Thứ Tư, 19 tháng 10, 2022
TÂY NGUYÊN LÀ ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG CỦA CẢ NƯỚC!
CẢNH GIÁC VÀ ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!
Thứ Ba, 18 tháng 10, 2022
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 1966!
VAI TRÒ CON NGƯỜI-TRUNG TÂM SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC!
NHỮNG AI CHỈ TRÍCH VIỆT NAM BỎ PHIẾU TRẮNG TRONG NGHỊ QUYẾT LIÊN HỢP QUỐC THÌ CẦN NHỚ VỀ NHỮNG ĐIỀU NÀY
- Hãy nhớ lần quân tình nguyện Việt Nam tham gia chiến dịch biên giới Tây Nam. Phần lớn các quốc gia trên thế giới chỉ trích chúng ta. Sau khi tội ác Khmer Đỏ được phanh phui, hầu hết các quốc gia im lặng. Họ tập trung vào khoe công trạng xét xử Khmer Đỏ, không thèm quan tâm đến hàng ngàn người Việt Nam và hàng triệu người Campuchia bị thảm sát.
- Nghị quyết nào lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979? Hay nghị quyết chỉ dành cho nước lớn và đàn áp nước nhỏ?
- Hãy nhớ rằng trong 30 năm qua, đã có 29 lần Liên Hợp Quốc yêu cầu các quốc gia thành viên bỏ phiếu lên án Hoa Kỳ cấm vận Cuba. Trong 29 lần đó, lần nào số phiếu lên án Hoa Kỳ cũng áp đảo và vượt trội, trong đó lần gần nhất có tới 184 phiếu thuận, 03 phiếu trắng (1 phiếu của Ukraine), 2 phiếu chống (Hoa Kỳ, Israel). Nghị quyết lên án Hoa Kỳ cấm vận Cuba là một trong những nghị quyết được ủng hộ lớn nhất lịch sử Liên Hợp Quốc, nhưng vẫn chẳng giải quyết được điều gì cả. Người anh em của chúng ta vẫn bị cấm vận.
- Ukraine đã từng bỏ phiếu chống việc “lên án chủ nghĩa phát xít” trong một nghị quyết tại Liên Hợp Quốc vào năm 2014. Nên nhớ là chỉ có 3 quốc gia bỏ phiếu chống đó là Hoa Kỳ, Canada và Ukraine. Có 50 quốc gia, trong đó phần lớn là châu Âu bỏ phiếu trắng với cam kết “chúng tôi lên án chủ nghĩa phát xít, nhưng không muốn bày tỏ điều đó tại đây” và gần 120 quốc gia bỏ phiếu đồng ý.
- Nếu các anh chị lo cho Việt Nam rằng sau này Trung Quốc hay bất cứ quốc gia nào đó đánh Việt Nam thì sẽ không có ai ủng hộ. Đừng quên rằng lịch sử của chúng ta đã phải trải qua như thế nào. Nếu các lá phiếu có tác dụng thì Hoa Kỳ đã không ở lại Việt Nam lâu đến như thế, nếu các lá phiếu có tác dụng thì Cuba đã không bị cấm vận, người Palestine đã không bị mất đất, tội ác diệt chủng Khmer Đỏ đã không được che giấu suốt bao nhiêu năm…
- Tại sao cứ phải lo xa cho một trường hợp Trung Quốc đánh Việt Nam? Tại sao không phải là Việt Nam sẽ mạnh mẽ hơn? Tại sao không phải là hai quốc gia sẽ sống chung hòa bình từ những bài học trong quá khứ? Miệng bô bô bỏ phiếu để đề phòng Trung Quốc đánh Việt Nam thì khác gì mời gọi là "đánh Việt Nam đi", công khai chống một quốc gia như vậy thì chẳng khác gì đẩy hai quốc gia đến mồi lửa chiến tranh.
