Trong xây dựng thể chế, Nhà nước đã ban hành hệ thống
thể chế phát triển KTTT, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để giải phóng năng lực
sản xuất trong xã hội, khai thác tiềm năng đất nước đi đôi với thu hút vốn,
công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, giúp nền kinh tế có những chuyển
biến hết sức to lớn. Tăng trưởng GDP trung bình hằng năm của nước ta giai đoạn
2016 - 2019 đạt trên dưới 7%, mức cao trên thế giới. Hệ thống kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội không ngừng được phát triển. Đây là những điều kiện thuận lợi
để Đảng, Nhà nước đầu tư toàn diện cho lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, từ phương tiện,
trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đến con người nhằm củng cố, tăng cường tiềm
lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
Bộ máy quản lý nhà nước về
kinh tế - xã hội và bộ máy quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh ở
Trung ương và địa phương được kiện toàn với các nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm đối với công tác quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Quốc phòng và
Luật An ninh quốc gia, trong đó, xác định rõ nhiệm vụ: Tổ chức thực hiện các
quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về quốc phòng trong thời bình và thời chiến
theo nhiệm vụ được giao; thực hiện việc kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh
tế, kinh tế với quốc phòng trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch của
bộ, ngành, lĩnh vực được giao phụ trách; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh
tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia; bảo vệ bí mật nhà
nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.
Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trung và dài
hạn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội luôn được nghiên cứu, xây dựng và tổ
chức thực hiện trong mối quan hệ với chiến lược quốc phòng, an ninh. Đây là
bước tiến quan trọng, thể chế hóa một cách đồng bộ các quan điểm của Đảng, nhất
là những tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc bằng các
văn bản quy phạm pháp luật - cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh
quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đồng thời, cũng
là căn cứ để chỉ đạo các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương triển khai
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường tiềm lực quốc
phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Trong hoàn thiện các chính sách phân phối thu nhập, lĩnh
vực văn hóa - xã hội, Nhà nước chủ động giải quyết mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội. Nhờ đó, đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân được cải thiện; hạn chế một phần sự phân hóa giàu nghèo
cũng như khoảng cách về mức sống và cơ hội phát triển giữa các vùng, miền, các
dân tộc, giữa nông thôn và thành thị. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến
sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ được đặc biệt quan tâm để cán bộ,
chiến sĩ yên tâm phục vụ và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế, chính
sách phát triển khoa học - công nghệ và môi trường không chỉ nhằm nâng cao
trình độ công nghệ, cải thiện năng suất lao động mà còn ưu tiên cho các mục
tiêu hiện đại hóa nhanh chóng lực lượng quân đội và công an, đặc biệt là trình
độ phòng vệ quốc gia trước các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống
(chiến tranh mạng, vũ khí sinh học, hóa học, ô nhiễm môi trường...).
Trong triển khai các chính sách hội nhập quốc tế, Đảng
và Nhà nước chủ động đưa nền KTTT mà Việt Nam xây dựng trở thành một bộ phận
hữu cơ của nền KTTT thế giới, “kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển
kinh tế thị trường của nhân loại”, “hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và
các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông
suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới”(1), tuân
thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung của thế giới để phát triển. Các chính sách
hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường để, một mặt, phát triển nhanh
và bền vững kinh tế của đất nước; mặt khác, tạo sự hiểu biết lẫn
nhau, tăng cường gắn bó lợi ích kinh tế, quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa nước
ta với các nước trên thế giới, góp phần hình thành trật tự thế giới mới theo xu
hướng bảo đảm an ninh, hòa bình chung cho phát triển, bình đẳng trong quan hệ
quốc tế. Đồng thời, trên cơ sở quan hệ hợp tác về đầu tư và thương mại, có
chính sách lựa chọn các đối tác hợp tác về quốc phòng, an ninh để tăng cường vũ
khí, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ quốc phòng, an ninh hiện đại và đào tạo
nhân lực, phục vụ hiện đại hóa các lực lượng vũ trang.
Sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng,
an ninh trong chiến lược phát triển kinh tế được thể hiện ngay trong việc hoạch
định mục tiêu phát triển quốc gia, trong huy động nguồn lực, trong lựa chọn và
thực hiện các giải pháp chiến lược. Tuy nhiên, một số chính sách vẫn chưa xác
định cụ thể các giải pháp để tổ chức thực hiện. Vì vậy, một số quy hoạch, kế
hoạch, dự án kinh tế, một số khu kinh tế, khu công nghiệp được bố trí ở các địa
bàn không bảo đảm yêu cầu của chiến lược quốc phòng, an ninh. Mặt khác, khi xây
dựng các quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế, các cơ quan ở Trung
ương và địa phương dành sự quan tâm chủ yếu đến phương diện lợi ích kinh tế,
chưa xem xét đầy đủ tác động của các dự án đó đến vấn đề bảo đảm quốc phòng, an
ninh.
Nguyên nhân của hạn chế này xuất phát từ việc cán bộ, công chức
một số cơ quan Trung ương và địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng
của việc kết hợp nhiệm vụ phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng,
an ninh; không nắm vững các yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng
một số dự án đầu tư. Còn các cơ quan có trách nhiệm phối hợp thẩm tra, thẩm
định các dự án đầu tư do thiếu trách nhiệm, không đủ năng lực, hoặc do cả hai
nguyên nhân trên, không phát hiện được những nguy cơ tiềm ẩn trong các dự án
đầu tư đó đối với quốc phòng, an ninh. Không loại trừ khả năng, vì lợi ích cá
nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, hoặc bị mua chuộc, mà
cơ quan hoặc công chức chủ trì xây dựng, thẩm định dự án, công chức có thẩm
quyền phê duyệt, tổ chức thực hiện dự án đã cố tình bỏ qua các nguy cơ tác động
tiêu cực của dự án đối với quốc phòng, an ninh đất nước.
Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc xây dựng thể chế,
chính sách, các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành, lĩnh
vực gắn với quốc phòng, an ninh chưa chặt chẽ. Cơ quan quản lý nhà nước ở nhiều
địa phương chỉ tập trung nỗ lực để kinh tế địa phương tăng trưởng, tăng nguồn
thu mà chưa thật sự chú trọng đến vấn đề quốc phòng, an ninh.
HAIVAN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét