Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Thủ tướng chia sẻ khó khăn, yêu cầu nghiên cứu giải pháp phù hợp để tăng cường tiềm lực của báo chí.

 Phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính giao các cơ quan nghiên cứu giải pháp phù hợp để tăng cường tiềm lực của báo chí; các nhà báo, các cơ quan báo chí tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì sự hùng cường, thịnh vượng của đất nước, hạnh phúc, ấm no của nhân dân và sự phát triển của báo chí cách mạng.

Thủ tướng Phạm Minh Chính giao các cơ quan nghiên cứu giải pháp phù hợp để tăng cường tiềm lực của báo chí - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.


Chiều 17-6, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì gặp mặt của Thường trực Chính phủ với lãnh đạo các cơ quan báo chí nhân kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6-1925 - 21-6-2022).

Cùng dự có các Phó Thủ tướng: Lê Minh Khái, Vũ Đức Đam; lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam; lãnh đạo Báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, cùng lãnh đạo các cơ quan báo chí trong cả nước.

Tại buổi gặp mặt, đại diện lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam, các cơ quan thông tấn, báo chí bày tỏ sự quan tâm, chỉ đạo, tạo điều kiện của Thường trực Chính phủ, mà đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ đối với hoạt động báo chí nước nhà.

Các đại biểu cũng báo cáo Thủ tướng Chính phủ về vai trò, tình hình hoạt động báo chí hiện nay và những định hướng lớn trong công tác báo chí, tuyên truyền trong thời gian tới; nêu những khó khăn, thách thức hiện nay cũng như kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các cơ quan báo chí, đội ngũ nhà báo hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tại cuộc gặp, Thủ tướng Phạm Minh Chính gửi tới các đồng chí lãnh đạo các cơ quan chỉ đạo và quản lý báo chí, cơ quan báo chí, người làm báo trên mọi miền đất nước và ở nước ngoài lời chào trân trọng, lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thủ tướng nhắc lại lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, người đặt nền móng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam: Báo chí cách mạng là một mặt trận chiến đấu của cách mạng; cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng; cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ.

Theo Thủ tướng, để đất nước có được những kết quả quan trọng thời gian qua là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sáng suốt của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, sự giám sát, đồng hành của Quốc hội, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chính quyền các cấp, sự đồng tình, ủng hộ và tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp, sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

Trong các thành tựu chung của đất nước, có đóng góp của báo chí cách mạng Việt Nam, các nhà báo, các cơ quan báo chí, với thông tin khách quan, trung thực, kịp thời, đúng hướng, tạo chia sẻ, tạo cảm hứng và động lực cho người dân, góp phần để "dân biết, dân hiểu, dân tin, dân theo, dân làm". "Người làm báo là một trong những lực lượng trên tuyến đầu của các 'mặt trận'", Thủ tướng nhấn mạnh.

Thủ tướng nhiệt liệt biểu dương và chúc mừng các thành tựu mà báo chí cách mạng Việt Nam đạt được thời gian vừa qua, ghi nhận và cảm ơn sự đóng góp của báo chí vào những thành tựu chung của đất nước, triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, thực hiện các chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, xây dựng Chính phủ đổi mới, liêm chính, hành động, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ. Đặc biệt, báo chí là vũ khí sắc bén trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đang được Đảng ta triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Thủ tướng cũng chia sẻ với những khó khăn của báo chí trong điều kiện hiện nay về cơ chế, chính sách, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực… Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan nghiên cứu giải pháp tăng cường tiềm lực của báo chí phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với tình hình, điều kiện đất nước, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, giải quyết được những khó khăn của báo chí và hài hòa với các lĩnh vực khác, trong tổng thể chung với các ngành nghề.

Thủ tướng mong muốn và tin tưởng với truyền thống, bản lĩnh, trí tuệ, "mắt sáng - lòng trong - bút sắc", báo chí cách mạng Việt Nam tiếp tục cùng Đảng, Nhà nước và nhân dân vượt qua những khó khăn, thách thức, phát huy các thành tựu, kết quả đã đạt được, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; các nhà báo, các cơ quan báo chí tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì sự hùng cường, thịnh vượng của đất nước, hạnh phúc, ấm no của nhân dân và sự phát triển của báo chí cách mạng.

Đánh giá sai lệch của Nghị viện châu Âu

Vừa qua, cơ quan nghiên cứu của Nghị viện châu Âu công bố bản báo cáo về các hoạt động hỗ trợ những nhà hoạt động nhân quyền trên toàn thế giới của Liên minh châu Âu (EU Support for human rights defenders around the world). Đáng tiếc, nội dung của bản báo cáo nàychứa đựng những thông tin không khách quan, sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Theo nội dung của báo cáo mới được đưa ra, Liên minh châu Âu cho rằng, họ đã gặp nhiều giới hạn trong việc bảo vệ những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam; vu cáo những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền bị kiểm soát ngặt nghèo, chính quyền Việt Nam sẵn sàng đàn áp những người hoạt động nhân quyền “một cách trắng trợn”.

Từ đó, đặt ra yêu cầu đòi hỏi Việt Nam thoả hiệp, thả các “tù nhân chính trị” để đạt được lợi ích… Để bảo vệ cho những luận điểm trên, cơ quan này đưa ra dẫn chứng về trường hợp của Phạm Đoan Trang, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… và kết luận việc bắt giữ, kết án các đối tượng này là “tuỳ tiện”, việc xét xử “không công bằng, làm oan người vô tội”?!

Đây không phải là lần đầu Nghị viện châu Âu đưa ra những đánh giá, nhận định sai trái, thiếu khách quan, thiếu thiện chí về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Điều này đã đi ngược lại lợi ích, mối quan hệ giữa Việt Nam và EU.

Phải khẳng định rõ, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo các quy định của pháp luật. Việt Nam luôn ủng hộ và chào đón các cơ quan, tổ chức quốc tế đến nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực tiễn tình hình nhân quyền trong nước trên cơ sở công bằng, minh bạch, khách quan, tôn trọng lẫn nhau.

Đảng, Nhà nước Việt Nam sẵn sàng đối thoại một cách hết sức cởi mở trên lĩnh vực quyền con người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau với cộng đồng thế giới và đồng thời chia sẻ các kinh nghiệm tốt của đất nước trong đảm bảo quyền con người.

Nhiều năm qua, Việt Nam đã tham gia vào cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Thông qua cơ chế này, Việt Nam thể hiện rõ chính sách, nỗ lực cũng như thành tựu của đất nước trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Thực tế, Việt Nam được bạn bè quốc tế công nhận, đánh giá cao trên lĩnh vực này và đã được tín nhiệm bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 -2016.

Tuy nhiên, một số tổ chức phi chính phủ, thậm chí cả một số cơ quan của nước ngoài lại cố tình phớt lờ sự thật, thường xuyên thể hiện cách nhìn nhận phiến diện, thiếu thiện chí, chính trị hoá khi đánh giá về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Thay vì tiếp xúc trực tiếp, thu thập thông tin từ đại đa số người dân Việt Nam và các nguồn dữ liệu tin cậy, họ lại liên hệ, lấy ý kiến từ các đối tượng chống phá đất nước để quy chụp rằng Việt Nam “đàn áp nhân quyền”. Một báo cáo chắp vá, lấy ý kiến từ chính những đối tượng phạm pháp, chống phá đất nước thì đủ hiểu bản chất của báo cáo, nội dung trong đó là gì!

Thời gian qua, các đối tượng chống phá núp dưới bóng dân chủ, nhân quyền đã nhận được sự hậu thuẫn, giúp đỡ trên nhiều mặt từ một số cơ quan, tổ chức nước ngoài. Từ đó, những kẻ này gia tăng hoạt động phá hoại, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam.

Những cái tên được Nghị viện châu Âu phù phép bằng cụm từ “tù nhân chính trị” như Phạm Đoan Trang, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh thực chất là những “ngọn cờ” chống phá trong nước được các thế lực xấu dựng lên và nuôi dưỡng. Mặc dù số này luôn miệng hô khẩu hiệu đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, bám víu từ các nguồn hỗ trợ bên ngoài nhưng lại thường xuyên kích động thù hằn, tụ tập các đối tượng xấu trong nước để gây rối trật tự công cộng. Cùng với đó, các đối tượng đẩy mạnh việc tán phát những tài liệu, thông tin độc hại nhằm gây nhiễu loạn dư luận, hình thành các nhận thức sai lầm trong xã hội.

Mục đích của những kẻ này là phá vỡ sự ổn định về chính trị của đất nước, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị. Với những hành vi sai phạm đã thực hiện, việc các cơ quan chức năng của Việt Nam bắt giữ, xử lý là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đây là việc làm cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, không phải là hành động “đàn áp người đấu tranh” như những gì các đối tượng xấu và một số cơ quan nước ngoài có cái nhìn phiến diện về Việt Nam.

Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, đời sống kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà phủ nhận những kết quả tích cực đã đạt được trong việc bảo đảm nhân quyền.

Nhân quyền là một lĩnh vực rộng, liên quan trực tiếp đến đời sống của con người, là tổng hợp của các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Trong đó, những quyền cơ bản, thiết yếu, thực tế nhất là quyền được sống, quyền được bình đẳng, quyền được phát triển trong một xã hội an toàn, quyền được học tập, quyền được lao động…

Một vài số liệu dẫn chứng cho thấy Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong bảo vệ quyền con người là: Tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020; đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tại Việt Nam không có khủng bố, người dân được sinh sống và lao động trong môi trường an ninh, an toàn, ổn định… Theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2022 của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam xếp vị trí 77 (tăng 2 bậc so với năm 2021).

Hiện nay, Việt Nam là một điểm đến được nhiều bạn bè quốc tế lựa chọn. Không chỉ đến với mục đích du lịch ngắn ngày, số người nước ngoài đến Việt Nam cư trú, lao động, học tập dài ngày ngày càng nhiều. Thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, năm 2021, Việt Nam có 101.550 lao động nước ngoài, đến từ  hơn 110 quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong số đó, có không ít người là chuyên gia, nhà khoa học nổi tiếng thế giới. Như vậy thử hỏi, nếu tình hình nhân quyền của Việt Nam “hết sức tồi tệ” thì liệu điều này có thể xảy ra hay không?

Vì vậy, không thể tuyệt đối nền dân chủ, nhân quyền của một quốc gia, một chế độ nào và coi đây là hình mẫu bắt buộc cho đất nước khác. Một quốc gia có nhân quyền hay không, có tốt đẹp hay không thì chỉ người dân đất nước đó mới có thể đánh giá. Đồng thời, trước khi đánh giá về tình hình Việt Nam, các quốc gia, tổ chức quốc tế hãy tự nhìn lại chính mình, tự xoá bỏ “bóng tối dưới chân đèn” của chính mình.

Nâng cao nhận thức về chuyển đổi số trong các đơn vị quân đội

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận... lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền hành chính công hiện đại, trong đó xác định phát triển Chính phủ điện tử (CPĐT), chuyển đổi số (CĐS) là động lực chính thúc đẩy quá trình hiện đại hóa quốc gia.

Quán triệt, triển khai nhiệm vụ xây dựng CPĐT và CĐS trong quân đội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt mặt công tác này và đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Cùng với nhiều đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng, Văn phòng Bộ Quốc phòng là một trong những cơ quan triển khai hiệu quả phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc có sử dụng chữ ký số. Phần mềm mang lại hiệu quả rất rõ nét; góp phần rất lớn trong việc rút ngắn thời gian xử lý văn bản, giảm thiểu giấy tờ cần in ấn, quản lý và tra cứu toàn diện văn bản... Đến nay, việc áp dụng phần mềm này (phiên bản mới) đã được triển khai đến 100% các cơ quan, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng. Bên cạnh đó, tính đến tháng 6-2022, trên cổng dịch vụ công Bộ Quốc phòng đã tích hợp được 23/48 dịch vụ công của Bộ Quốc phòng lên Cổng dịch vụ công Quốc gia. Đây là những kết quả quan trọng đạt được từ việc triển khai CPĐT và CĐS trong Bộ Quốc phòng.

Theo Thiếu tướng Tống Viết Trung, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh 86, chủ trương chung của Ban chỉ đạo Cải cách hành chính và CPĐT Bộ Quốc phòng là xây dựng mô hình CPĐT trên cơ sở đáp ứng cả hai mục tiêu: Phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số và tự động hóa chỉ huy. Xây dựng hạ tầng mạng máy tính quân sự rộng khắp phục vụ phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số trong Bộ Quốc phòng. Đồng thời, thúc đẩy phát triển các ứng dụng dùng chung, trong đó tập trung trước mắt cho các hoạt động hành chính quân sự bao gồm quản lý văn bản và hồ sơ công việc có sử dụng chữ ký số; hệ thông tin và chỉ đạo điều hành, phần mềm truyền hình ứng dụng (họp trực tuyến), thư điện tử quân sự... Bên cạnh đó, các ứng dụng chuyên ngành cũng được nghiên cứu phát triển, như: Phần mềm quản lý cán bộ, phần mềm quản lý đảng viên, phần mềm quản lý tài chính, kế toán và phần mềm bảo hiểm xã hội...

Quan điểm của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng coi CĐS là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện. CĐS chỉ thành công khi được xác định là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm ở mỗi cơ quan, đơn vị. Trên tinh thần đó, việc chọn nhiệm vụ gì, ngành gì để chuyển đổi trước được triển khai theo nguyên tắc: Nhiệm vụ được quy định bắt buộc phải thực hiện thì tổ chức triển khai trước; tiếp đó là nhiệm vụ nào khi đưa lên môi trường số tạo ra được hiệu quả vượt trội và sau cùng là những nhiệm vụ khi đưa lên môi trường số có thể tạo ra giá trị mới.

Trung tá Vũ Tuy Phước, trợ lý Phòng Phần mềm và Cơ sở dữ liệu, Bộ tư lệnh 86 lấy ví dụ: Cụ thể, đối với nhiệm vụ ưu tiêu triển khai trước, chủ trương của Bộ Quốc phòng là các đơn vị trực thuộc phải triển khai sử dụng phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc có sử dụng chữ ký số. Đây là một nhiệm vụ thực hiện CĐS trong việc gửi-nhận văn bản trong toàn quân, chuyển đổi từ phương pháp truyền thống (gửi-nhận văn bản giấy, qua đường quân bưu) thành gửi-nhận văn bản điện tử có chữ ký số qua môi trường mạng truyền số liệu quân sự, rút ngắn thời gian giải quyết công văn và hạn chế việc sử dụng văn bản giấy. Tuy nhiên, nếu người chỉ huy chỉ dừng lại ở mức giao cho văn thư tiếp nhận văn bản các cơ quan, đơn vị gửi về trên hệ thống, sau đó in ra văn bản giấy và thực hiện quy trình xử lý tiếp theo bằng giấy thì về cơ bản mới chỉ CĐS một khâu đơn lẻ, chưa triệt để và toàn diện.

Qua tìm hiểu, việc CĐS trong lĩnh vực hành chính quân sự bước đầu đạt được nhiều kết quả quan trọng. Cùng với triển khai hiệu quả phần quản lý văn bản và hồ sơ công việc có sử dụng chữ ký số đến 100% đầu mối toàn quân thì hệ thống truyền hình hội nghị đã được triển khai tới các đơn vị cấp trung, lữ đoàn và tương đương. Đối với hệ thống truyền hình ứng dụng, yêu cầu để triển khai hệ thống rất đơn giản và thuận tiện, chỉ cần có máy tính nối mạng máy tính quân sự, camera, micro, loa và tài khoản tham gia cuộc họp là có thể triển khai được nhanh chóng và kịp thời. Hiện đã có 1/3 số cơ quan, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng triển khai ứng dụng này. Do đó, lãnh đạo Bộ tư lệnh 86 cho rằng, các cơ quan, đơn vị khác cần nhanh chóng triển khai thực hiện để tận dụng những lợi thế về sản phẩm công nghệ đã được đầu tư...

Khi thực hiện CĐS trong các cơ quan, đơn vị quân đội, hệ thống mạng LAN sẽ được triển khai tới vị trí làm việc của người chỉ huy, trợ lý, nhân viên trong đơn vị. Từ đó thúc đẩy tỷ lệ kết nối mạng máy tính quân sự, làm cơ sở, nền tảng để triển khai các ứng dụng khác cho người dùng trong đơn vị khai thác (thư điện tử quân sự, hệ thông tin chỉ đạo điều hành, họp trực tuyến...). Mọi người trong đơn vị sẽ phải tự học và học lẫn nhau để đáp ứng yêu cầu làm việc trên môi trường mạng. Đội ngũ cán bộ, nhân viên bảo đảm kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin cho hệ thống mạng nội bộ và ứng dụng sẽ phải hoạt động chủ động, tích cực hơn. Chỉ cần thông qua một nhiệm vụ được thực hiện CĐS như trên, từng bước sẽ hình thành thói quen, văn hóa làm việc trên môi trường số tại đơn vị mình.

Để phát huy ý nghĩa, giá trị mang lại từ CĐS, trước mắt là trong lĩnh vực hành chính quân sự, rất cần tinh thần chủ động, sáng tạo và quyết tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp về CĐS. Nếu người đứng đầu không có quyết tâm chính trị, CĐS sẽ không diễn ra tại đơn vị. Mặt khác, để CĐS thành công, người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về CĐS tại đơn vị mình phụ trách; gắn các mục tiêu, nhiệm vụ CĐS với nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cơ quan, đơn vị mình.

Đừng để quên cả... tên mình

Cách đây 15 năm, trong chuyến công tác ở một đơn vị phía Bắc, tôi được nghe một câu chuyện thật mà như hài, nay vẫn còn nguyên giá trị với nhiều người.

Tối ấy, theo lời mời của người bạn từ nước ngoài về, Đại úy, Đại đội trưởng Trần Quang đến dự tiệc tại một nhà hàng ở thị trấn phố huyện. Khách dự ngồi kín cả 8 bàn tiệc, trong đó có nhiều người là bạn thời bộ đội. Nhìn mỗi bàn tiệc có một chai rượu ngoại xách tay, Trần Quang đã “khủng bố”:

Chắc là rượu ngoại của ông bạn không đủ cho mỗi người một chai đâu. Ta chỉ mở một chai thưởng thức, mỗi người một ly, còn lại dùng “nút lá chuối” cho nó lành và không bao giờ sợ thiếu. Vì “... tuy rằng là can hết rượu nhưng vẫn còn là còn trong dân”, mà còn trong dân thì vô cùng, vô tận...

Trần Quang bẻm mép, bữa tiệc càng thêm vui. Ông bạn ở Tây về chỉ nói mấy lời mở đầu và mời ly rượu ngoại khai tiệc, còn lại “nhường ngôi” cho Trần Quang chủ xị. Dưới sự điều hành của Trần Quang, mọi người nâng ly với đủ các lý do, nào là “liên lạc tay đôi”, “liên lạc mạng” (theo thuật ngữ của bộ đội thông tin), rồi uống theo nhóm tuổi, theo vần ABC... của tên từng người, theo cả nhóm giống nhau về đường con cái (đều là con trai, đều là con gái), lại thưởng cho những ai là “nghệ nhân” (nghệ nhân cấp I-sinh được một gái, một trai; nghệ nhân cấp II-sinh được một trai, một gái). Tưởng đã hết lý do để uống, bất chợt Trần Quang lại thêm “sáng kiến”-uống theo cỡ giày dép!!! Lý do này nhiều người không thể theo được. Còn “chủ xị” thì vẫn nhuần nhuyễn: “Lấy cớ để uống cho vui, hơn 10 năm mới gặp lại ông bạn từng chu du khắp trời Tây cơ mà...”.

Bữa tiệc diễn ra gần 4 giờ đồng hồ rồi cũng đến hồi kết. Nhìn đồng hồ đã quá 23 giờ, Trần Quang lên xe máy, phóng thật nhanh về đơn vị. Vì về quá muộn, người lại ngả nghiêng, nồng nặc mùi rượu nên Trần Quang “được” trực ban chấn chỉnh. Về đến đại đội, vì “giận cá chém thớt” nên Trần Quang ra lệnh báo động kiểm tra quân số. Lúc đó đã gần 24 giờ. Cán bộ, chiến sĩ tưởng có tình huống gì nên nhanh chóng tập trung đông đủ. Trước hàng quân, đại đội trưởng bắt đầu điểm danh theo danh sách toàn đại đội:

Đồng chí Trần Quang... Trần Quang đâu?

Thấy đại đội trưởng liêu xiêu, lại quên cả tên mình nên một số chiến sĩ không kìm được, bật cười. Thấy chiến sĩ cười, Trần Quang mới ngộ tỉnh, nhưng chỉ ú ớ được mấy từ “à... tôi”, rồi khụy xuống. Anh em đưa Trần Quang về phòng ngủ. Cả đêm đó, liên lạc đại đội không chợp mắt được.

Sáng hôm sau, khi đã tỉnh rượu, Trần Quang lên ngay xin lỗi chỉ huy trung đoàn (vì anh là đại đội trưởng đại đội trực thuộc). Từ đó, Trần Quang thay đổi hẳn, thực hiện nghiêm quy định khi uống rượu, bia, uống rất chừng mực và không bao giờ đưa ra “sáng kiến” để đưa tửu. Ngẫm lại sự việc đó, Trần Quang đã có hai câu vè để nhắc nhở chính mình và đồng đội: “Khi đi thì uống hết mình/ Khi về thì chẳng biết mình là ai”.

CÁN BỘ PHẢI TRÁNH XA CÁM DỖ

 

Cán bộ cần giữ mình cho đúng, không tròn vo, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, phải tránh xa thói hư tật xấu, cám dỗ, theo Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng.

Sáng 25/6, Ban Tổ chức Trung ương gặp mặt các ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XIII. Tại hội nghị, có ý kiến bày tỏ băn khoăn khi một số cán bộ thời gian gần đây vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đặt câu hỏi, năng động, sáng tạo có mâu thuẫn với chặt chẽ không? Dám nghĩ, dám làm có dễ dẫn tới sai phạm không?

Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng cho biết, những sai phạm của cán bộ thời gian qua, nhìn dưới góc độ tích cực là bài học quý với mỗi cán bộ để kỹ lưỡng, chỉn chu hơn trong công tác, chứ không phải vì thế mà né tránh, không làm. Cán bộ hiểu đúng việc "giữ mình" thì sẽ thành người chặt chẽ, kỹ lưỡng hơn.

Thường trực Ban Bí thư mong muốn cán bộ trẻ khi được Đảng giao nhiệm vụ thì hăng hái đảm nhận, không ngừng tiến bộ. "Tiến bộ không phải đo lường bằng chức vụ mà về bản lĩnh, nhận thức, kiến thức, bằng sự vững vàng trong công việc", ông nói.