- Tại sao lúc Việt Nam ủng hộ Cuba, Palestine... các anh chị không lên bài, đăng trạng thái ủng hộ lá phiếu của nước nhà đi? Hay tính mạng, công lý của người Cuba, Palestine với các anh các chị không bằng tính mạng người Ukraine? Hãy thôi cái trò đạo đức giả đó lại. Tự nhiên quan tâm đến chính trị thế? Hay vì mưu đồ gì đó?
- Một lá phiếu được đặt lên bàn cân Liên Hợp Quốc mang sức nặng to lớn của một dân tộc. Lá phiếu đó thể hiện đường lối ngoại giao từ lịch sử đến hiện tại. Lá phiếu đó được bỏ phiếu phải vì lợi ích của người Việt Nam trước tiên hơn là chỉ vì muốn đẹp lòng một vị đại biện nào đó. Nếu vị đại biện đó chân thành, bà đã không nhận lời phỏng vấn VOA Tiếng Việt - một tờ báo chống phá Việt Nam và không nói với giọng điệu bề trên “Việt Nam là nước nhỏ”
XTst
Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên khi tham gia mạng xã hội
Ngày nay, dường như mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con
người. Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng mạng xã hội vẫn liên tục tăng qua các năm; hiện, một số mạng
xã hội như Facebook, Zalo, Tiktok, You Tube… có số lượng người dân Việt Nam tham gia rất lớn,
trong đó có cán bộ, đảng viên.
Tận dụng ưu thế của mạng xã hội, nhiều cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội như một phương thức có hiệu quả trong công việc cũng như trong cuộc sống, biến mạng xã hội thành công cụ hữu ích. Thông qua mạng xã hội, có thể nhanh chóng chia sẻ, trao đổi, nhận biết thông tin. Nhiều cán bộ, đảng viên biết tận dụng mạng xã hội để chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm công tác; thông tin, tuyên truyền, quảng bá các hoạt động, hình ảnh của Đảng, Nhà nước, địa phương, đơn vị đến với Nhân dân; mạng xã hội cũng là công cụ đắc lực trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng trong điều tra, nắm bắt dư luận xã hội phục vụ cho công tác tuyên giáo…
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy vẫn còn hiện tượng một số cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội khá tùy tiện, gây ảnh hưởng không tốt hình ảnh, lợi ích của cá nhân, tổ chức, địa phương. Không ít trường hợp cán bộ, đảng viên dùng mạng xã hội để nói xấu, xúc phạm, miệt thị người khác bằng loại ngôn từ thiếu văn hóa; đăng tải, chia sẻ thông tin độc hại, bịa đặt, xuyên tạc, không kiểm chứng nguồn gốc, không bảo đảm tính chính xác; đăng tải những nội dung mang tính bất mãn, gây mất đoàn kết... Nhiều trường hợp cán bộ, đảng viên đã bị cơ quan chức năng nhắc nhở, xử phạt hành chính, thậm chí bị cách chức (nguyên Trưởng khoa của Trường chính trị Hà Tĩnh), khai trừ khỏi Đảng (chuyên viên Văn phòng thuộc UBND thành phố Hồ Chí
Minh)…Ở Kon Tum, cũng có một số trường hợp cấp ủy, thủ trưởng cơ quan phải kiểm tra, chấn chỉnh.
Những trường hợp đáng tiếc đó, có những người chủ ý, nhưng cũng không ít người vì chủ quan, thiếu thận trọng, thiếu trách nhiệm, thiếu hiểu biết về các quy định…
Thực tế này cho thấy việc xử phạt các sai phạm trên không gian mạng nói chung, và việc truy cứu trách
nhiệm của cán bộ, đảng viên để xảy ra sai phạm khi tham gia mạng xã hội nói riêng cần phải nghiêm khắc,
kiên quyết hơn nữa, để mỗi người luôn ý thức rằng bản thân là cán bộ, đảng viên thì càng phải có trách
nhiệm cao trong tự giác điều chỉnh nhận thức và hành xử đúng đắn trên môi trường mạng.
