Thứ Tư, 19 tháng 10, 2022

TÂY NGUYÊN LÀ ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG CỦA CẢ NƯỚC!

         Toàn văn phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 6/10/2022 của Bộ chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu, cùng toàn thể các đồng chí,

Như các đồng chí đã biết, trong tháng 4 năm nay, chúng ta đã tổ chức rất thành công 2 Hội nghị toàn quốc để phổ biến, quán triệt những nội dung cơ bản của Nghị quyết số 11-NQ/TW và Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá XIII Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ; và ở Vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. 

Bộ Chính trị cũng đã giao cho Ban cán sự đảng Chính phủ và Ban Kinh tế Trung ương chỉ đạo khẩn trương, nghiêm túc tổng kết việc thực hiện các Nghị quyết, Kết luận của Bộ Chính trị các khoá trước, và xây dựng, trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành các Nghị quyết mới về 4 vùng: Vùng Tây Nguyên; vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung; vùng đồng bằng Sông Hồng; vùng Đông Nam Bộ và kinh tế trọng điểm phía Nam.

Ngày 06/10/2022 mới đây, Bộ Chính trị khóa XIII đã chính thức ban hành Nghị quyết Về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở Vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và hôm nay, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc (trực tiếp kết hợp với trực tuyến) để phổ biến, quán triệt những nội dung cơ bản của Nghị quyết quan trọng này, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả nước cũng như trong Vùng, nhằm sớm đưa Nghị quyết vào cuộc sống, theo tinh thần như tôi đã nhiều lần nói: "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", và "Dọc ngang thông suốt". 

Đây là Hội nghị có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt, cả về lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển nhanh, bền vững vùng Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung.

Trước hết, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, và với tình cảm cá nhân, nhiệt liệt hoan nghênh và chào mừng tất cả các đồng chí tham dự Hội nghị ở trung tâm Hà Nội cũng như tại các điểm cầu, đặc biệt là tại điểm cầu các tỉnh Tây Nguyên. Mong các đồng chí tập trung nghiên cứu, thảo luận, tiếp thu sâu sắc và tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị, đáp ứng đúng được mục đích, yêu cầu đề ra.

Thưa các đồng chí,

Cũng như các Hội nghị trước, Ban Tổ chức Hội nghị lần này đã báo cáo, phổ biến đầy đủ với các đồng chí về chương trình, nội dung, cách thức tiến hành Hội nghị. Nghị quyết của Bộ Chính trị cũng đã được gửi tới các đồng chí; nội dung rất rõ ràng, dễ hiểu; các đồng chí cần nghiên cứu trực tiếp, kỹ lưỡng. 

Để giúp các đồng chí có thêm thông tin, hiểu rõ hơn, sâu hơn, tôi chỉ xin có một số ý kiến có tính chất gợi mở, nêu vấn đề, nhấn mạnh và làm rõ thêm một số khía cạnh; và cũng chỉ tập trung vào trả lời 3 câu hỏi: (1) Vì sao vào lúc này Bộ Chính trị lại bàn và ra Nghị quyết về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045? (2) Những nội dung mới, ý tưởng mới, tinh thần mới của Nghị quyết lần này là gì?; và (3) Chúng ta cần làm gì và làm như thế nào để tổ chức triển khai thực hiện có kết quả những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết lần này của Bộ Chính trị đã đề ra, biến Nghị quyết thành hiện thực của cuộc sống?

1. Vì sao lúc này Bộ Chính trị lại bàn và ra Nghị quyết về Vùng Tây Nguyên?
Tại các Hội nghị về phát triển hai vùng cực Bắc và cực Nam của Tổ quốc được tổ chức hồi tháng 4 vừa qua, tôi đã đề cập khá đầy đủ về những lý do cũng như nguyên nhân khách quan lúc này Bộ Chính trị lại bàn và ban hành Nghị quyết mới về phát triển các vùng trong cả nước. 

Khái quát lại, đó là để quán triệt sâu sắc hơn và tổ chức thực hiện tốt hơn chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển Vùng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển nhanh và bền vững các vùng nói riêng và cả nước nói chung trong thời kỳ chiến lược mới, đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cụ thể, tôi xin không nhắc lại; các đồng chí có thể tham khảo các bài phát biểu trước. Sau đây, tôi chỉ nêu lý do hay nguyên nhân chủ quan, liên quan trực tiếp đến Vùng Tây Nguyên của chúng ta.

Như các đồng chí đã biết, vùng Tây Nguyên có 5 tỉnh, xếp thứ tự từ bắc vào nam gồm: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng; phía bắc và phía đông giáp 6 tỉnh duyên hải miền Trung từ Quảng Nam đến Bình Thuận; phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận; phía tây giáp tỉnh Bình Phước và hai nước bạn Lào, Cam-pu-chia; với diện tích tự nhiên là 54.548 km2, chiếm 1/6 diện tích tự nhiên của cả nước; với khí hậu, thổ nhưỡng và nhiều tài nguyên, khoáng sản quý hiếm mà không nơi nào có được; đặc biệt là khoảng 1 triệu ha đất đỏ bazan màu mỡ, hơn 3 triệu ha rừng, chiếm 35,7% diện tích rừng cả nước, và khoảng 10 tỉ tấn trữ lượng bôxit, chiếm 90% trữ lượng bôxit cả nước. 

Tây Nguyên được biết đến như là một vùng đất huyền thoại, là nơi cùng sinh sống của gần 6 triệu người thuộc tất cả 54/54 dân tộc anh em cả nước, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, với gần 2,2 triệu người, chiếm hơn 37,5% dân số toàn vùng; lâu đời và đông nhất là đồng bào Ê đê, Mnông, Giarai, Bana.... 

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có truyền thống đoàn kết, đấu tranh cách mạng rất kiên cường; có nền văn hóa dân tộc vừa đa dạng, phong phú, vừa có nhiều nét đặc sắc riêng. 

Trong kho tàng văn hoá phong phú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, bên cạnh những giá trị lịch sử, văn hóa vật thể và phi vật thể vô giá như cồng chiêng, rượu cần, đàn Tơrưng... thì không thể không nhắc đến giá trị của sử thi, đặc biệt là sử thi Đăm Săn. 

Đây là một địa bàn địa chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước, thuộc tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia; là "phên dậu phía Tây của Tổ quốc", là "nóc nhà của Đông Dương". 

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chiến thắng Buôn Mê Thuột - Tây Nguyên đã mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy "Mùa xuân đại thắng" với Chiến dịch "Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975". 

Nói về Tây Nguyên cách mạng, anh hùng và đa sắc mầu văn hóa, tôi lại nhớ đến những vần thơ say đắm đến nao lòng của nhà thơ Tố Hữu trong tác phẩm "Nước non ngàn dặm":

" Rằng: Qua gió lớn mưa to

Lòng dân như nước Pa-cô càng đầy

Tây Nguyên gan góc, dạn dầy

Như cây lim đứng chẳng lay giữa rừng".

Nói đến con người Tây Nguyên, tôi lại nhớ đến những vần thơ trong bài thơ "Tây Nguyên" của nữ nhà thơ Xuân Quỳnh:

"... Đất Tây Nguyên, đất đỏ những con người

Trời Tây Nguyên, trời rộng bao la

Người Tây nguyên rất đỗi hiền hòa

Làm ấm lên trang sử đỏ nước nhà..."

Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của Vùng đất Tây Nguyên, ngày 18/01/2002, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW; Bộ Chính trị khoá XI đã tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW và ban hành Kết luận số 12-KL/TW, ngày 24/10/2011 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2010 và thời kỳ 2011-2020. 

Sau 20 năm thực hiện Nghị quyết và Kết luận của Bộ Chính trị khóa IX và khóa XI, các địa phương trong Vùng đã nhận thức ngày càng sáng rõ hơn về vai trò, vị trí, tầm quan trọng và khai thác tốt hơn các tiềm năng, lợi thế của Vùng đất Tây Nguyên. Hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông, được quan tâm đầu tư, giúp cải thiện đáng kể sự kết nối giữa các tỉnh trong Vùng, và giữa Vùng với cả nước. 

Một số địa phương đã có sự phát triển bứt phá, tạo nên những điểm sáng trong Vùng và cả nước. 

Toàn Vùng đã đạt được nhiều kết quả, thành tích quan trọng như đã nêu trong Nghị quyết của Bộ Chính trị và Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ. 

Thật đáng mừng khi ngày nay, đến với Tây Nguyên, là đến với vùng đất bao đời nắng gió, ngày càng giàu đẹp hơn, khiến ta quên cả lối về thành phố như Nhà thơ Đoàn Minh Hợp đã khắc hoạ trong bài thơ "Tây Nguyên Đại ngàn":

"Ta lên mây gió đại ngàn

Con sông, con suối miên man rì rào

Ta lên rường gỗ non cao

Chim kêu, vượn hú, chào mào hót ca

Dặm dài uốn lượn đi qua

Mênh mông trang trại, vườn hoa trải dài

Cao su thẳng tắp tường xây

Cà phê trĩu hạt đong đầy niềm vui

Tiêu cay ngào ngạt nách gùi

Vụ mùa gặt hái lui hui giữa rừng

Rộn ràng giai điệu tơ-rưng

Cồng Chiêng tấu nhịp ăn mừng bội thu,..."

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tích đã đạt được, vùng Tây Nguyên hiện vẫn còn không ít những khó khăn, thách thức lớn. 

Đó là: Phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; tốc độ tăng trưởng kinh tế thiếu bền vững, có xu hướng chậm lại. Thu nhập bình quân đầu người thấp nhất cả nước. 

Khoảng cách giàu - nghèo giữa các nhóm dân tộc, nhất là của nhóm các dân tộc bản địa, chậm được thu hẹp. Giảm nghèo chưa bền vững; số hộ nghèo và cận nghèo còn nhiều, nguy cơ tái nghèo còn cao; tỉ lệ xã đạt chuẩn "Nông thôn mới" còn thấp. 

Tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số chậm được giải quyết. Công tác xử lý đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường còn bất cập. 

Tỉ lệ che phủ rừng giảm mạnh và không đạt được mục tiêu đề ra; rừng tự nhiên bị xuống cấp cả về diện tích và chất lượng. Nguồn nước có nguy cơ suy giảm. 

Nhiều di sản văn hóa dân tộc đang đứng trước nguy cơ bị mai một, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa được chú trọng đúng mức. G

iáo dục - đào tạo chuyển biến còn chậm; chất lượng nguồn nhân lực chưa cao. Công tác chăm sóc sức khỏe, dịch vụ y tế cơ bản còn thấp so với mức trung bình của cả nước. 

An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, vấn đề tôn giáo, dân tộc vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp; công tác phân giới cắm mốc biên giới chưa hoàn thành. 

Liên kết nội vùng và liên vùng chưa chặt chẽ, còn hình thức. Mạng lưới kết cấu hạ tầng vùng, liên vùng thiếu và yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu cho phát triển.

Tình hình trên đây đã đặt ra yêu cầu phải khẩn trương và nghiêm túc tiến hành tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IX; Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI và nghiên cứu xây dựng, ban hành Nghị quyết mới về vấn đề đặc biệt quan trọng này. 

Đây cũng là việc làm hết sức có ý nghĩa và cần thiết, thể hiện trách nhiệm của toàn Đảng và cả nước đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên - vùng đất cách mạng, anh hùng, có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, đúng với truyền thống đoàn kết, thuỷ chung, nghĩa tình của Dân tộc Việt Nam ta.

