Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022

Thực trạng kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh - Từ góc độ quản lý nhà nước

 

Trong xây dựng thể chế, Nhà nước đã ban hành hệ thống thể chế phát triển KTTT, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để giải phóng năng lực sản xuất trong xã hội, khai thác tiềm năng đất nước đi đôi với thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, giúp nền kinh tế có những chuyển biến hết sức to lớn. Tăng trưởng GDP trung bình hằng năm của nước ta giai đoạn 2016 - 2019 đạt trên dưới 7%, mức cao trên thế giới. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không ngừng được phát triển. Đây là những điều kiện thuận lợi để Đảng, Nhà nước đầu tư toàn diện cho lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, từ phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đến con người nhằm củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội và bộ máy quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh ở Trung ương và địa phương được kiện toàn với các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đối với công tác quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Quốc phòng và Luật An ninh quốc gia, trong đó, xác định rõ nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về quốc phòng trong thời bình và thời chiến theo nhiệm vụ được giao; thực hiện việc kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch của bộ, ngành, lĩnh vực được giao phụ trách; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trung và dài hạn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội luôn được nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện trong mối quan hệ với chiến lược quốc phòng, an ninh. Đây là bước tiến quan trọng, thể chế hóa một cách đồng bộ các quan điểm của Đảng, nhất là những tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc bằng các văn bản quy phạm pháp luật - cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, cũng là căn cứ để chỉ đạo các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Trong hoàn thiện các chính sách phân phối thu nhập, lĩnh vực văn hóa - xã hội, Nhà nước chủ động giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; hạn chế một phần sự phân hóa giàu nghèo cũng như khoảng cách về mức sống và cơ hội phát triển giữa các vùng, miền, các dân tộc, giữa nông thôn và thành thị. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ được đặc biệt quan tâm để cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế, chính sách phát triển khoa học - công nghệ và môi trường không chỉ nhằm nâng cao trình độ công nghệ, cải thiện năng suất lao động mà còn ưu tiên cho các mục tiêu hiện đại hóa nhanh chóng lực lượng quân đội và công an, đặc biệt là trình độ phòng vệ quốc gia trước các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống (chiến tranh mạng, vũ khí sinh học, hóa học, ô nhiễm môi trường...).

Trong triển khai các chính sách hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước chủ động đưa nền KTTT mà Việt Nam xây dựng trở thành một bộ phận hữu cơ của nền KTTT thế giới, “kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại”, “hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới”(1), tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung của thế giới để phát triển. Các chính sách hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường để, một mặt, phát triển nhanh và bền vững kinh tế của đất nước; mặt khác, tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường gắn bó lợi ích kinh tế, quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa nước ta với các nước trên thế giới, góp phần hình thành trật tự thế giới mới theo xu hướng bảo đảm an ninh, hòa bình chung cho phát triển, bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, trên cơ sở quan hệ hợp tác về đầu tư và thương mại, có chính sách lựa chọn các đối tác hợp tác về quốc phòng, an ninh để tăng cường vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ quốc phòng, an ninh hiện đại và đào tạo nhân lực, phục vụ hiện đại hóa các lực lượng vũ trang.

Sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trong chiến lược phát triển kinh tế được thể hiện ngay trong việc hoạch định mục tiêu phát triển quốc gia, trong huy động nguồn lực, trong lựa chọn và thực hiện các giải pháp chiến lược. Tuy nhiên, một số chính sách vẫn chưa xác định cụ thể các giải pháp để tổ chức thực hiện. Vì vậy, một số quy hoạch, kế hoạch, dự án kinh tế, một số khu kinh tế, khu công nghiệp được bố trí ở các địa bàn không bảo đảm yêu cầu của chiến lược quốc phòng, an ninh. Mặt khác, khi xây dựng các quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế, các cơ quan ở Trung ương và địa phương dành sự quan tâm chủ yếu đến phương diện lợi ích kinh tế, chưa xem xét đầy đủ tác động của các dự án đó đến vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Nguyên nhân của hạn chế này xuất phát từ việc cán bộ, công chức một số cơ quan Trung ương và địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc kết hợp nhiệm vụ phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; không nắm vững các yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng một số dự án đầu tư. Còn các cơ quan có trách nhiệm phối hợp thẩm tra, thẩm định các dự án đầu tư do thiếu trách nhiệm, không đủ năng lực, hoặc do cả hai nguyên nhân trên, không phát hiện được những nguy cơ tiềm ẩn trong các dự án đầu tư đó đối với quốc phòng, an ninh. Không loại trừ khả năng, vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, hoặc bị mua chuộc, mà cơ quan hoặc công chức chủ trì xây dựng, thẩm định dự án, công chức có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức thực hiện dự án đã cố tình bỏ qua các nguy cơ tác động tiêu cực của dự án đối với quốc phòng, an ninh đất nước.

Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc xây dựng thể chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành, lĩnh vực gắn với quốc phòng, an ninh chưa chặt chẽ. Cơ quan quản lý nhà nước ở nhiều địa phương chỉ tập trung nỗ lực để kinh tế địa phương tăng trưởng, tăng nguồn thu mà chưa thật sự chú trọng đến vấn đề quốc phòng, an ninh.