Ðến nay, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định quyền tự do thông tin của công dân và
trách nhiệm của người dân khi sử dụng internet nói chung và mạng xã hội nói riêng như: Luật Báo chí năm
2016; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định số 72/2013/NÐ-CP quản
lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng; Nghị định số 174/2013/NÐ-CP quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện;
Quy định về những điều đảng viên không được làm…Tuy nhiên, đối với những văn bản luật này vẫn còn một
bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa chịu khó tiếp cận, nghiên cứu, nên vẫn còn có sự hiểu biết mập
mờ, dẫn đến sự thiếu trách nhiệm và dễ sai phạm trong sử dụng mạng xã hội. Vậy nên, các địa phương, cơ
quan, đơn vị cũng cần thiết phải nghiên cứu, ban hành văn bản quy định về việc tham gia mạng xã hội của
cán bộ, đảng viên trong phạm vi điều chỉnh của mình.
Thủ trưởng cơ quan, đơn vị; cấp ủy; các tổ chức đoàn thể cần nâng cao trách nhiệm trong công tác chỉ đạo,
định hướng, theo dõi, nhắc nhở cán bộ, đảng viên, đoàn viên về những nguyên tắc cần tuân thủ khi tham gia
mạng xã hội; đồng thời, có biện pháp xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm theo quy định.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực nghiên cứu và tuân thủ nghiêm túc các quy định hiện hành của Đảng,
Nhà nước, các cơ quan chức năng và cơ quan, đơn vị mình đang công tác khi tham gia mạng xã hội; phải
chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật, tổ chức nếu sai phạm trong quá trình tham gia. Khi tham gia
mạng xã hội phải lan tỏa các nội dung, hình ảnh tích cực, có tính tuyên truyền, giáo dục cao; các chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, giáo dục, phát huy truyền thống cách mạng của
địa phương, đất nước; thông tin, tuyên truyền những sự kiện trọng đại, những kết quả nổi bật về tình hình
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương, đất nước; giới thiệu, quảng bá hình
ảnh và thế mạnh của địa phương, đất nước đến với bạn bè trong nước và quốc tế…Sử dụng mạng xã hội để
trao đổi, chia sẻ, chuyển tải các nội dung thông tin phục vụ nghiệp vụ công tác. Xây dựng quan điểm, lập
trường vững vàng; chung tay, góp sức nhận diện, phản bác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn và các luận
điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.
Bài, ảnh: Ngô Đức Hải
Bóc trần âm mưu “dân sự hóa” quân đội
Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng: Trung ương nên chủ trương “dân sự hóa
hoạt động quân sự” để hạn chế hao tốn nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, lại huy động được sức
dân trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội.
Thực chất, đằng sau những lập luận ấy là chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, hòng phá vỡ tính tổ
chức, tính kỷ luật, hạ bệ vai trò của quân đội, làm cho Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam xa rời mục tiêu,
lý tưởng, nhằm hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”
Mưu đồ phía sau “những lời có cánh”
Trên một số trang mạng nước ngoài gần đây đăng tải nhiều bài viết tập trung “phân tích” về chủ trương, cách
thức vận hành trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam. Các bài viết này “ngợi khen” việc nhất
quán “mỗi người dân là một chiến sĩ” thể hiện cách làm sáng tạo, hiệu quả.
Họ thuyết giảng: Vì dịch bệnh cũng là một loại “giặc” nên đáng ra quân đội phải là lực lượng duy nhất có
trách nhiệm đương đầu, ứng phó. Thế nhưng, Việt Nam đã biết cách biến mỗi người dân thành một chiến sĩ
nên công cuộc chống “giặc dịch” trở nên hiệu quả.