2. Những nội dung mới, ý tưởng mới, tinh thần mới của Nghị quyết Bộ Chính trị lần này là gì?
Có 3 điểm mới đáng chú ý như sau:
- Một là, về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo: Nghị quyết lần này đã kế thừa, bổ sung, phát triển 4 quan điểm của Nghị quyết số 10-NQ/TW thành 5 quan điểm chỉ đạo mới, phù hợp với bối cảnh, tình hình mới. 
Ở đây có nhiều nội dung thể hiện rất rõ tinh thần đổi mới, quyết tâm rất cao của Đảng ta tại Đại hội XIII, quyết tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về phát triển vùng Tây Nguyên trong thời kỳ mới.

Bộ Chính trị yêu cầu, cần phải nhận thức rõ: Vùng Tây Nguyên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của cả nước. 

Phát triển Tây Nguyên nhanh, bền vững là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, và là nhiệm vụ quan trọng của cả nước, trước hết là của các địa phương trong Vùng và vùng Duyên hải miền Trung, vùng Đông Nam Bộ. 

Xây dựng và phát triển vùng Tây Nguyên phải kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với văn hoá, xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, gắn kết chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng - an ninh và tăng cường công tác đối ngoại. 

Lấy sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội làm nền tảng cho việc giữ vững quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị - xã hội.

Phát triển vùng Tây Nguyên phải phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, bảo đảm thống nhất với hệ thống quy hoạch quốc gia, phù hợp với chiến lược quốc gia về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu. 

Đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế vùng gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp hiệu quả cao, dựa trên cơ sở ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số. 

Chú trọng khôi phục, phát triển rừng gắn với giữ vững, bảo vệ rừng, ổn định và nâng cao đời sống, sinh kế của người dân gắn với rừng. Ổn định dân cư và tạo việc làm tại chỗ cho người dân gắn bó với quê hương. 

Ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, công nghiệp chế biến nông sản; phát triển bền vững công nghiệp khai thác, chế biến bauxit, alumin, công nghiệp chế biến nhôm; phát triển các trung tâm du lịch lớn, hình thành các tuyến du lịch chuyên đề gắn với bản sắc văn hoá của các dân tộc Tây Nguyên.

Đẩy mạnh liên kết vùng, nội vùng; lấy quy hoạch làm cơ sở quản lý phát triển vùng. Phát triển vùng Tây Nguyên theo hướng liên kết chặt chẽ với vùng Duyên hải miền Trung và vùng Đông Nam Bộ; lấy việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, hạ tầng số làm động lực, tạo dư địa cho sự phát triển Vùng. 

Đẩy nhanh kết nối với các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, với các nước trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Công, nhất là trong khuôn khổ Hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng, khu vực Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia và các nước ASEAN. 

Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế của từng địa phương. 

Có cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp để phát huy tiềm năng, lợi thế của Vùng. Nghiên cứu, xây dựng cơ chế liên kết và điều phối để phát triển Vùng có hiệu lực. 

Khai thác và sử dụng có hiệu quả các tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nước; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả nguồn lực, trong đó nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá.

Xây dựng nền văn hóa Tây Nguyên tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng; tôn trọng các giá trị văn hoá khác biệt giữa các dân tộc, coi đây là động lực, nền tảng cho phát triển và hội nhập quốc tế. 

Ưu tiên giữ gìn, bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di sản văn hoá, giá trị truyền thống, bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số, nhất là các lễ hội truyền thống, không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên. 

Đẩy mạnh việc xây dựng nông thôn mới. Giải quyết căn bản vấn đề đất ở, đất sản xuất và việc khiếu kiện, tranh chấp đất đai. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. 

Giảm tỉ lệ hộ nghèo, ổn định dân cư, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa. 

Bảo đảm mọi người dân đều được chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận với giáo dục, dịch vụ y tế có chất lượng. N

âng cao trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển. Tập trung bảo vệ rừng, gìn giữ môi trường đi đôi với sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm đất đai, tài nguyên, khoáng sản.

- Hai là, về mục tiêu và tầm nhìn: Có thể nói, đây là một nội dung và yêu cầu hoàn toàn mới. 
Nếu như Nghị quyết số 10-NQ/TW và Kết luận số 12-KL/TW trước đây chỉ đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2020 thì Nghị quyết lần này đã xác định mục tiêu tổng quát và một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, thể hiện rõ khát vọng, ý chí và quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, nhất là cấp uỷ, chính quyền và đồng bào các dân tộc trong Vùng: Phấn đấu đến năm 2030, "Tây Nguyên là vùng phát triển nhanh, bền vững dựa trên kinh tế xanh, tuần hoàn; giàu bản sắc văn hoá dân tộc; là điểm đến đặc sắc, hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế. 

Phát triển kinh tế nông nghiệp hiệu quả cao, dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hình thành một số sản phẩm nông nghiệp quy mô lớn, có thương hiệu quốc tế, gắn với các trung tâm chế biến. 

Cơ bản hình thành hạ tầng giao thông quan trọng, hạ tầng số. Hệ thống thiết chế văn hoá được nâng cấp. Giải quyết căn bản vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện. 

Hệ sinh thái rừng, nhất là rừng đầu nguồn và đa dạng sinh học, được bảo tồn và phát triển; an ninh nguồn nước được bảo đảm. 

Quốc phòng, an ninh khu vực biên giới được giữ vững; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được duy trì ổn định. Tổ chức đảng, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố, tăng cường".

Tầm nhìn đến năm 2045: "Tây Nguyên trở thành vùng phát triển bền vững, có nền kinh tế xanh, tuần hoàn; một số tỉnh trong Vùng thuộc nhóm phát triển khá của cả nước. 

Hệ sinh thái rừng được bảo tồn và phát triển; hình thành một số khu du lịch chất lượng cao, điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước. 

Hình thành các vùng sản xuất lớn về cây công nghiệp, cây ăn quả, rau, hoa và trung tâm năng lượng tái tạo của cả nước. Hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ. 

Phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và quốc phòng, an ninh; người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Bản sắc văn hóa được phát huy và trở thành nền tảng để phát triển. 

Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc; biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển; tổ chức đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường".

- Ba là, về nhiệm vụ và giải pháp: Nghị quyết lần này đề ra đầy đủ, đồng bộ và mới mẻ các nhiệm vụ, giải pháp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, bao gồm các nhóm nhiệm vụ, giải pháp về tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển và đẩy mạnh liên kết vùng; về phát triển nhanh và bền vững kinh tế vùng; về phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị phù hợp với Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và mục tiêu, yêu cầu phát triển Tây Nguyên trong thời kỳ mới.

3. Chúng ta phải làm gì và làm như thế nào để thực hiện có kết quả Nghị quyết của Bộ Chính trị lần này về Tây Nguyên?
Vấn đề rất quan trọng có ý nghĩa quyết định vẫn là làm thế nào để tổ chức triển khai thực hiện thật tốt, có kết quả cụ thể, rõ rệt và thiết thực Nghị quyết của Bộ Chính trị gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. 

Từ những kinh nghiệm và bài học thành công cũng như chưa thành công trong việc thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng, các nghị quyết của Trung ương, và nhất là các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển Vùng thời gian qua, và để có sự thống nhất cao hơn nữa về nhận thức và tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Bộ Chính trị lần này, tôi xin đề nghị và nhấn mạnh thêm một số vấn đề sau đây:

- Một là, về nhận thức: Phải quán triệt thật đầy đủ, đúng đắn và sâu sắc ý nghĩa, mục đích, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết; nắm vững các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm. 

Tạo sự thống nhất cao trong nhận thức ở tất cả các cấp, các ngành, của người dân và cộng đồng các doanh nghiệp về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của Vùng. 

Đổi mới tư duy phát triển, nhất là về liên kết vùng, tiểu vùng; về cơ chế, chính sách đặc thù; về phân bổ nguồn lực; về nguồn nhân lực, nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của vùng, các tiểu vùng và từng tỉnh trong vùng, tiểu vùng; giải quyết các vấn đề trọng điểm quốc gia tại vùng; các vấn đề liên ngành, liên vùng, liên tiểu vùng.

Đồng thời, phải nhận thức và giải quyết thật đúng, thật tốt mối quan hệ giữa phát triển vùng và phát triển chung của cả nước - Cả nước vì Vùng và Vùng vì Cả nước; xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các ban, bộ, ngành Trung ương; của các địa phương trong vùng để xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết theo đúng tinh thần "đúng vai, thuộc bài" như tôi đã nhiều lần nói.

- Hai là, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ hơn nữa truyền thống cách mạng, lòng yêu nước; tinh thần chủ động, sáng tạo; ý thức tự lực, tự cường và ý chí vươn lên mạnh mẽ của cán bộ, đảng viên và nhân dân các địa phương trong vùng; quyết tâm vượt lên chính mình, khắc phục tư tưởng bằng lòng, bị động, chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của Trung ương; quyết tâm không cam chịu đói nghèo, thua kém các tỉnh khác, vùng khác. 

Đồng thời, tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương, sự hợp tác, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước để phát triển kinh tế vùng nhanh và bền vững hơn; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng đạt mức cao hơn bình quân chung của cả nước trên cơ sở từng bước đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng.

- Ba là, trên cơ sở đổi mới về tư duy và nhận thức, cần đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển vùng. 

Các cơ quan ở Trung ương cần tăng cường phối hợp với Hội đồng Vùng và các địa phương trong vùng, khẩn trương xây dựng, hoàn thiện, ban hành và triển khai thực hiện luật pháp, chính sách ưu tiên, có tính đặc thù cho phát triển Vùng. 

Xây dựng và tổ chức thực hiện thật tốt Quy hoạch phát triển vùng giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo hướng xanh, bền vững và toàn diện; phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia. 

Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển. 

Ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước, kết hợp với huy động các nguồn lực trong xã hội cho đầu tư phát triển các công trình trọng điểm có sức lan tỏa, giải quyết các vấn đề phát triển vùng và liên vùng; phát triển vùng toàn diện cả về kinh tế, văn hoá, xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên.

- Bốn là, đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, coi đây là nhân tố hàng đầu có tính quyết định. 

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền. 

Kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW. 

Phấn đấu để các thôn, bản ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đều có đảng viên và chi bộ đảng. Thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ.

Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bảo đảm chất lượng, số lượng, cơ cấu hợp lý, có sự chuyển giao, kế thừa chặt chẽ giữa các thế hệ. 

Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện lớp cán bộ kế cận, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. 

Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân. 

Xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị; phát huy cao độ truyền thống văn hoá, cách mạng; sự cần cù và ý chí vươn lên, tự lực, tự cường của nhân dân trong vùng. 

Xây dựng tình đoàn kết, hợp tác hữu nghị giữa nhân dân trong vùng với nhân dân vùng biên giới các nước bạn láng giềng.

- Năm là, ngay sau Hội nghị này, căn cứ vào Nghị quyết và Kế hoạch của Bộ Chính trị, sự chỉ đạo, hướng dẫn của các ban đảng Trung ương và các cơ quan, các cấp ủy và tổ chức đảng ở Trung ương và các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị của các địa phương trong Vùng cần khẩn trương xây dựng kế hoạch hành động, chương trình học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết gắn với tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các tỉnh.

Ban cán sự đảng Chính phủ cần khẩn trương, ráo riết chỉ đạo xây dựng, ban hành Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết; giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương trong vùng. 
Chương trình hành động phải bám sát các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và nội dung của Nghị quyết, đồng thời sát hợp với từng địa phương trong vùng và tiểu vùng. 