HAIVAN

Nền kinh tế thị trường và sự tác động qua lại đối với quốc phòng, an ninh

 

Quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN luôn có tác động hai mặt đến việc củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước. Về tác động tích cực:

Thứ nhất, tiềm lực quốc phòng, an ninh của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Kinh tế phát triển tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật, công nghệ và nhân lực cho quốc phòng, an ninh. Khi kinh tế phát triển, nguồn vốn tích lũy, nguồn thu ngân sách không ngừng được tăng lên chính là điều kiện để phát triển đất nước về mọi mặt. Từ đó, góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển gắn với đổi mới kỹ thuật, công nghệ là cơ sở để đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong công nghiệp quốc phòng, sản xuất ra các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật phục vụ quốc phòng, an ninh. Kinh tế phát triển cũng là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tăng cường cho các lực lượng vũ trang.

Thứ hai, phát triển KTTT góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từ đó củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường ổn định xã hội và tiềm lực quốc phòng, an ninh. Khi cuộc sống về mọi mặt của người dân được nâng cao, tiến bộ, công bằng, dân chủ được tăng cường thì người dân, các lực lượng xã hội yên tâm, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vững vàng trước sự lôi kéo, xúi bẩy, kích động của các thế lực thù địch. Cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có cơ hội phát triển toàn diện của nhân dân là nền tảng chính trị vững chắc để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.

Thứ ba, KTTT phát triển khơi thông các tiềm lực kinh tế, tác động đến việc tăng cường sức mạnh của lực lượng quân đội và công an cả về vật chất và tinh thần. Về vật chất, kinh tế phát triển, đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ sẽ được cải thiện và nâng cao, là cơ sở để nâng cao năng lực thể chất và trí tuệ mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Về tinh thần, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân, trong đó có gia đình cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang được cải thiện, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ quân đội, công an; đồng thời, tạo cơ hội để họ tập trung vào công tác huấn luyện, rèn luyện, học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, đủ kiến thức và kỹ năng làm chủ các phương tiện, vũ khí, khí tài hiện đại, nâng cao sự sẵn sàng, khả năng chiến đấu và chiến thắng.

Thứ tư, KTTT gắn với việc mở cửa, hội nhập quốc tế thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước thông qua phát huy các lợi thế, tạo tiền đề vật chất cho tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, mở cửa, hội nhập quốc tế tạo sự hiểu biết, sự gắn kết và ràng buộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế, đầu tư, thương mại, hạn chế nguy cơ chiến tranh. Bên cạnh đó, xu hướng hội nhập quốc tế đặt ra khả năng và yêu cầu khách quan liên kết các quốc gia trong các thể chế khu vực và toàn cầu. Chủ động hội nhập quốc tế theo yêu cầu phát triển của KTTT, sự tham gia có trách nhiệm vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, bên cạnh mở rộng quan hệ kinh tế và ngoại giao song phương, còn góp phần củng cố thế và lực của đất nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sự phát triển KTTT cũng có những tác động tiêu cực đến tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước, cụ thể:

Một là, phát triển KTTT dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Đây là một tất yếu do có sự hoạt động và phát huy tác dụng của các quy luật kinh tế khách quan. Sự phân hóa giàu nghèo làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực, bất mãn - cơ hội, điều kiện để các thế lực thù địch, tội phạm có thể lợi dụng để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân gây tình huống phức tạp về an ninh, trật tự xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm ảnh hưởng xấu tới việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

Hai là, phát triển KTTT tác động đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho mọi cá nhân trong xã hội làm giàu hợp pháp và đang có nhiều người, bằng tài năng, sức lực và nguồn lực của mình trở nên giàu có. Nhưng cũng có không ít cá nhân làm giàu bất chính và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng vị trí công tác có hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có nhiều tài sản bất hợp pháp. Điều này tác động đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức của mỗi con người trong đó có cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Ba là, đầu tư và thương mại quốc tế bên cạnh những kết quả tích cực mang lại cho nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực tới lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thông qua con đường hợp tác đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để thâm nhập vào trong nước, móc nối với các nhân vật bất mãn, phản động, tổ chức các hoạt động chống phá. Cũng thông qua hoạt động đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch tìm cách mua chuộc, khống chế cán bộ, công chức trong các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước để cung cấp cho chúng các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh, phục vụ âm mưu phá hoại, lật đổ. Thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, nghệ thuật... để truyền bá tư tưởng, văn hóa độc hại, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình.

HAIVAN

QUAN ĐIỂM CỦA BÁC “LÀM CÁCH MẠNG LÀ PHẢI DĨ CÔNG VI THƯỢNG”

 