"Trung ương luôn mong muốn các ủy viên dự khuyết tiến bộ và đó cũng là trách nhiệm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng. Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh của Đảng, chế độ, đất nước", ông Thưởng chia sẻ.Ông Võ Văn Thưởng từng là một trong 25 ủy viên Trung ương dự khuyết khóa X. Khi đó, lần đầu ông được dự hội nghị Trung ương lần thứ nhất tại Đại hội X, tự cảm thấy trách nhiệm nặng nề, lớn lao; tự nhắc nhở bản thân nỗ lực, xứng đáng với trọng trách được giao.

Mỗi ủy viên Trung ương dự khuyết cần không ngừng nỗ lực, rèn luyện để tiến bộ về mọi mặt, trong công việc luôn trăn trở tìm cách giải quyết, tháo gỡ khó khăn, nỗ lực tự học, tự rèn luyện. Đặc biệt, cán bộ trẻ phải thẳng thắn, rèn luyện viết, nói, nghiên cứu cương lĩnh, nghị quyết, tìm hiểu lịch sử đảng, dân tộc; ứng xử có trước có sau, tình nghĩa, giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân.

Kết luận hội nghị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai đánh giá, các ủy viên Trung ương dự khuyết là lớp cán bộ trẻ tiệm cận với công việc cao của Đảng. Ban Tổ chức Trung ương có trách nhiệm hỗ trợ ủy viên dự khuyết phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành; tham mưu cho Đảng đội ngũ kế cận xứng đáng.

Vấn đề ủy viên Trung ương dự khuyết được Đảng quan tâm ngay từ Đại hội II. Nhiều người qua phấn đấu đã giữ những chức vụ lãnh đạo chủ chốt, như các ông Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Nguyễn Tấn Dũng... Đây là tấm gương để cán bộ trẻ nỗ lực, phấn đấu.

Đại hội Đảng lần thứ XIII đã bầu 20 ủy viên Trung ương dự khuyết; trong đó 19 người tham gia lần đầu; một người tái cử; độ tuổi bình quân đầu nhiệm kỳ là 43,7."Điều quan trọng vẫn nằm ở nhân cách, phẩm chất, đạo đức. Càng trẻ càng phải nghiêm khắc với bản thân. Đảng luôn mong muốn có lớp trẻ kế cận đủ năng lực, phẩm chất, uy tín", bà Mai nói, mong muốn cán bộ dự khuyết hôm nay trong tương lai sẽ vững vàng thành ủy viên chính thức và giữ vị trí quan trọng và "đi hết trọn vẹn cuộc đời với Đảng, không thể đi giữa chừng rồi bật ra ngoài".

Đấu tranh chống luận điệu “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ của chúng ta. Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Đòn đánh nham hiểm nhằm làm suy yếu quân đội từ gốc Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”. Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị. Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ. Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!). Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Giữ vững mạch sống, “linh hồn” của Quân đội nhân dân Việt Nam Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ. Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”. Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”. Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN. Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị. Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra. Công khai bản chất giai cấp công nhân của LLVT cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Bolshevik Nga (Đảng Cộng sản Liên xô). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”. Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”; do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”. Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”. Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị. QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, vì "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Tính nhân đạo, nhân văn của đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực

Có thể thấy, nguyên nhân của lối suy diễn tiêu cực nêu trên trước hết là do nhận thức của một số cá nhân chưa đúng, bị tác động bởi những luận điệu sai trái do các thế lực thù địch và phần tử phản động rêu rao, xuyên tạc. Những biểu hiện này không phải đến bây giờ mới diễn ra mà nó tồn tại âm ỉ, là một mặt trái của đời sống xã hội, khi có tình huống tác động lại bùng lên cục bộ. Chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh lâu dài, cam go, phức tạp. Trong xã hội có giai cấp, không một quốc gia, dân tộc nào có thể triệt tiêu hoàn toàn tham nhũng. Vai trò của đảng cầm quyền và hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật chỉ có thể ngăn chặn, xử lý, hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi tham nhũng.

Ở nước ta, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chính là để làm trong sạch bộ máy, để hệ thống chính trị phục vụ ngày một tốt hơn quyền và lợi ích của nhân dân. Chính vì vậy, việc điều tra, xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, không có mục đích nào khác ngoài việc để cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị xứng đáng hơn với niềm tin và sự phó thác của nhân dân.

Với bản chất nhân đạo, nhân văn xã hội chủ nghĩa, việc kiểm tra, điều tra, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực là để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn, với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần phát biểu, khẳng định, kỷ luật, xử lý đồng chí, đồng đội của mình là rất day dứt, đau xót, nhưng đó là việc phải làm, không thể khác được. Phải làm nghiêm, làm mạnh để ai cũng phải có ý thức giữ mình trong sạch, ai đã trót “nhúng chàm” thì phải tự gột rửa để xứng đáng hơn với niềm tin, sự gửi gắm của nhân dân.

Như vậy, để Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh thì việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị phải làm thường xuyên, kiên trì, kiên quyết. Việc nhiều cán bộ cấp cao, đứng đầu một số bộ, ngành, địa phương... suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham ô, tham nhũng bị điều tra, xử lý là một tổn thất, một nỗi đau của Đảng, nhưng để cơ thể khỏe mạnh, không thể không “phẫu thuật” cắt bỏ những “khối u”, những “tế bào” độc hại...

Thời kháng chiến chống thực dân Pháp, ở Thủ đô kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải trắng đêm trăn trở, dằn vặt, day dứt trước khi quyết định xử tử Trần Dụ Châu vì tội biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến. Dù rất đau đớn, nhưng Người đã bác đơn xin ân giảm án tử hình của Trần Dụ Châu. Người nói: “Nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo”. Vụ án chống tham nhũng điển hình xảy ra cách đây hơn 70 năm, đến nay vẫn vẹn nguyên tính thời sự. Quan điểm nhân văn, nhân đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi xử lý cán bộ tham nhũng, tiêu cực là sự thể hiện vừa bao quát vừa cụ thể tính nhân văn xã hội chủ nghĩa, tất cả đều vì tiền đồ của đất nước, vì cuộc sống của nhân dân.

Với tinh thần “Chống dịch như chống giặc”, nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua thực sự là một cuộc chiến của toàn Đảng, toàn dân. Lôi ra được những “con sâu” trong bộ máy công quyền, lợi dụng dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch để trục lợi là sự cố gắng nỗ lực, vào cuộc quyết liệt của các cơ quan, lực lượng chức năng, thể hiện tinh thần, ý chí đấu tranh của Đảng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ...

Là cán bộ, đảng viên, chúng ta không vui sướng, hả hê khi đồng chí, đồng đội mình suy thoái, biến chất, nhưng cũng không thể thờ ơ, bàng quan, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; càng không thể chỉ thấy hiện tượng mà quên bản chất, dẫn đến nảy sinh tư tưởng sợ sai, sợ trách nhiệm... Để thúc đẩy phát triển, phải gắn chặt giữa đoàn kết và đấu tranh, giữa xây và chống với tinh thần lấy xây để chống. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, khi Đảng, Nhà nước ta ngày càng siết chặt kỷ luật, kỷ cương, những thành phần “sâu mọt” trong nội bộ tổ chức đảng và hệ thống chính trị sẽ tiếp tục được lôi ra ánh sáng công lý.

Với nhận thức, bản lĩnh của cán bộ, đảng viên, chúng ta phải đi sâu vào bản chất, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, quyền lợi của nhân dân lên trên hết để thấy rõ tính nhân đạo, nhân văn của Đảng. Những luận điệu cho rằng, Đảng, Nhà nước “thanh trừng nội bộ”, “tranh giành quyền lực”, “đấu đá phe cánh”... thực chất là những luận điệu phản động, hại dân, hại nước. Cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức trong hệ thống chính trị cần nêu cao bản lĩnh, nhận thức thấu đáo bản chất vấn đề để củng cố trận địa tư tưởng chính trị, trau dồi phẩm chất đạo đức, xây dựng và tăng cường lòng tin trong nhân dân đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Chấn chỉnh nhận thức lệch lạc, suy diễn tiêu cực

Ở nước ta, tham nhũng được xác định là một trong những nguy cơ hàng đầu đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Chính vì vậy, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân. Mục tiêu của cuộc đấu tranh lâu dài, cam go, phức tạp này là vì nhân dân...