Các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương trong Vùng cần cụ thể hoá Nghị quyết và Chương trình hành động của Chính phủ bằng các cơ chế, chính sách, kế hoạch, đề án, dự án và nguồn lực cụ thể, có tính khả thi cao. 

Trước mắt, Chính phủ cần tập trung ưu tiên sớm hoàn thiện và ban hành Quy hoạch phát triển vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tạo cơ sở để các địa phương trong Vùng xây dựng quy hoạch phát triển của địa phương mình.
Thưa các đồng chí,

Tôi tha thiết mong đợi và tin tưởng rằng, sau Hội nghị này, cấp ủy, chính quyền và nhân dân các tỉnh Tây Nguyên sẽ cùng với các ban, bộ, ngành Trung ương và cấp uỷ, chính quyền các cấp trong cả nước, nhất là vùng duyên hải miền Trung, vùng Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết tâm rồi càng quyết tâm cao hơn nữa; đã đổi mới, nỗ lực phấn đấu rồi càng tiếp tục đổi mới, nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa, để tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức; thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Bộ Chính trị lần này, tạo bước chuyển biến mới, mạnh mẽ hơn trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng Tây Nguyên; cùng với cả nước tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, nỗ lực phấn đấu, tạo chuyển biến thật mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh trong thời kỳ mới, theo tinh thần: Cả nước vì Tây Nguyên; Tây Nguyên vượt khó vươn lên cùng cả nước và vì cả nước!
Một lần nữa, tôi xin chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc, có nhiều niềm vui mới, niềm tin mới, khí thế mới, và thắng lợi mới!
Tôi xin trân trọng cảm ơn./.
Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC VÀ ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

         Hiện nay, trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị tung ra đủ mọi “lý lẽ”, “cơ sở” của việc đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Các thế lực thù địch, phản động cho rằng: lực lượng vũ trang “chỉ là của dân tộc”, “của đất nước”, “của nhân dân” là “phù hợp”, chứ không cần phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, một lực lượng chính trị nào! Chúng phủ nhận tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị, hòng tạo cơ sở cho việc đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an nhân dân.
     Chúng tập trung công kích nguyên tắc Đảng lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với LLVT; cho rằng nguyên tắc đó thể hiện Đảng tự cho mình quyền đứng trên xã hội, trên luật pháp, bởi LLVT là để “bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, Đảng chỉ là một bộ phận của xã hội, sao lại giành “độc quyền lãnh đạo” cho riêng mình.
     Mọi luận điệu cổ súy cho quan điểm “lực lượng vũ trang phải trung lập về chính trị”, đòi bỏ quy định sự trung thành của lực lượng vũ trang đối với Đảng Cộng sản Việt Nam… Đó chính là những cái bẫy “phi chính trị hóa” hết sức tinh vi và thâm hiểm của các thế lực thù địch. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu và gần đây là những sự kiện bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi, khiến chúng ta phải hết sức cảnh giác, không mắc mưu trước những chiêu trò “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch, tập trung chăm lo xây dựng cơ quan, đơn vị, các tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện lệch lạc về chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên trong lực lượng vũ trang; tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ chính trị về: Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh. Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh./.


Yêu nước ST.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2022

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 1966!

         “Từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật là anh hùng”!
     Đây là lời khẳng định và khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ Việt Nam trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm lần thứ 20, Ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (20/10/1946-20/10/1966), tổ chức ngày 19 tháng 10 năm 1966.
      Cả cuộc đời phấn đấu hy sinh cho dân tộc, giải phóng phụ nữ luôn là khát vọng cháy bỏng của Hồ Chí Minh và Người luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ ở thế kỷ XX. Nhưng đồng thời Bác cũng luôn thức tỉnh phụ nữ muốn được giải phóng, chị em cũng phải đấu tranh, không ngừng học hỏi, đoàn kết, làm trọn nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Đã có rất nhiều phụ nữ nước ta được Bác khen tặng bởi những thành tích trong học tập, rèn luyện và đóng góp trên mọi lĩnh vực... trong chiến tranh đã xuất hiện nhiều những tấm gương phụ nữ chiến đấu anh dũng, kiên cường, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc; tiêu biểu như: Chị Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Lý, Nguyễn Thị Định… xứng đáng là con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu, với lời khen tặng của Bác Hồ kính yêu.
     Vinh dự, tự hào với lời khen tặng của Bác kính yêu, tự hào về truyền thống hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữu nước của dân tộc, Phụ nữ Việt Nam không ngừng thi đua học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, là những nhân tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của xã hội. Nhiều chị em đã trở thành những nhà khoa học, văn nghệ sĩ tài năng, những vị lãnh đạo có giữ cương vị cao trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến Trung ương, xứng đáng với sự quan tâm và tin tưởng của Bác Hồ.
     Phát huy truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, khắc ghi lời Bác dạy, phụ nữ Quân đội tiếp tục nêu cao tinh thần, trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, học tập, lao động sáng tạo, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc để xứng đáng với lời khen tặng của Bác kính yêu./.
Môi trường ST.

VAI TRÒ CON NGƯỜI-TRUNG TÂM SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC!

     Chúng ta đều biết rằng, bản chất tốt đẹp, nhân văn, nhân đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta là luôn coi trọng và đặt an ninh con người vào vị trí trung tâm của an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội. Để làm được điều đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương, đảm bảo cho người dân được sống trong môi trường an toàn. Luật An ninh quốc gia đã chỉ rõ: Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Theo đó, đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia là để xây dựng môi trường xã hội bình yên, đem lại cuộc sống thanh bình, hạnh phúc cho người dân. Bản chất bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam là hết sức tốt đẹp, rất đáng trân trọng như vậy, bất cứ thế lực thù địch nào cũng không thể xuyên tạc, phủ nhận được. Hơn nữa, đây là minh chứng sống động, xác đáng bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

NHỮNG AI CHỈ TRÍCH VIỆT NAM BỎ PHIẾU TRẮNG TRONG NGHỊ QUYẾT LIÊN HỢP QUỐC THÌ CẦN NHỚ VỀ NHỮNG ĐIỀU NÀY


- Hãy nhớ lần quân tình nguyện Việt Nam tham gia chiến dịch biên giới Tây Nam. Phần lớn các quốc gia trên thế giới chỉ trích chúng ta. Sau khi tội ác Khmer Đỏ được phanh phui, hầu hết các quốc gia im lặng. Họ tập trung vào khoe công trạng xét xử Khmer Đỏ, không thèm quan tâm đến hàng ngàn người Việt Nam và hàng triệu người Campuchia bị thảm sát.

- Nghị quyết nào lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979? Hay nghị quyết chỉ dành cho nước lớn và đàn áp nước nhỏ?

- Hãy nhớ rằng trong 30 năm qua, đã có 29 lần Liên Hợp Quốc yêu cầu các quốc gia thành viên bỏ phiếu lên án Hoa Kỳ cấm vận Cuba. Trong 29 lần đó, lần nào số phiếu lên án Hoa Kỳ cũng áp đảo và vượt trội, trong đó lần gần nhất có tới 184 phiếu thuận, 03 phiếu trắng (1 phiếu của Ukraine), 2 phiếu chống (Hoa Kỳ, Israel). Nghị quyết lên án Hoa Kỳ cấm vận Cuba là một trong những nghị quyết được ủng hộ lớn nhất lịch sử Liên Hợp Quốc, nhưng vẫn chẳng giải quyết được điều gì cả. Người anh em của chúng ta vẫn bị cấm vận.

- Ukraine đã từng bỏ phiếu chống việc “lên án chủ nghĩa phát xít” trong một nghị quyết tại Liên Hợp Quốc vào năm 2014. Nên nhớ là chỉ có 3 quốc gia bỏ phiếu chống đó là Hoa Kỳ, Canada và Ukraine. Có 50 quốc gia, trong đó phần lớn là châu Âu bỏ phiếu trắng với cam kết “chúng tôi lên án chủ nghĩa phát xít, nhưng không muốn bày tỏ điều đó tại đây” và gần 120 quốc gia bỏ phiếu đồng ý.

- Nếu các anh chị lo cho Việt Nam rằng sau này Trung Quốc hay bất cứ quốc gia nào đó đánh Việt Nam thì sẽ không có ai ủng hộ. Đừng quên rằng lịch sử của chúng ta đã phải trải qua như thế nào. Nếu các lá phiếu có tác dụng thì Hoa Kỳ đã không ở lại Việt Nam lâu đến như thế, nếu các lá phiếu có tác dụng thì Cuba đã không bị cấm vận, người Palestine đã không bị mất đất, tội ác diệt chủng Khmer Đỏ đã không được che giấu suốt bao nhiêu năm…

- Tại sao cứ phải lo xa cho một trường hợp Trung Quốc đánh Việt Nam? Tại sao không phải là Việt Nam sẽ mạnh mẽ hơn? Tại sao không phải là hai quốc gia sẽ sống chung hòa bình từ những bài học trong quá khứ? Miệng bô bô bỏ phiếu để đề phòng Trung Quốc đánh Việt Nam thì khác gì mời gọi là "đánh Việt Nam đi", công khai chống một quốc gia như vậy thì chẳng khác gì đẩy hai quốc gia đến mồi lửa chiến tranh.

- Tại sao lúc Việt Nam ủng hộ Cuba, Palestine... các anh chị không lên bài, đăng trạng thái ủng hộ lá phiếu của nước nhà đi? Hay tính mạng, công lý của người Cuba, Palestine với các anh các chị không bằng tính mạng người Ukraine? Hãy thôi cái trò đạo đức giả đó lại. Tự nhiên quan tâm đến chính trị thế? Hay vì mưu đồ gì đó?