Cách đây 74 năm (ngày 28/5/1948) lễ phong quân hàm cấp tướng đã được tổ chức trọng thể tại một Hội trường mới dựng còn thơm mùi vách nứa bên dòng suối ở cánh đồng Nà Lọm, Phú Đình, Định Hóa. Phía trong Hội trường đặt bàn thờ Tổ quốc trang hoàng giản dị, có cờ đỏ sao vàng và lọ hoa cắm một chùm hoa núi; xung quanh là các băng đỏ ghi khẩu hiệu: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi; Thống nhất độc lập nhất định thành công ”. Buổi Lễ hôm ấy đã diễn ra thật xúc động.
Theo lời kể của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Bác Hồ và cụ Bùi Bằng Đoàn – Trưởng ban Ban Thường trực Quốc hội đứng hai bên bàn thờ, các thành viên Chính phủ đứng trước bàn thờ. Bác Hồ tay cầm Sắc lệnh gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp lên, bằng giọng trang nghiêm và xúc động, Bác nói: “Hôm nay thay mặt Chính phủ và nhân dân…” rồi Bác bỗng ngừng lời, rút khăn tay lau nước mắt. Giây phút đó làm cho cả Hội trường vô cùng xúc động. Lát sau, Bác nói tiếp: “…Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho…” Tiếp đó, Bác trao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp Sắc lệnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xúc động phát biểu, vô cùng nhớ tiếc các anh hùng liệt sỹ, chân thành biết ơn Bác, Quốc hội và Chính phủ đã dành cho vinh dự cao cả đồng thời hứa sẽ đem hết tinh thần và nghị lực làm trọn nhiệm vụ, góp phần khiêm tốn của mình vào sự nghiệp đấu tranh cho độc lập và thống nhất Tổ quốc.
Sau buổi Lễ trọng thể, trong buổi nói chuyện thân mật, ôn lại truyền thống lịch sử, Bác nói: “Việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác hôm nay là kết quả biết bao hy sinh chiến đấu của đồng bào, đồng chí… Các thế hệ đi trước chiến đấu cho độc lập mà sự nghiệp không thành, nhắm mắt vẫn còn chưa thấy độc lập tự do. Chúng ta ngày nay may mắn hơn, nhưng trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn. Nghĩ tới hàng nghìn, hàng vạn người đã ngã xuống cho ngày hôm nay, chúng ta càng phải cố gắng giành cho được độc lập, tự do để thỏa mãn vong linh của những người đã khuất…”. Sau Lễ phong quân hàm cấp tướng hôm ấy các thành viên Chính phủ đã chụp chung bức ảnh kỷ niệm.
Điều mà báo chí ít khi nhắc đến hoặc có chăng vẫn chỉ thường chú ý đến Lễ phong quân hàm cấp tướng ngày 28/5/1948 mà chưa hoặc ít đề cập đến một chi tiết rất quan trọng gắn liền với sự kiện Lễ phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội ta, đó là những quan điểm của Bác về “Tư cách một người tướng”. Những quan điểm này của Bác được thể hiện sau đó ba tháng, vào tháng 8 năm 1948 tại Hội nghị Quân sự lần thứ V.
Bác nói: “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: Trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Đối với kỷ luật, “mệnh lệnh từ trên xuống dưới phải thấm tới mỗi đội viên… Báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng, thiết thực… Phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt. Ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ”. Đối với binh sĩ, thì “từ lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, tới cái ăn cái mặc, nhất thiết phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo đánh, họ sẽ hăng hái đánh… Bộ đội ta, tuy còn trẻ mà tiến bộ rất mau, nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu”. Đối với dân “bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi”. Đối với địch, thì “tuyệt đối chớ khinh địch… khinh địch thì nhất định sẽ thất bại”.
Những lời Bác căn dặn đối với các tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam từ 74 năm trước ở Chiến khu Việt Bắc thật giản dị nhưng rất sâu sắc thấm đẫm một tinh thần “DĨ CÔNG VI THƯỢNG”. Điều ấy thể hiện sự tin tưởng của Bác khi giao nhiệm vụ nhưng cũng hết sức nghiêm cẩn, trao trọng trách cho những vị tướng chỉ huy trong quân đội ta.
Ảnh: Các thành viên Chính phủ đã chụp chung bức ảnh kỷ niệm sau lễ phong quân hàm
ST

Có thể là hình ảnh về 10 người, mọi người đang đứng và ngoài trời

Lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng cấp tỉnh, chủ trương của Đảng được hiện thực hóa bằng những bước tiến trong phòng chống tham nhũng


Trước hết cần khẳng định rằng, tham nhũng không phải là “sản phẩm riêng” của Việt Nam hay của một nước nào mà nó diễn ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới, là một vấn nạn mang tính toàn cầu. Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sử, xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện chế độ tư hữu và sự xuất hiện nhà nước. Tham nhũng luôn song hành cùng quyền lực. Do đó, tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ xã hội với những biểu hiện và mức độ khác nhau, tùy thuộc bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn phát triển.

Ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định tham nhũng là “quốc nạn”, là “giặc nội xâm” và lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt vấn đề phòng, chống tham nhũng. Đảng ta xác định phòng, chống tham nhũng là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chính vì vậy, đây không chỉ là nhiệm vụ của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của tất cả các cơ quan, đoàn thể, địa phương. Trong bối cảnh tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn chưa bị đẩy lùi và còn có chiều hướng diễn biến phức tạp, chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết vào lúc này, thể hiện quyết tâm cao hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng.

Thực tế cho thấy, vấn đề tham nhũng, tiêu cực không phải chỉ ở cấp Trung ương mà xảy ra từ cấp xã đến huyện, tỉnh. Do đó, việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ để khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” mà còn được xem như là “cánh tay nối dài của Trung ương” nhằm giải quyết một cách kịp thời những vấn đề còn bức xúc trong dân, những vấn đề còn tồn đọng, tiêu cực, tham nhũng ở địa phương. Đồng thời, giúp cho công tác đấu tranh chống tham nhũng liền mạch, chặt chẽ, thống nhất theo hệ thống từ Trung ương đến địa phương.

