện đó, chỉ có phát huy quyền làm chủ của nhân dân mới có sáng kiến
và động lực. Hồ Chí Minh khẳng định “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất
là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến
Chủ tịch một nước đều là phân công làm đầy tớ cho dân”. Đảng cầm quyền, Nhà nước
quản lý, nhưng nhân dân là chủ và để nhân dân làm chủ. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ
là giá trị lớn nhất mà cách mạng do Đảng lãnh đạo đem lại cho người dân. Vì vậy,
dân chủ trong chế độ dân chủ nhân dân đến chế độ XHCN vừa là động lực, vừa là mục
tiêu của cách mạng.
Xã hội XHCN là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản
về mặt giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, đem lại cho con người tự
do, hạnh phúc thật sự. Vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của tư tưởng,
văn hóa, đạo đức, lối sống. Văn hóa nói chung, văn hóa trong CNXH nói riêng,
không dừng lại ở trình độ học vấn, ở bề nổi, mà đó là “chất người”, “trình độ
người” trong các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội,
con người với thiên nhiên. Văn hóa là lối sống, là quyền con người, là cái
chân, thiện, mỹ giữa người với người. Thống nhất với cách tiếp cận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh rất chú trọng phát triển sản xuất, chú trọng
kinh tế, coi đó là nhân tố quyết định thắng lợi của CNXH. Nhưng, điều đặc biệt
trong tư tưởng của Người là chú trọng tiếp cận chủ CNXH về phương diện đạo đức.
Con người có hạnh phúc trong chế độ XHCN phải là những con người được giáo dục
và có đạo đức. Chế độ XHCN mang lại hạnh phúc cho con người phải là chế độ xa lạ
với chủ nghĩa cá nhân, với những gì phản văn hóa và đạo đức. Hồ Chí Minh chỉ
rõ, chủ nghĩa cá nhân là trái với đạo đức cách mạng, là trở lực trên con đường
xây dựng CNXH. Vì vậy, thắng lợi của CNXH không thể tách rời thắng lợi của cuộc
đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.
Con đường thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Con đường thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam phải trải qua các giai
đoạn cách mạng gắn bó mật thiết với nhau: giai đoạn đấu tranh giành độc lập dân
tộc và giai đoạn xây dựng CNXH. Nhìn một cách tổng quát, có thể hiểu mô hình
phát triển xã hội Việt Nam theo quan điểm của Hồ Chí Minh là: Tổ quốc bị đô hộ
thì phải đấu tranh giải phóng dân tộc; không giành được độc lập dân tộc sẽ
không có gì hết; nhưng, nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh
phúc, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Như vậy, thực chất là giải quyết mối
quan hệ giữa Tổ quốc được giải phóng và nhân dân được tự do, hạnh phúc; giữa độc
lập dân tộc và CNXH.
Xuất phát từ một người dân thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nhận rõ
mâu thuẫn đối kháng giữa thực dân đế quốc và dân tộc thuộc địa; còn ách nô lệ,
còn áp bức dân tộc thì không thể nói tới phát triển. Nói cách khác, giành cho
được độc lập là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự phát triển dân tộc.
Có độc lập dân tộc rồi thì phải đi lên CNXH mới thực hiện được
mục tiêu phát triển, mới làm cho xã hội tốt đẹp hơn. Nhưng, nhận thức thế nào về
triết lý phát triển Việt Nam khi bàn về CNXH?
Phát triển là một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp và không bao giờ là một con đường thẳng tắp, bằng phẳng cho mọi dân tộc,
trong mọi thời đại. Lịch sử loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, vì
vậy phát triển không bao giờ là sự phát triển theo ý muốn chủ quan duy ý chí của
con người, mà phát triển dựa trên năng lực nhận thức, tôn trọng và hành động
theo các quy luật khách quan của con người. Phát triển, bao giờ cũng phải xuất
phát từ thực tế. Phát triển từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh,
nhưng không có nghĩa là chỉ theo một đường thẳng, ngược lại bao hàm trong đó một
số giai đoạn phát triển có cả đường cong, đường dích dắc; vừa liên tục, vừa đứt
đoạn; vừa tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; vừa có tính phổ biến, vừa mang tính đặc
thù. Đó là một quá trình tích lũy và chuyển hóa không ngừng giữa lượng và chất,
thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập theo con đường phủ định của phủ định.
