Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng chủ động phòng, chống "tự chuyển hóa", "tự diễn biên"

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là quá trình diễn biến bên trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, theo hướng tiêu cực, từ tiến bộ sang lạc hậu. Nếu không ngăn chặn, khắc phục kịp thời có thể dẫn đến làm biến chất cán bộ, đảng viên, biến chất Đảng và chế độ xã hội, trượt sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Có nghĩa là bị mòn dần, xa dần những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội, rồi biến chất. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói: “Cứ bào mòn dần, mòn dần từng bước như thế rồi sẽ dẫn tới đâu? Nói “thoái hoá” là như thế, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là thế”. Điều đó biểu hiện:

Trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị diễn ra rất phức tạp, đa dạng, nhiều cấp độ, như: Phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động về lập trường, quan điểm chính trị, sa sút ý chí chiến đấu, mơ hồ, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; phủ nhận các giá trị truyền thống cách mạng, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; không thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, nói và làm trái với đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; vi phạm những điều quy định đảng viên không được làm; thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, can ngăn, thậm chí có cá nhân ý thức chính trị kém, bị các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo, phụ hoạ, cổ súy cho những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc, chống phá sự nghiệp cách mạng, gây tổn hại đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ta.

Trên lĩnh vực kinh tế là biểu hiện phủ nhận và làm thay đổi kinh tế xã hội chủ nghĩa bằng kinh tế tư bản chủ nghĩa, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tìm cách hạ thấp, làm mất vai trò quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa; đòi đẩy nhanh tư nhân hoá nền kinh tế, xoá bỏ chế độ công hữu tư liệu sản xuất, thay bằng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa...

Trên lĩnh vực văn hoá, xã hội, đạo đức, lối sống là biểu hiện sùng bái, chạy theo lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hoá, đạo đức truyền thống dân tộc, các giá trị xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc trắng trợn lịch sử, phủ nhận nền văn hoá; thương mại hoá các hoạt động văn hoá một cách thái quá, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, thói đạo đức giả, vị kỷ, xa hoa, trụy lạc,...

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là biểu hiện bóp méo, xuyên tạc thay đổi bản chất nền quốc phòng, thay đổi bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản; đánh đồng bản chất Quân đội nhân dân Việt Nam với bản chất quân đội tư sản...; chống phá về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh, thúc đẩy chuyển hoá lực lượng vũ trang, thực hiện “phi chính trị hoá” quân đội và công an; lợi dụng chính sách mở cửa, hợp tác, hội nhập để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” từ bên trong. Tuyên truyền xuyên tạc các vấn đề nội bộ của quốc gia, hướng dư luận quốc tế ủng hộ cho mục đích can dự lật đổ từ bên ngoài của các thế lực thù địch.

Thời gian gần đây các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài móc nối với các đối tượng phản động trong nước tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chúng đã lập hàng nghìn trang web, blog, trang Facebook, Fanpage, Youtube, hàng trăm cơ quan báo chí, nhà xuất bản và các đài phát thanh, truyền hình có trụ sở, máy chủ ở nước ngoài để xuyên tạc, vu khống tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước, nhằm tạo sự hoài nghi, gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải luôn tỉnh táo, cảnh giác, nhận diện đúng và chủ động đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn, loại bỏ, nếu không chính mỗi cá nhân chúng ta có thể bị dính vào "bẫy" thông tin xấu, độc của kẻ thù khi nào không biết, dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống...

 Do đó, để kịp thời ngăn chặn, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có hiệu quả, cấp ủy đảng các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau: Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về lập trường, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kịp thời thông tin, tuyên truyền cung cấp thông tin chính thống, định hướng nhận thức đúng đắn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về những vấn đề được dư luận quan tâm, không để các thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động, chống phá. Đồng thời, luôn giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất vững chắc trong  cấp ủy cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh những sai phạm theo quy định của pháp luật, đặc biệt là các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.

Bên cạnh đó, không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng gắn với giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, do đó cấp uỷ, tổ chức đảng phải tiếp đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ theo hướng đổi mới, lựa chọn, xác định nội dung trọng tâm để sinh hoạt định kỳ, đột xuất, tránh chung chung, qua loa, đại khái. Trong sinh hoạt đảng, cấp uỷ cần định hướng chi bộ nhấn mạnh, đi sâu thảo luận, làm rõ, giải quyết dứt điểm, thấu đáo có lý, có tình những vấn đề về tư tưởng, đạo đức có thể phát sinh trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đơn vị, địa phương cũng như trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm của cán bộ, đảng viên. Mặt khác, cấp uỷ, người đứng đầu cấp uỷ cần tăng cường kiểm tra, giám sát hoặc trực tiếp chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng. Mức độ tuân thủ và chấp hành tốt các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, ý thức tổ chức, kỷ luật, các quy chế, quy định của Đảng, của cấp uỷ, chi bộ là tiêu chí quan trọng để đánh giá lập trường, quan điểm, tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên. Đây là biện pháp rất quan trong trong việc chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.


Đấu tranh chống tư tưởng, quan điểm lợi dụng phản biện đề phản bội, chống phá

Phản biện xã hội là kênh quan trọng giúp đường lối, chủ trương, chính sách ban hành được đúng đắn và đi nhanh vào cuộc sống. Thế nhưng, cũng có không ít người đã lợi dụng phản biện để tạo mâu thuẫn, gây rối, thậm chí chuyển thành phản bội đồng chí, đồng đội; phản bội Tổ quốc; phản bội nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc kiểm soát quyền lực, “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế” là hết sức cần thiết. Để giám sát và kiểm soát quyền lực, Đảng ta luôn tạo thuận lợi nhất để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và người dân giám sát, phản biện xã hội. Pháp luật Việt Nam cũng tạo những cơ sở pháp lý quan trọng để mọi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia phản biện xã hội trước những quyết sách quan trọng của quốc gia. Tất cả các đạo luật trước khi được Quốc hội thông qua đều được đưa ra công khai xin ý kiến đóng góp, phản biện của nhân dân.

Thực tế thời gian qua, đa số các ý kiến phản biện của đảng viên và nhân dân đã được Đảng, Nhà nước trân trọng tiếp thu. Tuy nhiên, vẫn còn có những ý kiến phản biện không mang tính chất xây dựng mà là suy diễn, quy chụp, lợi dụng phản biện để xuyên tạc, bôi nhọ đồng chí, đồng đội; nói xấu Đảng, Nhà nước.


Nguy hiểm hơn, một số đối tượng vì tư lợi hẹp hòi, động cơ chính trị lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để gieo rắc thù hận và chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa phản biện, các cá nhân đã đưa lên báo chí hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường cho cá nhân, tập thể, địa phương.

Đặc biệt, gần đây đã xuất hiện tình trạng một số người lợi dụng danh nghĩa phản biện xã hội để châm chọc, đả kích đường lối, chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn của Đảng, Nhà nước. Có cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất lợi dụng việc phản biện để đưa lên mạng xã hội những thông tin lệch lạc, trái với quan điểm của Đảng, Nhà nước. Từ phản biện chuyển thành phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân là vấn đề đáng báo động.

Để ngăn chặn tình trạng phản biện chuyển hóa thành phản bội, trước hết, các cơ quan, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục. Cần công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị mình, nhất là về những chủ trương, chính sách trong giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân. Không nên để những thông tin giả, tin đồn thất thiệt lan truyền và hoành hành trong cộng đồng rồi mới tìm cách khắc phục theo kiểu “chạy theo”.

Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra thông tin tuyên truyền chống phá, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, giúp người dân tránh trở thành “con rối”, tiếp tay cho kẻ xấu trục lợi, thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.  

Đã đến lúc phải xây dựng cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện phản biện xã hội một cách đúng đắn. Phản biện xã hội là điều bắt buộc phải thực hiện một cách nghiêm túc, công khai đối với các dự án pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm cao và tinh thần khoa học, để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển của đất nước.

Mang danh phản biện xã hội để đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận được. Vì vậy, rất cần có chế tài xử lý nghiêm việc lợi dụng phản biện để gây rối xã hội, phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân. 

Chống thói bao biện, ngụy biện

 Gần đây, hiện tượng bao biện, ngụy biện ở không ít cán bộ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý có nguy cơ trở thành bệnh “thâm căn cố đế”, là vấn đề gây bàn tán nhiều trong xã hội. Mặc dù hiện tượng “vụng chèo khéo chống” ấy bị dư luận phê phán, lên án song nó cứ tái đi tái lại, được nhiều cán bộ có chức quyền từ cơ quan, đơn vị cấp cơ sở đến các cấp cao hơn lấy làm “chỗ dựa” để giải thích, thanh minh cho hành vi vi phạm, sai phạm.

Bao biện, ngụy biện vốn được hiểu là việc một ai đó cố tình đưa ra các căn cứ thiếu khách quan, trái quy luật logic để giải thích, phân tích, biện minh, bao che động cơ, mục đích, kết quả thực hiện một việc nào đó từ sai thành đúng hoặc từ đúng thành sai. Bản chất của bao biện, ngụy biện chính là đánh lạc hướng, nhằm làm cho người nghe, người đọc hiểu sai, tin theo.

Thói bao biện, ngụy biện xuất hiện ở đâu cũng nguy hại, nhưng nếu xuất hiện trong bộ máy lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan công quyền thì gây hậu quả khôn lường. Nó không chỉ che đậy việc làm thất thoát ngân sách mà còn khiến sự sáng tạo, cái đúng, sự trung thực trong tổ chức bị thui chột. Nó là nguyên nhân cho giả dối, đạo đức giả tồn tại. Nguy hiểm hơn, nó là một trong những căn nguyên thúc đẩy hiện tượng phe nhóm, “cánh hẩu” có đất sống; khiến mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân dần xa cách. Nó chính là một biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra.

Gần đây, trước thông tin Xí nghiệp Dịch vụ công cộng thuộc Công ty Dịch vụ công ích thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh lỗ 8 tỷ đồng thu phí giữ xe năm 2021 thì một lãnh đạo của đơn vị này đã trả lời báo chí rằng: “Chúng tôi không đặt nặng “lời - lỗ” mà mục đích chính là giúp giao thông ở khu trung tâm thông thoáng, trật tự”... Dư luận không đồng tình vì đó là cách nói bao biện, ngụy biện cho việc quản lý tài chính yếu kém hoặc nhằm một mục đích nào đó sâu xa hơn.

Hiện tượng bao biện, ngụy biện rõ nhất là ở đại án liên quan đến Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á. Trước khi bị bắt, rất nhiều lãnh đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) các địa phương hùng hồn tuyên bố với báo chí là “không nhận đồng nào từ Việt Á”. Điển hình là các bị can: Giám đốc CDC tỉnh Hậu Giang Nguyễn Văn Lành; Giám đốc CDC Nghệ An Nguyễn Văn Định; Giám đốc CDC Nam Định Đỗ Đức Lưu; Giám đốc CDC Thừa Thiên Huế Hoàng Văn Đức…

Nực cười hơn cả là hiện tượng bao biện, ngụy biện của các nguyên cán bộ lãnh đạo cao cấp trước tòa. Điển hình là trường hợp nguyên Phó Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Trần Vĩnh Tuyến. Dù đã nhận sai vì ký quyết định chuyển nhượng dự án không thông qua đấu giá, làm thiệt hại cho Nhà nước hơn 672 tỷ đồng, nhưng trước tòa bị cáo Tuyến vẫn ra sức ngụy biện “chỉ là người ký thay” và “vì cả nể mà ký” chứ không phải là tham ô. Trơ trẽn nhất là trường hợp bị cáo Nguyễn Minh Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần VN Pharma. Bị cáo này thản nhiên biện bạch cho hành vi nhập khẩu hàng nghìn lọ thuốc chống ung thư giả trước tòa, rằng: “Nhập khẩu thuốc chống ung thư giả là điều... bình thường!”…

Tình trạng bao biện, ngụy biện mà dư luận biết qua báo chí, truyền thông mới chỉ là phần nhỏ. Thực tế, hiện tượng bao biện, ngụy biện xuất hiện khá nhiều trong các cuộc họp, hội nghị mà báo chí không được tham dự. Trước những vấn đề lãnh đạo, quản lý yếu kém, hiệu quả thấp, nhiều cán bộ đã đổ lỗi cho mặt trái kinh tế thị trường, do cơ chế chồng chéo và các nguyên nhân khách quan khác. Bao biện, ngụy biện nguy hại là thế, nhưng ít cơ quan, đơn vị nào áp dụng các biện pháp mạnh để chữa trị.

Muốn phát hiện bao biện, ngụy biện thì cần căn cứ vào mục đích hành vi, việc làm. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn khẳng định mọi chủ trương, đường lối đều “do dân và vì lợi ích của nhân dân”. Quán triệt chủ trương này, nhiều nhiệm kỳ qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhiều địa phương đã rất nỗ lực cụ thể hóa thành hiện thực, thông qua các giải pháp hướng đến tạo việc làm, nâng cao dân trí, cải thiện sức khỏe, tăng thu nhập và tăng hưởng thụ phúc lợi xã hội cho nhân dân. Thế nên, những hiện tượng bao biện, ngụy biện để đặc quyền, làm giàu cho “nhóm lợi ích” mang nặng chủ nghĩa cá nhân hoặc che chắn những yếu kém từ lãnh đạo, quản lý phải được soi chiếu bởi mục tiêu, mục đích “do dân, vì dân”. Muốn trị dứt điểm căn bệnh bao biện, ngụy biện cần nhiều giải pháp, điển hình là mở rộng dân chủ để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thực chất và có kết quả. Tai mắt của nhân dân sẽ giúp Đảng, Nhà nước nhìn thấu và loại bỏ những cán bộ mang “hai bộ mặt”, “đỏ vỏ, xanh lòng”.

Ở tầm vĩ mô, cần làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ công tâm, thực chất, theo nguyên tắc “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, qua đó để lựa chọn được nhiều cán bộ tiên phong, nòng cốt về tinh thần cống hiến. Ngoài ra, cần thường xuyên bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, tăng thời gian thử thách cán bộ ở nơi khó khăn, phức tạp; tổ chức luân chuyển cán bộ thường xuyên thay vì theo quy hoạch và nhiệm kỳ như hiện nay. Đồng thời, thường xuyên kiểm tra, đánh giá chất lượng cán bộ thông qua kết quả thực tiễn thay vì những bài thi nặng về lý thuyết như nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương đang áp dụng hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong. Thực tế chứng minh quan điểm đó là hoàn toàn đúng đắn. Khi đã có cán bộ tốt thì rõ ràng sẽ không có hiện tượng bao biện, ngụy biện và chắc chắn rằng những yếu kém trong lãnh đạo, quản lý sẽ được phát hiện, khắc phục.        

 TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN GIẢI QUYẾT NẠN HOA KIỀU 

Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, khoảng 4% dân số Việt Nam là người gốc Hoa, trong đó có hơn 1,5 triệu Hoa kiều sinh sống chủ yếu ở khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn, và chỉ có khoảng 300.000 người Việt gốc Hoa sống ở miền Bắc. Ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường miền Nam Việt Nam.

Vấn đề về người Hoa càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong vùng Chợ Lớn, Với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng uy thế kinh tế của Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình, vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản. Năm 1977, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc.

Năm 1978, người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo lắng về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài và coi người Hoa kiều là một tổ chức bí mật hoạt động ở Việt Nam và sẵn sàng tiếp tay với Trung Quốc để phá hoại. Để chấm dứt tình trạng này, Tổng bí thư Lê Duẩn đưa ra biện pháp cứng rắn là quốc hữu hóa tài sản của người Hoa. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của đa số tư sản Hoa kiều bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Đến năm 1982, người Hoa ở Việt Nam đã lũ lượt rời bỏ Việt Nam vượt biên qua đường biển, đường bộ để đến nước thứ ba.

Đến năm 1989, số người gốc Hoa tại Việt Nam đã giảm từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000. Người gốc Hoa không còn kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và các phong tục, ngôn ngữ gốc Hoa của họ đã mất đi phần lớn. Việt Nam là một ngoại lệ hiếm hoi so với những nước Đông Nam Á khác: người gốc Hoa đã gần như bị đồng hóa bởi người Việt Nam, họ cũng không còn gắn kết thành một cộng đồng tự trị như trước. Mặc dù đám đông người Việt có thể phản đối hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng không ai nghĩ đến việc trả thù gia đình thương gia gốc Hoa (trong khi ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa có sức ảnh hưởng rất mạnh: vào cuối thế kỷ 20, người gốc Hoa sở hữu hơn 80% thị trường chứng khoán Thái Lan, 62% ở Malaysia, 50% ở Philippines, trên 70% tổng số tài sản công ty tại Indonesia, và các nước sở tại đều không thể đồng hóa được họ Ở Thái Lan thì người gốc Hoa thậm chí còn chiếm một tỉ lệ đáng kể trong Chính phủ.

 

 VẠCH TRẦN TRÒ 'CHẠY TỘI' CHO TRUNG QUỐC Ở BIỂN ĐÔNG 

 

Báo chí chính thống và chuyên gia “thân” Trung Quốc lại tiếp tục đăng tải các bài viết để “chạy tội” cho các hành vi của nước này ở Biển Đông.

Mới đây, tờ South China Morning Post đã đăng bài viết của TS Mark J.Valencia, người đang làm việc cho Viện Nghiên cứu quốc gia của Trung Quốc về Biển Đông, với tựa đề What is driving China’s “assertiveness” in the South China Sea? (tạm dịch: Điều gì khiến Trung Quốc “quyết đoán” ở Biển Đông).

Đổ lỗi

Bài viết có nội dung phản biện lại báo cáo của một cơ quan nghiên cứu chính sách từ Mỹ về tình hình Biển Đông. Bỏ qua các ý kiến phản biện về báo cáo vừa nêu, bài viết của TS Valencia hướng đến việc giải thích những hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông chủ yếu dựa trên những bài học lịch sử và nước này cần đảm bảo khả năng phòng vệ trước các mối nguy - cụ thể là từ Mỹ, do cuộc cạnh tranh quyền lực giữa Washington và Bắc Kinh trong khu vực.

Cụ thể, tác giả cho rằng: “Đối với Trung Quốc, từ lịch sử thì Biển Đông có thể là khu vực dễ bị tiếp cận bởi các nước phương Tây, vốn tìm cách kiểm soát và đô hộ Trung Quốc”. Chính vì thế, theo tác giả, Bắc Kinh đang tăng cường năng lực thu thập thông tin, giám sát và do thám (ISR) nhằm mục tiêu vừa nêu, đảm bảo nguy cơ phương Tây “tấn công phủ đầu”. Các ngụy biện này nhằm cho rằng tại Biển Đông, Trung Quốc chỉ đang “phòng thủ” các nguy cơ từ phương Tây.

Đây không phải là lần đầu tiên TS Valencia có những bài viết “định hướng” trách nhiệm cho căng thẳng ở Biển Đông. Thực tế, Thanh Niên từng nhiều lần phản ảnh về các bài viết của vị “chuyên gia quốc tế” này.

Cụ thể, vào tháng 5.2021, ông Valencia có 2 bài viết liên quan vấn đề Biển Đông đăng trên các báo Asia Times và South China Morning Post lần lượt là “South China Sea: Muddying the waters” (tạm dịch: Biển Đông giữa các hành động gây bất ổn), và “US-China race for surveillance supremacy in South China Sea risks a needless clash” (tạm dịch: Cuộc chạy đua Mỹ - Trung về năng lực giám sát Biển Đông có nguy cơ dẫn đến đụng độ không cần thiết). Trước đó, vào tháng 3.2021, ông Valencia đăng bài trên tờ South China Morning Post có tựa “With its support for US strategy, France is playing with fire in the South China Sea” (tạm dịch: Hỗ trợ cho chiến lược của Mỹ, Pháp đang “đùa với lửa” ở Biển Đông). Hay ngày 1.1.2021, ông Valencia viết bài “US and its allies must be wary of provoking South China Sea conflict over freedom of navigation” (tạm dịch: Mỹ và đồng minh cần thận trọng việc kích động xung đột trên Biển Đông về tự do hàng hải) trên tờ South China Morning Post, hay vào tháng 11.2020 có bài “What really drives the South China Sea conflict” (tạm dịch: Nguyên nhân nào dẫn đến nguy cơ xung đột ở Biển Đông) trên Asia Times.

 

Nội dung cơ bản của các bài viết trên vẫn là đổ lỗi rằng các hành động của phương Tây đã khiến Trung Quốc phải phản ứng ở Biển Đông, chứ không phải Trung Quốc chủ động gây căng thẳng.

Đến nói một đàng, làm một nẻo

Rõ ràng, cạnh tranh quyền lực Mỹ - Trung tại khu vực Thái Bình Dương là thực tế đang diễn ra. Tuy nhiên, hoàn toàn phi lý nếu giải thích các động thái của Trung Quốc ở Biển Đông chỉ mang tính chất “phòng vệ”. Cụ thể, từ năm 2016, các hình ảnh vệ tinh cho thấy Bắc Kinh đã xây dựng xong đường băng dài 3.000 m, nhà chứa máy bay cỡ lớn… ở bãi đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa. Cùng năm 2016, các hình ảnh khác cũng chỉ ra hiện trạng tương tự trên 2 bãi đá Xu Bi và Vành Khăn (quần đảo Trường Sa) mà Bắc Kinh chiếm đóng trái phép.

Sau khi hoàn thành các cơ sở hạ tầng, Trung Quốc lại tiến thêm một bước là điều động nhiều loại máy bay quân sự đến khu vực này, dù chưa rõ có đồn trú hay không. Đến năm 2018, ngoài dấu vết máy bay quân sự tại các bãi đá này, những loại vũ khí như hệ thống tên lửa đối hạm YJ-12B, tên lửa đối không HQ-9B cũng đã được triển khai đến các bãi đá ở Trường Sa, theo hình ảnh vệ tinh và phân tích được công bố bởi Sáng kiến Minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) có trụ sở tại Washington (Mỹ).

Thêm vào đó, trong suốt năm 2020 và 2021, Trung Quốc tự ban hành luật hải cảnh mới và luật thông báo an toàn hàng hải để tìm cách kiểm soát một cách phi pháp vùng biển này, nhằm đạt được sự kiểm soát tuyệt đối ở Biển Đông. Bởi Bắc Kinh tự trao quyền kiểm soát, sẵn sàng tấn công nhằm vào các tàu nước ngoài, bao gồm cả tàu cá của các nước trong khu vực. Ngay cả khi chưa có các quy định này, tàu hải cảnh Trung Quốc đã đâm chìm tàu cá Việt Nam đang đánh bắt hợp pháp ở vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa vào năm 2020.

Trong tháng 5 vừa qua, tờ Hoàn Cầu thời báo, trực thuộc Nhân dân nhật báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ngày 18.5 đăng bài xã luận “China, ASEAN push forward COC talks despite of US’ intervention” (tạm dịch: Trung Quốc, ASEAN thúc đẩy đàm phán COC bất chấp sự can thiệp của Mỹ; COC là viết tắt của Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông - NV).

Bài xã luận còn nêu: “Trung Quốc đã và đang nỗ lực không ngừng vì hòa bình và ổn định trong khu vực cũng như thúc đẩy các cuộc đàm phán COC”. Thế nhưng, đúng một ngày sau khi bài xã luận “hữu hảo” được đăng, Trung Quốc bắt đầu tập trận ở Biển Đông như đã thông tin ở trên. Từ đầu năm đến nay, Trung Quốc nhiều lần công bố các cuộc tập trận tại khu vực này.

Không những vậy, truyền thông Trung Quốc gần đây còn công bố nhiều thông tin đáng quan ngại ở Biển Đông như: Điều động chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình J-20 tuần tra; Nâng cao năng lực bay liên tục trong hàng chục tiếng đồng hồ cho phi công điều khiển máy bay tiêm kích; Mở rộng khả năng đổ bộ tấn công ở các đảo và thực thể tại Biển Đông bằng máy bay vận tải và tàu đổ bộ tấn công; Bắn thử tên lửa hành trình tấn công tàu chiến…

Các thực tế trên cho thấy hành động của Trung Quốc không phải là phòng vệ nguy cơ từ phương Tây. Hơn thế nữa, vào năm 2016, Tòa trọng tài quốc tế đã có phán quyết bác bỏ tuyên bố chủ quyền mà Trung Quốc đưa ra ở Biển Đông. Vì thế, mọi hành vi leo thang quân sự của Trung Quốc ở vùng biển này đều là phi pháp dù nhằm bất cứ lý do gì.

NHÂN NGÀY KHAI TRƯỜNG: NHẬN DIỆN ÂM MƯU XUYÊN TẠC NỀN GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM!

     Chủ trương, đường lối của Đảng. Ngay từ ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Đảng, Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
     Việt Nam đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa. Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý. Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo hàng năm đạt mức 20% tổng chi ngân sách nhà nước.
     Việt Nam được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đánh giá là nước có những thành tựu đáng kể về giáo dục, đào tạo so với nhiều nước có thu nhập tính theo đầu người tương đương. Đã hoàn thành mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) về phổ cập giáo dục tiểu học (năm 2000, nước ta đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010). Nhu cầu học tập của nhân dân được đáp ứng ngày càng tốt hơn; giáo dục nước ta đã đạt được một số kết quả quan trọng trong các mục tiêu chiến lược: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; chính sách xã hội về giáo dục đã được thực hiện tốt hơn và ngày càng có hiệu quả hơn; chất lượng giáo dục, đào tạo đã có chuyển biến tích cực; điều kiện đảm bảo cho phát triển giáo dục, đào tạo ngày được tăng cường.
     Chúng ta thừa nhận rằng, trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo của nước nhà, vẫn còn có hạn chế, bất cập cần phải khắc phục. Song những kết quả tích cực trong ngành giáo dục và đào tạo là không thể phủ nhận. Đồng thời, cũng là những bằng chứng đanh thép đập tan âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc nền giáo dục ở Việt Nam của các thế lực thù địch./.


Môi trường ST.

 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO THANH NIÊN VỪA "HỒNG" VỪA "CHUYÊN"

-----------------------

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ai cũng nhận rằng thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà và Đoàn Thanh niên Lao động là cánh tay đắc lực của Đảng”. Vì vậy, trước lúc đi xa, Người căn dặn trong Di chúc: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ trở thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Theo Hồ Chí Minh, nền giáo dục mới mà chúng ta xây dựng sẽ phải hướng đến mục tiêu đào tạo thanh niên thành những công dân có ích cho xã hội, phải làm cho người học phát triển hoàn toàn những năng lực có sẵn trong bản thân, Người tóm tắt đó là những người: vừa “hồng vừa “chuyên”. Trong Thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, Hồ Chí Minh viết: “Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”. Mục tiêu giáo dục mà Hồ Chí Minh xác định là: “Để giáo dục thanh niên ta rèn luyện một chí khí kiên quyết quật cường, một tâm lý quả cảm xung phong, tin tưởng vào tương lai của Tổ quốc, vào lực lượng của nhân dân, hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung của dân tộc, ra sức đấu tranh để củng cố hòa bình thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn nước Việt Nam ta”.

Từ việc đánh giá cao vị trí vai trò của thế hệ trẻ, đánh giá cao vai trò của công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, Hồ Chí Minh luôn đặt ra yêu cầu phải giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng thanh niên một cách toàn diện. Trong Thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31/8/1960, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”.

Thứ nhất, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Trong nhiều bài nói, bài viết và chỉ dẫn của mình, Người cho rằng, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên là giúp thanh niên trở thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người chủ tương lai của đất nước. Việc rèn luyện phẩm chất đạo đức phải luôn gắn bó chặt chẽ với năng lực. Tin tưởng vào thanh niên và đặt ra yêu cầu rất cao về phẩm chất, năng lực của thanh niên, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”. Vì vậy, hai mặt đức và tài, “hồng” và “chuyên”, phẩm chất và năng lực phải kết hợp chặt chẽ với nhau mới làm cho thanh niên kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân giao cho. Trong giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, Hồ Chí Minh luôn quan niệm đức và tài là hai nội dung không thể thiếu được, trong đó đức là gốc. Người xem đạo đức như ngọn nguồn của sông, như gốc của cây, như sức mạnh của con người: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Thứ hai, giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên. Trong giáo dục cho thanh niên, theo Hồ Chí Minh còn quan tâm đến nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng cho họ: “Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới”. Bởi theo Người: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”. Theo Hồ Chí Minh giáo dục lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho thanh niên là giáo dục sự nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, phấn đấu vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Người cho rằng, Đảng và Nhà nước phải quan tâm, chăm lo giáo dục thanh niên toàn diện: “Nhà nước chú trọng đặc biệt việc giáo dục thanh niên về đức dục, trí dục và thể dục”.

* Về phương thức giáo dục thanh niên

Thứ nhất, học đi đôi với hành, lý luận kết hợp với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, học phải đi đôi với hành, học để hành, học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Ngày 21/10/1964 trong Bài nói chuyện tại trường đại học Sư phạm Hà Nội, Người căn dặn: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tiễn, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”. Ngoài ra, Người còn nhấn mạnh giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ phải gắn với thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân: “Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội. Trong xã hội cũ có nhiều nọc độc nó làm hại thanh niên. Nhất là văn hóa độc ác của Mỹ, nó dùng mọi cách như sách báo, phim ảnh, v.v. để làm cho thanh niên hư hỏng, truỵ lạc. Vì vậy, sự giáo dục thanh niên phải liên hệ vào dư luận của xã hội, lực lượng của Chính phủ để ngăn ngừa những cái gì có thể ảnh hưởng xấu đến thanh niên, để nâng cao tính cảnh giác của thanh niên”.

Thứ hai, phải phối, kết hợp các hình thức giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong đào tạo, giáo dục thanh niên. Tại lễ khai trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19/1/1955, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh niên”.

Thứ ba, phải đề cao và phát huy tinh thần tự giáo dục, tự rèn luyện của thanh niên, “xây” phải đi đôi với “chống”. Theo Người, kết hợp việc giáo dục của nhà trường, của xã hội và của gia đình là hết sức quan trọng: “Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh niên”. Đồng thời, Người cũng chỉ ra cho thanh niên “Những điều nên chống: Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”.

Thứ tư, giáo dục thế hệ trẻ thông qua gương người tốt, việc tốt. Đồng thời với việc yêu cầu tinh thần tự rèn luyện của thế hệ trẻ, Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm việc giáo dục, đào tao, bồi dưỡng thế hệ trẻ thông qua những gương người tốt việc tốt: “Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin thiết thực nhất”.

Thứ năm, phải tập hợp thế hệ trẻ trong các tổ chức và thông qua các tổ chức để giáo dục thanh niên. Ý thức đầy đủ về vai trò của các đoàn thể trong tập hợp, giáo dục thế hệ trẻ, sau khi tìm được con đường cứu dân, cứu nước và nhận thức sâu sắc về vai trò của thế hệ trẻ, năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thế hệ trẻ. Sau này, nhân Đại hội đại biểu toàn quốc Hội liên hiệp thế hệ trẻ Việt Nam, (1956) Người một lần nữa khẳng định vai trò của tổ chức trong việc tập hợp và giáo dục thế hệ trẻ: “Nhờ sự giáo dục, bồi dưỡng của Đảng và Đoàn, nhiều chiến sĩ, anh hùng thanh niên đã nảy nở trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, trong cuộc toàn dân kháng chiến và trong việc xây dựng nước nhà hiện nay”.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và giáo dục thanh niên, Đảng ta khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên”. Để tiếp tục giáo dục thanh niên vừa “hồng” vừa “chuyên” theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo chúng tôi cần tập trung những nội dung cơ bản sau đây:

Một là, vận dụng tư tưởng giáo dục thanh niên vừa “hồng vừa “chuyên” theo Di chúc hiện nay phải quán triệt và vận dụng sáng tạo, đầy đủ, toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết, mục tiêu, nội dung, phương thức giáo dục thanh niên theo tinh thần Chỉ thị số 42- CT/TW ngày 24/3/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030”.

Hai là, chủ động phối hợp với nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên; làm cho thế hệ trẻ hôm nay biết yêu cuộc sống, giàu lòng nhân ái, kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn của dân tộc, ứng xử văn minh, thanh lịch, nghĩa tình; chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; bày tỏ chính kiến, đấu tranh với cái xấu. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, từng bước bài trừ các tệ nạn xã hội.

Ba là, tăng cường giáo dục thanh niên thông qua những tấm gương điển hình tiên tiến, cá nhân có thành tích vượt trội.

Bốn là, tăng cường định hướng giá trị thông qua các loại hình văn hóa, văn học nghệ thuật gắn với xây dựng chuyên trang, chuyên mục về nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống; nêu gương người tốt, việc tốt, đặc biệt là những tấm gương vượt khó vươn lên trong cuộc sống để định hướng cho thanh niên phát triển loại hình văn hoá hiện đại mang tính khoa học và nhân văn, tham gia bảo tồn và phát triển các lễ hội văn hóa; tổ chức các điểm văn hóa thanh niên theo cụm dân cư; tổ chức các hội thi, hoạt động văn hóa dân gian; tổ chức các cuộc vận động sáng tác tác phẩm văn học, nghệ thuật dành cho thanh niên.

Năm là, nâng cao khả năng phối hợp, lồng ghép các hoạt động của Đoàn, Hội, Đội với các đoàn thể quần chúng nhân dân và các chủ thể xã hội khác nhằm giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên. Nghiên cứu đánh giá công tác phối hợp, lồng ghép các hoạt động của Đoàn, Hội, Đội với các đoàn thể quần chúng và các chủ thể xã hội khác trong giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên. Tăng cường ký kết các chương trình, kế hoạch liên tịch của Đoàn, Hội, Đội với các chủ thể xã hội khác chăm lo giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên.

QĐND

 ĐỂ NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT HIỆU QUẢ TRONG THỰC TẾ

“Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” là một nguyên tắc hoạt động của Đảng, được Đại hội X của Đảng thông qua và đưa vào Điều lệ Đảng. Nguyên tắc này xác định địa vị pháp lý của Đảng cầm quyền và phương thức hoạt động của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay; thể hiện sinh động cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"; đề phòng và khắc phục tình trạng "bao biện làm thay" hoặc buông lỏng lãnh đạo...

Ngay sau khi trở thành Đảng cầm quyền tháng 9-1945, Đảng ta đã coi trọng vấn đề tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Năm 1947, mặc dù công cuộc kháng chiến-kiến quốc vô cùng bận rộn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tâm sức viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", trong đó có phần chỉnh đốn những biểu hiện coi thường pháp luật của cán bộ, đảng viên. Tại Đại hội III của Đảng, Đảng đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng: "Có những cấp ủy đảng bao biện làm thay, can thiệp vụn vặt vào công việc của cơ quan Nhà nước... Có những cấp ủy và cán bộ, đảng viên coi thường chính quyền Nhà nước, không nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết của cơ quan chính quyền cấp trên"(1).

Đến Đại hội IV, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Đảng bắt buộc các tổ chức đảng và đảng viên tôn trọng quyền hạn, trách nhiệm và các chế độ của cơ quan Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các quyết định của Nhà nước, coi đó là kỷ luật của Đảng”(2). Đặc biệt, Đảng khẳng định việc cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, quy định của Nhà nước là vi phạm kỷ luật của Đảng.

Tại Đại hội V, Đảng nhấn mạnh: "Vẫn còn một số tổ chức đảng bao biện công việc của cơ quan Nhà nước. Cần nhanh chóng khắc phục tình trạng đó. Các cấp ủy đảng, các cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thi hành Hiến pháp và pháp luật, đi đầu trong cuộc đấu tranh tăng cường pháp chế XHCN. Nghiêm cấm các tổ chức đảng tùy tiện đề ra những quy định trái với pháp luật”(3). Đại hội cũng nhấn mạnh, phải tập trung "khắc phục thiên hướng xem nhẹ vai trò của Nhà nước còn khá nặng nề ở nhiều cấp, nhiều ngành"(4).

Đại hội X của Đảng đã thông qua Điều lệ Đảng, trong đó xác định: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(5) là một trong các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 ghi rõ: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật phản ánh đầy đủ các giá trị văn hóa cao quý của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo. Nội dung cơ bản của nguyên tắc ấy là: Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng được chế định trong Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải được thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp luật thông qua trình tự lập hiến, lập pháp, qua đó mà thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Nội dung và phương thức hoạt động của Đảng phải phù hợp với Hiến pháp và pháp luật; tổ chức sinh hoạt nội bộ của Đảng phải phù hợp với các thiết chế do Hiến pháp và pháp luật quy định. Đảng lãnh đạo bảo đảm các thiết chế của Nhà nước hoạt động theo đúng vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ. Tổ chức đảng và đảng viên gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, mọi vi phạm phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh, công khai trước pháp luật như mọi tổ chức và công dân khác.

Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động vu cáo Đảng ta "độc tài, toàn trị", là "ông vua tập thể"; đồng thời cảnh tỉnh, ngăn ngừa những đảng viên có chức, có quyền sa vào "tham nhũng quyền lực". Dù rằng đây là vấn đề thuộc về "khuyết tật bẩm sinh của quyền lực" mà bất kỳ một đảng cầm quyền nào cũng phải tiến hành các biện pháp phòng, chống để bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân.

Thực hiện nguyên tắc “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” đã đem lại những thành tựu to lớn trong vận hành cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" ở nước ta. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận, một bộ phận cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng chưa nhận thức rõ về nguyên tắc này. Một số tổ chức đảng vẫn ra những nghị quyết, chỉ thị trái pháp luật; một số cán bộ, đảng viên nhân danh tổ chức đảng tùy tiện gây áp lực làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật. Một số cấp ủy địa phương lạm dụng quyền lãnh đạo, can thiệp sâu vào hoạt động chính quyền, tư pháp. Một bộ phận đảng viên vi phạm pháp luật, nhất là trong lĩnh vực kinh tế với tính chất, mức độ nghiêm trọng. Một số cán bộ, đảng viên lợi dụng chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, bao che cho các hoạt động kinh tế bất hợp pháp, để vợ con, người thân trục lợi từ chức vụ, quyền hạn. Đặc biệt là những biểu hiện làm giàu bất chính, ăn chơi xa xỉ, mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè bê tha... bị quần chúng oán ghét, làm suy giảm niềm tin của người dân vào Đảng.

Tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII vừa qua, Trung ương Đảng đã thống nhất cao về việc tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Cùng với đẩy mạnh thực hiện 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4, khóa XII đã đề ra; Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm.

Có thể nói, thực hiện 2 nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII bổ sung, nhấn mạnh là vấn đề quan trọng nhất trong thúc đẩy việc thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Cùng với vấn đề quan trọng nhất nói trên, chúng ta cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp khác như: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm cho cấp ủy các cấp và cán bộ, đảng viên về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; chú trọng thực hiện nghiêm quy định của Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm. Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đồng bộ và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy các cấp, chính quyền, cơ quan, đơn vị, cụ thể hóa chi tiết vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật của đảng viên. Phát huy vai trò của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp trong thực hiện nguyên tắc.

Trong sinh hoạt Đảng và tiếp xúc cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng rất nhiều lần nhấn mạnh: Mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng phải thấm nhuần quan điểm "đúng vai, thuộc bài". Điều đó có nghĩa là mọi cá nhân, tổ chức phải hiểu rõ, nắm chắc và hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ đã được Hiến pháp và pháp luật cho phép. Thực tiễn lãnh đạo và cầm quyền của Đảng ta trong hơn 35 năm đổi mới cho thấy, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật không phải là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng mà là một yêu cầu khách quan, vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, vừa giúp xây dựng Đảng vững mạnh, thật sự xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

 

 PHÒNG, CHỐNG NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, SAI TRÁI THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.

 

   Trong kỷ nguyên số, thời đại công nghiệp 4.0, môi trường không gian mạng (KGM) đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của KGM lại là mảnh đất “mầu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam với âm mưu, thủ đoạn ngày cảng tinh vi, nguy hiểm.

 

  Đáng chú ý, thời gian gần đây lợi dụng những ưu thế nổi trội của mạng xã hội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính kết nối, tính mở, với đặc trưng tự do, đa dạng, nặc danh, khó kiểm soát…, thậm chí nhiều khi bị xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo, các TLTĐ đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt. Chúng tăng cường truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đất nước, phủ nhận truyền thống lịch sử dân tộc và những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà đất nước ta, nhân dân ta đã giành được; xuyên tạc, vu khống, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao… hòng gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

 

  Theo các cơ quan chức năng, hằng ngày có hàng nghìn tin, bài chống phá được tung lên KGM, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  nhân dân với Đảng, Nhà nước. Sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, mà nay chúng đã đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi.

 

  Về quy mô hoạt động, chúng có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước có quan điểm đối lập…, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, với chiêu trò “nội công, ngoại kích”, tạo thành nhiều mũi tấn công trên nhiều lĩnh vực.

 

  Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…. Đặc biệt, chúng coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng tập trung chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị; phủ nhận, bôi đen những thành tựu,  cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những mặt hạn chế, những tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên; xuyên tạc các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo…tạo cái nhìn sai lệch về tình hình đất nước; đồng thời phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; chúng cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân…

 

  Cùng với phát tán dầy đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu độc trên KGM, thực hiện chiêu trò “mưa dầm thấm lâu” hết sức thâm độc, chúng còn tráo trở cắt ghép, đan cài, “đổi trắng thay đen” trộn lẫn tinh vi thông tin thật – giả để dẫn dụ độc giả lạc vào ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch, dẫn dắt dư luận xã hội, ngụy tạo sự khách quan để chống phá hết sức tinh vi, xảo quyệt.

 

  Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm của các đối tượng trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn tỉnh táo, chủ động, nhận diện đúng và thường xuyên, quyết liệt đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn, những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, nâng cao “sức đề kháng” khả năng “miễn nhiễm”, trước những thông tin xấu độc. Mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện để làm tốt vai trò tham mưu đúng, trúng, kịp thời, từ sớm, từ xa trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi; không a dua, câu view, câu like, chia sẻ với những thông tin không được kiểm chứng, những luồng thông tin xấu độc… Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, là "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước vào cuộc sống; đưa những thông tin chính thống, tích cực, lan tỏa những tấm gương sáng, những cách làm hay, việc làm tốt trong cộng đồng, tỏa sáng niềm tin của nhân dân, vững tin trên con đường dân tộc./.

 

 THỰC HIỆN TỐT NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG ĐẢNG

Trong công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ thì tự phê bình và phê bình có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm coi trọng: “Phê bình và tự phê bình là vũ khí cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”. Người xác định đây là biện pháp quan trọng để tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng: “Ta có hai cách để thực hiện thống nhất tư tưởng, đoàn kết nội bộ là phê bình và tự phê bình”. Đặc biệt, cần chú ý đến công tác phê bình vì tác dụng của phê bình rất lớn, nhưng làm sao để phê bình đúng, có hiệu quả thật sự là vấn đề rất đáng quan tâm. Yêu cầu đặt ra là việc phê bình phải thật sự chân thành, có phương pháp đúng, hợp lý, hợp tình.