Kể từ khi được thành lập năm 2006, đặc biệt là từ khi Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (năm 2012) quyết định tổ chức lại Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư làm Trưởng Ban đến nay, công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta đã có bước tiến mạnh, đột phá, đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, rõ rệt, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao. Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chẳng những vậy mà kết quả điều tra dư luận xã hội về công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam do Viện Dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương thực hiện) vào cuối tháng 8/2020 cho thấy, có 75% số người được hỏi ghi nhận và đánh giá cao “sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước”; có 93% cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 87.000 cán bộ, đảng viên, trong đó có trên 32.000 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang). Năm 2021, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật đối với 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xử lý nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý.

Từ đầu năm 2022 đến nay, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 1.264 vụ/2.038 bị can, truy tố 742 vụ/1.594 bị can, xét xử sơ thẩm 737 vụ/1.567 bị cáo về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Trong đó, đã khởi tố, điều tra nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; đã khởi tố 8 cán bộ diện Trung ương quản lý. Điều đó cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đang đi đúng hướng và được thực hiện rất quyết liệt, hiệu quả với quyết tâm chính trị cao nhất.

Đây là “cánh tay nối dài của Trung ương” về phòng chống tham nhũng; Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng được thành lập lần này sẽ hoạt động trên các quy định, quy chế  cụ thể. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một lĩnh vực khó, nhạy cảm và cần quyết tâm chính trị rất cao nên thành phần Ban Chỉ đạo phải gồm những người đứng đầu ở cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức hữu quan giữ vai trò trọng yếu ở địa phương. Trưởng Ban Chỉ đạo phải chịu trách nhiệm trước Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương. Nếu người đứng đầu các địa phương thể hiện sự quyết tâm, quyết liệt trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì công tác này sẽ đi vào thực chất, làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin trong nhân dân. Ngược lại, nếu người đứng đầu không xứng đáng, không làm được thì sẽ có cơ quan có thẩm quyền xử lý.

 Như vậy, qua phân tích, đánh giá, có thể thấy rõ rằng, những luận điệu suy diễn, xuyên tạc chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vừa được Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII thông qua của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam; phủ nhận quyết tâm, nỗ lực chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta.

Chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã nhận được sự đồng thuận rất cao. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế và chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo đúng tinh thần: “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”.

HAIVAN

Phản bác luận điệu xuyên tạc chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực


Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và bế mạc vào chiều ngày 10/5. Hội nghị đã tập trung nghiên cứu, đánh giá, thảo luận và quyết nghị nhiều vấn đề quan trọng  như: Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; cho ý kiến về Đề án xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên… Đặc biệt, Hội nghị đã thảo luận và thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, Ban Chấp hành Trung ương đã bàn và thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định, nghiêm túc tổ chức, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như nêu trong Đề án chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Tuy nhiên, ngay sau khi Hội nghị Trung ương 5 thông qua chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, các đối tượng xấu, phần tử phản động đã đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin tiêu cực, sai trái, xuyên tạc, suy diễn chủ trương của Đảng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, gây phân tâm trong xã hội.

Luận điệu mà các đối tượng này đưa ra đó là: “Tham nhũng tại Việt Nam như một con virus ăn sâu vào tế bào của Đảng Cộng sản, từ trên xuống dưới”; việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chứng tỏ công tác chống tham nhũng ở Việt Nam “không hiệu quả”, “không có chuyển biến”; “Việt Nam chống tham nhũng loay hoay như con kiến leo cành đa”… Một số đối tượng thì đặt ra những câu hỏi theo kiểu “lập lờ đánh lận con đen” như: “thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh/thành có giúp xóa được tham nhũng?”, “việc trao quyền cho Bí thư tỉnh làm Trưởng Ban Chỉ đạo cấp tỉnh phải chăng là sai lầm khi tập trung quyền lực quá nhiều cho Bí thư tỉnh?”… Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng thực sự chỉ để “làm khổ người dân”. Đây rõ ràng là những luận điệu suy diễn, xuyên tạc vô căn cứ nhằm bôi nhọ Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc chủ trương, quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta.

HAIVAN

Nhận diện, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

 

Phát triển kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đó là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu có chọn lọc những quan điểm, kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển KTTT của các nước trên thế giới vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Tuy nhiên, hiện nay nhiều quan điểm khác biệt, thậm chí là trái ngược, xuyên tạc, gây cản trở đến quá trình thực hiện mô hình kinh tế này ở Việt Nam. Do vậy, nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc về nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, các cơ quan, đơn vị và cá nhân mỗi chúng ta.

Nguồn gốc và bản chất của KTTT là kinh tế hàng hoá. Các phạm trù (giá trị, giá cả, hàng hoá, tiền tệ), quy luật (giá trị, cạnh tranh, cung- cầu) của nền kinh tế hàng hoá là các phạm trù, quy luật của KTTT. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản sử dụng để phát triển KTTT tư bản chủ nghĩa. KTTT tư bản chủ nghĩa thời kỳ đầu mới ra đời là KTTT tự do cạnh tranh, chưa có hoặc rất ít sự can thiệp của nhà nước. Sự điều tiết của thị trường - “bàn tay vô hình”, ngoài những mặt tích cực còn đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là khủng hoảng kinh tế chu kỳ, đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước - “bàn tay hữu hình” để hạn chế, khắc phục những khuyết tật do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường. Ngày nay, nền KTTT hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình”, vừa có điều tiết bởi “bàn tay hữu hình”. KTTT có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau mà có nhiều mô hình khác nhau, tuỳ thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung can thiệp của nhà nước.