Trong quá trình phát triển xã hội, cần nhận thức đúng đắn,
phân biệt giữa phương tiện, những nấc thang và tiêu chuẩn của sự phát triển.
Không thể phủ nhận vai trò của lực lượng sản xuất. Bởi vì, “do có được những lực
lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình... Cái cối
xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước
đưa lại xã hội có nhà tư bản đại công nghiệp”; “những thời đại kinh tế khác
nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng
cách nào, với những tư liệu lao động nào”. Sản xuất bằng cách nào là xét về mặt
lực lượng sản xuất, gắn rất chặt với toàn bộ sự phát triển xã hội. Nhưng, đó là
cơ sở khách quan, khoa học đánh giá sự phát triển của từng giai đoạn lịch sử.
Cũng như vậy, yếu tố con người - lực lượng sản xuất quan trọng nhất, năng suất
lao động đều liên quan đến sự phát triển xã hội, nhưng đó chưa phải là tiêu chuẩn
của sự phát triển. Phải chăng, khoa học công nghệ, quan hệ sản xuất, trình độ
quản lý, kể cả luật pháp, là tiêu chuẩn, mục đích của phát triển? Phải coi đó
là những nấc thang của sự phát triển và tiến đến mục đích của sự phát triển. Rốt
cuộc, chất lượng dân sinh, hạnh phúc mới là tiêu chuẩn của sự phát triển. C.Mác
viết: “Trong thời đại chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của
nó... những máy móc có sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con
người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và
tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới, ... dường như
do một sức mạnh thần kỳ nào đó, lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ.
Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá là sự suy đồi về
mặt tinh thần... Tất cả những phát minh của chúng ta và tất cả sự tiến bộ của
chúng ta tựa hồ như đang dẫn tới chỗ là những lực lượng vật chất thì được ban
cho một đời sống tinh thần, còn đời sống của con người vốn đã bị tước mất cái mặt
tinh thần rồi thì nay lại bị hạ thấp xuống trình độ những lực lượng vật chất
đơn thuần”. Như vậy, cơ sở vật chất, khoa học công nghệ, gắn với nó là năng suất
lao động là những nấc thang của sự phát triển. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất xã hội, trước hết và quan trọng nhất phải đạt được “phát triển sự phong
phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân”.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo những quan điểm của
các nhà kinh điển Mác - Lênin, Hồ Chí Minh quan niệm CNXH vừa là phương tiện, nấc
thang, vừa là mục tiêu của sự phát triển, trong đó điều quan trọng nhất: CNXH
là mục tiêu của toàn bộ tiến trình cách mạng. Hồ Chí Minh rất quan tâm tới khoa
học công nghệ, tăng trưởng kinh tế, sự giàu có, quản lý nhà nước, năng suất lao
động..., nhưng tất cả những điều đó chỉ là phương tiện và nấc thang cho chất lượng
dân sinh và hạnh phúc của con người - mục tiêu cao nhất của sự phát triển.
Cần nhìn nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH như là mục tiêu
phát triển xã hội Việt Nam ở ba phương diện: phương diện vật chất - kinh tế;
phương diện chính trị; phương diện văn hóa - xã hội. Trên thực tế, đi tới CNXH
là một quá trình lâu dài, trải qua một một thời kỳ quá độ với nhiều bước trung
gian quá độ. Cách mạng XHCN chứa đựng nhiều cuộc cách mạng, phản ánh các mặt của
đời sống tư tưởng, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Vì vậy, quá trình xây dựng
CNXH ở Việt Nam cũng cần đạt được mục tiêu trong các lĩnh vực đó.