Các thế lực thù địch, phản động, chống phá, cơ hội chính trị cho rằng, phê bình của Đảng Cộng sản là đấu đá nội bộ… Ngay một số cán bộ, đảng viên của Đảng vốn đã từng có thời gian tham gia vào hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng, khi đang công tác, có chức, có quyền thì không có ý kiến phê phán gì, nhưng đến khi về nghỉ hưu, hoặc bản thân có sai lầm khuyết điểm, bị xử lý kỷ luật (dù việc xử lý của tổ chức là rất chính xác, rõ ràng, công khai, có lý, có tình), nhưng họ vẫn quay sang phê phán, đổ lỗi cho khách quan, cho đồng chí, cho tập thể, nói xấu tổ chức, nói xấu công tác tự phê bình và phê bình của Đảng.

Cùng với việc xác định rõ tác dụng, yêu cầu của phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng đưa ra phương pháp phê bình đúng đắn, chính xác. Người dạy: “Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang… Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mắt không nói, soi mói sau lưng”.

Trên thực tế, những hạn chế, khuyết điểm, những căn bệnh xấu xuất hiện trong phê bình mà Bác Hồ đã chỉ ra trên đây cũng đã xuất hiện nhiều lần ở nơi này, nơi kia, lúc này, lúc khác. Tình trạng trong sinh hoạt thì im hơi, lặng tiếng, nhưng sau khi họp, trong câu chuyện bàn trà, thậm thụt sau lưng thì nói xấu, tố cáo nhau đủ thứ chuyện. Hay họp hành công khai thì nâng nhau lên đủ thứ tử tế, nhưng khi đằng sau thì lại tìm mọi cách để dìm nhau xuống. Nổi lên là hiện tượng dĩ hòa vi quý, trong sinh hoạt tập thể, công khai, trước mặt nhau thì cái gì cũng tốt, nhưng đến khi vỡ chuyện, bị xử lý kỷ luật thì giậu đổ bìm leo, tố cáo nhau, đổ lỗi cho nhau đủ thứ.

Muốn công tác phê bình có hiệu quả tốt thì cần phải có những biện pháp tổng hợp, đồng bộ. Trước hết, cần có nhận thức, quan điểm đúng đắn về phê bình. Chỉ có nhận thức, quan điểm đúng về phê bình thì mới có được hành động chuẩn mực, hợp lý, hợp tình trong triển khai phê bình. Ví dụ như phải nhận thức đúng đắn rằng, mục đích của phê bình là để giúp nhau tiến bộ, tăng cường đoàn kết thống nhất, thì từ đó mới có thể có những chủ trương, cách làm đúng và có chất lượng. Nếu nhận thức sai về phê bình sẽ rất dễ dẫn đến phê bình sai mục đích, cách làm không phù hợp, nội bộ mất đoàn kết, phản tác dụng.

Để làm tốt công tác phê bình, đòi hỏi phải có các quy định cụ thể, chặt chẽ nhằm phát huy cao nhất tác dụng của công tác phê bình. Lưu ý sự cần thiết của những hướng dẫn chi tiết, cách làm cụ thể, thống nhất để mọi tổ chức và cá nhân cùng thực hiện tốt công tác phê bình, không vi phạm sai sót trong phê bình. Ngay từ năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vạch khuyết điểm để sửa chữa, cũng phải nêu ưu điểm để phát huy. Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cấp cao phải noi gương tốt”.

Trong công tác phê bình cần xác định rõ vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng thật sự vững mạnh, trở thành môi trường trong sáng, lành mạnh, tạo thuận lợi cho từng cán bộ, đảng viên thực hiện tốt công tác phê bình. Môi trường không phù hợp, không lành mạnh sẽ dẫn đến việc phê bình thiếu dân chủ, không thực chất, hoặc áp đặt, cứng nhắc, làm cho cán bộ, đảng viên không dám phê bình hoặc phê bình hời hợt, hình thức, kém hiệu quả.

Cũng cần quan tâm tạo thuận lợi để quần chúng nhân dân tham gia phê bình cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm… chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”. Chính Người cũng đã đưa ra mối quan hệ gắn bó giữa nhân dân với bộ đội trong công tác phê bình, chỉ rõ nhân dân có quyền góp ý, phê bình với bộ đội: “Tôi là người dân, tôi cũng có quyền phê bình, góp ý với bộ đội chứ. Bộ đội cách mạng là bộ đội của dân cơ mà”.

Yêu cầu rất quan trọng đặt ra của công tác phê bình và tự phê bình là cần thiết phải nêu cao trách nhiệm và tính tự giác của từng cán bộ, đảng viên. Chỉ có trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm và tình cảm của mỗi cá nhân thì mới có thể có tinh thần tự nguyện, kiên quyết và cách làm phù hợp để từ đó đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động phê bình và tự phê bình.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam chúng ta không ngừng rèn luyện phấn đấu, tăng cường phê bình và tự phê bình để thực hiện đúng chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương: “Đảng bộ Quân đội phải làm gương, làm mẫu về mọi mặt. Trong toàn quân không có cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, kỷ cương của Đảng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân”./.                                                                                 

  NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TỰ DO TÔN GIÁO 

 

Một số người Việt chống cộng ở hải ngoại có quan điểm chống đối chính quyền Việt Nam, đã dựa vào chính sách chung của chính quyền Mỹ, rất coi trọng các quyền tự do, mà trong đó, quyền tự do tôn giáo gần như được xem là hàng đầu, để từ đó tạo những ảnh hưởng, tác động vào các sinh hoạt chính trị trong cộng đồng người Việt Nam. Năm 1988, khi đặt chân lên đất Thái Lan, ngay trong trại tị nạn dành cho người vượt biên, tôi đã rất ngạc nhiên vì trong môi trường đầy khó khăn, thiếu thốn và hoang mang vì tương lai bấp bênh, vô định, thế nhưng các hoạt động về tôn giáo đã diễn ra sôi nổi mang đầy màu sắc chính trị.

 

Các Ban trị sự, Hội đồng liên tôn các tôn giáo đã tập hợp các tín hữu, con chiên, đạo hữu của mình thành những đoàn thể để hoạt động không thuần túy về tôn giáo, mà còn nhằm xuyên tạc, chỉ trích chính quyền Việt Nam. Nhiều tài liệu, sách báo, thông tin từ hải ngoại được ấn hành, đưa vào trại tị nạn phát tặng miễn phí, kích động chống Việt Nam như báo Đường Sống (Mỹ), báo Quê Mẹ (Pháp) hay các tổ chức như BPSOS (Boat people SOS - Ủy ban cứu trợ người vượt biển).

 

Khi định cư ở Mỹ từ tháng 2/1991, tôi nhận thấy nhiều cơ sở tôn giáo được mở mang, phát triển và hoạt động rất năng động. Nhiều nhà thờ, nhà chùa mới được thành lập từ những vận động, đóng góp chủ yếu từ các cá nhân. Gắn liền với những kỷ niệm từ quê nhà, không ít nhà thờ, ngôi chùa lấy tên trùng với những nơi thờ tự quen thuộc như Giáo xứ Tân Sa Châu, Giáo xứ Tân Bùi Chu, Phát Diệm, Chùa Dược Sư, Chùa Vĩnh Nghiêm… Chính những cơ sở tôn giáo này cũng tự biến thành nơi hội họp, sinh hoạt chính trị vì các nhân sự, thậm chí các nhà lãnh đạo tôn giáo ở hải ngoại ít nhiều cũng nhuốm mùi chính trị cực đoan.

 

Ý niệm về “đấu tranh tôn giáo” với “đấu tranh cho dân chủ, tự do” đã trở thành phương tiện, là công cụ cho các cá nhân, tổ chức chống cộng cực đoan khai thác triệt để nhằm lợi dụng lòng tin của người dân còn mơ hồ, hay có định kiến với chính quyền Việt Nam. Các lãnh đạo cộng đồng, tổ chức chống cộng thường xuyên theo dõi các biến động xã hội trong nước không ngừng biến các hiện tượng được chú ý thành các “vấn đề tôn giáo” nghiêm trọng. Thí dụ, vụ án của linh mục Nguyễn Văn Lý, ngày 30/3/2007, tại Thừa Thiên Huế, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã mở phiên tòa công khai xét xử Nguyễn Văn Lý và đồng bọn về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại khoản 1, điều 88 - Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại phiên tòa cho thấy thái độ bất hợp tác của ông Lý khi luôn tỏ ra chống đối, thậm chí đạp vào vành móng ngựa, hô hào, gây ồn ào. Ông Lý đã bị một nhân viên an ninh bịt miệng để giữ trật tự, và một bức ảnh ghi lại khoảnh khắc này đã được báo chí phương Tây, giới truyền thông chống cộng khai thác thành sự kiện “đàn áp, bịt miệng tự do tôn giáo”.