KTTT là sản phẩm của văn minh nhân loại, không phải là sản phẩm “riêng có” của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã sử dụng KTTT làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Đến nay đã xuất hiện nhiều mô hình KTTT ở các nước tư bản phát triển, như: KTTT tự do ở Mỹ, KTTT xã hội ở Đức, KTTT nhà nước phúc lợi ở Thuỵ Điển, KTTT phối hợp ở Nhật Bản… Các mô hình KTTT này ở những mức độ khác nhau, dù được thừa nhận hay không thừa nhận đều có các nhân tố khách quan XHCN. Đây là xu hướng tiến bộ, là những mầm mống của CNXH ngay trong lòng các nước tư bản phát triển.

Việt Nam đi lên CNXH từ một nước kinh tế chưa phát triển, bỏ quan chế độ tư bản chủ nghĩa nên việc phát triển KTTT định hướng XHCN là rất cần thiết, nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, khai thác mọi tiềm năng, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển, từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Mô hình này là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của KTTT, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH.

Sẽ là sai lầm khi cho rằng các quy luật của KTTT và định hướng XHCN hoàn toàn đối lập nhau, loại trừ nhau. “Nền KTTT phải vận hành theo các quy luật của KTTT như quy luật cạnh tranh, giá trị cung- cầu…, trong đó quy luật giá trị là trung tâm. Đặc trưng của KTTT là cạnh tranh, các chủ thể kinh tế luôn cạnh tranh với nhau để chiếm các nguồn lực sản xuất, dự án đầu tư, thị trường tiêu thụ sản phẩm. Cạnh tranh là sức ép, động lực thúc đẩy các chủ thể kinh tế năng động, sáng tạo, hợp lí hoá tổ chức sản xuất; ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ, tăng năng suất lao động; đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm; tiết kiệm, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; qua đó thúc đẩy kinh tế phát triển, thanh lọc các chủ thể kinh tế yếu kém. Mặt tiêu cực của cạnh tranh không lành mạnh là làm hàng giả, trốn thuế, chuyển giá, gây ô nhiễm môi trường, ăn cắp công nghệ…. Trong nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, nhất là ở các nước phát triển hiện nay, nhà nước tạo khung khổ pháp luật cho cạnh tranh; bảo vệ, thúc đẩy, tôn trọng cạnh tranh lành mạnh; ngăn ngừa, hạn chế độc quyền cản trở cạnh tranh và chống lại các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh; điều tiết và giải quyết các thất bại của thị trường”.

“Quy luật giá trị là quy luật trung tâm, cơ bản của KTTT. Giá trị hàng hoá là lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá. Chi phí để sản xuất hàng hoá xét đến cùng là chi phí lao động, bao gồm lao động sống (lao động của người trực tiếp sản xuất ra hàng hoá) và lao động quá khứ (lao động chi phí để sản xuất ra các tư liệu sản xuất được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá này). Lượng giá trị là hao phí lao động xã hội cần thiết (hao phí lao động ở mức trung bình của xã hội, năng suất lao động trung bình, cường độ lao động trung bình, được hình thành do cạnh tranh). Giá trị biểu hiện ra bên ngoài thành giá cả, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá trị là hình thái của cải trong nền KTTT, là mục tiêu, là yếu tố chi phối mọi hoạt động của sản xuất và lưu thông hàng hoá trong nền KTTT”.

Tác động tích cực của quy luật giá trị là thúc đẩy chủ thể kinh tế năng động, sáng tạo, không ngừng hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, đổi mới công nghệ…. Tác động tiêu cực như khủng hoảng chu kỳ, phân hoá xã hội, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường… Trong nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, Nhà nước vận dụng quy luật giá trị thông qua việc tạo khung khổ pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và điều kiện thuận lợi cho quy luật giá trị vận động để phát huy mặt tích cực, đồng thời hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực.

Sự điều tiết của quy luật cung - cầu được thể hiện khi cung lớn hơn cầu, giá cả hàng hoá sẽ giảm xuống; khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hoá sẽ tăng lên. Sự tăng lên hay giảm xuống của giá cả hàng hoá là tín hiệu của thị trường để các chủ thể kinh tế chuyển hàng hoá từ nơi giá thấp đến nơi giá cao, từ nơi thừa đến nơi thiếu, để các nhà sản xuất thu hẹp hay dừng sản xuất các hàng hoá thừa khi cung lớn hơn cầu, tăng cường, mở rộng sản xuất các hoàng hoá thiếu khi cung nhỏ hơn cầu. Đó chính là sự điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá linh hoạt, nhanh nhạy của cơ chế thị trường, là mặt tích cực của quy luật cung- cầu. Tuy nhiên, trong nền KTTT những người sản xuất và lưu thông hàng hoá đều chạy theo lợi nhuận tối đa, luôn muốn đè ép đối thủ nên dẫn đến sản xuất thừa, khủng hoảng chu kỳ, tác động tiêu cực đến nền kinh tế, gây bất ổn xã hội. Đây là mặt trái của quy luật cung- cầu và cơ chế tự điều tiết của thị trường. Nền KTTT có sự điều tiết của nhà nước, sự can thiệp của nhà nước là để khắc phục những khiếm khuyết này, khắc phục những mất cân đối lớn, khủng hoảng chu kỳ do tự điều tiết của cơ chế thị trường gây ra.

Về vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước trong nền KTTT: Các nền KTTT hiện đại trên thế giới hiện nay đều có sự kết hợp giữa cơ chế thị trường và vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước. Nhà nước vừa bảo đảm, tôn trọng, tạo môi trường hoạt động cho các quy luật KTTT; vừa hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực, tự phát do các quy luật KTTT gây ra; giữ môi trường ổn định cho phát triển kinh tế và hướng sự phát triển kinh tế vào các mục tiêu xã hội, bảo đảm công bằng xã hội, quan tâm đến an sinh xã hội. Dù nhà nước tư bản có sự điều chỉnh, điều tiết đến đâu thì bản chất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vẫn là phục vụ cho thiểu số lợi ích của giai cấp tư sản, không phải vì lợi ích của đại đa số nhân dân lao động; và khi nó còn tồn tại dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thì những mâu thuẫn đối kháng của xã hội tư bản chủ nghĩa do khuyết tật của nền KTTT tạo ra không những không mất đi mà ngày càng gia tăng và thêm gay gắt.

Từ thực tiễn quá trình đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam về cơ bản đã hội đủ các yếu tố của nền KTTT hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế, như đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do sản xuất, kinh doanh, lưu thông những hàng hóa mà pháp luật không cấm, các chủ thể kinh tế cạnh tranh bình đẳng, hệ thống các loại thị trường phát triển ngày càng đồng bộ...; vai trò của nhà nước về quản lý kinh tế đã được đổi mới, như quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng nguồn lực kinh tế của nhà nước, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường,... Trong điều kiện đó, các quy luật của KTTT vận hành đồng bộ, các chủ thể kinh tế cạnh tranh để tồn tại và phát triển; giá cả hàng hóa cơ bản do thị trường quyết định; sản xuất và lưu thông hàng hóa phải chú ý đến tín hiệu giá cả, quan hệ cung - cầu trên thị trường; thị trường đóng vai trò trực tiếp điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, điều tiết hoạt động của các chủ thể kinh tế, huy động và phân bổ các nguồn lực của sản xuất,... Các yếu tố bảo đảm định hướng XHCN của nền KTTT gắn với vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, phát triển nhanh và bền vững đất nước,....

Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường.

Nội dung và phương thức quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo không mâu thuẫn, đối lập, không cản trở hoạt động của các quy luật KTTT mà tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực của các quy luật, để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, hướng đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công băng, văn minh. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có.

Những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của CNXH và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi. Vì vậy, chắc chắn rằng, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN hoàn toàn không đối lập nhau, không loại trừ nhau trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam”.

HAIVAN

LAN TỎA NHỮNG HÌNH ẢNH ĐẸP TỪ CUỘC SỐNG


Đây là hình ảnh một bạn chụp được khi chạy hướng Thủ Đức đến cầu Sài Gòn: Một chú chạy xe với chiếc thùng dán chữ như hình ảnh đính kèm, hai bên hông thùng còn có chữ “SỬA XE MIỄN PHÍ” thêm nữa, chắc chú ấy sợ mọi người không nhận ra nếu cần kíp.
Chú mặc đồ bảo hộ lao động, chắc là chú đi làm, trên đường đi đường về thì chở theo chiếc thùng dụng cụ này để giúp đỡ người khác - Chú nhận sửa xe, giúp bơm xăng, giúp cả kéo xe.
Cảm động nhất câu GẶP LÀ GIÚP, ai đã từng bị hư xe trên đường chắc đều nỗi vất vả nên thấy hình ảnh này sẽ rất cảm động, đúng không !!!???
Giữa cuộc sống hối hả, bộn bề, hình ảnh này giúp chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm và thêm động lực để giúp đỡ mọi người xung quanh khi có thể. Cám ơn cuộc sống mến yêu!
Sưu tầm
Có thể là hình ảnh về 4 người, xe môtô, đường và văn bản cho biết 'Sanpage Tinh đất đấtdomiền Đông HÌNH Đỗ Hữu Tú ANH ĐẸP TỪ CUỘC SỐNG Gặp Là Giúp Sửa Xe,Vá Xe Kéo Xe, Xăng Miễn Phí Phí'
Thích
Bình luận
Chia sẻ

LUẬT BIỂN VIỆT NAM "THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT ĐỂ HÒA GIẢI THÁCH THỨC"