Sở dĩ phải nhắc lại, nhấn mạnh những vấn đề nguyên tắc có ý nghĩa căn bản trên đây là bởi, trong dư luận xã hội (trong đó có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên) đã và đang nảy sinh những nhận thức lệch lạc về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay. Trong những ngày qua, sau khi cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long; cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh và cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Công Tạc bị khởi tố, bắt tạm giam, dư luận xã hội xuất hiện những thông tin mang tính võ đoán, suy diễn cực đoan, tiêu cực.

Trên không gian mạng, những đối tượng có tư tưởng thù địch, chống đối đã suy diễn rằng, cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay thực chất là “cuộc thanh trừng nội bộ”, là “các phe phái trong Đảng đấu đá lẫn nhau”... Những cụm từ như “bê bối”, “đụng đến đâu sai đến đó”, “tham nhũng cả hệ thống”, “càng chống, tham nhũng càng nhiều”... được họ sử dụng để chứng minh cho kiểu suy diễn sai lệch, tiêu cực nói trên.

Vấn đề này được nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt có tư tưởng thù địch ở hải ngoại tập trung khai thác, làm căn cứ để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, chống phá đất nước với quy mô, cường độ ngày càng tăng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức... nảy sinh tư tưởng làm việc cầm chừng, sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám đột phá, sáng tạo... Những biểu hiện tư tưởng, luồng thông tin tiêu cực ấy ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường văn hóa, trận địa tư tưởng chính trị trong Đảng, nhất là tổ chức đảng các cấp ở những bộ, ngành, địa phương... có cán bộ chủ chốt tham nhũng, tiêu cực vừa bị bắt tạm giam.

Cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị giống như là những “đầu tàu”. Khi “đầu tàu” gặp trục trặc, bị hỏng hóc phải thay thế, tất yếu sẽ có ảnh hưởng nhất định đến cả hệ thống. Những dao động, xáo trộn về tâm lý, tình cảm... trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức của hệ thống ấy là trạng thái tâm lý bình thường. Tuy nhiên, nếu để nó diễn biến theo chiều hướng cực đoan, tiêu cực, làm nảy sinh tư tưởng chán nản, bi quan, thậm chí là bất mãn, có những phát ngôn thiếu tinh thần xây dựng, để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước... thì đó là điều không thể chấp nhận. Trong cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị, những biểu hiện đó cũng chính là mầm mống của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm, cần được chấn chỉnh, khắc phục kịp thời.

Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam

 


Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:

Cần tiếp tục nêu cao tính đảng trong thông tin báo chí

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định, phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Trong xây dựng Đảng, vấn đề căn cốt là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước, chống lạm dụng quyền lực, bởi lạm dụng quyền lực thì sẽ tha hóa quyền lực và dẫn đến tha hóa chế độ xã hội. Vậy nên, nêu cao tính đảng của báo chí trước hết là trách nhiệm chính trị của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Tất cả bộ máy trong hệ thống chính trị không được ngăn cản báo chí thực hiện vai trò giám sát xã hội, trong thực hiện chính sách công, trong thực thi công vụ và trong đấu tranh chống lợi ích nhóm dưới mọi hình thức. Mọi biểu hiện coi nhẹ, buông lỏng hoặc ngăn chặn vấn đề này, đều là suy giảm tính đảng của báo chí cách mạng.

Mặt khác, đội ngũ nhà báo cách mạng, trước hết là người đứng đầu cơ quan báo chí, cần không ngừng học hỏi nâng cao trình độ và giác ngộ chính trị, cập nhật kiến thức và kỹ năng làm nghề, kỹ năng quản trị cơ quan báo chí trong tình hình mới. Cùng với đó, cần quan tâm đào tạo, phát triển và có chính sách thích đáng cho đội ngũ nhà báo chính luận, để họ đủ năng lực và chuyên tâm viết những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự trên các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội. Thực tế cho thấy, luồng báo chí thông tin sự kiện trên báo chí chúng ta cập nhật khá tốt, nhưng luồng những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự góp phần đấu tranh tư tưởng, hướng dẫn dư luận xã hội cần phải nhanh nhạy, sắc bén, kịp thời, thuyết phục hơn nữa.

Khi có chính sách phù hợp, chúng ta sẽ có được đội ngũ nhà báo chính luận ngang tầm, góp phần tiếp tục nêu cao tính đảng hơn nữa của báo chí và qua đó góp phần xây dựng nền báo chí Việt Nam cách mạng, hiện đại, chuyên nghiệp và nhân văn.

Một số biểu hiện cơ bản của tính đảng trong thông tin báo chí

Trước hết, về nội dung, yêu cầu của tính đảng trong hoạt động báo chí, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều văn bản đề cập, tựu trung lại có mấy vấn đề quan trọng: Một là, tuyên truyền, giáo dục lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hai là, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước. Ba là, tuyên truyền, giáo dục tinh thần đại đoàn kết dân tộc và đấu tranh bảo vệ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bốn là, đấu tranh chống những biểu hiện bảo thủ, lạc hậu, những thói hư tật xấu trong cộng đồng, những rào cản văn hóa trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Trong bất kỳ thể chế xã hội nào, báo chí dù trực tiếp hay gián tiếp, là phương tiện và phương thức đi đầu trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng; do đó, báo chí trong môi trường truyền thông số luôn phải thể hiện là phương tiện và phương thức siêu kết nối công chúng-xã hội, tức là tận dụng khả năng siêu kết nối của nền tảng số để kết nối nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của nhân dân vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích cộng đồng. Đó là quá trình báo chí, truyền thông đại chúng tham gia can thiệp xã hội, tức là tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội đã và đang đặt ra. Trong quá trình này, lợi ích chính trị của Đảng, Nhà nước luôn được thể hiện như sợi chỉ đỏ, có tính nguyên tắc. Sức mạnh chính trị, lợi ích chính trị của Đảng, trước hết thể hiện ở niềm tin chính trị của nhân dân. Do đó, báo chí cách mạng cần phải đề cao trách nhiệm chính trị trong xây dựng, kết nối niềm tin từ công chúng và nhân dân. Đảng, Nhà nước đã nêu rõ quan điểm xây dựng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Chủ tịch Quốc hội gặp gỡ cộng đồng doanh nhân người Việt tại châu Âu

 

 

Chủ tịch Quốc hội vui mừng khi cộng đồng người Việt tại nước ngoài ngày càng đông đảo, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân ngày càng lớn mạnh với 5,3 triệu người tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Tính đảng trong thông tin báo chí là hiển nhiên

Trong giao tiếp hằng ngày, khi chúng ta nghe lại câu chuyện từ ai đó, thì người kể câu chuyện đều có thái độ rõ ràng, khen hay chê, đồng tình hay phản đối, cho dù thái độ ấy có thể không bộc lộ trực tiếp, nhưng các chi tiết câu chuyện thì bộc lộ rõ ràng chủ định của người kể. Nhà văn sáng tạo tác phẩm cũng vậy, hình tượng nhân vật cùng hệ thống chi tiết trong tác phẩm biểu hiện thái độ, quan điểm của tác giả. Nhưng trong văn học lại có chuyện, khi nhân vật-hình tượng nghệ thuật đã “trưởng thành” thì có thể tự “phát tác” mà nhà văn khó "quản trị" được. Còn trong sáng tạo tác phẩm báo chí, toàn bộ chi tiết, số liệu, nhân vật, kể cả ngôn từ, giọng điệu... đều được nhà báo “quản trị” chặt chẽ. Cái đó người ta gọi là tính khuynh hướng. Tính khuynh hướng hình thành một cách tự nhiên trong phản ánh cuộc sống, trong thông tin thực tế về những gì đã và đang diễn ra.