Khi sự kiện xảy ra, tôi và các đồng nghiệp của tuần báo Việt Weekly đã về Việt Nam, xin phép chính quyền về tận xã Thủy Biều, TP. Huế để tìm hiểu sự việc. Tại họ đạo Nguyệt Biều, đoàn báo chí từ hải ngoại của chúng tôi được tự do phỏng vấn các giáo dân tại địa phương về sinh hoạt tôn giáo tại đây. Các giáo dân kể chuyện cha Lý đã có công sửa đường, làm nhà vệ sinh công cộng, cấp con giống, cây trồng, mở lớp dạy máy tính, dạy ngoại ngữ miễn phí để đánh lừa, dụ dỗ niềm tin của một bộ phận giáo dân. Vụ án điển hình này cho thấy sự cấu kết của các tổ chức chính trị ở hải ngoại với các nhân vật chống đối đội lốt tôn giáo. Thông qua việc móc nối, vận động để xin tiền từ các tổ chức, cá nhân ở hải ngoại, ông Lý đã tham gia làm cố vấn vào “Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam” năm 2000, kích động giáo dân ký đơn đòi đất vốn của Giáo hội Thiên Chúa giáo đã giao cho hợp tác xã quản lý từ năm 1975, gây mâu thuẫn giữa người dân và chính quyền.

 

Đoàn phóng viên báo Việt Weekly cũng có mặt tại Hà Nội để tham dự buổi họp báo của Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là ông Michael Marine, khi được hỏi về bức hình “bịt miệng cha Lý” ở phiên tòa, ngài đại sứ cũng nêu rõ là hành động gây rối trật tự ở tòa án, nếu ở Mỹ cũng sẽ bị ngăn chặn bằng vũ lực. Tuy nhiên, theo góc nhìn của nhà ngoại giao Mỹ, thì chính quyền Việt Nam cũng cần phải có động thái trao cho các công dân của mình “không gian rộng rãi hơn để biểu đạt ý kiến của mình”.

 

Những vụ án mang màu sắc tôn giáo liên quan đến vấn đề tranh chấp đất hay bất động sản, qua quan sát của tôi, hầu hết đều có sự tác động của các thế lực chính trị hải ngoại kích động, xúi giục. Cái gọi là “Yểm trợ đấu tranh tôn giáo” ở hải ngoại được tiến hành rất bài bản. Họ tập hợp nhau tại các địa điểm công cộng như công viên, khu chợ, bãi đậu xe, trung tâm thương mại, nơi có đông đảo người dân gốc Việt sinh sống để tổ chức các buổi “thắp nến cầu nguyện” hay “tuyệt thực cho tự do, nhân quyền”. Các tổ chức chống cộng này cho rằng các vụ tranh chấp đất đai ở những địa phương có cộng đồng người Công giáo sinh sống nhằm mục tiêu “thu hẹp tài sản của Giáo hội Công giáo, chia cắt nơi cư trú của đồng bào giáo dân, hòng làm suy yếu sự phát triển của Công giáo nói riêng”. Đây là những luận điệu xuyên tạc vô cùng ngớ ngẩn. Vì quyền làm chủ đất đai nào là của người Công giáo? Chính quyền địa phương mỗi nơi đều có quy định theo pháp luật để tiến hành thay đổi môi trường sống, sự phát triển của đô thị theo nhu cầu thực tế. Thế nhưng việc chuyển đổi quỹ đất này đã bị thổi phồng thành những vụ án “đàn áp tôn giáo” gây nên nhiều ngộ nhận cho người ở hải ngoại thiếu thông tin về sự việc.

Mặt khác các đối tượng chống cộng luôn phao tin rằng, người Cộng sản là “vô thần,” người Cộng sản coi “tôn giáo là thuốc phiện”, một khi tôn giáo ở Việt Nam lớn mạnh, sẽ trở thành những lực lượng đối kháng có thể đè bẹp chế độ! Vì vậy chính quyền Cộng sản Việt Nam phải áp dụng các cách đàn áp tinh vi, làm suy yếu tôn giáo. Từ đây họ đã đánh vào tâm lý chung của những gia đình di cư năm 1954, các quan chức chế độ Việt Nam cộng hòa luôn có ánh nhìn hoài nghi về chính sách tôn giáo của chính quyền Việt Nam. Chính những cơ quan “truyền thông đen”, mang danh nghĩa là “truyền thông quốc tế” như BBC, RFA, VOA,.. mà nhân sự của các “đài Việt ngữ” phần lớn đều là những người làm truyền thông thiếu khách quan, thiếu thiện chí trong việc đưa tin, thổi phồng về vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều phóng sự, hội luận của các kênh này luôn khai thác các nhân vật đối lập, hay “bất đồng chính kiến” để gây hoang mang cho người dân ở hải ngoại, bằng những thủ thuật kích động nhưng lại tỏ ra khách quan, đa chiều.

 

Đồng thời nhu cầu về tâm linh, thể hiện tình yêu nước đã nhuốm màu sắc chính trị với chiều hướng cực đoan. Ở vùng nam California, tôi đã từng ghi nhận, phỏng vấn nhiều tu sĩ, các cha, các nhà sư từ trong nước đi sang Mỹ theo diện thăm thân hay du lịch, nhưng khi tìm hiểu, đi sâu vào vấn đề, mới rõ là họ được một số cá nhân, hoặc tổ chức chính trị ở hải ngoại mời đi Mỹ để “gây quỹ từ thiện” hay “xin quyên góp xây dựng nhà thờ, xây chùa” ở Việt Nam. Mỗi buổi họp mặt này, những bài than khổ về sự khó khăn trong sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đều được các vị nêu lên theo ánh nhìn thiếu thiện chí, gợi niềm thương cảm trong cộng đồng. Nếu không trực tiếp về Việt Nam để tìm hiểu rõ sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam, nhiều bà con ta cứ ngỡ ở Việt Nam không được đi lễ, không được đi chùa vì các cơ sở tôn giáo này do “Nhà nước quản lý”!

 

Điều đáng quan ngại hơn nữa, đó chính là sự hà hơi, tiếp tay của các vị “dân cử người Mỹ gốc Việt” trong các dịp tranh cử các vị trí như nghị viên thành phố, thị trưởng thành phố, nghị sĩ tiểu bang hay liên bang. Câu chuyện “đấu tranh cho tự do tôn giáo, quyền con người” tiếp tục được họ đưa ra để vận động tranh cử. Điển hình như các thành phố có đông người Việt cư trú như Westminster, Garden Grove, Fountain Valley, Santa Ana… (miền nam California), hay San Jose (miền bắc California), các chính trị gia đã tận dụng chiêu bài tranh cử không gì khác hơn là “chống cộng và đấu tranh cho tự do tôn giáo ở Việt Nam”. Đây là những khẩu hiệu, chiêu bài dễ hô hào, dễ tạo sự quan tâm của cử tri.

 

Ngân sách tranh cử như chiếc bánh được chia chác nhau theo từng phần: Giới lãnh đạo cộng đồng chống cộng tổ chức biểu tình, kêu gọi cử tri ký thỉnh nguyện thư đòi quyền con người cho các nhà đối lập trong nước. Còn các cơ quan “truyền thông đen” thì được nhận phần quảng cáo cho những thông điệp chính trị sặc mùi mị dân như “đòi quyền tự do con người cho người dân Việt Nam”. Từ đây đã tạo thành một bộ máy tuyên truyền, xuyên tạc, một “kỹ nghệ chống cộng” mang tính vòng tròn khép kín để thỏa mãn lòng hận thù tồn tại từ trước, nhằm bào mòn tình cảm gắn bó của người dân trong và ngoài nước. Và trên hết, để vừa có danh, vừa có lợi, họ đã bất chấp sự công bằng, lẽ phải và quyền lợi tối thượng của dân tộc là sự ổn định xã hội để phát triển kinh tế, đưa đất nước từ nghèo khó sau chiến tranh, tiến lên một nước có nền hòa bình bền vững, ổn định lâu dài để phát triển.