Luật Biển Việt Nam ra đời là bằng chứng cho thấy Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm của UNCLOS. Đây là sự cụ thể hóa các quy phạm pháp lý quan trọng của UNCLOS để tiếp tục góp phần bảo vệ, quản lý các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông, chủ quyền an ninh quốc gia trên biển Việt Nam. Đồng thời, việc thông qua Luật Biển Việt Nam cũng là một bước đi đúng đắn, phù hợp với luật pháp quốc tế, qua đó giúp giải quyết hòa bình những bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông.
Để đưa Luật Biển Việt Nam vào cuộc sống và làm cho luật này phát huy hiệu lực, trước hết phải phổ biến, tuyên truyền, giáo dục cho tất cả mọi tầng lớp, tổ chức, lực lượng, cá nhân... trong nước, nhất là những người thường xuyên hoạt động gắn bó với biển, đại dương về toàn bộ nội dung của Luật Biển Việt Nam. Tiếp nối ý này, Tiến sĩ Trần Công Trục nêu ra một trong những vấn đề hiện nay là tình trạng khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) trên Biển Đông, có liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn của Việt Nam. Là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng khu vực và quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan áp dụng nhiều biện pháp quyết liệt để chống đánh bắt cá bất hợp pháp nhằm sớm gỡ cảnh báo “thẻ vàng“ đối với thủy sản Việt Nam của Ủy ban châu Âu (EC).
Cũng theo Tiến sĩ Trần Công Trục, đông đảo dư luận cho rằng đã đến lúc cần thẳng thắn, nghiêm túc và có trách nhiệm, cùng nhau phân tích và nhận diện các nguyên nhân đích thực khiến cho “vấn nạn IUU” vẫn tồn tại và chỉ có như vậy mới tìm ra cách giải quyết tận gốc. Một trong những nguyên nhân dẫn tới vấn nạn này là do cộng đồng ngư dân của Việt Nam cũng như các nước có thể chưa nắm được một cách cụ thể, rõ ràng vị trí chính xác của các ranh giới biển hợp pháp đã được công bố, cũng như giới hạn của “vùng chồng lấn” được hình thành dựa theo yêu sách hợp lý giữa các quốc gia ven biển nằm kế cận hay đối diện nhau trong Biển Đông. Bởi vậy, trước hết nên làm sáng tỏ căn cứ để kết tội ngư dân đã đánh bắt cá vi phạm vùng biển của các nước khi mà hầu như ranh giới các vùng biển và thềm lục địa của/giữa các quốc gia ven Biển Đông vẫn chưa được hoạch định cụ thể, rõ ràng. Cùng với đó, việc giải thích, áp dụng các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của các quốc gia ven biển, các tổ chức quốc tế... có liên quan đến việc khai thác, bảo vệ nguồn lợi sinh vật trong các vùng biển và thềm lục địa theo UNCLOS vẫn còn là vấn đề nổi cộm. “Đó là những hoàn cảnh không thể không tính đến khi xây dựng và ban hành các văn kiện, văn bản chính trị, pháp lý nhằm bảo vệ, quản lý và phát triển biển, đảo của Tổ quốc. Bởi vì, muốn phát huy được thế mạnh của biển, đảo nhằm phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước một cách có hiệu quả và bền vững, không thể không đề cao nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là phải tạo được môi trường cả về tự nhiên và chính trị, pháp lý, quốc phòng, an ninh”, Tiến sĩ Trần Công Trục nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, phải xây dựng các phương án, kịch bản khác nhau để ngư dân khi tiến hành hoạt động trên biển phải tuân thủ, chủ động ứng xử; đồng thời thúc đẩy đàm phán hoạch định vùng chồng lấn với các nước liên quan để sớm có đường phân định cuối cùng hoặc áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác phát triển chung vùng chồng lấn”, bảo đảm công bằng về quyền và nghĩa vụ cho các bên; xúc tiến đàm phán với các bên liên quan, các tổ chức quốc tế trong và ngoài khu vực để sớm đạt được thỏa thuận bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên sinh vật theo quy định của UNCLOS.
“Quan trọng hơn nữa, cần chủ động và sớm trao đổi một cách thẳng thắn, rõ ràng với Liên minh châu Âu (EU) và các tổ chức quốc tế liên quan khác về thực trạng bất đồng, tranh chấp trong Biển Đông để họ hiểu rõ tính chất phức tạp và giá trị của các ranh giới biển, vùng chồng lấn trong Biển Đông. Từ đó làm rõ những điểm đúng, sai xuất phát từ những thông tin đơn phương, thiếu khách quan, cũng như những hành xử không phù hợp với các quy định của UNCLOS và những thỏa thuận song phương hay đa phương trong khu vực”, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Trần Công Trục nói.

TÌNH ĐOÀN KẾT HỮU NGHỊ VIỆT NAM VÀ CAM-PU-CHIA


Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng: “Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, đoàn kết và tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là quy luật sống còn và phát triển của cả ba dân tộc anh em”. “Trước sau như một, Việt Nam trung thành với nghĩa vụ quốc tế của mình đối với cách mạng Lào và cách mạng Cam-pu-chia”.

Mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước tiếp tục được phát huy, phát triển trong giai đoạn hiện nay. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam cuối tháng 12-2016 vừa qua, tại buổi gặp mặt, nói chuyện với hơn 200 đại biểu tướng lĩnh, sĩ quan, cựu chiến binh Quân tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế tại Cam-pu-chia qua các thời kỳ, Thủ tướng Hun Xen đã nhấn mạnh chuyến thăm của ông lần này đến Việt Nam mang theo thông điệp cảm ơn của nhân dân Cam-pu-chia đối với Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam đã giúp đỡ đánh đổ và ngăn chặn không cho chế độ Pôn Pốt quay trở lại, tạo tiền đề cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước Cam-pu-chia phồn vinh như ngày nay. Ông khẳng định luôn trân trọng những kỷ niệm tốt đẹp với quân và dân Việt Nam. Dù tình hình thế giới có diễn biến phức tạp thế nào cũng không thể tác động đến quan hệ láng giềng anh em tốt đẹp giữa hai nước. Hai nước cần giáo dục thế hệ trẻ gìn giữ mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp vốn có, tài sản vô giá đã được vun đắp trong suốt quá trình đoàn kết đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và xây dựng phát triển đất nước ngày nay.