Trong báo chí, phản ánh thực tế bao giờ cũng có những thuộc tính vốn có của nó. Đó là, phản ánh cái khách quan và phản ánh luôn mang tính mục đích, vì lợi ích nào đó; và tất nhiên là người phản ánh, đưa ra thông tin không thể làm hại đến lợi ích của bản thân mình. Phản ánh do đó có tính chọn lọc. Việc chọn lọc này vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và thể hiện năng lực của chủ thể sáng tạo, tức là “gói được” bức tranh hiện thực trong phạm vi phản ánh và làm nổi bật bản chất sự kiện, vấn đề thông tin.

Những thuộc tính vốn có này, xét cho cùng, cũng trả lời câu hỏi: Phản ánh, thông tin để làm gì, vì lợi ích của ai? Vậy nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các nhà báo, khi cầm bút, phải tự trả lời được mấy câu hỏi: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? Và cuối cùng mới viết như thế nào? Đây là những câu hỏi nằm lòng mà các nhà báo luôn ghi nhớ, bất kỳ anh ta làm việc ở cơ quan báo chí nào.

Bản chất hoạt động báo chí là hoạt động truyền thông đại chúng, hướng tới và phục vụ đông đảo công chúng, xã hội và vì lợi ích cộng đồng. Mỗi cộng đồng, xã hội đều do một giai cấp, một chính đảng thống trị/cầm quyền/lãnh đạo; sự vận động, phát triển xã hội ấy chịu sự chi phối quan điểm, chính sách của đảng cầm quyền. Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, quan điểm/chính sách thời ông D.Trump làm tổng thống khác với thời ông J.Biden làm tổng thống, thậm chí có chính sách bài trừ nhau, mặc dù đều là do giai cấp tư sản thống trị. Báo chí Hoa Kỳ, về cơ bản thông tin theo định hướng chính sách của đảng cầm quyền thông qua quyết sách của tổng thống.

Như vậy, báo chí ý thức tự giác được quá trình thông tin đứng trên lập trường của đảng phái nào, thông tin vì lợi ích giai cấp nào, cái đó người ta gọi là tính giai cấp của báo chí. Khi báo chí nhận thức được rằng, thông tin phục vụ lợi ích của đội tiền phong và đại biểu lợi ích trung thành của giai cấp, của chính đảng-đó gọi là tính đảng. Như vậy, tính đảng là sự biểu hiện tập trung nhất, đậm đặc nhất, tinh túy nhất của tính giai cấp. Đó là nhìn từ phương diện tư tưởng-chính trị.

Còn về lợi ích dân sinh, cần phải xem, lợi ích đó có đáp ứng nhu cầu lợi ích cơ bản, cấp bách của đông đảo nhân dân hay không. Vậy nên, dòng thông tin báo chí thể hiện sâu sắc tính đảng, nếu gắn chặt với tính nhân dân, tính dân tộc, thì báo chí sẽ quy tụ và thể hiện được sức mạnh thực tế. Lợi ích căn bản và cấp bách của nhóm xã hội lớn, được báo chí ủng hộ và bảo vệ, đồng thời báo chí sẽ khơi nguồn, hình thành dư luận xã hội.

Báo chí cách mạng Việt Nam thể hiện tính đảng, tính nhân dân sâu sắc

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Đảng là lực lượng cầm quyền, lãnh đạo toàn dân xây dựng, phát triển đất nước theo cương lĩnh, đường lối và chính sách được hoạch định. Do đó, báo chí thông tin, tuyên truyền cho toàn dân hiểu và thực hiện, để biến quan điểm, chính sách ấy thành hiện thực cuộc sống; đồng thời, báo chí đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng vì nó làm phương hại đến lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích của nhân dân, đất nước.

Trên cơ sở nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam công khai thừa nhận tính đảng trong báo chí và đã thiết lập các quan điểm nền tảng cho báo chí hoạt động; đồng thời thiết kế một nền báo chí cách mạng mà cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của tổ chức trong hệ thống chính trị. Đó là quan điểm nhất quán và là nền tảng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay.

Báo chí cách mạng Việt Nam là một nền báo chí thể hiện rõ tính đảng, đồng thời mang đậm tính nhân dân, vì Đảng lấy lợi ích nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, phục vụ nhân dân, vì sự phát triển của dân tộc. Đó cũng là nền báo chí thấm đẫm tính nhân văn, vì quyền và lợi ích chính đáng của công dân, vì sự phát triển con người. Đó cũng là nền báo chí thể hiện đạo đức cao cả, vì hệ giá trị dân tộc và chuẩn mực đạo đức cộng đồng, vì lợi ích công.

Với nhận thức như thế, làm sao có thể phủ nhận tính đảng của báo chí? Mặc dù không ít quan điểm từ phương Tây cho rằng, báo chí của họ đứng ngoài chính trị, đứng trên giai cấp và không can thiệp vào cuộc đấu tranh tư tưởng, nhưng thực tế thì ngược lại. Thậm chí ở Hoa Kỳ, cơ quan báo chí hay hãng truyền thông nào “thân cận” với đảng phái nào thì định hướng thông tin theo và phục vụ lợi ích chính trị của đảng ấy. Trong cuốn “Một nền báo chí không có tự do của chúng ta-100 năm phê bình truyền thông”, các tác giả đã đấu tranh, chỉ trích nhau và từ đó bộc lộ rõ thêm bản chất nền báo chí Hoa Kỳ. Trong thực tế, rất dễ nhận biết, báo chí Hoa Kỳ và báo chí phương Tây nói chung, khuynh hướng chính trị rất rõ ràng, phục vụ đường lối chính trị của giai cấp thống trị rất quyết liệt. 

Chăm lo vun trồng, diệt trừ sâu bệnh

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, mở rộng cơ chế, tạo điều kiện để các nhà khoa học, đội ngũ trí thức tham gia ngày càng nhiều hơn, sâu hơn vào các hoạt động kinh tế-xã hội, giữ các cương vị chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp, nhất là ở các bộ, ngành. Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học... Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học”... Đảng ta chủ trương phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài.

Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức, trọng dụng nhân tài là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa, phát triển tư tưởng của tiên tổ, ông cha, lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên, củng cố sự bền vững của quốc gia... Với tinh thần lấy xây để chống, xây kết hợp với chống, muốn vun trồng cho nguyên khí hưng thịnh, bên cạnh các chính sách trọng dụng, đãi ngộ ngày càng cao, Đảng luôn coi trọng phòng, chống suy thoái, tiêu cực. Diệt trừ sâu bệnh là việc không thể thiếu trong quá trình vun trồng, chăm sóc cho nguyên khí quốc gia.

Với những nỗ lực và kết quả đạt được hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từ Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Đảng ta đã mở rộng phạm vi xây dựng, chỉnh đốn cả trong hệ thống chính trị. Cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực... Tại cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra ngày 27-4-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đưa thêm yếu tố tiêu cực vào chứ không phải chỉ có phòng, chống tham nhũng. Tiêu cực ở đây rất rộng nhưng chủ yếu là sự suy thoái về phẩm chất, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống...

Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay đã bám sát quan điểm chỉ đạo được nêu rõ trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đó là: Kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội...