Trong lĩnh vực chính trị, đó là chế độ chính trị dân chủ,
nhân dân là chủ và làm chủ. Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ; bao
nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; chính quyền từ xã đến
Chính phủ trung ương đều do dân cử ra; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân; mọi công dân đều có quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan nhà nước,
có quyền kiểm soát đối với đại biểu của mình; v.v.. Chế độ chính trị do nhân
dân làm chủ thì người dân phải có nghĩa vụ đối với Nhà nước. Người chủ thì phải
chăm lo việc nước như việc nhà, tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không
ngồi chờ. Là người chủ, nên mọi người phải có nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ bảo vệ
Tổ quốc; tôn trọng và chấp hành pháp luật; tôn trọng và bảo vệ của công; có
nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt; v.v..
Chế độ chính trị do nhân dân làm chủ vừa là mục tiêu của
CNXH, vừa là động lực của sự phát triển. Dân chủ và thực hành dân chủ thật sự,
rộng rãi là cái chìa khóa vạn năng thúc đẩy xã hội tiến bộ và phát triển. Hồ
Chí Minh cho rằng, để một xã hội phát triển nhanh, lành mạnh, bền vững phải có
sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Nhưng, nhân tố có ý nghĩa quyết định
là con người. Bởi vì, như Hồ Chí Minh đã chỉ ra, mọi việc đều do người làm ra;
mọi sự thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, để hiện thực
mô hình phát triển Việt Nam, Hồ Chí Minh hết sức chú trọng nhân tố con người,
nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó chính là động lực
của sự phát triển.
Trong lĩnh vực kinh tế, chế độ chính trị XHCN phải dựa trên
nền kinh tế phát triển cao, với lực lượng sản xuất hiện đại, công nghiệp và
nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến... Trên cơ sở kinh tế XHCN
ngày càng phát triển, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ngày càng được
cải thiện và nâng cao. Cùng với phát triển lực lượng sản xuất, Hồ Chí Minh cũng
quan tâm đến chế độ sở hữu. Theo Người, trong thời kỳ quá độ tồn tại bốn hình
thức sở hữu chính: “- Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân. - Sở hữu của
hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. - Sở hữu của người lao
động riêng lẻ. - Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”.
Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội: Cách mạng tư tưởng - văn
hóa là một cuộc cách mạng trong cách mạng XHCN. Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng
và phát triển nền văn hóa mới với đầy đủ các yếu tố về tri thức, tâm lý, luân
lý, lối sống... Nền văn hóa đó phải dựa trên nền tảng kinh tế, nhưng đồng thời
lại tác động tích cực trở lại kinh tế. Không những thế, tiếp cận theo quan điểm
phát triển, văn hóa có sứ mệnh to lớn, “soi đường cho quốc dân đi”. Theo Hồ Chí
Minh, văn hóa phải để lên hàng đầu để biến nước Việt Nam lạc hậu thành một nước
tiên tiến, văn minh. Ở đây, vai trò của văn hóa được đặt trong công tác đào tạo
nguồn nhân lực, mà hàng đầu là nhanh chóng đào tạo cán bộ cho tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Bởi vì, muốn xây dựng CNXH, trước hết phải có con người
XHCN; muốn có con người XHCN phải có tư tưởng XHCN. Người chỉ rõ, văn hóa phải
làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà
quên lợi ích riêng mình. Văn hóa phải làm cho mỗi người và mọi người hiểu nhiệm
vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình cùng với hạnh phúc chung của dân tộc.
Văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở.
Cùng với văn hóa, các chính sách xã hội cũng được Hồ Chí
Minh đặc biệt chú trọng. Người quan tâm tới việc chăm lo hạnh phúc của đồng bào
nói chung, trong đó đặc biệt lo toan cho người nghèo, “làm cho người nghèo thì đủ
ăn và ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”; quan tâm đến sự bình đẳng
và tiến bộ của phụ nữ, đến thiếu niên nhi đồng, thương binh, các gia đình liệt
sĩ, gia đình và người có công với cách mạng, đồng bào các dân tộc ít người, đồng
bào tôn giáo.