 

Là người sống trong cộng đồng lâu năm, theo dõi những diễn biến chính trị và sinh hoạt cộng đồng một cách toàn diện, nên tôi đã nhận diện được rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá khối đại đoàn kết dân tộc, gây hoang mang chia rẽ tôn giáo của các tổ chức chống cộng lưu vong. Theo tôi, hành động của họ không vì bất cứ lòng trắc ẩn, tình đồng bào nào hết, ngoài việc tạo nên những cái “bánh vẽ” to tướng khiến một bộ phận người trong nước có tinh thần vọng ngoại hiểu sai lệch vấn đề về tự do tôn giáo, hay quyền con người. Cần phải hiểu rằng tự do của mỗi cá thể trong xã hội phải đặt dưới quy định của luật pháp, không thể tùy tiện nhân danh sự tự do để sinh hoạt tôn giáo mang tính chính trị, chống phá chế độ.

Nguồn Tuyên giáo TW

  VAI TRÒ CỦA VIỆC HỌC TẬP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Giá trị của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vai trò cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với mỗi cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) và nhân dân Việt Nam đã được chứng minh trong thực tiễn.

Trước thực trạng một bộ phận CB, ĐV lười học LLCT, cùng với việc tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của LLCT, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để khắc phục tình trạng này. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Nghị quyết cũng chỉ rõ hạn chế: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho CB, ĐV về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và những hậu quả gây ra”.

Trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; phải tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của CB, ĐV về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập LLCT, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghị quyết đã khẳng định: Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Ðảng.

Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt, học tập LLCT là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của CB, ĐV, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT phải luôn bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu trong công tác cán bộ. Bởi thế, đào tạo LLCT phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ gắn với quy định của Đảng về công tác quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, phân cấp quản lý cán bộ... Tránh hiện tượng giao chỉ tiêu, cử cán bộ đi học LLCT theo kiểu “điền vào chỗ trống” khiến người học không có động lực, không thấy đó là nhu cầu thiết thân mà còn gây tốn kém, lãng phí ngân sách, thời gian, công sức. Trên thực tế, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức tới việc bồi dưỡng LLCT cho đảng viên, có hiện tượng khoán trắng cho cơ quan tham mưu mà thiếu kiểm tra, giám sát. Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên. Tình trạng bớt thời gian, cắt xén nội dung trong quán triệt, truyền tải nghị quyết của Đảng không hiếm. Điều này đã được Đảng ta chỉ ra. Tuy vậy, những giải pháp để khắc phục ở cơ sở hiện nay là chưa triệt để.

Nhiều cán bộ qua đào tạo LLCT ở các bậc học đã nêu lên một thực trạng, đó là sự trùng lặp nội dung các bậc học, thiếu sự liên thông, tính kế thừa, tính thống nhất giữa các cấp học dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, kinh viện mà chưa có bổ sung thấu đáo về tính thực tiễn. Đúng như tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế”. Như vậy, phải có nghiên cứu thấu đáo việc đưa chương trình, nội dung vào giảng dạy ở các bậc học. Đây cũng là vấn đề lớn mà Đảng, Nhà nước, hệ thống các cơ sở đào tạo cần quan tâm, tìm ra phương thức hợp lý.

 

Tích cực đấu tranh loại trừ chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam

 


Chủ nghĩa dân túy thường được dùng để nói về những thủ đoạn chính trị mang tính mị dân, đánh vào tâm lý của đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm lôi kéo, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận và quần chúng nhân dân. Những biểu hiện dân túy ỏ Việt Nam hiện nay thông qua phát ngôn, hành động của một số cá nhân, tổ chức tuy mới chỉ tồn tại với tính chất là nhận thức tư tưỏng, chưa thành hệ thống lý luận nhưng cũng rất nguy hiểm, bộc lộ nhiều tác hại, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nưóc, chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tình hình đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nói chung, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nói riêng cần nhận diện và cảnh giác vói những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy trong đòi sông chính trị Việt Nam. Phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy ỏ nước ta là một quá trình bền bỉ, dài lâu, gắn bó mật thiết với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, là một phần rất quan trọng của đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưỏng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng.

Để phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa các biểu hiện dân túy ỏ Việt Nam hiện nay cần tiến hành đồng bộ các giải pháp: Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy và tính tất yếu phải đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưỏng, tổ chức và đạo đức; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đấu tranh phòng, chông tham nhũng, lãng phí; triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy ở Việt Nam hiện nay là trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, các bộ ngành và sự vào cuộc của báo chí, truyền thông cùng sự tham gia tích cực của mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Sự thống nhất nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nưốc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là sức mạnh nội sinh, bản thân nó có thể và đẩy lùi sự xâm nhập, ảnh hưỏng của chủ nghĩa dân túy đến đòi sống chính trị ỏ nước ta.

 

Tiếp tục thực hỉện có hỉệu quả chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

 


Nhận thức đúng xu thế của thời đại, Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Những năm qua, quá trình hội nhập quốc tê được đẩy mạnh, góp phần quan trọng vào việc tăng cường nguồn lực cho phát triển, đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, cùng với quá trình mở rộng quan hệ đốĩ ngoại trên mọi lĩnh vực, chúng ta chưa có giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để hạn chế tác động tiêu cực của hội nhập nên những tư tưỏng, quan điểm, hành vi dân túy có cơ hội xâm nhập vào đời sống xã hội nước ta.

Tình hình đó đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương, tổ chức kinh tế - xã hội cần kiên định và thực hiện một cách chủ động, linh hoạt, sáng tạo chiến lược đối ngoại trong hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Nhất quán nguyên tắc bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Nắm vững và thực hiện tốt quan điểm Đại hội XII của Đảng về phương hướng, nhiệm vụ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế: “Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế; hội nhập là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đốỉ đầu, bất lợi”[1].

Trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, các bộ, ngành, tổ chức, lực lượng và các cơ quan cần vận dụng sáng tạo nguyên tắc ứng xử Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, lấy độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm mục đích để lựa chọn cách thức hành động phù hợp với tình hình thực tiễn; không vì quá cảnh giác, đề phòng với chủ nghĩa dân túy mà chúng ta lại tự cô lập, đứng ngoài xu thế chung của thế giới, bỏ qua cơ hội. Song cũng không phải chỉ vì muốn mở rộng quan hệ và tranh thủ thòi cơ, về lợi ích trước mắt mà phải “làm theo đám đông”, chấp nhận, đánh đổi tất cả, để cho chủ nghĩa dân túy có điều kiện xâm nhập và nảy sinh ở Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nưổc, các kênh đối ngoại và các hoạt động đốỉ ngoại phải hết sức tỉnh táo, bình tĩnh, chủ động và mềm dẻo để Việt Nam không bị cô lập với thế giới, không bị lệ thuộc vào thế giói và cũng không bị những tác động, ảnh hưởng tiêu cực bởi trào lưu dân túy đang trỗi dậy trong nền chính trị thế giới hiện nay.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 154-155.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí


Thực tế ở một số quốc gia trên thế giới cho thấy, sỏ dĩ dân chúng tin và đi theophong trào dân túy hay ủng hộcác nhân vậtdân túy phần lớn là do sự điều hành kém hiệu quả của chính quyền trong giải quyết những bất bình và bức xúc của ngưòi dân. Từ đó, họ mong muốn có những người đại diện cho công quyền kiểu khác, thậm chí là một chính quyền khác mạnh mẽ và hiệu quả hơn, hiểu họ hơn và như vậy, những nguyện vọng và mong ước của dân chúng mới có hy vọng được đáp ứng.

Ở Việt Nam, những người theo khuynh hướng dân túy, các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị cũng đang lợi dụng những yếu kém của chính quyền các cấp, nhất là những hiện tượng vô cảm, sách nhiễu dân của cán bộ, công chức, tệ tham nhũng, lãng phí để bôi nhọ, vu khống, phá hoại chính quyền nhân dân. Bởi vậy, đẩy mạnh cải cách hành chính, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nội dung, giải pháp cơ bản, có hiệu quả để chủ động, tích cực phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa các biểu hiện dân túy ở nước ta hiện nay.

Theo đó, chính quyền các cấp cần nghiêm túc, khẩn trương thực hiện nhiệm vụ mà Nghị quyếtĐại hội XII của Đảng đề ra: “Thực hiện cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước, giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đẩy nhanh việc áp dụng chính phủ điện tử”[1].

Thực hiện nghị quyết của Đảng, các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải có trách nhiệm tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, nắm bắt tình hình và kịp thời giải quyết những bức xúc, đáp ứng nguyện vọng, bảo vệlợi ích chính đáng và hợp pháp của Nhân dân. Hành động của bộ máy hành chính các cấp và của mọi cán bộ, công chức thực thi công vụ phải thực sự vì lợi ích chung, bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhân dân và dân tộc, để hành động theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”[2]; không chỉ vì lợi ích trước mắt, vì danh lợi cá nhân, vì “lợi ích nhóm” mà có những việc làm đi ngược lại với lợi ích của Nhân dân, của dân tộc.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biêu toàn quốíc lẩn thứ XII, Sđd, tr.178.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quôc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr.51.