Như vậy, việc đấu tranh để lôi ra những thành phần suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ trí thức và đảng viên trí thức là chủ trương được thể hiện rất rõ trong các nghị quyết của Đảng. Đây là cuộc đấu tranh nhằm làm trong sạch đội ngũ, để trí thức Việt Nam thực sự là đội ngũ vừa có đức, vừa có tài, là cách vun trồng cho nguyên khí thịnh. Những luận điệu suy diễn, lấy cớ nhiều trí thức bị khởi tố, bắt tạm giam do tham nhũng, tiêu cực rồi quy chụp, chỉ trích do Đảng lãnh đạo, cơ chế quản lý yếu kém là thủ đoạn đánh tráo khái niệm của các thế lực thù địch và các phần tử phản động. Trước các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, kích động kiểu “nội công ngoại kích” nhắm vào đội ngũ trí thức, nhằm làm phân hóa, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ trí thức và đảng viên trí thức, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, có biện pháp đấu tranh, phản bác. Chúng ta cần nhận thức đúng bản chất vấn đề để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sạch và củng cố vị thế, vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng đất nước hùng cường.

Khi trí thức suy thoái

Tính đến nay, cơ quan điều tra các cấp đã khởi tố hơn 70 bị can liên quan đến vụ nâng khống giá sinh phẩm xét nghiệm Covid-19 xảy ra tại Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á (Công ty Việt Á) và các đơn vị, địa phương liên quan.

Trong vụ án tham nhũng, tiêu cực liên quan đến Công ty Việt Á, y tế và khoa học công nghệ là những ngành bị thiệt hại nặng nề nhất về nguồn nhân lực khi có hàng loạt trí thức và đảng viên trí thức bị khởi tố, bắt tạm giam phục vụ công tác điều tra. Trong số đó, nhiều người có học hàm, học vị cao, có trình độ cao cấp lý luận chính trị; được phong tặng danh hiệu cao quý; giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt các cấp ở bộ, ngành, địa phương. Nghiên cứu quá trình học tập, công tác của những trí thức thuộc lớp tinh hoa này, dư luận xã hội không khỏi tiếc nuối. Tiếc là bởi, trước khi các hành vi tham nhũng, tiêu cực bị phát hiện, họ từng có quá trình học tập, công tác, cống hiến đáng ngưỡng mộ. Nhiều đề tài khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật của các cá nhân và nhóm tác giả có họ tham gia đều có tính ứng dụng, giá trị thực tiễn cao. Không ít người đang là “hạt giống đỏ”, nằm trong quy trình cơ cấu, bổ nhiệm các chức vụ cao hơn trong công tác cán bộ. Nếu biết giữ mình trong sạch, không sa ngã trước những cám dỗ vật chất, không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những trí thức ấy thực sự là tài sản quý góp phần làm nên nguyên khí quốc gia. Họ không chỉ đóng góp cho khoa học trên cương vị, chức trách được giao mà còn tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực kế cận và kế tiếp cho đất nước.

Cũng chính vì có cảm giác tiếc nuối ấy nên trong dư luận xã hội đã có không ít ý kiến nhận xét, đánh giá mang tính cực đoan, võ đoán, tiêu cực. Họ cho rằng, tham nhũng, tiêu cực là do cơ chế quản lý. Rằng, muốn chống tham nhũng, tiêu cực thì phải thay đổi từ gốc, tức là từ cơ chế quản lý của Nhà nước, từ chủ trương, đường lối của Đảng. Nếu chỉ chống bằng điều tra, bắt bớ, thì “tra đâu sai đó”, “khui đâu dính đó”... Thậm chí, một số người nhân danh “đấu tranh phản biện” còn cho rằng, trí thức Việt Nam đang vào thời kỳ “mạt vận”, rằng nếu cứ bắt nhiều như thế, đất nước sẽ rất khó thu hút, giữ chân hiền tài...

Đảng ta rất coi trọng vai trò của đội ngũ trí thức, coi hiền tài là nguyên khí quốc gia, xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức là một trong những quốc sách hàng đầu. Chính vì vậy, khi hàng loạt trí thức, trong đó có nhiều trí thức giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt vướng vào vòng lao lý, các phần tử cực đoan có tư tưởng chống đối đã nhân cơ hội “té nước theo mưa”. Những quan điểm cực đoan, sai trái từ một số đối tượng trong nước và đối tượng lưu vong ở nước ngoài đã được các thế lực thù địch tập trung khai thác. Họ lấy đó làm cái cớ để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền, công kích, chống phá Đảng và Nhà nước, đòi thay đổi thể chế chính trị, cổ xúy đa nguyên, đa đảng, kích động đội ngũ trí thức từ bỏ Đảng, quay lưng với lợi ích quốc gia-dân tộc...


Chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên của suy thoái

Danh sĩ Thân Nhân Trung từ thế kỷ 15 đã khái quát: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp...”. Bên cạnh đề cao vai trò của hiền tài, danh sĩ nổi tiếng thời hậu Lê cũng đã chỉ ra những nguy cơ, biểu hiện sa ngã, tiêu cực có thể khiến hiền tài trở thành tội đồ của đất nước. Ông viết: “... Trong số đó cũng có kẻ vì hối lộ mà hư hỏng, hoặc sa ngã vào cùng loại với bọn gian ác... Thảng hoặc chỉ tu sức văn vẻ bên ngoài, đức hạnh thiếu thốn bên trong, điều thấy không bằng điều nghe, việc làm trái với điều học, hạnh kiểm sa sút, danh giáo nhuốc nhơ...”.

Nêu một dẫn chứng như vậy để thấy, sự tha hóa đạo đức trong đội ngũ hiền tài không chỉ là mặt trái của xã hội thời nay mà nó đã tồn tại, diễn biến song song với sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội, các triều đại lịch sử. Bởi trí thức là tầng lớp được xã hội trọng vọng, nên nếu không giữ vững tư cách, phẩm chất, không thấy rõ bổn phận, trách nhiệm phụng sự quốc gia, phụng sự nhân dân thì rất dễ sa ngã. Và khi sa ngã là trí thức đã tự đẩy mình xuống “cùng loại với bọn gian ác”, “danh giáo nhuốc nhơ”... Nguyên nhân là bởi: “Chỉ tu sức văn vẻ bên ngoài, đức hạnh thiếu thốn bên trong, điều thấy không bằng điều nghe, việc làm trái với điều học...”.

Ngẫm thông điệp của ông cha, soi rọi trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay mới thấy, đó đều là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Sự suy thoái của trí thức và đảng viên trí thức cũng chính từ căn nguyên ấy mà ra. Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: "Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân".

Diệt máy bay địch bằng phương pháp mới

Cách đây 50 năm, kíp chiến đấu Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, Sư đoàn 361 (Quân chủng Phòng Không-Không quân) đã bắn rơi chiếc máy bay F-4 trên bầu trời Hà Nội.

Đây là chiếc máy bay thứ 3.700 của không quân Mỹ bị ta bắn rơi ở miền Bắc trong cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Có được chiến thắng này là nhờ sự dày công luyện tập của cán bộ, chiến sĩ, đồng thời mở phương pháp đánh mới "3 điểm có quang học chỉ chuẩn" (kết hợp bám sát của trắc thủ xe điều khiển với chỉ chuẩn của các trắc thủ quang học).

Ngày 16-4-1972, Mỹ sử dụng không quân đánh phá ác liệt miền Bắc, trong đó Hà Nội, Hải Phòng là những mục tiêu trọng điểm. Lực lượng phòng không của ta đã nêu cao cảnh giác, kịp thời đánh trả các đợt tập kích của địch, bảo vệ các mục tiêu được giao. Tuy nhiên, sau hơn 3 năm ngừng hoạt động, không quân Mỹ đã có những đổi mới về trang thiết bị gây nhiễu, vũ khí không đối đất và các thủ đoạn đánh phá, gây nhiều khó khăn cho lực lượng tên lửa phòng không của ta. Thực tế là sau hơn hai tháng chiến đấu, các đơn vị tên lửa bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng đánh nhiều trận nhưng chưa bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ. Tiểu đoàn 57 cũng đã đánh 4 trận nhưng kết quả chưa cao, đơn vị hoài nghi trình độ kíp chiến đấu, cấp trên thì đốc thúc, nhắc nhở phải tìm mọi biện pháp để tiêu diệt máy bay địch.