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, CNXH là giai đoạn phát triển cao
hơn chủ nghĩa tư bản về mặt giải phóng con người, trước hết khỏi sự bất công.
Vì vậy, Người rất quan tâm tới quyền con người, đạo đức, lối sống, tâm hồn,
nhân cách. Nền văn hóa trong xã hội XHCN phải lấy hạnh phúc của đồng bào, của
dân tộc làm cơ sở. Vì vậy, văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng,
phù hoa, xa xỉ; làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do.
Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam có
tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng, trong đó yếu tố hàng đầu là tính chất
dân tộc. Dân tộc phải có ý thức độc lập, tự cường và mỗi người phải biết hy
sinh mình làm lợi cho xã hội thì mới xứng đáng hưởng độc lập, tự do. Về mặt
chính trị, nền văn hóa Việt Nam đề cao dân quyền, về mặt xã hội là quan tâm tới
phúc lợi của nhân dân. Đó chính là nội dung mới của nền văn hóa và vì vậy nền
văn hóa đó đậm tính nhân văn, tính dân tộc.
Cốt lõi và hạt nhân của văn hóa là con người. Con người là
chủ thể, là sản phẩm của văn hóa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp “trồng
người”. Bản chất của mô hình xã hội mới là phải xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp
giữa con người với con người. Đó phải là những con người có lòng yêu nước, có đạo
đức, trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần và năng lực làm chủ, có kiến thức khoa học kỹ
thuật, nhạy bén với cái mới, có tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có tinh
thần trách nhiệm vì nước, vì dân, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ
nhân dân.
Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”: Cần hiểu đúng!
C.Mác đã đưa ra luận điểm “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” trong Lời nói đầu của tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”. Trước khi đưa ra luận
QUÂN ĐỘI TA MỘT LÒNG VÌ NƯỚC, VÌ DÂN
Quân đội ta do Đảng và Bác Hồ kính yêu tổ chức, giáo dục và rèn luyện, là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, giải phóng dân tộc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân;
CHIÊU TRÒ TẨY TRẮNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ĐỒNG ĐÔ LA DƠ BẨN!
Mỹ và các thế lực phản động đã tính toán tự diễn biến trong giáo dục từ khi bình thường hóa với VN mà chúng ta ko phòng ngừa, ngăn chặn; mấy chục năm qua bộ giáo dục cải
Nhận diện một số luận điệu sai trái, xuyên tạc về lợi ích quốc gia - dân tộc
Nhận diện một số luận điệu sai trái, xuyên tạc về lợi ích quốc gia - dân tộc
Thứ nhất, luận điệu cho rằng bảo
vệ chế độ XHCN không phải là nội hàm của bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc
Các thế lực thù địch, phản động
cho rằng: “Bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc
gia, chứ không phải là bảo vệ một chế độ chính trị hay một đảng phái nào”. Thậm
chí, những người này còn tuyên truyền rằng phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ CNXH thì đất
nước mới có điều kiện để bảo đảm và giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Họ còn
đưa ra luận điệu đòi “Đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với
Trung Quốc” để giữ gìn độc lập, chủ quyền đất nước, lợi ích quốc gia dân tộc. Bản
chất của luận điệu này chính là muốn tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và
CNXH.
Thực tiễn lịch sử của Việt Nam cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho thấy, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đi
theo con đường phong kiến hay tư sản đều thất bại. Trên hành trình tìm đường cứu
nước, từ việc tìm hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng
Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế
giới khỏi ách nô lệ”. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã chứng minh sự lựa chọn
đó là đúng đắn.