Trên luận điệu đó, họ cố tình suy diễn: Quân đội không thể hiện được vai trò, vị trí của mình, nên cần phải
“dân sự hóa hoạt động quân sự”; trao sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) cho quần chúng. Có nghĩa, phải tinh
giản biên chế trong quân đội một cách mạnh mẽ, chỉ để lại một vài cơ quan chỉ đạo chiến lược; cũng nên
giảm ngân sách đầu tư cho quốc phòng và không nên “nuôi” một số lượng quân thường trực “đông nhưng
không mạnh”... vì nếu có biến cố gì đi nữa, thì nhân dân ứng phó là đủ (?)
Với cách lập luận lập lờ nêu trên khiến không ít người thoạt nghe đã sinh ra a dua, cổ xúy, tán dương. Một
số người dân đón nhận thông tin một chiều tỏ ra nghi hoặc về sức mạnh quân đội, rồi bày tỏ sự ủng hộ “dân
sự hóa” một số lĩnh vực hoạt động quân sự, dành ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế...
Từ những phân tích trên, các bài viết còn viện dẫn về chuyện một số quốc gia trên thế giới không cần xây
dựng lực lượng quân đội, chỉ thiết lập đội tự vệ quốc gia với quân số ít. Thậm chí, có quốc gia không bận tâm
đến việc BVTQ, vì trong xu thế hội nhập, các nước sẽ biết cách tôn trọng độc lập, tự do, chủ quyền của mỗi
quốc gia.
Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm hạ thấp ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ BVTQ, hạ bệ vai trò
của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng, BVTQ; thúc đẩy xu hướng nhận thức tiêu cực, tạo áp lực
tâm lý để xới lên đề xuất “giải tán” quân đội, cắt giảm nguồn lực đầu tư cho quân đội và quốc phòng. Đây là
thủ đoạn nhằm phá vỡ “lõi hạt nhân” trong kết cấu thế trận chiến tranh nhân dân, làm tan hỏng, mục rũa nền
quốc phòng toàn dân từ bên trong.
Ở một diễn biến khác, những kẻ thủ ác lại rêu rao: Việt Nam đang “quân sự hóa hoạt động dân sự”. Họ cho
rằng: Chống dịch là một dạng hoạt động dân sự, nhưng quân đội lại ồ ạt đưa lực lượng, vũ khí, trang bị vào
“trấn áp” dịch-đó là biểu hiện “quân sự hóa hoạt động dân sự”.
Một mặt, họ quy kết quân đội không đủ mạnh, không thể làm tròn nghĩa vụ với nhân dân, nên cố tình kéo
quần chúng vào một cuộc chiến “vô thưởng vô phạt”; cổ vũ người dân lên tuyến đầu để bao biện cho sự hèn
nhát, sợ dịch bệnh của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Mặt khác, họ tung hô: Đảng, Nhà nước và quân đội đang tô
hồng vai trò của chính mình, “làm màu” để mị dân.
Thực chất, đây là thủ đoạn đánh tráo sự thật, xóa nhòa bản chất hoạt động bảo vệ, phục vụ nhân dân, phủ
định vai trò, đóng góp to lớn của QĐND Việt Nam trong phòng, chống dịch Covid-19 suốt gần hai năm qua.
Trên thực tế, QĐND Việt Nam đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những lực lượng xung
kích trên tuyến đầu; bảo vệ nhân dân bằng tất cả tình yêu thương. Thậm chí nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh
dũng hy sinh trong cuộc chiến với loại “giặc vô hình” để phụng sự Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.
Vậy nên, “những lời có cánh” nêu trên, thoạt qua, có thể nhầm tưởng là hợp lý, vô hại, nhưng xét về thực
chất lại chính là khuynh hướng thủ đoạn khá mới, cố tình làm sai lệch nhận thức của quần chúng, mang lại
nhiều hệ lụy và hậu quả to lớn; ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội; tác
động trực tiếp đến kết quả xây dựng quân đội; chi phối nghiêm trọng công cuộc xây dựng nền quốc phòng
toàn dân và tiềm lực, nguồn lực BVTQ trong tình hình mới.