- Một lá phiếu được đặt lên bàn cân Liên Hợp Quốc mang sức nặng to lớn của một dân tộc. Lá phiếu đó thể hiện đường lối ngoại giao từ lịch sử đến hiện tại. Lá phiếu đó được bỏ phiếu phải vì lợi ích của người Việt Nam trước tiên hơn là chỉ vì muốn đẹp lòng một vị đại biện nào đó. Nếu vị đại biện đó chân thành, bà đã không nhận lời phỏng vấn VOA Tiếng Việt - một tờ báo chống phá Việt Nam và không nói với giọng điệu bề trên “Việt Nam là nước nhỏ” 

XTst

VIỆT NAM ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ASEAN Với tốc độ tăng trưởng cao và khả năng phục hồi mạnh mẽ sau dịch Covid-19, Việt Nam nói riêng và ASEAN nói chung được coi là điểm sáng kinh tế trong bối cảnh thế giới đang đối mặt nhiều biến động và rủi ro. Theo TTXVN, Phó Tổng Thư ký ASEAN phụ trách Cộng đồng Kinh tế Satvinder Singh khẳng định, Việt Nam là một trong những nước đóng góp mạnh mẽ nhất cho một ASEAN năng động. Theo ông Satvinder Singh, bất chấp những thách thức kinh tế mà cả thế giới đang phải đối mặt, ASEAN đang cho thấy cách quản lý khả năng phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ. Phó Tổng Thư ký ASEAN cho rằng, một trong những nước đóng góp lớn cho sự tăng trưởng nêu trên là Việt Nam - quốc gia dẫn đầu trong việc thể hiện cách thức phục hồi sau đại dịch, đồng thời tiến hành những chuyển đổi kinh tế quan trọng và giúp người dân ứng phó những thách thức đang phải đối mặt. Tỷ trọng của Việt Nam trong GDP khu vực ASEAN tăng mạnh, từ mức khoảng 6,5% thập kỷ trước lên 10,8% hiện nay. Ông Satvinder nhấn mạnh, Việt Nam hiện là một đối tác rất quan trọng trong hội nhập ASEAN; cho rằng trọng tâm của các doanh nghiệp và lĩnh vực của Việt Nam không phải là trong nước, mà là phát triển ra khu vực và quốc tế. Việt Nam không thể chỉ phát triển dựa trên nền tảng nội địa, mà cần bắt đầu suy nghĩ về việc làm thế nào để các doanh nghiệp vươn ra ngoài và trở thành những công ty tầm cỡ khu vực và toàn cầu. Việt Nam có tiềm năng tạo ra thế hệ tiếp theo của một số công ty kỳ lân lớn nhất từng thấy ở ASEAN. Ông Satvinder cho rằng, Việt Nam đang đi đúng đường và hưởng lợi từ hội nhập ASEAN. Chia sẻ khuyến nghị để Việt Nam và các nước trong khu vực giữ được đà tăng trưởng ổn định, ông Satvinder cho rằng, ASEAN có tiếng nói quan trọng trên thế giới và cần giữ được tinh thần đoàn kết của đại gia đình ASEAN. Hải Ninh 30A ST

Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên khi tham gia mạng xã hội

 Ngày nay, dường như mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con

người. Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng mạng xã hội vẫn liên tục tăng qua các năm; hiện, một số mạng

xã hội như Facebook, Zalo, Tiktok, You Tube… có số lượng người dân Việt Nam tham gia rất lớn,

trong đó có cán bộ, đảng viên.

Tận dụng ưu thế của mạng xã hội, nhiều cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội như một phương thức có hiệu quả trong công việc cũng như trong cuộc sống, biến mạng xã hội thành công cụ hữu ích. Thông qua mạng xã hội, có thể nhanh chóng chia sẻ, trao đổi, nhận biết thông tin. Nhiều cán bộ, đảng viên biết tận dụng mạng xã hội để chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm công tác; thông tin, tuyên truyền, quảng bá các hoạt động, hình ảnh của Đảng, Nhà nước, địa phương, đơn vị đến với Nhân dân; mạng xã hội cũng là công cụ đắc lực trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng trong điều tra, nắm bắt dư luận xã hội phục vụ cho công tác tuyên giáo…

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy vẫn còn hiện tượng một số cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội khá tùy tiện, gây ảnh hưởng không tốt hình ảnh, lợi ích của cá nhân, tổ chức, địa phương. Không ít trường hợp cán bộ, đảng viên dùng mạng xã hội để nói xấu, xúc phạm, miệt thị người khác bằng loại ngôn từ thiếu văn hóa; đăng tải, chia sẻ thông tin độc hại, bịa đặt, xuyên tạc, không kiểm chứng nguồn gốc, không bảo đảm tính chính xác; đăng tải những nội dung mang tính bất mãn, gây mất đoàn kết... Nhiều trường hợp cán bộ, đảng viên đã bị cơ quan chức năng nhắc nhở, xử phạt hành chính, thậm chí bị cách chức (nguyên Trưởng khoa của Trường chính trị Hà Tĩnh), khai trừ khỏi Đảng (chuyên viên Văn phòng thuộc UBND thành phố Hồ Chí

Minh)…Ở Kon Tum, cũng có một số trường hợp cấp ủy, thủ trưởng cơ quan phải kiểm tra, chấn chỉnh.

Những trường hợp đáng tiếc đó, có những người chủ ý, nhưng cũng không ít người vì chủ quan, thiếu thận trọng, thiếu trách nhiệm, thiếu hiểu biết về các quy định…

Thực tế này cho thấy việc xử phạt các sai phạm trên không gian mạng nói chung, và việc truy cứu trách

nhiệm của cán bộ, đảng viên để xảy ra sai phạm khi tham gia mạng xã hội nói riêng cần phải nghiêm khắc,

kiên quyết hơn nữa, để mỗi người luôn ý thức rằng bản thân là cán bộ, đảng viên thì càng phải có trách

nhiệm cao trong tự giác điều chỉnh nhận thức và hành xử đúng đắn trên môi trường mạng.

Ðến nay, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định quyền tự do thông tin của công dân và

trách nhiệm của người dân khi sử dụng internet nói chung và mạng xã hội nói riêng như: Luật Báo chí năm

2016; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định số 72/2013/NÐ-CP quản

lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng; Nghị định số 174/2013/NÐ-CP quy định xử

phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện;

Quy định về những điều đảng viên không được làm…Tuy nhiên, đối với những văn bản luật này vẫn còn một

bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa chịu khó tiếp cận, nghiên cứu, nên vẫn còn có sự hiểu biết mập

mờ, dẫn đến sự thiếu trách nhiệm và dễ sai phạm trong sử dụng mạng xã hội. Vậy nên, các địa phương, cơ

quan, đơn vị cũng cần thiết phải nghiên cứu, ban hành văn bản quy định về việc tham gia mạng xã hội của

cán bộ, đảng viên trong phạm vi điều chỉnh của mình.

Thủ trưởng cơ quan, đơn vị; cấp ủy; các tổ chức đoàn thể cần nâng cao trách nhiệm trong công tác chỉ đạo,

định hướng, theo dõi, nhắc nhở cán bộ, đảng viên, đoàn viên về những nguyên tắc cần tuân thủ khi tham gia

mạng xã hội; đồng thời, có biện pháp xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm theo quy định.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực nghiên cứu và tuân thủ nghiêm túc các quy định hiện hành của Đảng,

Nhà nước, các cơ quan chức năng và cơ quan, đơn vị mình đang công tác khi tham gia mạng xã hội; phải

chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật, tổ chức nếu sai phạm trong quá trình tham gia. Khi tham gia

mạng xã hội phải lan tỏa các nội dung, hình ảnh tích cực, có tính tuyên truyền, giáo dục cao; các chủ trương,

chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, giáo dục, phát huy truyền thống cách mạng của

địa phương, đất nước; thông tin, tuyên truyền những sự kiện trọng đại, những kết quả nổi bật về tình hình

chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương, đất nước; giới thiệu, quảng bá hình

ảnh và thế mạnh của địa phương, đất nước đến với bạn bè trong nước và quốc tế…Sử dụng mạng xã hội để

trao đổi, chia sẻ, chuyển tải các nội dung thông tin phục vụ nghiệp vụ công tác. Xây dựng quan điểm, lập

trường vững vàng; chung tay, góp sức nhận diện, phản bác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn và các luận

điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.


Bài, ảnh: Ngô Đức Hải

Bóc trần âm mưu “dân sự hóa” quân đội

 Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng: Trung ương nên chủ trương “dân sự hóa

hoạt động quân sự” để hạn chế hao tốn nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, lại huy động được sức

dân trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội.

Thực chất, đằng sau những lập luận ấy là chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, hòng phá vỡ tính tổ

chức, tính kỷ luật, hạ bệ vai trò của quân đội, làm cho Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam xa rời mục tiêu,

lý tưởng, nhằm hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”

Mưu đồ phía sau “những lời có cánh”

Trên một số trang mạng nước ngoài gần đây đăng tải nhiều bài viết tập trung “phân tích” về chủ trương, cách

thức vận hành trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam. Các bài viết này “ngợi khen” việc nhất

quán “mỗi người dân là một chiến sĩ” thể hiện cách làm sáng tạo, hiệu quả.

Họ thuyết giảng: Vì dịch bệnh cũng là một loại “giặc” nên đáng ra quân đội phải là lực lượng duy nhất có

trách nhiệm đương đầu, ứng phó. Thế nhưng, Việt Nam đã biết cách biến mỗi người dân thành một chiến sĩ

nên công cuộc chống “giặc dịch” trở nên hiệu quả.

Trên luận điệu đó, họ cố tình suy diễn: Quân đội không thể hiện được vai trò, vị trí của mình, nên cần phải

“dân sự hóa hoạt động quân sự”; trao sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) cho quần chúng. Có nghĩa, phải tinh

giản biên chế trong quân đội một cách mạnh mẽ, chỉ để lại một vài cơ quan chỉ đạo chiến lược; cũng nên

giảm ngân sách đầu tư cho quốc phòng và không nên “nuôi” một số lượng quân thường trực “đông nhưng

không mạnh”... vì nếu có biến cố gì đi nữa, thì nhân dân ứng phó là đủ (?)

Với cách lập luận lập lờ nêu trên khiến không ít người thoạt nghe đã sinh ra a dua, cổ xúy, tán dương. Một

số người dân đón nhận thông tin một chiều tỏ ra nghi hoặc về sức mạnh quân đội, rồi bày tỏ sự ủng hộ “dân

sự hóa” một số lĩnh vực hoạt động quân sự, dành ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế...

Từ những phân tích trên, các bài viết còn viện dẫn về chuyện một số quốc gia trên thế giới không cần xây

dựng lực lượng quân đội, chỉ thiết lập đội tự vệ quốc gia với quân số ít. Thậm chí, có quốc gia không bận tâm

đến việc BVTQ, vì trong xu thế hội nhập, các nước sẽ biết cách tôn trọng độc lập, tự do, chủ quyền của mỗi

quốc gia.

Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm hạ thấp ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ BVTQ, hạ bệ vai trò

của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng, BVTQ; thúc đẩy xu hướng nhận thức tiêu cực, tạo áp lực

tâm lý để xới lên đề xuất “giải tán” quân đội, cắt giảm nguồn lực đầu tư cho quân đội và quốc phòng. Đây là

thủ đoạn nhằm phá vỡ “lõi hạt nhân” trong kết cấu thế trận chiến tranh nhân dân, làm tan hỏng, mục rũa nền

quốc phòng toàn dân từ bên trong.

Ở một diễn biến khác, những kẻ thủ ác lại rêu rao: Việt Nam đang “quân sự hóa hoạt động dân sự”. Họ cho

rằng: Chống dịch là một dạng hoạt động dân sự, nhưng quân đội lại ồ ạt đưa lực lượng, vũ khí, trang bị vào

“trấn áp” dịch-đó là biểu hiện “quân sự hóa hoạt động dân sự”.

Một mặt, họ quy kết quân đội không đủ mạnh, không thể làm tròn nghĩa vụ với nhân dân, nên cố tình kéo

quần chúng vào một cuộc chiến “vô thưởng vô phạt”; cổ vũ người dân lên tuyến đầu để bao biện cho sự hèn

nhát, sợ dịch bệnh của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Mặt khác, họ tung hô: Đảng, Nhà nước và quân đội đang tô

hồng vai trò của chính mình, “làm màu” để mị dân.

Thực chất, đây là thủ đoạn đánh tráo sự thật, xóa nhòa bản chất hoạt động bảo vệ, phục vụ nhân dân, phủ

định vai trò, đóng góp to lớn của QĐND Việt Nam trong phòng, chống dịch Covid-19 suốt gần hai năm qua.