Nhưng CNXH không chỉ là mục tiêu để
giành độc lập dân tộc, mà việc thực hiện các mục tiêu của CNXH còn là cơ sở để
củng cố vững chắc độc lập dân tộc và các giá trị của độc lập dân tộc mới được
thực hiện đầy đủ. Đối với Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, độc lập dân tộc là
một nền độc lập thật sự chứ không phải là thứ “độc lập giả hiệu”, “độc lập nửa
vời”, “độc lập hình thức”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, nền
độc lập đó phải gắn với dân chủ, tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân lao động,
nghĩa là độc lập dân tộc phải gắn với CNXH. Bởi vì: “Chúng ta tranh được tự do,
độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì.
Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.
Thực tiễn 35 năm đổi mới, Việt Nam
đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế của đất nước
ngày càng phát triển, trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng
nhanh nhất khu vực và thế giới. Thu nhập bình quân đầu người từ 200 USD năm
1990 lên 2.779 USD năm 2020. Quy mô nền kinh tế nước ta đạt khoảng 271,2 tỷ USD
năm 2020. Năm 2019, tăng trưởng GDP cả nước đạt 7,02%. Năm 2020, dưới tác động
của đại dịch Covid-19, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào suy thoái. Tuy
nhiên, Việt Nam là quốc gia hiếm hoi duy trì tăng trưởng dương (+2,91%), dịch bệnh
được kiểm soát, bảo đảm an sinh xã hội. Kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập mạnh
mẽ với khu vực và thế giới. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn
200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định song phương với hơn 100 nước. Văn
hóa, xã hội và đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Thành tựu về xóa
đói giảm nghèo của Việt Nam đã được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá
cao. Tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm từ 53% năm 1993 xuống còn dưới 4%
năm 2019.
Những thành tựu đó của chúng ta đã
được thế giới ghi nhận. Bằng chứng là, Việt Nam được tín nhiệm bầu vào các cơ
quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 -
2016, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng kinh tế
- xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018. Năm 2020, Việt Nam
cùng lúc đảm nhiệm ba trọng trách: Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an
Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA…
Những thành tựu trên là minh chứng
cho sự gắn kết giữa độc lập dân tộc và CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có
thể giải quyết căn cơ vấn đề độc lập cho dân tộc và cuộc sống tự do, hạnh phúc
cho số đông nhân dân. Thực tiễn Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, có Nhà nước
XHCN, nhất là 35 năm đổi mới, đã chứng minh điều này. Trong đại dịch Covid-19,
những thành công đạt được trong hỗ trợ người dân chăm lo sức khỏe, phát triển
kinh tế, ổn định đời sống đã minh chứng ở Việt Nam “không ai bị bỏ lại phía
sau”. Chúng ta không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn giải quyết được nhiều vấn đề
xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển
kinh tế”.
Những thành tựu đó một lần nữa chứng
minh, để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam phải bảo vệ cả độc lập chủ
quyền, bảo vệ nhân dân thống nhất với bảo vệ chế độ XHCN.
Thứ hai: luận điệu cho rằng Đảng
Cộng sản Việt Nam không đại diện cho lợi ích quốc gia - dân tộc và bất cứ lực
lượng nào đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết đều có thể trở thành lực
lượng lãnh đạo.
Trong thời gian qua, các thế lực
thù địch đã tung nhiều thông tin xuyên tạc, như: “Cộng sản khinh dân, Đảng Cộng
sản đã mạo nhận là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên
phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Trong lịch sử, không có khi nào
Đảng Cộng sản phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà cộng
sản chỉ lợi dụng công nhân và nhân dân lao động để phục vụ quyền lợi của Đảng Cộng
sản”... Lợi dụng một số hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, tình trạng
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng
viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhiều kẻ đã rêu
rao: “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản
chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”.
Trong khi Đảng nhận rõ những hạn chế, tăng cường chỉnh đốn Đảng, chúng lại cố
tình phủ nhận những nỗ lực của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
cho rằng những hành động đó không phải vì lợi ích dân tộc mà chỉ nhằm “che mắt
thế gian”,... Do đó, họ cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn
là đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Đây là quan điểm sai trái, muốn
tách rời Đảng với dân tộc, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với toàn xã hội.