Quân đội hùng mạnh - đất nước mới hùng cường
Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt BVTQ, trong thế trận
chiến tranh nhân dân. Nghệ thuật quân sự Việt Nam ngay từ xa xưa đã thực hiện phép dụng binh “ngụ binh
ư nông”- quân gửi trong dân.
Với chức năng, nhiệm vụ của mình, quân đội là lực lượng không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công
cụ sắc bén, hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo
vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN.
Trong khi đó, tính chất, yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong điều kiện mới ngày càng cao; tình hình thế giới, khu
vực diễn biến phức tạp, mau lẹ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động đến nhiệm vụ BVTQ. Các vấn đề xung đột,
tranh chấp chủ quyền biển, đảo, biên giới diễn ra phức tạp.
Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam, kích hoạt sự “chuyển màu” về chế độ, cố
tình hạ bệ vai trò của Đảng và QĐND Việt Nam... Trước tình hình đó, nếu Việt Nam không có một đội quân
thực sự “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì liệu nhiệm vụ BVTQ có thể bảo đảm trong
mọi tình huống, nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, làm nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững
của đất nước?
Thực tế cho thấy, kể từ sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà, thì vẫn chưa
có bất kỳ phút giây những người lính Cụ Hồ được ngơi nghỉ trong cuộc chiến giữ hòa bình, ấm no, hạnh
phúc cho nhân dân.
Trong mọi giai đoạn lịch sử, thời kỳ phát triển, quân đội luôn là lực lượng đi đầu và khẳng định những đóng
góp to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, nhất là trong suốt hành trình 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước.
Vậy nên, với chức năng, nhiệm vụ được giao, QĐND Việt Nam-lực lượng nòng cốt BVTQ rất cần những đầu
tư tương xứng để có đủ tiềm lực, thực lực và sức mạnh bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước,
nhân dân giao phó.
Ở đây, cần hiểu đúng và đủ về chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân và đặt nhiệm vụ xây
dựng quân đội trong mối quan hệ tổng thể xây dựng 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân
quân tự vệ. Trong đó, với tầm nhìn chiến lược, các lực lượng phải từng bước được đầu tư để hiện đại hóa,
chính quy hóa, nhưng trên hết và trước hết phải ưu tiên xây dựng QĐND Việt Nam trong mối quan hệ với
các bộ phận, lực lượng khác của LLVT.
Bởi thế, trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng quân đội cách mạng, nhưng đồng thời phải tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nghị quyết Trung ương các khóa XI, XII, XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, X, XI đều xác định phải đẩy nhanh tiến
độ, chất lượng từng bước tiến lên hiện đại, ưu tiên xây dựng một số lực lượng trong quân đội tiến thẳng lên
hiện đại.
Đại hội XIII của Đảng nêu rõ mục tiêu phấn đấu: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại... Đó là mục tiêu khách quan, đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp BVTQ. Do đó, việc tập trung quan tâm, đầu tư nguồn lực cho xây dựng quân đội là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân và sự nghiệp cách mạng.
Hiện thực về sự cống hiến lớn lao Không có chuyện cán bộ, chiến sĩ quân đội đang “vô công rồi nghề”, “đông mà không mạnh” như những kẻ hiềm khích, chống đối, chống phá cố tình tô vẽ, thêu dệt. Mỗi công dân Việt Nam cần có trách nhiệm nâng cao nhận thức, cảnh giác trước những chiêu trò thâm độc ấy.
Hãy ngước nhìn lên bầu trời xanh của Tổ quốc. Chắc chắn rồi, sự bình yên ấy không tự nhiên có được, mà là kết quả của sự phòng vệ quốc gia từ xa, từ sớm. Ở nhiều nơi trên đất nước này vẫn có sự hiện diện của tổ chức, đơn vị quân đội luôn “dõi mắt canh trời”, trực SSCĐ 24/24 giờ, với các loại vũ khí có khả năng đánh chặn mọi nguy cơ và các mối đe dọa trong mọi tình huống; sóng radar giăng từng tấc không khí để kịp thời phát hiện bất cứ mục tiêu nào dù là nhỏ nhất xâm phạm chủ quyền bầu trời quốc gia. Và như vậy, chắc chắn sẽ có hàng nghìn ánh mắt của cán bộ, chiến sĩ dõi lên bầu trời canh giữ bình yên, hay miệt mài thao tác vũ khí trang bị để bảo vệ, vận hành sự bình yên đó.