Trên thực tế, QĐND Việt Nam đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những lực lượng xung

kích trên tuyến đầu; bảo vệ nhân dân bằng tất cả tình yêu thương. Thậm chí nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh

dũng hy sinh trong cuộc chiến với loại “giặc vô hình” để phụng sự Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

Vậy nên, “những lời có cánh” nêu trên, thoạt qua, có thể nhầm tưởng là hợp lý, vô hại, nhưng xét về thực

chất lại chính là khuynh hướng thủ đoạn khá mới, cố tình làm sai lệch nhận thức của quần chúng, mang lại

nhiều hệ lụy và hậu quả to lớn; ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội; tác

động trực tiếp đến kết quả xây dựng quân đội; chi phối nghiêm trọng công cuộc xây dựng nền quốc phòng

toàn dân và tiềm lực, nguồn lực BVTQ trong tình hình mới.

Quân đội hùng mạnh - đất nước mới hùng cường

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt BVTQ, trong thế trận

chiến tranh nhân dân. Nghệ thuật quân sự Việt Nam ngay từ xa xưa đã thực hiện phép dụng binh “ngụ binh

ư nông”- quân gửi trong dân.

Với chức năng, nhiệm vụ của mình, quân đội là lực lượng không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công

cụ sắc bén, hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo

vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN.

Trong khi đó, tính chất, yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong điều kiện mới ngày càng cao; tình hình thế giới, khu

vực diễn biến phức tạp, mau lẹ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động đến nhiệm vụ BVTQ. Các vấn đề xung đột,

tranh chấp chủ quyền biển, đảo, biên giới diễn ra phức tạp.

Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam, kích hoạt sự “chuyển màu” về chế độ, cố

tình hạ bệ vai trò của Đảng và QĐND Việt Nam... Trước tình hình đó, nếu Việt Nam không có một đội quân

thực sự “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì liệu nhiệm vụ BVTQ có thể bảo đảm trong


mọi tình huống, nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, làm nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững

của đất nước?

Thực tế cho thấy, kể từ sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà, thì vẫn chưa

có bất kỳ phút giây những người lính Cụ Hồ được ngơi nghỉ trong cuộc chiến giữ hòa bình, ấm no, hạnh

phúc cho nhân dân.

Trong mọi giai đoạn lịch sử, thời kỳ phát triển, quân đội luôn là lực lượng đi đầu và khẳng định những đóng

góp to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, nhất là trong suốt hành trình 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới

toàn diện đất nước.

Vậy nên, với chức năng, nhiệm vụ được giao, QĐND Việt Nam-lực lượng nòng cốt BVTQ rất cần những đầu

tư tương xứng để có đủ tiềm lực, thực lực và sức mạnh bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước,

nhân dân giao phó.

Ở đây, cần hiểu đúng và đủ về chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân và đặt nhiệm vụ xây

dựng quân đội trong mối quan hệ tổng thể xây dựng 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân

quân tự vệ. Trong đó, với tầm nhìn chiến lược, các lực lượng phải từng bước được đầu tư để hiện đại hóa,

chính quy hóa, nhưng trên hết và trước hết phải ưu tiên xây dựng QĐND Việt Nam trong mối quan hệ với

các bộ phận, lực lượng khác của LLVT.

Bởi thế, trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng quân đội cách mạng, nhưng đồng thời phải tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nghị quyết Trung ương các khóa XI, XII, XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, X, XI đều xác định phải đẩy nhanh tiến

độ, chất lượng từng bước tiến lên hiện đại, ưu tiên xây dựng một số lực lượng trong quân đội tiến thẳng lên

hiện đại.

Đại hội XIII của Đảng nêu rõ mục tiêu phấn đấu: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại... Đó là mục tiêu khách quan, đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp BVTQ. Do đó, việc tập trung quan tâm, đầu tư nguồn lực cho xây dựng quân đội là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân và sự nghiệp cách mạng.

Hiện thực về sự cống hiến lớn lao Không có chuyện cán bộ, chiến sĩ quân đội đang “vô công rồi nghề”, “đông mà không mạnh” như những kẻ hiềm khích, chống đối, chống phá cố tình tô vẽ, thêu dệt. Mỗi công dân Việt Nam cần có trách nhiệm nâng cao nhận thức, cảnh giác trước những chiêu trò thâm độc ấy.

Hãy ngước nhìn lên bầu trời xanh của Tổ quốc. Chắc chắn rồi, sự bình yên ấy không tự nhiên có được, mà là kết quả của sự phòng vệ quốc gia từ xa, từ sớm. Ở nhiều nơi trên đất nước này vẫn có sự hiện diện của tổ chức, đơn vị  quân đội luôn “dõi mắt canh trời”, trực SSCĐ 24/24 giờ, với các loại vũ khí có khả năng đánh chặn mọi nguy cơ và các mối đe dọa trong mọi tình huống; sóng radar giăng từng tấc không khí để kịp thời phát hiện bất cứ mục tiêu nào dù là nhỏ nhất xâm phạm chủ quyền bầu trời quốc gia. Và như vậy, chắc chắn sẽ có hàng nghìn ánh mắt của cán bộ, chiến sĩ dõi lên bầu trời canh giữ bình yên, hay miệt mài thao tác vũ khí trang bị để bảo vệ, vận hành sự bình yên đó.

Hãy hình dung về 3/4 diện tích đất nước thân yêu-biển, đảo của chúng ta dẫu còn nhiều “giông bão”, nhưng

chủ quyền thiêng liêng luôn được giữ vững kể từ sau ngày đất nước thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà.

Nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ vẫn trung kiên ngày đêm thực hiện nhiệm vụ nơi đảo xa, trên những con tàu,

nhà dàn DK giữa mênh mông biển lớn.

Tất cả những người lính Cụ Hồ đều đối diện với các thiệt thòi về vật chất lẫn tinh thần, nhưng luôn không hề nao núng, thoái thác nhiệm vụ. Hãy thử đặt mình vào vị trí của những người đang ở nơi “đầu sóng, ngọn gió”, để thêm trân trọng những đóng góp của những chiến sĩ hải quân một lòng trung hiếu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, chủ quyền Tổ quốc.

Hãy nhìn vào thực tế về một đất nước bước ra khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt. Sau mấy chục năm hòa bình lập lại, vẫn còn đó không ít bom, mìn, vũ khí tồn đọng, có thể cướp đi sự sống của người dân và hãy khắc ghi sự đóng góp của lực lượng công binh can trường đối mặt với tử thần, tái tạo sự bình an, mang đến môi trường sống an toàn cho hôm nay, mai sau.

Hãy nhìn vào nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần của các nạn nhân chất độc da cam để thấy sự nguy hại đáng sợ của vũ khí hóa học mà kẻ đi xâm lược nhẫn tâm gieo rắc lên lãnh thổ Việt Nam, để thấm ngấm đầy đủ hơn đóng góp của cán bộ, chiến sĩ hóa học đang ngày đêm đối diện với thứ kẻ thù vô hình, xua đi hiểm họa, lấy lại những điều kiện sống cần thiết, tốt đẹp cho nhân dân...

Lại phải nói rõ hơn về trí tuệ của người lính Cụ Hồ đóng góp vào cấu hình môi trường sống hiện hữu. Khi chúng ta cảm nhận về một con đường, một cây cầu, một công trình dân sinh... chỉ nhận thấy tác dụng bảo đảm giao thông, phục vụ dân sinh, kết nối giữa các vùng miền để thông thương hàng hóa. Thế nhưng, sự thật không chỉ có thế.

Khi biến cố xảy ra, khi khởi mào chiến sự, kẻ thù gây hấn, thì lập tức những công trình ấy chuyển hóa phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Các nhà máy, xí nghiệp đều có tính lưỡng dụng đến mức tối ưu; các làng xã văn hóa đều bảo đảm các yếu tố, thành tố cấu thành nên khu vực phòng thủ... Những giá trị mang lại ấy là thành quả của trí tuệ Việt Nam, là sản phẩm của nền quốc phòng toàn dân, mà người lính Cụ Hồ là chủ thể tiến hành công tác tham mưu, kiến tạo.

Đó là thành quả vô cùng to lớn, kết nên từ lịch sử chiến tranh và quá trình xây dựng, BVTQ mà QĐND Việt Nam giữ vai trò nòng cốt.

Trong đó, việc kiến tạo nên lực lượng 3 thứ quân; bồi đắp cho mỗi người dân lý tưởng, bản lĩnh, kiến thức quân sự cơ bản... để có thể trở thành người chiến sĩ quả cảm bảo vệ chủ quyền đất nước, thì quả là ;phép màu thần kỳ" được kết nên từ một khối lượng công việc đồ sộ mà ngay trong thời bình lớp lớp cán bộ, chiến sĩ quân đội đã và đang dày công vun đắp.

TẤN TUÂN - HOÀNG THỦY

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LỜI KÊU GỌI “BẤT TUÂN DÂN SỰ”

 Những năm gần đây, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng

Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng thủ đoạn kêu gọi người dân tham gia

“bất tuân dân sự” nhằm tập hợp lực lượng để khi có thời cơ thì tiến hành các cuộc

“cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, lật đổ chính quyền. Để không mắc mưu,

chúng ta cần nâng cao cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” dưới mọi

hình thức.

Theo giải thích của Từ điển mở Wikipedia “Bất tuân dân sự là các hoạt động, công khai từ

chối tuân theo một số luật lệ nhất định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một

quyền lực quốc tế chiếm đóng… Bất tuân dân sự đôi khi, mặc dù không phải luôn luôn,

được định nghĩa như là phản kháng bất bạo động”. Cũng theo Từ điển này, những vụ bất

tuân dân sự lớn, sớm nhất được thực hành bởi người Ai Cập chống lại sự chiếm đóng của

Anh trong cuộc cách mạng Ai Cập năm 1919. Nó đã được sử dụng trong nhiều phong trào


11


phản kháng bất bạo động tại nhiều quốc gia, như: chiến dịch của M. Gan-đi để giành độc

lập từ đế quốc Anh ở Ấn Độ; cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc của N. Man-đê-la

ở Nam Phi; “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Đông Đức; “cách mạng ca hát” ở các

nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX. Trong những năm

đầu thế kỷ XXI, hình thức này được thực hiện trong “cách mạng hoa hồng” ở Gru-zi-a

(năm 2003), “cách mạng cam” ở U-crai-na (năm 2004), “Mùa xuân Ả Rập” ở các nước

Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, v.v.

Thời gian gần đây, nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, các thế

lực thù địch ra sức cổ súy cho hình thức “bất tuân dân sự”, xem đó là con đường hữu hiệu

để lật đổ chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trên các trang mạng xã

hội của các thế lực thù địch xuất hiện nhiều lời kêu gọi thực hiện “bất tuân dân sự” tại Việt

Nam, như: “Lối thoát cho Việt Nam - bất tuân dân sự”, hoặc “Bất tuân dân sự - con đường

tự do cho Việt Nam”(!), v.v. Họ ra sức tuyên truyền, cổ súy cho các phong trào “bất tuân

dân sự” trên thế giới, như phong trào “cách mạng dù” gần đây ở Hồng Kông (Trung

Quốc); qua đó, phổ biến kinh nghiệm, giới thiệu các nguyên tắc, hình thức tham gia,

hướng dẫn cách đề ra khẩu hiệu, cách mang mặc trang phục và công cụ mang theo của

những người tham gia,… với cái gọi là “cẩm nang cho bất tuân dân sự”(!). Các tổ chức

phản động ở nước ngoài, như: Việt Tân, Voice cũng mở nhiều lớp huấn luyện nội dung,

hình thức “bất tuân dân sự” cho các thành viên để đưa về Việt Nam thực hiện hành động

phá hoại. Chúng lợi dụng bức xúc của người dân trước những vấn đề dân sinh, như: vướng

mắc về giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, ô nhiễm môi trường; những bất cập, chưa sát

thực tiễn của một số chủ trương, chính sách cụ thể; hay những hạn chế, yếu kém của chính

quyền địa phương trong hoạt động quản lý xã hội; hoặc lợi dụng sự ngộ nhận của người

dân trước những thông tin bịa đặt, xuyên tạc mà các thế lực phản động, cơ hội,… tuyên

truyền để kích động họ tụ tập, phản đối, không thực hiện các chủ trương, chính sách của

Đảng, Nhà nước. Qua đó, thúc đẩy hình thành các mâu thuẫn giữa người dân với chính

quyền, hợp thức hóa việc thực hiện mưu đồ tập hợp lực lượng, chống đối chính quyền, để

khi mâu thuẫn lên cực điểm, chúng sẵn sàng kêu gọi kết hợp đấu tranh bất bạo động với

bạo động để chống chính quyền, như vụ gây rối trật tự công cộng, hủy hoại tài sản nhà

nước ở Bình Thuận (tháng 6-2018).

