Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022

“ĐÀI RÈ”LẠI MỞ CỦA NGUYỄN VĂN ĐÀI


Đài rè” vừa ọ ẹ phát bài “Nguyễn Phú Trọng có tình đồng chí nhưng vô tình đồng bào”.
- Đài xách mé và láo xược hạ bút rằng: “Nguyễn Phú Trọng không 1 giây, không một giọt nước mắt thương xót”, và “Tình nghĩa đồng bào của Nguyễn Phú Trọng ở đâu?” trước những mất mát, thiệt hại của đồng bào trong lũ lụt miền Trung và trong đại dịch Covid-19.
Nhưng xuyên tạc không thể bác bỏ sự thật – một sự thật mà chỉ những kẻ lưu manh, bất lương như Đài mới cố tình không biết.
+ Ngày 17/10/2020, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã gửi tới Chương trình “Cả nước chung tay vì người nghèo” do Mặt trận TQVN tổ chức Lời thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các tỉnh bị bão lụt; trong đó, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, ông đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc, chia sẻ những mất mát, đau thương; gửi lời chia buồn đến những gia đình có người thân bị nạn; đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban, ngành, đoàn thể khẩn trương phòng chống lụt bão; khắc phục hậu quả; kịp thời thăm hỏi, giúp đỡ nhân dân sớm ổn định cuộc sống, phục hồi sản xuất..
Với lời thăm hỏi đầy cảm thông, chia sẻ và sự chỉ đạo kịp thời đó, sao có thể đặt câu hỏi: “Tình nghĩa đồng bào của Nguyễn Phú Trọng ở đâu?”
+ Về đại dịch Covid-19, ngay từ ngày 11/6/2021, chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị cho ý kiến về tình hình phòng, chống dịch Covid-19, ông Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu toàn hệ thống chính trị tập trung cao nhất cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 với tinh thần “chống dịch như chống giặc;” tiếp tục chỉ đạo sát sao, chặt chẽ và triển khai các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả...
Tới ngày 27/7/2021, trước những diễn biến mới của đại dịch, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra Lời kêu gọi gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19. Trong đó, cùng với nhấn mạnh: “bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, trước hết”, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, người đứng đầu Đảng đã tha thiết kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và đồng bào ở nước ngoài: “toàn dân tộc muôn người như một, đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành tìm mọi cách quyết ngăn chặn, đẩy lùi bằng được, không để dịch lan rộng, bùng phát trong cộng đồng...”
Với những việc làm kịp thời, trách nhiệm, đầy tình cảm đó, sao có thể đặt câu hỏi “Tình nghĩa đồng bào của Nguyễn Phú Trọng ở đâu?”
- Đài xách mé và láo xược xuyên tạc cảm xúc nghẹn ngào của Tổng Bí thư trong phát biểu bế mạc Hội nghị trung ương 6, khóa XI (tháng 10/2012), và trong Hội nghị trung ương bất thường xem xét kỷ luật cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long và cựu Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh, để rồi xỏ xiên, vu cáo, xuyên tạc ông Nguyễn Phú Trọng “có tình với đồng chí và quyền lực. Nhưng vô tình với đồng bào”.
Nhưng sự xuyên tạc không thể bác bỏ sự thật – một sự thật mà chỉ những kẻ lưu manh, bất lương như Đài mới cố tình không biết.
+ Ông Nguyễn Phú Trọng đã nghẹn ngào trong phát biểu bế mạc Hội nghị trung ương 6 (khóa XI), thay mặt Bộ chính trị, Ban bí thư, ông nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn Dân về “một số khuyết điểm lớn” mà Đảng đã và đang mắc phải, trong đó đau xót nhất là việc một Đảng sinh ra từ nhân dân; nguyện phấn đấu hết mình vì lợi ích của nhân dân và dân tộc, vậy mà có biểu hiện xa dân, không còn được dân yêu, dân tin tưởng tuyệt đối như trước kia...
Đó hoàn toàn không phải những giọt nước mắt do “bất lực trong việc tranh giành quyền lực” – như Đài xuyên tạc.
Cũng như trên, như ông Bùi Văn Cường, tổng thư ký Quốc hội chia sẻ, tại Hội nghị trung ương Đảng bất thường chiều ngày 6/6/2022, ông Nguyễn Phú Trọng đã nghẹn ngào khi nêu những nguyên tắc của Đảng rằng, kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt không có vùng cấm, không có ngoại lệ, ai vi phạm thì phải bị xử lý.
Trong trường hợp này, người đứng đầu Đảng vô cảm, không nghẹn ngào, xót xa mới là điều lạ. Nghẹn ngào vì những tổn thất cán bộ của Đảng. Nghẹn ngào vì sự tha hóa đạo đức, phẩm chất của những cán bộ từng có nỗ lực, cống hiến. Xót xa vì sự hư hỏng của những cán bộ, đảng viên cụ thể đó khiến dư luận, người dân bức xúc, làm ảnh hưởng đến uy tín của một Đảng từng được nhân dân hết mực tin yêu - Đảng đó, đang có những bước tiến tích cực, cụ thể trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn cam go để xứng đáng sứ mệnh vẻ vang của mình.
Sự nghẹn ngào của ông Nguyễn Phú Trọng thể hiện quyết tâm, sự không khoan nhượng với tham nhũng, tiêu cực, bất kỳ người đó là ai, chứ quyết không phải “có tình với đồng chí và quyền lực. Nhưng vô tình với đồng bào”.
Sự thật bao giờ cũng đơn giản, Nếu “có tình với đồng chí và quyền lực. Nhưng vô tình với đồng bào” như “Đài rè” xuyên tạc, vu khống, người đứng đầu Đảng CSVN là ông Nguyễn Phú Trọng đã không ném thêm hai thanh củi gộc Nguyễn Thanh Long, Chu Ngọc Anh vào “lò”.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 20/6


“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”.
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói chuyện trước Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 1960. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc đã tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta có một nền công nghiệp, nông nghiệp phát triển, một nền vǎn hóa và khoa học tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ xã hội, người chủ của nước nhà.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng, không những thể hiện tư tưởng chỉ đạo về mục tiêu xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa mà còn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của con người mới xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng, Nhà nước ta luôn quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo lời dạy của Bác năm xưa để xây dựng văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cho đội ngũ cán bộ, chiến toàn quân luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy. Nói và làm đúng nghị quyết; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tích cực xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
25
14 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

TẠI MỸ, HỌC SINH CẤP 3 ĐƯỢC DẠY THẾ NÀO VỀ "CHIẾN TRANH VIỆT NAM"?