Ở Cam-pu-chia hiện nay lưu giữ công trình Tượng đài Hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia được xây dựng cuối những năm 1970 để kỷ niệm liên minh Việt Nam - Cam-pu-chia, sau khi Quân tình nguyện Việt Nam tiến vào lật đổ chế độ diệt chủng. Tượng đài tạc hình ảnh hai người lính Việt Nam - Cam-pu-chia sát cánh bảo vệ một thiếu phụ và em bé Cam-pu-chia. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến dâng hoa tại tượng đài trong chuyến thăm chính thức Cam-pu-chia vào năm 2011. Năm 2015, Hội đồng Dân tộc Mặt trận Đoàn kết phát triển Cam-pu-chia và Bộ Quốc phòng Việt Nam đã thống nhất thực hiện công tác khảo sát, kiểm tra, lập dự án sửa chữa, tu bổ, tôn tạo các tượng đài hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, trong đó có tượng đài trên.

Trân trọng, gìn giữ, phát triển tình hữu nghị là nguyện vọng chung của đông đảo nhân dân hai nước. Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế là những âm mưu chống phá, chia rẽ tình đoàn kết giữa hai dân tộc là hết sức nguy hiểm; từng để lại những khó khăn, hậu quả trong lịch sử cũng như có nhiều diễn biến phức tạp trong một số vụ việc kích động, phá hoại, ẩn chứa những mưu đồ đen tối từng bị Nhà nước Cam-pu-chia lên án và xử lý thời gian qua. Để đẩy lùi những âm mưu ấy, cùng với việc tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị quý báu, phải luôn giữ được nhất quán trong đường lối đối ngoại, hợp tác, cảnh giác, tỉnh táo trước mọi thủ đoạn chia rẽ, tăng cường hơn nữa sự hiểu biết, tin cậy giữa chính quyền và nhân dân hai nước. Đặc biệt, phải làm tốt hơn nữa việc tuyên truyền, giáo dục, giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc thực tiễn lịch sử và thực chất quan hệ hai nước để không ngừng chung tay vun đắp tình hữu nghị, không để những "lỗ hổng" hiểu biết cho kẻ xấu kích động, xuyên tạc.

NQR

HÀNH LANG PHÁP LÝ QUAN TRỌNG "CÁNH TAY NỐI DÀI" CỦA UNCLOS 1982


Trên cơ sở Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, Việt Nam đã xây dựng Luật Biển Việt Nam và được Quốc hội thông qua ngày 21-6-2012, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2013. Luật Biển Việt Nam ra đời đã xác lập hành lang pháp lý quan trọng, hay cũng có thể coi là “cánh tay nối dài” của UNCLOS để điều chỉnh các mối quan hệ trên biển và đại dương có liên quan mật thiết tới đất nước.
Chia sẻ với tư cách là một chuyên gia từng có nhiều năm nghiên cứu về pháp luật liên quan tới biên giới, Tiến sĩ Trần Công Trục cho biết: Luật Biển Việt Nam gồm 54 điều khoản được bố trí trong 7 chương. Có 4 nội dung đã được hợp pháp hóa bởi Luật Biển Việt Nam, đó là: Xác định phạm vi các vùng biển, thềm lục địa và khẳng định chủ quyền đối với các hải đảo, quần đảo, bao gồm: Đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; các hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.
Điều 1 của Luật Biển Việt Nam nêu rõ: “Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo”; và khoản 2, Điều 19 quy định: “Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam”.
Luật Biển Việt Nam đã quy định cụ thể đối với các hoạt động trong vùng biển Việt Nam là phải tôn trọng các quyền hợp pháp của quốc gia ven biển. Luật Biển Việt Nam cũng đặc biệt quy định về vấn đề phát triển kinh tế biển và các hoạt động tuần tra, kiểm tra trên biển. Luật Biển Việt Nam quy định phát triển kinh tế biển nhằm phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trên biển; phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; gắn với phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo. Luật quy định Nhà nước ưu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế biển như: Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; du lịch biển và kinh tế đảo; khai thác, nuôi trồng, chế biển hải sản; phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học-công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển.
Sau khi ban hành Luật Biển 2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015, có hiệu lực từ ngày 1-7-2017, điều chỉnh các hoạt động giao thông hàng hải trên biển, chế độ ra vào các cảng biển Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng thông qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quản lý và sử dụng biển và đại dương như Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015), Luật Bảo vệ môi trường (2020), Luật Biên giới quốc gia (2003) và các nghị định quy định bảo vệ công trình hàng hải và Nghị định về quản lý hoạt động của người và phương tiện trong khu vực biên giới biển.
Luật Biển Việt Nam đã có hiệu lực và trở thành công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh mọi mối quan hệ đa dạng và phức tạp đang diễn ra trong các vùng biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. Tiến sĩ Trần Công Trục cũng nhấn mạnh rằng phạm vi và quy chế pháp lý của nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được nêu trong Luật Biển Việt Nam 2012 đều hoàn toàn phù hợp với các quy định của UNCLOS.