Để ngăn chặn, làm thất bại thủ đoạn kêu gọi “bất tuân dân sự” của các thế lực thù

địch, cần quán triệt và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó, tập trung thực

hiện tốt các nội dung trọng tâm sau:

Chủ động vạch trần bản chất của thủ đoạn “bất tuân dân sự”, làm cho người dân hiểu rõ

những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” là một thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm, nằm trong chiến

lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhằm phá hoại môi trường hòa bình,

ổn định để xây dựng đất nước của nhân dân ta. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo

dục làm cho người dân thấy rõ bản chất của thủ đoạn “bất tuân dân sự” là những hành

động cố ý cản trở việc thực thi luật pháp, chính sách của chính quyền. Nói cách khác, đó là

hành động vi phạm pháp luật có chủ ý, thể hiện tư tưởng cực đoan, “vô chính phủ” của cá

nhân, tổ chức, hay của một nhóm người cụ thể; đi ngược lại lợi ích chính đáng của đại đa


12


số quần chúng nhân dân. Ở nước ta, khi bị các thế lực thù địch lợi dụng, “bất tuân dân sự”

trở thành công cụ để lật đổ chính quyền, thay đổi thể chế chính trị. Do đó, mọi người dân

cần đề cao cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” dưới mọi hình thức.

Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho mọi

tầng lớp nhân dân; làm cho khẩu hiệu “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” đi

vào thực tiễn cuộc sống, được nhân dân quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh ở mọi lúc,

mọi nơi. Theo đó, cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị để tuyên truyền, phổ

biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn; trong

đó, chú trọng nâng cao hiệu quả công tác này trong các nhà trường, ở các bậc học, từ bậc

phổ thông đến đại học. Các cơ quan thông tin, truyền thông cần phát huy thế mạnh của

mình, thường xuyên dành dung lượng phù hợp (số trang, số giờ phát sóng,…) để tuyên

truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; trong đó, cần đẩy mạnh hơn nữa tuyên truyền Nghị

định 38/2005/NĐ-CP, ngày 18-3-2005 của Chính phủ “Quy định một số biện pháp bảo

đảm trật tự công cộng”. Tập trung làm rõ những hành vi bị cấm, như: “(1). Lợi dụng các

quyền tự do dân chủ của công dân để thực hiện hoặc lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng

ép người khác tập trung đông người nhằm gây rối trật tự công cộng hoặc để thực hiện các

hành vi vi phạm pháp luật khác; (2). Tập trung đông người trái với quy định của pháp luật

ở lòng đường, vỉa hè, trước trụ sở cơ quan, tổ chức, tại khu vực đang diễn ra các hội nghị

quốc tế, kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc các hoạt động chính trị quan trọng

khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

hoặc nơi công cộng khác”, v.v. Hình thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục

pháp luật cần đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ chấp hành, phù hợp với trình độ nhận thức

của từng đối tượng cụ thể để nội dung mỗi luật và văn bản quy phạm pháp luật nhanh

chóng được người dân tiếp nhận. Chính quyền cơ sở ở các địa phương cần coi trọng việc

hướng dẫn người dân cách thức, quy trình, thủ tục khiếu nại, tố cáo, phản biện xã hội theo

quy định của pháp luật để người dân thực hiện. Kiên quyết, kiên trì động viên, thuyết phục

người dân tự giác chấp hành pháp luật theo đúng quy trình, trình tự; đồng thời, giải thích

cho họ hiểu rõ lợi ích của việc tuân theo và hệ quả của việc bất chấp quy trình, thủ tục đã

được pháp luật quy định.

Thực hiện tốt nền nếp chế độ tiếp dân của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các địa

phương, kịp thời giải quyết các bức xúc của người dân, không để “việc bé xé thành to”,

tạo cơ hội để các thế lực thù địch kích động phong trào “bất tuân dân sự”. Theo đó, cấp

ủy các địa phương cần thực hiện nghiêm túc Quy định 11-QĐi/TW, ngày 18-02-2019 của

Bộ Chính trị về “Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp công dân, đối

thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân”. Người đứng đầu cấp

ủy các địa phương (tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn) không chỉ trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo

công tác tiếp dân, xử lý, giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân, mà còn

phải trực tiếp thực hiện việc tiếp dân (theo định kỳ, hay đột xuất), kịp thời đối thoại với

dân khi cần thiết và xử lý, giải quyết các phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân

theo thẩm quyền. Cùng với đó, người đứng đầu chính quyền các địa phương phải coi trọng

phát huy quyền làm chủ của người dân; nghiêm túc thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở và


13


quy định của địa phương về tiếp công dân để kịp thời giải quyết các vướng mắc, bức xúc

chính đáng của người dân. Việc tiếp dân, đối thoại và xử lý, giải quyết những phản ánh,

kiến nghị, khiếu nại, tố cáo phải trên tinh thần tôn trọng, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng

của dân; dân chủ, công tâm, khách quan, kịp thời, đúng phạm vi thẩm quyền; trình tự, thủ

tục cần đơn giản, tạo thuận lợi cho người dân.

Tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân;

nâng cao năng lực nghiên cứu, ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà

nước; tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự

chuyển hóa” trong nội bộ. Đó là những biện pháp nhằm triệt tiêu các nguy cơ tiềm ẩn mà

các thế lực thù địch có thể lợi dụng để kêu gọi người dân thực hiện “bất tuân dân sự”.

Trong giai đoạn hiện nay, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp xây dựng Chính phủ “kỷ

cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”; xây dựng nền hành chính

phục vụ, trọng dân và gần dân. Đồng thời, nâng cao hơn nữa năng lực nghiên cứu, đề xuất,

ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo sát thực tiễn, có tính khả thi cao. Quá

trình thực hiện, cần quán triệt tinh thần: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của

nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến” 1 ; khắc phục triệt để việc đề xuất, ban hành

những chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật xa rời thực tiễn, gây bức xúc

dư luận, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng kích động. Muốn vậy, cần coi trọng

xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước thực sự tinh, gọn,

hiệu quả; “Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong

chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức” 2 . Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh

phòng, chống tham nhũng; xử lý nghiêm minh các cá nhân tham nhũng, không có “vùng

cấm”; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp

luật. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị

quyết Trung ương 4 (khóa XII); tích cực ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính

trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gắn với thực

hiện có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và

làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương để bám

nắm cơ sở; sớm phát hiện và đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng lôi

kéo người dân thực hiện “bất tuân dân sự” ngay khi mới manh nha. Các địa phương cần

có các phương án, kế hoạch phòng, chống “bất tuân dân sự”, lồng ghép vào các đợt diễn

tập khu vực phòng thủ để đánh giá mức độ sẵn sàng của địa phương. Khi có dấu hiệu xảy

ra hiện tượng “bất tuân dân sự”, các lực lượng của địa phương cần bình tĩnh phân tích,

đánh giá, xác định rõ nguyên nhân, đúng tính chất của tình hình, không nhầm lẫn giữa

mâu thuẫn nội bộ nhân dân với mâu thuẫn địch - ta; đồng thời, khéo léo phân hóa, cô lập

kẻ cầm đầu; kiên trì đối thoại, thuyết phục người dân bị lôi kéo không vi phạm pháp luật.

Trên cơ sở hiểu rõ nguyên nhân vụ việc, có biện pháp đồng bộ, xử lý triệt để, có lý, có

tình; xử lý nghiêm minh theo pháp luật những kẻ cầm đầu để răn đe và giáo dục, thuyết

phục những người nhẹ dạ, cả tin, bị lôi kéo. Việc huy động các lực lượng tham gia giải


14


quyết các “điểm nóng”, tụ tập đông người, cần thực hiện đúng quy định của Chính phủ,

không tùy tiện.

Cùng với những giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt các chính sách an

sinh xã hội, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, việc

thực hiện đồng bộ các nội dung trọng tâm nói trên sẽ góp phần quan trọng làm thất bại

mưu toan kích động “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt

Nam.

Tóm lại, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, thiết yếu của

các quyền tự do, dân chủ của người dân với ý nghĩa là một quyền thiết thân của con người,

là động lực phát triển của đất nước. Tuy nhiên, không một quốc gia nào trên thế giới lại

dung thứ các hành vi lợi dụng dân chủ, cổ xúy cho các hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn

hại đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của người dân.

Nhận diện các biểu hiện lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và

cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược

trong điều kiện hiện nay, không chỉ góp phần thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống

chính trị và của từng người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá âm

mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó chủ động trong việc triển khai có

hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn./.

tuân dân sự” hay là chiêu trò kích động, chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị

 TCCS - Thực tiễn tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cũng như tại  Việt

Nam cho thấy, các thế lực phản động, thù địch đã sử dụng chiêu bài “bất tuân dân

sự” để tiến hành các hoạt động chống phá, tấn công nhằm làm thay đổi tình hình

chính trị của quốc gia. Thủ đoạn chống phá dưới chiêu bài “bất tuân dân sự” là

nguồn gốc thai nghén các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, bạo loạn

lật đổ chính quyền… tại không ít nơi trên thế giới, tạo ra những hệ quả vô cùng

nghiêm trọng, những hậu quả khôn lường cho an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã

hội ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Bất tuân dân sự - góc nhìn, quan điểm và  một số biểu hiện biến


tướng


Thuật ngữ “bất tuân dân sự” lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Hen-ri

Đây-vít Thơ-râu, nhà văn, nhà triết học người Mỹ, người bị chính quyền bang Ma-sa-

chu-sét bắt do hành vi không đóng thuế vào cuối tháng 7 năm 1846, với nhan đề “Về

bổn phận bất tuân dân sự” vào tháng 5-1849 (1) . Quan điểm của Thơ-râu sau đó được

phát triển bởi một số học giả khác, chẳng hạn Gin-Sáp, Giáo sư chính trị học tại

trường Đại học Massachusetts Dartmouth (Mỹ).

Khái niệm bất tuân dân sự đã phát triển trong một thời gian dài, được rút ra từ các giai

đoạn lịch sử khác nhau và từ các nền văn hóa khác nhau. Đã có nhiều tác giả nghiên

cứu, đưa ra quan điểm, cách nhìn để nhận diện bất tuân dân sự. Theo Giôn-Ron, nhà

triết học chính trị nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ XX, định nghĩa   bất tuân dân sự là một

hành động công khai, bất bạo động, triệt để nhưng có tính chính trị trái với luật pháp

nhằm mục đích thay đổi luật pháp hoặc chính sách (2) . Hu-gô A-đam Bê-đâu, Giáo sư

triết học của Đại học Tufts (Mỹ) định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động bất hợp

pháp, được thực hiện một cách công khai, không mang tính bạo lực và thực hiện một

cách cố ý, trong khuôn khổ pháp quyền và với ý định phản kháng hoặc phản đối một số

luật, chính sách hoặc quyết định của chính phủ hoặc một số công chức của chính phủ (3) .