Hãy hình dung về 3/4 diện tích đất nước thân yêu-biển, đảo của chúng ta dẫu còn nhiều “giông bão”, nhưng
chủ quyền thiêng liêng luôn được giữ vững kể từ sau ngày đất nước thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà.
Nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ vẫn trung kiên ngày đêm thực hiện nhiệm vụ nơi đảo xa, trên những con tàu,
nhà dàn DK giữa mênh mông biển lớn.
Tất cả những người lính Cụ Hồ đều đối diện với các thiệt thòi về vật chất lẫn tinh thần, nhưng luôn không hề nao núng, thoái thác nhiệm vụ. Hãy thử đặt mình vào vị trí của những người đang ở nơi “đầu sóng, ngọn gió”, để thêm trân trọng những đóng góp của những chiến sĩ hải quân một lòng trung hiếu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, chủ quyền Tổ quốc.
Hãy nhìn vào thực tế về một đất nước bước ra khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt. Sau mấy chục năm hòa bình lập lại, vẫn còn đó không ít bom, mìn, vũ khí tồn đọng, có thể cướp đi sự sống của người dân và hãy khắc ghi sự đóng góp của lực lượng công binh can trường đối mặt với tử thần, tái tạo sự bình an, mang đến môi trường sống an toàn cho hôm nay, mai sau.
Hãy nhìn vào nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần của các nạn nhân chất độc da cam để thấy sự nguy hại đáng sợ của vũ khí hóa học mà kẻ đi xâm lược nhẫn tâm gieo rắc lên lãnh thổ Việt Nam, để thấm ngấm đầy đủ hơn đóng góp của cán bộ, chiến sĩ hóa học đang ngày đêm đối diện với thứ kẻ thù vô hình, xua đi hiểm họa, lấy lại những điều kiện sống cần thiết, tốt đẹp cho nhân dân...
Lại phải nói rõ hơn về trí tuệ của người lính Cụ Hồ đóng góp vào cấu hình môi trường sống hiện hữu. Khi chúng ta cảm nhận về một con đường, một cây cầu, một công trình dân sinh... chỉ nhận thấy tác dụng bảo đảm giao thông, phục vụ dân sinh, kết nối giữa các vùng miền để thông thương hàng hóa. Thế nhưng, sự thật không chỉ có thế.
Khi biến cố xảy ra, khi khởi mào chiến sự, kẻ thù gây hấn, thì lập tức những công trình ấy chuyển hóa phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Các nhà máy, xí nghiệp đều có tính lưỡng dụng đến mức tối ưu; các làng xã văn hóa đều bảo đảm các yếu tố, thành tố cấu thành nên khu vực phòng thủ... Những giá trị mang lại ấy là thành quả của trí tuệ Việt Nam, là sản phẩm của nền quốc phòng toàn dân, mà người lính Cụ Hồ là chủ thể tiến hành công tác tham mưu, kiến tạo.
Đó là thành quả vô cùng to lớn, kết nên từ lịch sử chiến tranh và quá trình xây dựng, BVTQ mà QĐND Việt Nam giữ vai trò nòng cốt.
Trong đó, việc kiến tạo nên lực lượng 3 thứ quân; bồi đắp cho mỗi người dân lý tưởng, bản lĩnh, kiến thức quân sự cơ bản... để có thể trở thành người chiến sĩ quả cảm bảo vệ chủ quyền đất nước, thì quả là ;phép màu thần kỳ" được kết nên từ một khối lượng công việc đồ sộ mà ngay trong thời bình lớp lớp cán bộ, chiến sĩ quân đội đã và đang dày công vun đắp.