         "Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Hồ Chí Minh - một người cộng sản đã đứng lên lãnh đạo người dân chống lại sự xâm lăng của người Nhật. Hồ Chí Minh là một lãnh đạo đi đầu trong chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam và có được sự ủng hộ mạnh mẽ của người lao động Việt thời bấy giờ. Với chiến thuật du kích, Việt Nam đã thành công đẩy lùi những cố gắng của Pháp trong việc thuộc địa hóa Đông Dương một lần nữa. Pháp đã phải rời khỏi năm 1954 sau chiến thắng Điện Biên Phủ với sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp.

Tuy nhiên, sự đối đầu căng thẳng giữa Liên Xô và Mỹ trong chiến tranh Lạnh lại ngăn cản độc lập của nước Việt. Học thuyết Truman và Chính sách Ngăn chặn đã khiến Mỹ nhập cuộc để có cái cớ gọi là “ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản” một cách hết sức vô lý. Các nước Đông Dương non trẻ, do hoàn cảnh, đã rơi vào cuộc chiến tranh Lạnh.

Sau khi Việt Nam giành chiến thắng trước Pháp vào năm 1954, các nước phương Tây và Liên Xô đã chấp thuận về một ranh giới tạm thời giữa Việt Nam, từ đó dẫn đến một cuộc tổng tuyển cử tự do vào năm 1956. 

Eisenhower đã thành lập chính phủ "BÙ NHÌN” tại miền Nam, được đứng đầu bởi Ngô Đình Diệm. Với sự tin tưởng vào học thuyết domino, các nước phương Tây, Mỹ và chính phủ Diệm đã lo sợ nếu Bắc Việt Nam chiến thắng cuộc tổng tuyển cử dẫn đến việc khu vực Đông Nam Á sẽ trở thành đồng minh Liên Xô. Chính phủ Mỹ nhận ra Hồ Chí Minh sẽ thành công, vì vậy, cuộc tổng tuyển cử đã bị ngăn chặn.

Hồ Chí Minh muốn thống nhất Việt Nam, nên ông đã hỗ trợ những người cộng sản tại miền Nam - hay được gọi là Việt Cộng. Việt Cộng là những du kích chống lại chính phủ “dân chủ” bù nhìn tại miền Nam.

Để củng cố cho chính phủ Diệm, Mỹ đã viện trợ rất nhiều cố vấn quân sự và hàng hóa. Cuộc tranh đấu ngày càng căng thẳng dẫn tới sự can thiệp gia tăng của quân đội Mỹ tại Việt Nam và thậm chí vào năm 1964, đã có nhiều cuộc ném bom vào các thành phố miền Bắc và phá hoại rừng của Việt Nam.

Tuy vậy, sức mạnh khổng lồ của Mỹ vẫn không thể cản lại Hồ Chí Minh và lực lượng của mình. Trong năm 1960, đã có gần 500.000 lính Mỹ được gửi tới Việt Nam. Hồ Chí Minh nhận viện trợ từ Liên Xô, nhưng không có một quân đoàn Liên Xô nào được gửi tới Việt Nam. Sức mạnh chính của Hồ Chí Minh vẫn chính là người dân Việt Nam với mong muốn hòa bình. "Các ông có thể giết 10 người của tôi và có thể hơn nữa... nhưng các ông vẫn sẽ thua và chúng tôi sẽ thắng". Dù Mỹ có cố gắng như thế nào ở Việt Nam, quân đoàn của Hồ Chí Minh vẫn vững vàng và không bị đánh bại.

Vào năm 1968, Robert McNamara đã nói về "ánh sáng ở cuối con hầm", hay chiến thắng tại Việt Nam đã tới gần. Tuy nhiên chiến dịch Tết đã chứng minh câu nói này sai khi hơn 100 thành phố đã bị Bắc Việt Nam tấn công, bao gồm Sài Gòn, thậm chí cả đài phát thanh và trụ sở CIA cũng đã bị chiếm đóng. Đã có một bằng chứng cho rằng tướng Westmoreland phải tự phòng thủ bằng một khẩu súng lục. Người Mỹ đã nghĩ rằng quân đội Mỹ kiểm soát được các đô thị, nhưng họ đã thấy rõ rằng người Việt Nam có thể tổ chức một cuộc tấn công quy mô ngay tại thành phố. Chiến dịch Tết 1968 đã khiến phe phái của Johnson chao đảo và chính phủ Mỹ nhận ra cuộc chiến này là không-thể-thắng.

Đầu những năm 1970, thương vong lớn của Mỹ đã thay đổi quan điểm của người dân về cuộc chiến này. Tổng thống Nixon đã đồng ý ngừng chiến và ký một hiệp định hòa bình vào năm 1973. Đến năm 1975, thủ đô Nam Việt Nam là Sài Gòn đã sụp đổ và được đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh."

- Bảo tàng lịch sử Việt Nam -

P/s: Và trong thời gian qua chúng ta thấy rất rõ rằng một số vị trong viện sử học của ta đã sao chép rồi cố tình bao biện bảo vệ cho quan điểm sai trái đó một cách hệ thống và bài bản. Họ đang cố tình bao biện bảo vệ quan điểm cho rằng chế độ tay sai ngụy quyền là hợp pháp chính danh không phải ngụy, cố tình ngụy biện đánh lận cuộc chiến tranh đánh đuổi quân Mỹ xâm lược của quân và dân ta chỉ là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, là cuộc tranh chiến ý thức hệ và cho rằng chiến tranh Việt Nam chỉ là nội chiến mà thôi. Quan điểm sai trái của chúng không những không được lên án vạch trần mà trái lại còn được một bộ phận truyền thông tích cực ủng hộ, vô tư chọn và đưa họ lên sóng truyền thông như một tấm gương sáng để rao giảng đạo đức cách mạng cho thế hệ sau như thật mới lạ và ngược đời!
Yêu nước ST.