Ki-li và Ba-mu-lơ định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động có chủ ý, công khai và

bất bạo động vi phạm luật mà người đó phải chịu trách nhiệm và chế tài (4) . Xờ-mít quan

niệm rằng bất tuân dân sự là một cuộc phản đối công khai, bất hợp pháp và mang tính

chính trị được thực hiện chống lại nhà nước hoặc chính sách (5) . Sen-đơn trong cuốn

Bách khoa toàn thư về tư tưởng chính trị định nghĩa bất tuân dân sự là bất tuân hoặc vi

phạm pháp luật vì các lý do đạo đức, tôn giáo hoặc các lý do khác, bởi một cá nhân

hoặc một nhóm có tổ chức  (6) .

Bất tuân dân sự có nhiều hình thức và cách biểu hiện khác nhau. Ví dụ, có cách tiếp cận

cho rằng bất tuân dân sự có 5 hình thức biểu hiện (7) : Một là, tuần hành muối do Ma-

hát-ma Gan-đi lãnh đạo (dẫn đầu đoàn 78 người đi bộ trong 24 ngày để phản đối

chính sách độc quyền muối do chính quyền Anh áp đặt) (8) ; hai là, chiến dịch

Extremadura  - một phong trào cải cách ruộng đất ở Tây Ban Nha; ba là, tuần hành

ủng hộ và phong trào bất di chuyển ở Mỹ; bốn là, loại bỏ các doanh nghiệp không

mong muốn (phong trào chống toàn cầu hóa ở Pháp); năm là, phong trào vận động

không đóng thuế ở Luân đôn năm 1990.

Không thể bác bỏ một chân lý hiển nhiên rằng, xây dựng pháp luật

là công việc nội bộ của từng quốc gia, xuất phát từ nhu cầu, lợi ích


của từng quốc gia


Cần khẳng định rằng, dưới góc độ một nhà nước pháp quyền, một khi đạo luật đã được

ban hành thì đạo luật đó phải được tôn trọng và thực thi. Không một quốc gia nào trên

thế giới lại dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ, không một

quốc gia nào lại cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho

hoạt động công quyền, thực thi công lý. Đồng thời, hậu quả do việc lợi dụng “bất tuân

dân sự” để lại rất nặng nề, kéo dài không chỉ ảnh hưởng về kinh tế - xã hội, mà còn

gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn

kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền. Mặt khác,


7


việc xây dựng và thực thi pháp luật là công việc nội bộ của từng quốc gia và phải phù hợp

với điều kiện của từng quốc gia. Không ai có thể phản bác điều hiển nhiên này. Nhiều

nhà tư tưởng nổi tiếng thế giới cũng chỉ rõ việc nghiên cứu về quốc gia, xây dựng và

thực thi pháp luật phải căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của từng quốc gia, khu vực, dân

tộc. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Mông-te-xki-ơ, nhà bình luận xã hội và

tư tưởng chính trị nổi tiếng người Pháp, chỉ rõ: “Khi tôi nghiên cứu về con người, tôi

đã đi đến kết luận rằng, những sự khác biệt của pháp luật và của đạo lý loài người

không phải do họ tự vẽ ra một cách tùy tiện. Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ

chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này.

Và chỉ có những trường hợp rất đặc biệt luật của dân tộc này mới có thể thích ứng với

dân tộc khác (9) . Hê-ghen, nhà triết học vĩ đại người Đức, cũng khẳng định điều tương

tự: “Mỗi dân tộc có chế độ nhà nước của mình; chế độ nhà nước Anh quốc là của người

Anh; và nếu như người ta tự dưng muốn chuyển cho người Phổ thì điều đó cực kỳ vô lý

như là quyết định chuyển Nhà nước Phổ cho người Thổ Nhĩ Kỳ. Mỗi một chế độ nhà

nước chỉ là sản phẩm, là sự thể hiện tinh thần của riêng một dân tộc và của trình độ

phát triển của ý thức dân tộc của họ mà thôi. Sự phát triển đó đòi hỏi một sự vận động

liên tục và nhiều bước trong đó không một bước nào có thể bị xóa bỏ” (10) . Công ước về

các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền

tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của

mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa” (11) . Công ước về các quyền kinh tế,

xã hội và văn hóa năm 1966 khẳng định: “1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất

phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát

triển kinh tế, xã hội và văn hóa...” (12) .

Vì lẽ đó, việc xác định và lựa chọn ban hành đạo luật nào là quyền năng riêng của từng

quốc gia. Ban hành Luật An ninh mạng là một ví dụ điển hình. Cần thấy rằng, luật

(pháp luật) về an ninh mạng luôn được quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều

quốc gia và tổ chức quốc tế trên toàn thế giới (13) ... Luật An ninh mạng rất cần thiết không

chỉ để bảo vệ an ninh quốc gia mà còn nhằm bảo vệ người dân, để có môi trường xã hội

phát triển lành mạnh trên không gian mạng. Các quy định trong dự thảo Luật An ninh

mạng của Việt Nam được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, với sự tham gia đóng góp ý kiến

của các bộ, ngành chức năng, cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, nhiều

chuyên gia, tổ chức, tập đoàn kinh tế, viễn thông nước ngoài lớn (như Facebook,

Google, Apple, Amazon, Hội đồng kinh doanh Mỹ - ASEAN, Hiệp hội điện toán đám

mây châu Á; các cơ quan đại diện nước ngoài như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Nhật

Bản... và ý kiến rộng rãi của quần chúng nhân dân; sự thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng

và An ninh, sự chỉnh lý của các đại biểu Quốc hội qua 2 kỳ họp thứ 4 và thứ 5, Quốc hội

khóa XIV (14) . Các quy định của Luật An ninh mạng cũng phù hợp với pháp luật các nước và

thông lệ quốc tế. Quy định về tội phạm mạng trong Luật An ninh mạng không phải là

điều xa lạ gì, bởi lẽ không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia cũng quy định về tội phạm

mạng. Theo thống kê của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển

(UNCTAD), đã có đến 154 quốc gia trong tổng số 194 quốc gia thành viên UNCTAD ban

hành luật pháp về tội phạm mạng (15) .   Các quy định của Luật An ninh mạng về bảo vệ

thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân,

bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng cũng phù hợp với xu hướng

chung trên toàn thế giới về bảo vệ thông tin cá nhân. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ

trên thế giới đã ban hành Luật về bảo vệ thông tin cá nhân dưới nhiều tên gọi khác

nhau như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Bảo vệ dữ liệu, Luật Bảo vệ thông tin cá

nhân, Luật về bảo vệ các mối quan hệ không công khai... Theo thống kê của UNCTAD,

128 trong tổng số 194 quốc gia thành viên của UNCTAD đã ban hành luật để bảo đảm

việc bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư (16) . An ninh quốc gia cũng là một ngoại lệ trong các


8


điều ước quốc tế quan trọng về thương mại quốc tế (17) . Điều này thể hiện tầm quan trọng và

ý nghĩa sống còn của vấn đề an ninh quốc gia đối với tất cả các nước trên thế giới.

Lật tẩy các hành động lợi dụng quyền tự do, dân chủ để “bất tuân

dân sự”, vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt


động công quyền, thực thi công lý


Không thể bác bỏ một điều hiển nhiên rằng, việc các thế lực phản động, thù địch tìm

mọi cách xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta từ nhiều phương diện khác nhau

như xuyên tạc Luật An ninh mạng, xuyên tạc dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế

đặc biệt, lợi dụng việc phản đối một số chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước ta

một cách phi lý, thiếu căn cứ đã và đang là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Việt

Nam, xâm hại quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội và từng người dân. Các đối tượng

phản động, thù địch đã kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở

giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương

nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng,

doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến pháp luật của Nhà nước,

xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công

dân...

Đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính  - kinh tế đặc biệt, mặc dù Quốc hội đã quyết

định lùi thời hạn thông qua để có thời gian bổ sung, hoàn thiện, nhưng các thế lực

phản động, thù địch vẫn tung thông tin xuyên tạc, kích động, đòi phải đưa vấn đề này

ra trưng cầu ý dân toàn quốc theo Luật Trưng cầu ý dân năm 2015; thổi phồng rằng

không thể chỉ dừng ở đấu tranh cho một vài đạo luật mà phải thực hiện đa nguyên, đa

đảng theo mô hình dân chủ phương Tây; kích động các đợt biểu tình, tuần hành bằng

những mỹ từ mị dân như “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”,

“nhiều người trong bộ máy cầm quyền thức tỉnh”...; thực hiện những chiêu trò mới

như gây kẹt xe ở các đô thị, biểu tình trên mạng, hô hào các tổ chức phản động tổ chức

biểu tình ở nước ngoài...

Trước hết, cần thấy rõ rằng bất kỳ dự án luật nào cũng cần thực hiện đầy đủ quy trình xây

dựng, ban hành. Các cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật của Việt Nam đều luôn

tuân thủ quy trình đó, bảo đảm cao nhất sự tham gia của nhân dân góp ý xây dựng các

dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Bản thân Dự luật Đơn vị hành chính

- kinh tế đặc biệt cũng không nằm ngoài quy trình đó. Theo quy định của Luật Ban hành

văn bản quy phạm pháp luật, việc xây dựng, ban hành văn bản luật phải thông qua một

quy trình rất chặt chẽ. Người dân có quyền được tiếp tục góp ý để Quốc hội hoàn thiện

dự án Luật trên cơ sở góp ý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và

Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận, các cơ quan, tổ chức

khác, cá nhân, lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và cơ quan,

tổ chức có liên quan theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp

luật, đồng thời việc góp ý kiến phải trên cơ sở tìm hiểu kỹ lưỡng dự thảo luật và có cơ

sở khoa học, không tiếp tay cho những hành vi xuyên tạc, kích động, chống đối, phá

hoại đất nước.

Việc xây dựng, ban hành một đạo luật trước hết phải dựa trên lợi ích của quốc gia đó và

phải có cơ sở, lập luận khoa học. Không phải tự nhiên mà đạo luật An ninh mạng được

ban hành ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Một điều dễ nhận thấy là an

toàn thông tin đang là vấn đề nổi cộm ở không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước trên


9


thế giới. Theo số liệu từ Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), hơn

9.300 trang web tại Việt Nam bị tấn công trong năm 2019. Theo báo cáo International

Privacy Day Report 2020 của Kaspersky, Việt Nam đứng thứ 9 trên toàn cầu về mức độ

bị ảnh hưởng bởi phần mềm gián điệp, với 7.216 người dùng bị tấn công vào năm 2019.

Theo số liệu thống kê được ghi nhận bởi hệ thống giám sát của hãng bảo mật Mỹ

SonicWall, hầu hết các hình thức tấn công đều có xu hướng gia tăng trên toàn cầu

trong năm 2018. Cụ thể, số lượng các tấn công bằng mã độc gia tăng trên toàn cầu

trong ba năm liên tiếp. Theo Báo cáo rủi ro toàn cầu năm 2019 của Diễn đàn Kinh tế

thế giới, các cuộc tấn công an toàn, an ninh mạng hiện nằm trong số những rủi ro

hàng đầu trên toàn cầu. Trong năm 2019, hệ thống CyStack Attack Map ghi nhận

563.000 cuộc tấn công vào các trang web trên toàn cầu. 