Trước hết, cần khẳng định, ở Việt
Nam, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ trí tuệ, bản lĩnh để lãnh đạo đất
nước, mà cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới thực sự vì lợi ích quốc gia -
dân tộc. Trong lịch sử, đã xuất hiện những lực lượng muốn vươn lên vị trí lãnh
đạo nhưng hoặc không đủ khả năng hoặc là những kẻ cơ hội. Năm 1946, ngoài Đảng
Cộng sản xuất hiện thêm hai đảng là Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt
Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt cách) và nhiều tổ chức, đảng phái chính trị
khác. Thực chất, lãnh đạo cách mạng Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản, các đảng
phái khác không đại diện cho lợi ích của nhân dân và dân tộc. Khi quân Trung
Hoa Dân quốc rời khỏi Việt Nam, hai đảng cũng rút theo. Như vậy, những đảng
phái không đứng về phía nhân dân, không thực sự mang lại lợi ích chính đáng cho
nhân dân đã bị chính lịch sử và nhân dân loại bỏ. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam chính là sự lựa chọn của lịch sử, của nhân dân.
Sự lựa chọn đó là đúng đắn. Kể từ
khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong hơn 92 năm qua, thành công của Đảng
có được vì lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của dân tộc, của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động. Đồng thời, lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp được
bảo đảm khi đặt đưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này hoàn toàn
khác với đảng chính trị trong thể chế đa đảng, khi đảng đó chỉ đại biểu cho một
nhóm lợi ích nhất định, mà trong rất nhiều trường hợp lợi ích cục bộ của đảng
phái mâu thuẫn, xung đột với lợi ích chung của xã hội.
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, bất
cứ người nào, không phân biệt thành phần xuất thân, khi được giác ngộ lý tưởng
cách mạng, tự nguyện đứng trên lập trường giai cấp công nhân để phấn đấu cho mục
tiêu, lý tưởng của Đảng, thực hiện theo Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, đều được bồi
dưỡng và kết nạp vào Đảng. Điều lệ Đảng ghi rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam là “đại
biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Đảng
không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc, của nhân
dân; Đảng đấu tranh kiên quyết với mọi biểu hiện chủ nghĩa biệt phái, “lợi ích
nhóm”, không chỉ có nguy cơ gây chia rẽ nội bộ mà còn làm suy giảm năng lực đại
biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.
Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi
có Đảng đã chứng minh, Đảng luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết.
Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, khi phát xít Nhật vào Đông Dương, lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc đã chỉ ra rằng “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết
thảy”, lợi ích của giai cấp, của bộ phận phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của
quốc gia, dân tộc. Trở thành Ðảng cầm quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc vẫn được
Ðảng đặt lên hàng đầu, tất cả vì đoàn kết dân tộc, giữ vững nền độc lập vì tự
do, hạnh phúc của nhân dân.
Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt phải
chống thù trong, giặc ngoài, Ðảng Cộng sản phải rút vào hoạt động bí mật, “Ðể tỏ
rằng: những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiền phong của dân tộc, bao giờ
cũng hy sinh tận tụy vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi
quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái
cho quyền lợi chung của dân tộc”. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống xâm lược,
những người cộng sản luôn đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh và chấp nhận hy sinh
vì Tổ quốc.
Cũng vì luôn đặt lợi ích quốc gia
- dân tộc lên trên hết, Đảng sẵn sàng thẳng thắn nhìn nhận sai lầm, khuyết điểm
để sửa sai. Năm 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ với bút danh Trí Cường đã viết
tác phẩm Tự chỉ trích, một mẫu mực về đấu tranh tự phê bình và phê bình, làm rõ
những khuyết điểm của Đảng khi không đoàn kết, không nhận được sự ủng hộ của
đông đảo nhân dân trong cuộc bầu cử vào Viện Dân biểu, Hội đồng Quản hạt ở Nam
Kỳ... Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Sửa đổi lối
làm việc với tinh thần tự phê bình nghiêm túc. Đến Đại hội VI, Đảng đã tự phê
bình và chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, từ đó đưa ra đường lối đổi mới. Tinh
thần thẳng thắn này tiếp tục được thể hiện trong các kỳ Đại hội, trong các văn
kiện, nghị quyết của Đảng.