Cần xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp. Cách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ; hoà bình, hợp tác phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, khủng bố quốc tế, bất ổn chính trị - xã hội, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa một số nước tiếp tục diễn biến phức tạp. Một mặt, đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế vẫn tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động DBHB nhằm chuyển hóa chế độ XHCN ở các nước còn lại. Đối với Việt Nam, “các thế lực thù địch tiếp tục chống phá và can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, kích động bạo loạn, lật đổ và đẩy mạnh hoạt động "DBHB", thúc đẩy "tự diễn biến" "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta. Mặt khác, các tổ chức phản động bên ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là mạng internet, triệt để lợi dụng những tiêu cực, tham nhũng…để tuyên truyền xuyên tạc nhằm hạ uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Sự phát triển nhanh của mạng internet và dịch vụ viễn thông cũng đang đặt ra những thách thức mới đối với công tác tư tưởng. Các quan điểm sai trái trên mạng thường được in ấn, nhân bản với số lượng lớn nên phát tán rất nhanh trong xã hội, do đó cũng tác động đến một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên. Chúng ráo riết phát triển lực lượng, nuôi ý định chống đối chế độ lâu dài. Trong những năm gần đây, các phần tử cốt cán gia tăng phát triển lực lượng hòng “trẻ hóa” nhân sự. Trước mắt, chúng tiến hành trẻ hóa đội ngũ để thay thế dần số già yếu hoặc chết. Các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc về tư tưởng chính trị trên mạng internet lan truyền trong xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là trong một bộ phận thanh niên, sinh viên, văn nghệ sĩ, tri thức. Một số thanh niên, sinh viên phai nhạt lý tưởng, mắc căn bệnh "nhạt Đảng, khô Đoàn, chán chính trị". Một số sinh viên đề cao quan điểm “dân chủ tư sản”; sống thực dụng, ích kỷ, cá biệt có hiện tượng tha hoá về nhân cách; một số viết bài cho đài nước ngoài nói xấu chế độ ta để xin học bổng. Ngoài ra, còn hàng trăm thanh niên do nhận thức mơ hồ hoặc bị lừa phỉnh đã tham gia. Do đó, để tăng cường và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tăng tính đồng thuận xã hội, huy động đông đảo lực lượng học sinh sinh viên góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng. Thế hệ trẻ, xem đây là chiến lược con người, học sinh, sinh viên là những lực lượng trẻ, có tri thức lại nhanh nhạy với cái mới và là lực lượng nòng cốt, nhằm nâng cao nhận thức về lập trường, quan điểm chính trị, chống lại mọi biểu hiện sai lệch về nhận thức và hành động sai trái..

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo công tác xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng với tư cách là ba thành tố trụ cột của hệ thống chính trị nước ta. 

Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của Đảng: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”; muốn cách mạng thắng lợi, Đảng phải giác ngộ, tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thống nhất ý chí và hành động, phấn đấu cho sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, sau khi cách mạng thắng lợi, Đảng trở thành Đảng cầm quyền “quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo” để xây dựng xã hội mới, đồng thời xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là vấn đề hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng thật sự vững mạnh phải thường xuyên chú ý xây dựng Đảng về tư tưởng lý luận, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Thứ hai, Hồ Chí Minh khẳng định vị trí quan trọng của việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; nhà nước hoạt động theo nguyên tắc phục vụ nhân dân một cách vô tư, các cơ quan của Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”. Nhà nước của dân và do dân lập nên, vì vậy phải làm cho dân hiểu biết về địa vị của mình để nhân dân đề cao trách nhiệm làm chủ trong xây dựng Nhà nước. Nhà nước vì dân là nhà nước mà mọi hoạt động đều vì lợi ích chính đáng của nhân dân, là nhà nước mà việc gì lợi cho dân, phải hết sức làm; việc gì hại cho dân, phải hết sức tránh. Mọi chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đều hướng tới làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành.

Để có Nhà nước trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài, vì muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; phải phòng, chống những khuyết điểm trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, đặc biệt là nạn đặc quyền, đặc lợi và bệnh “quan cách mạng”; phải tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức.

Thứ ba, Hồ Chí Minh yêu cầu xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất vững chắc, rất rộng rãi và thiết thực; chính sách Mặt trận phải phù hợp với nguyện vọng thiết tha của toàn thể đồng bào. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là quan điểm xuyên suốt, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, nhất quán, quyết định thành công tiến trình cách mạng và xây dựng xã hội mới vì hạnh phúc của nhân dân. Để Mặt trận có thể đoàn kết rộng rãi và thiết thực phải tin tưởng, tôn trọng nhân dân, phải yêu dân, tin dân, dựa vào dân.

Vận dụng những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng hệ thống chính trị, bài viết đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, trong xây dựng hệ thống chính trị phải đặc biệt coi trọng xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân 

Cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần quan điểm: “rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”; sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho dân. Hồ Chí Minh cho rằng: “Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác” và “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Do đó, việc xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với xây dựng hệ thống chính trị.

Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân”(15). Để phục vụ tốt nhân dân, các thành viên của hệ thống chính trị phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Đại hội XIII chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân; tăng cường phối hợp, thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; cụ thể hóa phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng(16). Theo đó, phương hướng là cần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng; khắc phục triệt để bệnh quan liêu, mệnh lệnh cửa quyền trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Mặt khác, để tăng cường mối quan hệ giữa hệ thống chính trị với nhân dân, phải bồi dưỡng nhận thức cho nhân dân về Đảng cầm quyền, về Nhà nước, về vai trò, vị trí, chức năng và nguyên tắc hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, Đảng phải giúp nhân dân nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ đối với đất nước, hiểu rõ đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chính sách của Mặt trận; phải định hướng nhân dân xác lập niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng lòng thực hiện sự nghiệp của Đảng và xây dựng Nhà nước vững mạnh.

Đại hội XIII đúc kết bài học kinh nghiệm quý báu là: Trong mọi công việc, Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hai là, trong xây dựng hệ thống chính trị phải đặc biệt chú trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng vững mạnh thì mới lãnh đạo được Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng một cách hiệu quả. Xây dựng Đảng vững mạnh có ý nghĩa quyết định đối với xây dựng hệ thống chính trị. Sự vững mạnh của Đảng “là do mỗi một chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do mỗi một đảng viên ra sức làm tròn nhiệm vụ”.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định nhiệm vụ “xây dựng Đảng là then chốt” trong chiến lược phát triển tổng thể của đất nước. Đại hội XIII đề ra yêu cầu: Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị; tập trung xây dựng Đảng về đạo đức; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn tình trạng suy thoái "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.