"Bắn rơi máy bay Mỹ tại chỗ, bắt sống giặc lái" trở thành tư tưởng chỉ đạo, hành động của các kíp chiến đấu lúc bấy giờ. Hằng ngày, đơn vị miệt mài luyện tập, nhận thông tin mới nhất về địch để các trắc thủ chủ động hiệp đồng, có biện pháp xử lý phù hợp. Một vấn đề nổi cộm lúc đó là cấp trên yêu cầu các đơn vị phải tập trung phát hiện tín hiệu máy bay địch trên nền nhiễu tạp để đánh bằng phương pháp "đón nửa góc"-phương pháp điều khiển có xác suất diệt máy bay cao nhất của tên lửa SAM-2 lúc bấy giờ. Tuy nhiên, thực tế ở Tiểu đoàn 57 không thực hiện được vì bộ khí tài đã cũ nên khả năng phát hiện mục tiêu trên nền nhiễu tạp rất khó khăn. Qua các trận đánh, kíp chiến đấu chỉ phát hiện được mục tiêu ở cự ly rất gần và không đủ điều kiện bắn.

Dân chủ bàn bạc, tham khảo các thông tin về địch, tranh thủ sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên, kết hợp quan sát thực tế trên màn hiện sóng và kính ngắm quang học, việc bám sát chia đôi dải nhiễu như trước đây không còn phù hợp và sẽ khó tiêu diệt được lũ "giặc trời". Trắc thủ hai góc phải bám sát dải nhiễu để đưa máy bay địch vào đúng tâm cánh sóng thì mới có thể bắn trúng mục tiêu. Phương án sử dụng trắc thủ quang học để chỉ chuẩn cho các trắc thủ tay quay xe điều khiển bám sát được thử nghiệm. Một trong những cải tiến đó là lắp thêm kính ngắm quang học PA-00 trên nóc ăng ten phương vị xe thu phát. Thiết bị này được thiết kế để khi hai trắc thủ quang học bám sát chính xác vào một máy bay thì trắc thủ góc tà và trắc thủ phương vị cũng bám sát ở trên màn hiện sóng có dải nhiễu tạp, với yêu cầu trục quang và trục điện của khí tài phải trùng nhau.

Kíp chiến đấu gồm sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên, trắc thủ góc tà Đỗ Văn Khay, trắc thủ cự ly Mè Văn Thi, trắc thủ phương vị Nguyễn Xuân Đài và hai trắc thủ quang học Đoàn Văn Xúc, Nguyễn Đình Thanh đã ngày đêm luyện tập, hiệp đồng chặt chẽ, phối hợp động tác, bám sát dải nhiễu vào đúng một chiếc trong tốp máy bay địch. Vấn đề quyết định cho việc đánh thắng mục tiêu gây nhiễu tạp là các trắc thủ quang học phải chỉ chuẩn cho trắc thủ góc tà của xe điều khiển vị trí đặt điểm ngắm trên nền dải nhiễu trùng với vị trí máy bay địch trong không gian. Ngoài ra, phải phối hợp với đài radar P-12 của tiểu đoàn xác định chính xác cự ly mục tiêu để chọn cự ly phóng đạn phù hợp.

Sau hơn hai tháng nghiên cứu, luyện tập, thực hành trên khí tài, 9 giờ ngày 27-6-1972, vận dụng phương pháp "3 điểm có quang học chỉ chuẩn", Tiểu đoàn 57 đã bắn rơi tại chỗ một máy bay F-4 trên bầu trời Hà Nội. Xác máy bay rơi xuống huyện Thanh Trì, 1 giặc lái tử trận, 1 tên nhảy dù xuống và bị bắt sống. Chiến thắng này tạo niềm tin cho đơn vị về phương pháp mới đánh trả lũ "giặc trời".

Được tin Tiểu đoàn 57 bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay thứ 3.700 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, đồng chí Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội đã ra tận trận địa chúc mừng cán bộ, chiến sĩ. Đại sứ quán Cuba ở Hà Nội cũng gửi lẵng hoa chúc mừng chiến công của đơn vị. Liên tục trong tháng 7-1972, bằng cách đánh trên, Tiểu đoàn 57 đã bắn rơi thêm 3 chiếc máy bay F-4 của địch. Đặc biệt, cuối năm 1972, Tiểu đoàn 57 đã lập công xuất sắc khi bắn rơi 4 máy bay B-52 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, góp công lớn vào Chiến thắng "Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không". 

Bí mật điều nghiên, đánh tan đồn địch

Để giữ thế hoạt động liên tục trên chiến trường, đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng ở địa phương phát triển, cuối tháng 4-1967, Liên đội Đặc công thuộc Sư đoàn 2 (Quân khu 5) được giao nhiệm vụ đánh diệt cứ điểm Nông Sơn, do Tiểu đoàn 2 (thiếu) thủy quân lục chiến Mỹ chiếm đóng.

Cứ điểm Nông Sơn nằm trên điểm cao 298 (huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam), với địa hình cao, dốc đứng, xung quanh nhiều đồi núi, cây cối rậm rạp. Tại đây, địch bố trí 1 đại đội bộ binh, 1 đại đội trợ chiến-hỏa lực, 1 trung đội pháo 155mm, 2 khẩu cối 106,7mm, 2 khẩu cối 81mm. Trong cứ điểm có 4 lô cốt, 3 nhà nổi, các dãy nhà âm và hệ thống giao thông hào, hàng rào, bãi mìn dày đặc.

Sau hai tháng kiên trì tiềm nhập, điều nghiên, nắm chắc lực lượng, phương tiện, thủ đoạn hoạt động của địch, Liên đội Đặc công tổ chức xây dựng thao trường mô phỏng giống căn cứ địch, xây dựng quyết tâm, xác định cách đánh và tích cực luyện tập, làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu. Đêm 3-7-1967, đơn vị nhận lệnh hành quân chiếm lĩnh trận địa, từng bước khắc phục vật cản, khi tổ thọc sâu đã áp sát sở chỉ huy địch, trên 4 hướng, ta bất ngờ nổ súng tấn công, tiêu diệt các mục tiêu theo kế hoạch.

Tuy nhiên, trên hướng thứ yếu, do bị địch chống trả quyết liệt, sau gần 10 phút chiến đấu, mũi 4 vẫn chưa vào được bên trong hàng rào. Trước tình hình đó, chỉ huy liên đội đã ra lệnh cho lực lượng dự bị cơ động dọc theo chiến hào, dùng súng phun lửa chế áp mạnh vào các hỏa điểm của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ phận phát triển chiến đấu. Hơn 23 giờ, theo hiệp đồng, các bộ phận nhanh chóng giải quyết thương binh, tử sĩ, thu chiến lợi phẩm, theo đường cũ rút ra ngoài. Quá trình hành quân, phát hiện địch từ các căn cứ xung quanh đang cơ động đến giải vây, tăng viện, các chiến sĩ nhanh chóng triển khai đội hình, chiếm địa hình có lợi, nổ súng diệt thêm hàng chục tên.

Trận này, Liên đội Đặc công tiêu diệt hơn 100 lính Mỹ, thu và phá hủy nhiều súng, pháo, khí tài, phương tiện chiến tranh, đánh tan ý định càn quét của địch vào vùng Bắc Đại Lộc (Quảng Nam) và các địa phương khác của ta.