Sau khi đất nước thống nhất, bước
sang giai đoạn xây dựng CNXH, lợi ích quốc gia - dân tộc vẫn luôn là nhiệm vụ
trọng tâm được Đảng nhận thức sâu sắc qua các kỳ Đại hội, nhất là thời kỳ đổi mới.
Hội nghị Trung ương 8 khóa IX (tháng 7-2003) chỉ rõ: “Kiên định mục tiêu độc lập
dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định
để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của Tổ quốc”. Đại hội XI của Đảng
(năm 2011) xác định, mục tiêu của đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ mới là “vì lợi
ích quốc gia, dân tộc”. Như vậy, vấn đề lợi ích quốc gia - dân tộc luôn được Đảng
khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên
tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng
có lợi”.
Cuộc chiến chống tham nhũng với
tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” đã khẳng
định, tất cả những cán bộ đảng viên chỉ vì lợi ích cá nhân, vì lợi ích nhóm mà
bỏ quên và làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước, đều bị nghiêm trị.
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng,
lãng phí đã đạt được kết quả tích cực.
Trong cuộc chiến chống đại dịch
Covid-19, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn hành động vì lợi ích quốc gia, dân tộc
và hạnh phúc của nhân dân. Cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, chung
sức, đồng lòng, khoanh vùng, kiểm soát, đón người Việt từ vùng dịch về, hỗ trợ
doanh nghiệp, những đối tượng yếu thế trong xã hội... Tổ chức Y tế thế giới,
nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia, báo chí các nước ghi nhận và đánh giá cao kết
quả phòng, chống dịch của Việt Nam. Nhờ những thành tựu đó, niềm tin của nhân
dân dành cho Đảng đã tăng lên rất nhiều, cho thấy sự ghi nhận của nhân dân đối
với sự nỗ lực, tinh thần vì dân, vì nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Thứ ba, luận điệu xuyên tạc cho
rằng Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam không bảo vệ được lợi ích quốc gia -
dân tộc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền, biển đảo.
Trước một số sự việc liên quan đến
vấn đề về biên giới lãnh thổ, nhất là vấn đề ở Biển Đông, có luận điệu cho rằng,
Đảng Cộng sản Việt Nam vì vấn đề hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia -
dân tộc. Thậm tệ hơn, họ xuyên tạc trắng trợn khi cho rằng, Đảng và Nhà nước Việt
Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển;
những đối sách của Đảng, Nhà nước né tránh vấn đề Biển Đông. Và rằng Đảng, Nhà
nước Việt Nam đã “thỏa thuận” với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, “Việt Nam
làm ngơ về Biển Đông”, Việt Nam và Trung Quốc “ngầm thỏa thuận” để không làm
căng thẳng tình hình Biển Đông. Thậm chí có ý kiến cho rằng: Đảng Cộng sản Việt
Nam đã bán nước cho Trung Quốc vì lợi ích của Đảng, vì cùng chung ý thức hệ.
Lợi dụng, dựa dẫm vào những luận
điệu xuyên tạc trên và “nhân danh” “vì lợi ích quốc gia - dân tộc”,
vì “lòng yêu nước”, một số kẻ gây rối, kích động nhân dân chống phá Đảng, Nhà
nước; gây ra một số vụ bạo loạn, làm phức tạp tình hình xã hội, tạo hận thù dân
tộc, chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam.