Là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị, Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo, trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo trong hệ thống tổ chức của Đảng; đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở; đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội thông qua tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ của Đảng, do đó phải đổi mới bộ máy của Đảng và đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ để đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

Văn kiện Đại hội XIII khẳng định, “Với một đảng cách mạng chân chính, trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín lãnh đạo như Đảng ta, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, chúng ta sẽ có một sức mạnh to lớn, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, không thế lực nào ngăn cản nổi dân tộc ta đi lên, lập nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”.

Ba là, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước - thành tố trung tâm của hệ thống chính trị   

Nhà nước là thành tố trung tâm của hệ thống chính trị. Sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, thể hiện trực tiếp nhất bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước. Vì vậy, xây dựng Nhà nước mạnh là sự phản ánh quan trọng nhất hiệu quả lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với hệ thống chính trị. 

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, việc thường xuyên phải làm là: “Kiện toàn tổ chức và lề lối làm việc; nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật và đạo đức cách mạng của toàn thể cán bộ” việc đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước phải gắn với đổi mới phương thức làm việc: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”.

Đại hội XIII của Đảng đề ra quan điểm chỉ đạo là “xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; định hướng của Đại hội XIII là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước; tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức.

Bốn là, tăng cường vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội

Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết, đồng thuận xã hội; có chức năng giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.   

Đại hội XIII của Đảng chủ trương: tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước; đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động; nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; hướng mạnh hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội về cơ sở, địa bàn dân cư. Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội chú trọng thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng.

Như vậy, để xây dựng hệ thống chính trị theo mục tiêu của Đại hội XIII cần quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

 

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - mô hình tổng quát phát triển Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - mô hình tổng quát phát triển Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Có thể khái quát nội dung cơ bản nhất của mô hình phát triển Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi xướng là độc lập dân tộc và CNXH. Nghiên cứu toàn bộ di sản của Người có thể thấy: con đường cách mạng của Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người nói rõ: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi nói chuyên với các nhà báo, Hồ Chí Minh chia sẻ: cả đời Người “chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Theo Hồ Chí Minh, trước hết phải làm cách mạng giải phóng dân tộc, giành được độc lập, tiếp đó là xây dựng CNXH; nước có độc lập thì dân phải được hưởng tự do, hạnh phúc, vì tự do, hạnh phúc là thước đo giá trị của độc lập dân tộc. Muốn có tự do, hạnh phúc thì độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH. Người nhấn mạnh: chỉ có trong chế độ XHCN thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình, chăm lo cho con người và con người có điều kiện phát triển toàn diện. Khi Hồ Chí Minh xác định giành độc lập theo con đường cách mạng vô sản tức là đã khẳng định độc lập dân tộc đi tới CNXH.

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, CNXH không phải là mong muốn chủ quan, không tưởng, mà là sự vận động lịch sử tất yếu, hiện thực, xuất phát từ thực tiễn khách quan, từ đặc điểm Việt Nam và xu thế của thời đại.

Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam để đạt được mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên suốt đường lối và thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Người cho rằng, CNXH là chế độ xã hội làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, ai cũng có việc làm, được tự do, ấm no và hạnh phúc; giải phóng nhân dân lao động khỏi nghèo nàn, lạc hậu, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, ai làm ít thì hưởng ít, ai không làm không hưởng.

Tự do, hạnh phúc - theo quan điểm Hồ Chí Minh - là người dân được hưởng đầy đủ đời sống vật chất và tinh thần do chủ CNXH đem lại. Đời sống vật chất là, trên cơ sở một nền kinh tế phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người dân từ chỗ có ăn, có mặc, có chỗ ở đến chỗ ăn ngon, mặc đẹp, đời sống sung túc; người đủ ăn thì vươn lên khá giàu; người khá giàu thì giàu thêm. CNXH là cùng với việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất, phải không ngừng nâng cao đời sống tinh thần. Trong điều kiện nước ta, nhiều khi đời sống tinh thần, văn hóa phải đi trước. Trả lời câu hỏi của phóng viên báo L’Humanité về nhân tố nào biến nước Việt Nam lạc hậu thành một nước tiên tiến, Hồ Chí Minh trả lời: “Có lẽ cần phải để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa. Chủ nghĩa thực dân đã kìm hãm nhân dân chúng tôi trong vòng ngu muội để chúng dễ áp bức. Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tôi tiến bộ”. Từ rất sớm, ngay khi còn phải tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh đã nhìn thấu ý nghĩa và sức mạnh của văn hóa, của đời sống tinh thần. Người cho rằng, con người cần có đời sống văn hóa tinh thần, vì đó là lẽ sinh tồn và mục đích cuộc sống.

Trong đời sống tinh thần, yếu tố quan trọng hàng đầu là phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Bởi vì, CNXH là do quần chúng nhân dân tự xây dựng lấy, là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, Trong điều kiện đó, chỉ có phát huy quyền làm chủ của nhân dân mới có sáng kiến và động lực. Hồ Chí Minh khẳng định “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đầy tớ cho dân”. Đảng cầm quyền, Nhà nước quản lý, nhưng nhân dân là chủ và để nhân dân làm chủ. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ là giá trị lớn nhất mà cách mạng do Đảng lãnh đạo đem lại cho người dân. Vì vậy, dân chủ trong chế độ dân chủ nhân dân đến chế độ XHCN vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng.

Xã hội XHCN là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, đem lại cho con người tự do, hạnh phúc thật sự. Vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống. Văn hóa nói chung, văn hóa trong CNXH nói riêng, không dừng lại ở trình độ học vấn, ở bề nổi, mà đó là “chất người”, “trình độ người” trong các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội, con người với thiên nhiên. Văn hóa là lối sống, là quyền con người, là cái chân, thiện, mỹ giữa người với người. Thống nhất với cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh rất chú trọng phát triển sản xuất, chú trọng kinh tế, coi đó là nhân tố quyết định thắng lợi của CNXH. Nhưng, điều đặc biệt trong tư tưởng của Người là chú trọng tiếp cận chủ CNXH về phương diện đạo đức. Con người có hạnh phúc trong chế độ XHCN phải là những con người được giáo dục và có đạo đức. Chế độ XHCN mang lại hạnh phúc cho con người phải là chế độ xa lạ với chủ nghĩa cá nhân, với những gì phản văn hóa và đạo đức. Hồ Chí Minh chỉ rõ, chủ nghĩa cá nhân là trái với đạo đức cách mạng, là trở lực trên con đường xây dựng CNXH. Vì vậy, thắng lợi của CNXH không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.