Thực tiễn các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã chỉ ra một điều hiển nhiên

rằng, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt luôn diễn ra và là hiện tượng phổ biến trên

thế giới (18) . Theo dữ liệu thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong vòng 30

năm, từ năm 1975 đến năm 2006, đã có sự tăng vọt số lượng SEZ và số lượng quốc gia

có SEZ trên toàn thế giới (19) . Nhiều quốc gia đã ban hành các luật riêng về khu kinh tế (20) .

Như vậy, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt trên thế giới không phải là hiện

tượng ngẫu nhiên xuất hiện, mà đã có một quá trình hình thành lâu dài, với nhiều

dạng thức khác nhau, được ghi nhận trong nhiều tài liệu của các tổ chức quốc tế lớn, và

được quy định trong một đạo luật riêng biệt của quốc gia.

Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ,

nhưng không dung thứ cho hành vi lợi dụng tự do, dân chủ, “bất

tuân dân sự” để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng và Nhà nước

Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, cần thiết cho cuộc sống, là

một biểu hiện cho tiến bộ và là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhưng tự do

chưa bao giờ và không bao giờ là tự do chung chung, tự do vô bờ bến. Điều này được thể

hiện rõ nét trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế (21) . Pháp luật Việt Nam chỉ hạn

chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật

tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Ví dụ, khoản 1,

Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân

chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc

quy định chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh

quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng cũng

phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Cụ thể là, Công ước quốc tế về các quyền dân

sự và chính trị (ICCPR) đề cập cụ thể trong một số điều quy định về các quyền có thể

chịu sự giới hạn (Điều 4, Điều 19). Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm

1789 đưa ra các giới hạn đối với quyền tự do ngôn luận theo đúng định nghĩa của nó

(Điều 4, Điều 10, Điều 11).

Nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng quyền tự do ngôn luận để phát ngôn tiêu cực, thù địch

trên in-tơ-nét, Ủy ban châu Âu (European Commission) đã ký Quy tắc ứng xử về chống

lại lời nói có nội dung tiêu cực, thù địch bất hợp pháp trực tuyến với Google (YouTube),

Facebook, Twitter và Microsoft năm 2016. Instagram, Google+, Dailymotion, Snap và

Jeuxvideo.com sau đó đã tham gia Quy tắc này.

Thông qua đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam

luôn quan tâm đến việc bảo đảm sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Nhà


10


nước và xã hội, bảo đảm quyền giám sát, phản biện xã hội của các chủ thể. Nhà nước

Việt Nam bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ thể, ủng hộ phản

biện xã hội chân chính để hoàn thiện chính sách, pháp luật, xây dựng xã hội thượng

tôn pháp luật. Nhưng việc lợi dụng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ xúy và bảo vệ những

hành vi vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền cần

phải được ngăn chặn, đẩy lùi. Nhiều quan điểm trên thế giới cũng chỉ rõ tính trái pháp luật

của hành vi bất tuân dân sự, phản bác việc lợi dụng bất tuân dân sự để kích động các hành

vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại đến hoạt động công quyền. Pi-tơ Mai-ơ, Giáo sư khoa

học chính trị tại Đại học Wisconsin-Eau Claire (Mỹ), chỉ ra rằng bất tuân dân sự “gây

ra mối đe dọa đối với nhà nước pháp quyền” (22) . Trong một nghiên cứu trên một Tạp chí

về luật của Mỹ, Ét-uốt Ma-rếc chỉ rõ: “Hành vi như vậy có thể được phân loại là bất

tuân dân sự theo nghĩa là nó vi phạm một hệ thống luật có trật tự, nhưng nó cũng là

hành vi không thể được bảo vệ bởi hiến pháp hoặc chế tài tư pháp bất kể mục đích của

nó là gì hoặc sự bất công của các luật mà nó chống lại” (23) . Trên một phân tích trên tờ

Thời báo New York, Sác-lơ Phơ-ran-ken, nhà triết học người Mỹ, viết: “tôi có thể

đúng khi nghĩ rằng một sắc lệnh chống đi bộ đường dài là một sự vi phạm không cần

thiết đối với các quyền của tôi. Tuy nhiên, điều này không hợp lý khi tôi tổ chức một

cuộc đình công khổng lồ trên những con phố tắc nghẽn giao thông trong một tuần” (24) .

Luật sư người Mỹ Mô-rít Lép-man, người được Tổng thống Mỹ Rô-nan Ri-gân trao

tặng Huân chương Tự do Tổng thống vào năm 1981, dẫn lời Tổng thống Mỹ A-bra-

ham Lin-côn, viết: “Mỗi người hãy ghi nhớ rằng vi phạm pháp luật là chà đạp lên máu

mủ của cha mình, và xé bỏ hiến chương về quyền tự do của chính mình và con cái

mình. Hãy để cho sự tôn kính pháp luật được hít thở bởi mỗi bà mẹ Mỹ đối với đứa con

đang nói ngọng nựng nịu trong lòng mình; hãy để nó được giảng dạy trong các trường

học, trong các chủng viện và trong các trường cao đẳng; hãy để nó được viết trong các

sách bổ túc, sách chính tả, và trong các niên giám; hãy để nó được rao giảng từ bục

giảng, được công bố trong các phòng lập pháp và được thực thi tại các tòa án” (25) . Tòa án

nhiều nước đều không cho phép hành vi bất tuân dân sự làm ảnh hưởng đến lợi ích chung.

Phó Giáo sư luật Ri-sát Mô-lơ, Trung tâm Luật của Đại học Georgetown (Mỹ), dẫn lời

của Chánh án thứ 11 của Tối cao Pháp viện Mỹ Sác-lơ Êvan Hu-gơ, viết: “duy trì cơ hội

thảo luận chính trị tự do đến cùng để chính phủ có thể đáp ứng ý chí của người dân và

những thay đổi có thể đạt được bằng các phương tiện hợp pháp... là một nguyên tắc cơ

bản của hệ thống hiến pháp của chúng tôi” (26) .

“Sạn” trong các sách giáo khoa Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10 mới

 Trong chủ đề 7, hoạt động 2: Tìm hiểu thông tin về các nhóm nghề ở trang 61 sách giáo khoa Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10 của bộ sách Cánh diều cũng như trong Chủ đề 8 - Phần tìm hiểu nhóm nghề định lựa chọn của bản thân ở trang 70 sách giáo khoa Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10 của bộ sách Chân trời tri thức … các tác giả đã không mô tả các nghề theo Danh mục nghề nghiệp Việt Nam ban hành kèm Quyết định số 34/2020/QĐ-TTg ngày 26/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ (hay được giới chuyên môn gọi là VISCO) mà đều dùng mô tả các nhóm ngành, nghề đào tạo trích dẫn theo Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2020 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Ban hành Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng. Nhìn từ góc độ hướng nghiệp cho học sinh trung học, nhiều chuyên gia nhận định đây là một sai lầm nghiêm trọng.

Theo Tiến sĩ Lê Đông Phương, khi thực hiện các hoạt động tư vấn về hướng nghiệp, chọn nghề và phát triển sự nghiệp, những người biên soạn sách giáo khoa luôn cần phân biệt cho học sinh 3 khái niệm có liên quan nhưng lại rất khác nhau, đó là: ngành học/ngành đào tạo - nghề làm việc và ngành/lĩnh vực kinh tế. Cả ba vấn đề này đều có các văn bản pháp lý tương ứng về phân loại, phản ánh bản chất khác biệt của chúng. Mặc dù các văn bản pháp lý này có rất nhiều khái niệm tương tự nhau nhưng lại có ý nghĩa khác nhau trong các bối cảnh. Về danh mục ngành đào tạo có Quyết định 01/2017/QĐ-TTg Ban hành Danh mục giáo dục, đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân với các Mã ngành cấp I, II và III. Trên cơ sở Quyết định này Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có Thông tư 26/2020/TT-BLĐTBXH Ban hành Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Thông tư số 09/2022/TT-BGDĐT Quy định Danh mục thống kê ngành đào tạo của giáo dục đại học (mã ngành cấp IV). Ở đó, Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ quy định phân loại các ngành, nghề đào tạo thuộc các trình độ trung cấp và cao đẳng của hệ thống giáo dục nghề nghiệp, chứ không phải phân loại nghề làm việc. Do vậy, việc đưa phân loại ngành, nghề đào tạo theo Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vào làm căn cứ cho học sinh tìm hiểu thế giới nghề nghiệp là sự nhầm lẫn rất sơ đẳng, bởi ngành đào tạo và nghề làm việc là hai câu chuyện khác nhau, chứng tỏ nhóm tác giả thiếu hiểu biết về hệ thống phân loại của Nhà nước cũng như sự khác nhau về bản chất của ngành, nghề đào tạo với nghề làm việc. Chẳng hạn, Nhóm biên soạn liệt kê từ danh mục ngành, nghề đào tạo như: nghề đào tạo giáo viên, nghề an ninh - quốc phòng… nhưng đây không phải là nghề làm việc, mà là cụm ngành học, ngành đào tạo, không phải là khái niệm về nghề làm việc. Mặt khác, phải phân biệt rành rọt ngành đào tạo với nghề làm việc vì có những khái niệm được sử dụng trong cả hai hệ khái niệm. Ví như các trường đại học có đào tạo ngành kế toán, bên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng đào tạo nghề kế toán, tuy nhiên nghề kế toán (nghề làm việc) lại không giống như ngành kế toán. Theo đó, trong ngành kế toán, người học sẽ học những kiến thức cơ sở ngành như nguyên lý kế toán, kế toán quản trị, kế toán chi phí, kiểm toán, … đến các kiến thức chuyên sâu của ngành như Kế toán ngân hàng, Kế toán tài chính, Thuế, Kế toán công công ty chứng khoán, phân tích báo cáo tài chính, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối. Tuy nhiên khi học xong ngành kế toán người ta có thể đi làm Chuyên viên phụ trách kế toán, kiểm toán, giao dịch ngân hàng, thuế, kiểm soát viên, thủ quỹ, tư vấn tài chính; Nhân viên môi giới chứng khoán, nhân viên quản lý dự án, nhân viên phòng giao dịch và ngân quỹ; Thanh tra kinh tế, nghiên cứu tài chính hay giảng dạy về kế toán. Còn bản thân nghề kế toán có thể tuyển dụng người có bằng cấp về kế toán hay toán, thống kê, kinh tế .…

Như vậy, nếu sử dụng danh mục ngành, nghề đào tạo theo Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để coi đó như sự giới thiệu về thế giới việc làm, người học sẽ hiểu sai khái niệm, dễ dẫn đến ảo tưởng cho người học là học xong nghề đó là có việc làm. Thêm nữa, danh mục ngành, nghề đào tạo đó chỉ phân loại trình độ đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao đẳng, còn thiếu các ngành đào tạo trình độ đại học, sau đại học.

Vì vậy, vị chuyên gia mới buông lời cảm thán rằng: “Thế này bảo sao các cháu bị hướng nghiệp sai. Vậy mà qua được khâu thẩm định mới giỏi. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định lại và sớm có sự bổ khuyết, điều chỉnh thích hợp cho các sách giáo khoa Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10 bị lỗi này”./.