Phải khẳng định lại lời phát biểu
của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Tất cả phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Việt
Nam sẽ không bao giờ nhân nhượng trước những gì thuộc về chủ quyền, độc lập, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ”. Bên cạnh đó, cũng phải bảo đảm giữ vững môi trường
hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, Việt Nam cần giải
quyết các tranh chấp, bất đồng một cách “khôn khéo, kiên quyết” bằng các biện
pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Hoàn toàn không phải là “nhu nhược”
hay vì “cùng ý thức hệ” như những kẻ chống phá xuyên tạc.
Nhìn lại lịch sử dân tộc, chúng ta
luôn nhớ những bài học của ông cha trong ứng xử với triều đình phong kiến
phương Bắc. Chẳng hạn như chính sách “Trong xưng đế, ngoài xưng vương”, bề
ngoài trên danh nghĩa chịu “thần phục”, chấp nhận cống nạp để được phong chức
tước, công nhận chủ quyền, hoãn binh, ngăn chặn chiến tranh, giữ yên bờ cõi...
bên trong thì xưng “Hoàng Đế” để cai quản, trị vì đất nước. Hay bài học trong sự
kiện năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định ký Hiệp định Sơ bộ
(ngày 6-3-1946) với Pháp theo “hòa để tiến”. Những hành động như vậy không phải
là “nhu nhược” mà chính là để bảo vệ cái cốt lõi nhất của lợi ích quốc gia -
dân tộc, bảo vệ hòa bình. Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định phương châm “dĩ bất
biến, ứng vạn biến”; trong đó, lợi ích “bất biến” là độc lập dân tộc, chủ quyền
lãnh thổ và chế độ xã hội XHCN làm kim chỉ nam để ứng xử một cách có nguyên tắc
nhưng rất linh hoạt với mọi tình thế.
Không phải là một nước lớn nên Việt
Nam cần có cách ứng xử mềm dẻo, linh hoạt để bảo đảm hòa bình, ổn định cho sự
phát triển đất nước. Việt Nam đã và đang áp dụng triệt để các nguyên tắc trong
Hiến chương Liên hợp quốc, thể hiện sự nhất quán trong quan điểm, đường lối của
Đảng và Nhà nước: Việt Nam luôn nỗ lực trong giải quyết những bất đồng, tranh
chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; tôn trọng,
ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế, tích cực thực hiện các cam kết
quốc tế; nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” (không tham
gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho
nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác;
không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Thực hiện
điều này giúp Việt Nam tránh được xung đột về quân sự, tránh bị cô lập về kinh
tế, cô lập về ngoại giao, tránh bị lệ thuộc về chính trị. Chủ trương đúng đắn
và các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền quốc gia đã tạo được
sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và nhận được sự ủng hộ rộng
rãi của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp, lập trường chính nghĩa của Việt
Nam.
Tại Đại hội XII, Đảng ta khẳng định
lợi ích quốc gia là “tối cao”, nghĩa là bất di bất dịch. Đến Đại hội XIII, trước
tình hình chủ nghĩa dân tộc cực đoan trỗi dậy, Đảng đã có sự điều chỉnh phù hợp
khi nhấn mạnh “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”, cùng với những yếu
tố hài hòa lợi ích riêng và lợi ích chung. Đó là tôn trọng và bảo đảm lợi ích
chính đáng của các quốc gia khác trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật
pháp quốc tế. Đó cũng chính là vì lợi ích quốc gia - dân tộc mình.
“Đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ,
tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay", có được điều đó là vì, Đảng
và Nhà nước Việt Nam đã luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, cũng
như đã xác định được con đường phát triển cho toàn thể dân tộc: con đường độc lập
dân tộc gắn liền CNXH. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản Việt Nam - lực
lượng duy nhất có đủ bản lĩnh và trí tuệ lãnh đạo đất nước cũng luôn bảo vệ lợi
ích của Tổ quốc. Những thành tựu đó là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định sự lựa
chọn lực lượng dẫn dắt dân tộc và con đường phát triển của nhân dân ta là hoàn
toàn đúng đắn, là sự thật mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc được.