 

Con đường thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Con đường thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam phải trải qua các giai đoạn cách mạng gắn bó mật thiết với nhau: giai đoạn đấu tranh giành độc lập dân tộc và giai đoạn xây dựng CNXH. Nhìn một cách tổng quát, có thể hiểu mô hình phát triển xã hội Việt Nam theo quan điểm của Hồ Chí Minh là: Tổ quốc bị đô hộ thì phải đấu tranh giải phóng dân tộc; không giành được độc lập dân tộc sẽ không có gì hết; nhưng, nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Như vậy, thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa Tổ quốc được giải phóng và nhân dân được tự do, hạnh phúc; giữa độc lập dân tộc và CNXH.

Xuất phát từ một người dân thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nhận rõ mâu thuẫn đối kháng giữa thực dân đế quốc và dân tộc thuộc địa; còn ách nô lệ, còn áp bức dân tộc thì không thể nói tới phát triển. Nói cách khác, giành cho được độc lập là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự phát triển dân tộc.

Có độc lập dân tộc rồi thì phải đi lên CNXH mới thực hiện được mục tiêu phát triển, mới làm cho xã hội tốt đẹp hơn. Nhưng, nhận thức thế nào về triết lý phát triển Việt Nam khi bàn về CNXH?

Phát triển là một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và không bao giờ là một con đường thẳng tắp, bằng phẳng cho mọi dân tộc, trong mọi thời đại. Lịch sử loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, vì vậy phát triển không bao giờ là sự phát triển theo ý muốn chủ quan duy ý chí của con người, mà phát triển dựa trên năng lực nhận thức, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan của con người. Phát triển, bao giờ cũng phải xuất phát từ thực tế. Phát triển từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh, nhưng không có nghĩa là chỉ theo một đường thẳng, ngược lại bao hàm trong đó một số giai đoạn phát triển có cả đường cong, đường dích dắc; vừa liên tục, vừa đứt đoạn; vừa tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; vừa có tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù. Đó là một quá trình tích lũy và chuyển hóa không ngừng giữa lượng và chất, thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập theo con đường phủ định của phủ định.

Trong quá trình phát triển xã hội, cần nhận thức đúng đắn, phân biệt giữa phương tiện, những nấc thang và tiêu chuẩn của sự phát triển. Không thể phủ nhận vai trò của lực lượng sản xuất. Bởi vì, “do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình... Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản đại công nghiệp”; “những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”. Sản xuất bằng cách nào là xét về mặt lực lượng sản xuất, gắn rất chặt với toàn bộ sự phát triển xã hội. Nhưng, đó là cơ sở khách quan, khoa học đánh giá sự phát triển của từng giai đoạn lịch sử. Cũng như vậy, yếu tố con người - lực lượng sản xuất quan trọng nhất, năng suất lao động đều liên quan đến sự phát triển xã hội, nhưng đó chưa phải là tiêu chuẩn của sự phát triển. Phải chăng, khoa học công nghệ, quan hệ sản xuất, trình độ quản lý, kể cả luật pháp, là tiêu chuẩn, mục đích của phát triển? Phải coi đó là những nấc thang của sự phát triển và tiến đến mục đích của sự phát triển. Rốt cuộc, chất lượng dân sinh, hạnh phúc mới là tiêu chuẩn của sự phát triển. C.Mác viết: “Trong thời đại chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó... những máy móc có sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới, ... dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó, lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá là sự suy đồi về mặt tinh thần... Tất cả những phát minh của chúng ta và tất cả sự tiến bộ của chúng ta tựa hồ như đang dẫn tới chỗ là những lực lượng vật chất thì được ban cho một đời sống tinh thần, còn đời sống của con người vốn đã bị tước mất cái mặt tinh thần rồi thì nay lại bị hạ thấp xuống trình độ những lực lượng vật chất đơn thuần”. Như vậy, cơ sở vật chất, khoa học công nghệ, gắn với nó là năng suất lao động là những nấc thang của sự phát triển. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, trước hết và quan trọng nhất phải đạt được “phát triển sự phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân”.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo những quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin, Hồ Chí Minh quan niệm CNXH vừa là phương tiện, nấc thang, vừa là mục tiêu của sự phát triển, trong đó điều quan trọng nhất: CNXH là mục tiêu của toàn bộ tiến trình cách mạng. Hồ Chí Minh rất quan tâm tới khoa học công nghệ, tăng trưởng kinh tế, sự giàu có, quản lý nhà nước, năng suất lao động..., nhưng tất cả những điều đó chỉ là phương tiện và nấc thang cho chất lượng dân sinh và hạnh phúc của con người - mục tiêu cao nhất của sự phát triển.

Cần nhìn nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH như là mục tiêu phát triển xã hội Việt Nam ở ba phương diện: phương diện vật chất - kinh tế; phương diện chính trị; phương diện văn hóa - xã hội. Trên thực tế, đi tới CNXH là một quá trình lâu dài, trải qua một một thời kỳ quá độ với nhiều bước trung gian quá độ. Cách mạng XHCN chứa đựng nhiều cuộc cách mạng, phản ánh các mặt của đời sống tư tưởng, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Vì vậy, quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam cũng cần đạt được mục tiêu trong các lĩnh vực đó.

Trong lĩnh vực chính trị, đó là chế độ chính trị dân chủ, nhân dân là chủ và làm chủ. Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử ra; Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mọi công dân đều có quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan nhà nước, có quyền kiểm soát đối với đại biểu của mình; v.v.. Chế độ chính trị do nhân dân làm chủ thì người dân phải có nghĩa vụ đối với Nhà nước. Người chủ thì phải chăm lo việc nước như việc nhà, tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ. Là người chủ, nên mọi người phải có nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; tôn trọng và chấp hành pháp luật; tôn trọng và bảo vệ của công; có nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt; v.v..

Chế độ chính trị do nhân dân làm chủ vừa là mục tiêu của CNXH, vừa là động lực của sự phát triển. Dân chủ và thực hành dân chủ thật sự, rộng rãi là cái chìa khóa vạn năng thúc đẩy xã hội tiến bộ và phát triển. Hồ Chí Minh cho rằng, để một xã hội phát triển nhanh, lành mạnh, bền vững phải có sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Nhưng, nhân tố có ý nghĩa quyết định là con người. Bởi vì, như Hồ Chí Minh đã chỉ ra, mọi việc đều do người làm ra; mọi sự thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, để hiện thực mô hình phát triển Việt Nam, Hồ Chí Minh hết sức chú trọng nhân tố con người, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó chính là động lực của sự phát triển.

Trong lĩnh vực kinh tế, chế độ chính trị XHCN phải dựa trên nền kinh tế phát triển cao, với lực lượng sản xuất hiện đại, công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến... Trên cơ sở kinh tế XHCN ngày càng phát triển, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Cùng với phát triển lực lượng sản xuất, Hồ Chí Minh cũng quan tâm đến chế độ sở hữu. Theo Người, trong thời kỳ quá độ tồn tại bốn hình thức sở hữu chính: “- Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân.  - Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. - Sở hữu của người lao động riêng lẻ. - Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”.

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội: Cách mạng tư tưởng - văn hóa là một cuộc cách mạng trong cách mạng XHCN. Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng và phát triển nền văn hóa mới với đầy đủ các yếu tố về tri thức, tâm lý, luân lý, lối sống... Nền văn hóa đó phải dựa trên nền tảng kinh tế, nhưng đồng thời lại tác động tích cực trở lại kinh tế. Không những thế, tiếp cận theo quan điểm phát triển, văn hóa có sứ mệnh to lớn, “soi đường cho quốc dân đi”. Theo Hồ Chí Minh, văn hóa phải để lên hàng đầu để biến nước Việt Nam lạc hậu thành một nước tiên tiến, văn minh. Ở đây, vai trò của văn hóa được đặt trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, mà hàng đầu là nhanh chóng đào tạo cán bộ cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bởi vì, muốn xây dựng CNXH, trước hết phải có con người XHCN; muốn có con người XHCN phải có tư tưởng XHCN. Người chỉ rõ, văn hóa phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng mình. Văn hóa phải làm cho mỗi người và mọi người hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc của mình cùng với hạnh phúc chung của dân tộc. Văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở.

Cùng với văn hóa, các chính sách xã hội cũng được Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng. Người quan tâm tới việc chăm lo hạnh phúc của đồng bào nói chung, trong đó đặc biệt lo toan cho người nghèo, “làm cho người nghèo thì đủ ăn và ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”; quan tâm đến sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ, đến thiếu niên nhi đồng, thương binh, các gia đình liệt sĩ, gia đình và người có công với cách mạng, đồng bào các dân tộc ít người, đồng bào tôn giáo.

Theo quan điểm Hồ Chí Minh, CNXH là giai đoạn phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản về mặt giải phóng con người, trước hết khỏi sự bất công. Vì vậy, Người rất quan tâm tới quyền con người, đạo đức, lối sống, tâm hồn, nhân cách. Nền văn hóa trong xã hội XHCN phải lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở. Vì vậy, văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ; làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do.

Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng, trong đó yếu tố hàng đầu là tính chất dân tộc. Dân tộc phải có ý thức độc lập, tự cường và mỗi người phải biết hy sinh mình làm lợi cho xã hội thì mới xứng đáng hưởng độc lập, tự do. Về mặt chính trị, nền văn hóa Việt Nam đề cao dân quyền, về mặt xã hội là quan tâm tới phúc lợi của nhân dân. Đó chính là nội dung mới của nền văn hóa và vì vậy nền văn hóa đó đậm tính nhân văn, tính dân tộc.

Cốt lõi và hạt nhân của văn hóa là con người. Con người là chủ thể, là sản phẩm của văn hóa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp “trồng người”. Bản chất của mô hình xã hội mới là phải xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Đó phải là những con người có lòng yêu nước, có đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần và năng lực làm chủ, có kiến thức khoa học kỹ thuật, nhạy bén với cái mới, có tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có tinh thần trách nhiệm vì nước, vì dân, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

 

Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”: Cần hiểu đúng!


C.Mác đã đưa ra luận điểm “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” trong Lời nói đầu của tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”. Trước khi đưa ra luận

QUÂN ĐỘI TA MỘT LÒNG VÌ NƯỚC, VÌ DÂN


Quân đội ta do Đảng và Bác Hồ kính yêu tổ chức, giáo dục và rèn luyện, là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, giải phóng dân tộc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân;

CHIÊU TRÒ TẨY TRẮNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ĐỒNG ĐÔ LA DƠ BẨN!

 


Mỹ và các thế lực phản động đã tính toán tự diễn biến trong giáo dục từ khi bình thường hóa với VN mà chúng ta ko phòng ngừa, ngăn chặn; mấy chục năm qua bộ giáo dục cải

Nhận diện một số luận điệu sai trái, xuyên tạc về lợi ích quốc gia - dân tộc

  Nhận diện một số luận điệu sai trái, xuyên tạc về lợi ích quốc gia - dân tộc 

Thứ nhất, luận điệu cho rằng bảo vệ chế độ XHCN không phải là nội hàm của bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc

Các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, chứ không phải là bảo vệ một chế độ chính trị hay một đảng phái nào”. Thậm chí, những người này còn tuyên truyền rằng phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ CNXH thì đất nước mới có điều kiện để bảo đảm và giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Họ còn đưa ra luận điệu đòi “Đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc” để giữ gìn độc lập, chủ quyền đất nước, lợi ích quốc gia dân tộc. Bản chất của luận điệu này chính là muốn tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. 

Thực tiễn lịch sử của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho thấy, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đi theo con đường phong kiến hay tư sản đều thất bại. Trên hành trình tìm đường cứu nước, từ việc tìm hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã chứng minh sự lựa chọn đó là đúng đắn. 

Nhưng CNXH không chỉ là mục tiêu để giành độc lập dân tộc, mà việc thực hiện các mục tiêu của CNXH còn là cơ sở để củng cố vững chắc độc lập dân tộc và các giá trị của độc lập dân tộc mới được thực hiện đầy đủ. Đối với Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, độc lập dân tộc là một nền độc lập thật sự chứ không phải là thứ “độc lập giả hiệu”, “độc lập nửa vời”, “độc lập hình thức”. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, nền độc lập đó phải gắn với dân chủ, tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân lao động, nghĩa là độc lập dân tộc phải gắn với CNXH. Bởi vì: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. 

Thực tiễn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Thu nhập bình quân đầu người từ 200 USD năm 1990 lên 2.779 USD năm 2020. Quy mô nền kinh tế nước ta đạt khoảng 271,2 tỷ USD năm 2020. Năm 2019, tăng trưởng GDP cả nước đạt 7,02%. Năm 2020, dưới tác động của đại dịch Covid-19, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào suy thoái. Tuy nhiên, Việt Nam là quốc gia hiếm hoi duy trì tăng trưởng dương (+2,91%), dịch bệnh được kiểm soát, bảo đảm an sinh xã hội. Kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định song phương với hơn 100 nước. Văn hóa, xã hội và đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm từ 53% năm 1993 xuống còn dưới 4% năm 2019. 

Những thành tựu đó của chúng ta đã được thế giới ghi nhận. Bằng chứng là, Việt Nam được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018. Năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhiệm ba trọng trách: Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA…

Những thành tựu trên là minh chứng cho sự gắn kết giữa độc lập dân tộc và CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể giải quyết căn cơ vấn đề độc lập cho dân tộc và cuộc sống tự do, hạnh phúc cho số đông nhân dân. Thực tiễn Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, có Nhà nước XHCN, nhất là 35 năm đổi mới, đã chứng minh điều này. Trong đại dịch Covid-19, những thành công đạt được trong hỗ trợ người dân chăm lo sức khỏe, phát triển kinh tế, ổn định đời sống đã minh chứng ở Việt Nam “không ai bị bỏ lại phía sau”. Chúng ta không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn giải quyết được nhiều vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”.  

Những thành tựu đó một lần nữa chứng minh, để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam phải bảo vệ cả độc lập chủ quyền, bảo vệ nhân dân thống nhất với bảo vệ chế độ XHCN. 

Thứ hai: luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không đại diện cho lợi ích quốc gia - dân tộc và bất cứ lực lượng nào đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết đều có thể trở thành lực lượng lãnh đạo.

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã tung nhiều thông tin xuyên tạc, như: “Cộng sản khinh dân, Đảng Cộng sản đã mạo nhận là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Trong lịch sử, không có khi nào Đảng Cộng sản phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà cộng sản chỉ lợi dụng công nhân và nhân dân lao động để phục vụ quyền lợi của Đảng Cộng sản”... Lợi dụng một số hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhiều kẻ đã rêu rao: “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Trong khi Đảng nhận rõ những hạn chế, tăng cường chỉnh đốn Đảng, chúng lại cố tình phủ nhận những nỗ lực của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho rằng những hành động đó không phải vì lợi ích dân tộc mà chỉ nhằm “che mắt thế gian”,... Do đó, họ cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Đây là quan điểm sai trái, muốn tách rời Đảng với dân tộc, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội. 

Trước hết, cần khẳng định, ở Việt Nam, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ trí tuệ, bản lĩnh để lãnh đạo đất nước, mà cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới thực sự vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong lịch sử, đã xuất hiện những lực lượng muốn vươn lên vị trí lãnh đạo nhưng hoặc không đủ khả năng hoặc là những kẻ cơ hội. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản xuất hiện thêm hai đảng là Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt cách) và nhiều tổ chức, đảng phái chính trị khác. Thực chất, lãnh đạo cách mạng Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản, các đảng phái khác không đại diện cho lợi ích của nhân dân và dân tộc. Khi quân Trung Hoa Dân quốc rời khỏi Việt Nam, hai đảng cũng rút theo. Như vậy, những đảng phái không đứng về phía nhân dân, không thực sự mang lại lợi ích chính đáng cho nhân dân đã bị chính lịch sử và nhân dân loại bỏ. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là sự lựa chọn của lịch sử, của nhân dân.

Sự lựa chọn đó là đúng đắn. Kể từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong hơn 92 năm qua, thành công của Đảng có được vì lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đồng thời, lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp được bảo đảm khi đặt đưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này hoàn toàn khác với đảng chính trị trong thể chế đa đảng, khi đảng đó chỉ đại biểu cho một nhóm lợi ích nhất định, mà trong rất nhiều trường hợp lợi ích cục bộ của đảng phái mâu thuẫn, xung đột với lợi ích chung của xã hội.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, bất cứ người nào, không phân biệt thành phần xuất thân, khi được giác ngộ lý tưởng cách mạng, tự nguyện đứng trên lập trường giai cấp công nhân để phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thực hiện theo Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, đều được bồi dưỡng và kết nạp vào Đảng. Điều lệ Đảng ghi rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam là “đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc, của nhân dân; Đảng đấu tranh kiên quyết với mọi biểu hiện chủ nghĩa biệt phái, “lợi ích nhóm”, không chỉ có nguy cơ gây chia rẽ nội bộ mà còn làm suy giảm năng lực đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đã chứng minh, Đảng luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, khi phát xít Nhật vào Đông Dương, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”, lợi ích của giai cấp, của bộ phận phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trở thành Ðảng cầm quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc vẫn được Ðảng đặt lên hàng đầu, tất cả vì đoàn kết dân tộc, giữ vững nền độc lập vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. 

Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt phải chống thù trong, giặc ngoài, Ðảng Cộng sản phải rút vào hoạt động bí mật, “Ðể tỏ rằng: những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiền phong của dân tộc, bao giờ cũng hy sinh tận tụy vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái cho quyền lợi chung của dân tộc”. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, những người cộng sản luôn đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh và chấp nhận hy sinh vì Tổ quốc. 

Cũng vì luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, Đảng sẵn sàng thẳng thắn nhìn nhận sai lầm, khuyết điểm để sửa sai. Năm 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ với bút danh Trí Cường đã viết tác phẩm Tự chỉ trích, một mẫu mực về đấu tranh tự phê bình và phê bình, làm rõ những khuyết điểm của Đảng khi không đoàn kết, không nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân trong cuộc bầu cử vào Viện Dân biểu, Hội đồng Quản hạt ở Nam Kỳ... Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Sửa đổi lối làm việc với tinh thần tự phê bình nghiêm túc. Đến Đại hội VI, Đảng đã tự phê bình và chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, từ đó đưa ra đường lối đổi mới. Tinh thần thẳng thắn này tiếp tục được thể hiện trong các kỳ Đại hội, trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng.

Sau khi đất nước thống nhất, bước sang giai đoạn xây dựng CNXH, lợi ích quốc gia - dân tộc vẫn luôn là nhiệm vụ trọng tâm được Đảng nhận thức sâu sắc qua các kỳ Đại hội, nhất là thời kỳ đổi mới. Hội nghị Trung ương 8 khóa IX (tháng 7-2003) chỉ rõ: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của Tổ quốc”. Đại hội XI của Đảng (năm 2011) xác định, mục tiêu của đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ mới là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. Như vậy, vấn đề lợi ích quốc gia - dân tộc luôn được Đảng khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi”. 

Cuộc chiến chống tham nhũng với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” đã khẳng định, tất cả những cán bộ đảng viên chỉ vì lợi ích cá nhân, vì lợi ích nhóm mà bỏ quên và làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước, đều bị nghiêm trị. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đạt được kết quả tích cực.

Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn hành động vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, chung sức, đồng lòng, khoanh vùng, kiểm soát, đón người Việt từ vùng dịch về, hỗ trợ doanh nghiệp, những đối tượng yếu thế trong xã hội... Tổ chức Y tế thế giới, nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia, báo chí các nước ghi nhận và đánh giá cao kết quả phòng, chống dịch của Việt Nam. Nhờ những thành tựu đó, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng đã tăng lên rất nhiều, cho thấy sự ghi nhận của nhân dân đối với sự nỗ lực, tinh thần vì dân, vì nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Thứ ba, luận điệu xuyên tạc cho rằng Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam không bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền, biển đảo.

Trước một số sự việc liên quan đến vấn đề về biên giới lãnh thổ, nhất là vấn đề ở Biển Đông, có luận điệu cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì vấn đề hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia - dân tộc. Thậm tệ hơn, họ xuyên tạc trắng trợn khi cho rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; những đối sách của Đảng, Nhà nước né tránh vấn đề Biển Đông. Và rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam đã “thỏa thuận” với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, “Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”, Việt Nam và Trung Quốc “ngầm thỏa thuận” để không làm căng thẳng tình hình Biển Đông. Thậm chí có ý kiến cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đã bán nước cho Trung Quốc vì lợi ích của Đảng, vì cùng chung ý thức hệ.

Lợi dụng, dựa dẫm vào những luận điệu xuyên tạc trên và “nhân danh”  “vì lợi ích quốc gia - dân tộc”, vì “lòng yêu nước”, một số kẻ gây rối, kích động nhân dân chống phá Đảng, Nhà nước; gây ra một số vụ bạo loạn, làm phức tạp tình hình xã hội, tạo hận thù dân tộc, chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam. 

Phải khẳng định lại lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Tất cả phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Việt Nam sẽ không bao giờ nhân nhượng trước những gì thuộc về chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”. Bên cạnh đó, cũng phải bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, Việt Nam cần giải quyết các tranh chấp, bất đồng một cách “khôn khéo, kiên quyết” bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Hoàn toàn không phải là “nhu nhược” hay vì “cùng ý thức hệ” như những kẻ chống phá xuyên tạc. 

Nhìn lại lịch sử dân tộc, chúng ta luôn nhớ những bài học của ông cha trong ứng xử với triều đình phong kiến phương Bắc. Chẳng hạn như chính sách “Trong xưng đế, ngoài xưng vương”, bề ngoài trên danh nghĩa chịu “thần phục”, chấp nhận cống nạp để được phong chức tước, công nhận chủ quyền, hoãn binh, ngăn chặn chiến tranh, giữ yên bờ cõi... bên trong thì xưng “Hoàng Đế” để cai quản, trị vì đất nước. Hay bài học trong sự kiện năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định ký Hiệp định Sơ bộ (ngày 6-3-1946) với Pháp theo “hòa để tiến”. Những hành động như vậy không phải là “nhu nhược” mà chính là để bảo vệ cái cốt lõi nhất của lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ hòa bình. Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; trong đó, lợi ích “bất biến” là độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội XHCN làm kim chỉ nam để ứng xử một cách có nguyên tắc nhưng rất linh hoạt với mọi tình thế.

Không phải là một nước lớn nên Việt Nam cần có cách ứng xử mềm dẻo, linh hoạt để bảo đảm hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước. Việt Nam đã và đang áp dụng triệt để các nguyên tắc trong Hiến chương Liên hợp quốc, thể hiện sự nhất quán trong quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước: Việt Nam luôn nỗ lực trong giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; tôn trọng, ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế, tích cực thực hiện các cam kết quốc tế; nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Thực hiện điều này giúp Việt Nam tránh được xung đột về quân sự, tránh bị cô lập về kinh tế, cô lập về ngoại giao, tránh bị lệ thuộc về chính trị. Chủ trương đúng đắn và các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền quốc gia đã tạo được sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp, lập trường chính nghĩa của Việt Nam. 

Tại Đại hội XII, Đảng ta khẳng định lợi ích quốc gia là “tối cao”, nghĩa là bất di bất dịch. Đến Đại hội XIII, trước tình hình chủ nghĩa dân tộc cực đoan trỗi dậy, Đảng đã có sự điều chỉnh phù hợp khi nhấn mạnh “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”, cùng với những yếu tố hài hòa lợi ích riêng và lợi ích chung. Đó là tôn trọng và bảo đảm lợi ích chính đáng của các quốc gia khác trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đó cũng chính là vì lợi ích quốc gia - dân tộc mình.

“Đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay", có được điều đó là vì, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, cũng như đã xác định được con đường phát triển cho toàn thể dân tộc: con đường độc lập dân tộc gắn liền CNXH. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất có đủ bản lĩnh và trí tuệ lãnh đạo đất nước cũng luôn bảo vệ lợi ích của Tổ quốc. Những thành tựu đó là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định sự lựa chọn lực lượng dẫn dắt dân tộc và con đường phát triển của nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, là sự thật mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc được.