TẤN TUÂN - HOÀNG THỦY
CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LỜI KÊU GỌI “BẤT TUÂN DÂN SỰ”
Những năm gần đây, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng
Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng thủ đoạn kêu gọi người dân tham gia
“bất tuân dân sự” nhằm tập hợp lực lượng để khi có thời cơ thì tiến hành các cuộc
“cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, lật đổ chính quyền. Để không mắc mưu,
chúng ta cần nâng cao cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” dưới mọi
hình thức.
Theo giải thích của Từ điển mở Wikipedia “Bất tuân dân sự là các hoạt động, công khai từ
chối tuân theo một số luật lệ nhất định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một
quyền lực quốc tế chiếm đóng… Bất tuân dân sự đôi khi, mặc dù không phải luôn luôn,
được định nghĩa như là phản kháng bất bạo động”. Cũng theo Từ điển này, những vụ bất
tuân dân sự lớn, sớm nhất được thực hành bởi người Ai Cập chống lại sự chiếm đóng của
Anh trong cuộc cách mạng Ai Cập năm 1919. Nó đã được sử dụng trong nhiều phong trào
11
phản kháng bất bạo động tại nhiều quốc gia, như: chiến dịch của M. Gan-đi để giành độc
lập từ đế quốc Anh ở Ấn Độ; cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc của N. Man-đê-la
ở Nam Phi; “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Đông Đức; “cách mạng ca hát” ở các
nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX. Trong những năm
đầu thế kỷ XXI, hình thức này được thực hiện trong “cách mạng hoa hồng” ở Gru-zi-a
(năm 2003), “cách mạng cam” ở U-crai-na (năm 2004), “Mùa xuân Ả Rập” ở các nước
Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, v.v.
Thời gian gần đây, nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, các thế
lực thù địch ra sức cổ súy cho hình thức “bất tuân dân sự”, xem đó là con đường hữu hiệu
để lật đổ chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trên các trang mạng xã
hội của các thế lực thù địch xuất hiện nhiều lời kêu gọi thực hiện “bất tuân dân sự” tại Việt
Nam, như: “Lối thoát cho Việt Nam - bất tuân dân sự”, hoặc “Bất tuân dân sự - con đường
tự do cho Việt Nam”(!), v.v. Họ ra sức tuyên truyền, cổ súy cho các phong trào “bất tuân
dân sự” trên thế giới, như phong trào “cách mạng dù” gần đây ở Hồng Kông (Trung
Quốc); qua đó, phổ biến kinh nghiệm, giới thiệu các nguyên tắc, hình thức tham gia,
hướng dẫn cách đề ra khẩu hiệu, cách mang mặc trang phục và công cụ mang theo của
những người tham gia,… với cái gọi là “cẩm nang cho bất tuân dân sự”(!). Các tổ chức
phản động ở nước ngoài, như: Việt Tân, Voice cũng mở nhiều lớp huấn luyện nội dung,
hình thức “bất tuân dân sự” cho các thành viên để đưa về Việt Nam thực hiện hành động
phá hoại. Chúng lợi dụng bức xúc của người dân trước những vấn đề dân sinh, như: vướng
mắc về giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, ô nhiễm môi trường; những bất cập, chưa sát
thực tiễn của một số chủ trương, chính sách cụ thể; hay những hạn chế, yếu kém của chính
quyền địa phương trong hoạt động quản lý xã hội; hoặc lợi dụng sự ngộ nhận của người
dân trước những thông tin bịa đặt, xuyên tạc mà các thế lực phản động, cơ hội,… tuyên
truyền để kích động họ tụ tập, phản đối, không thực hiện các chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước. Qua đó, thúc đẩy hình thành các mâu thuẫn giữa người dân với chính
quyền, hợp thức hóa việc thực hiện mưu đồ tập hợp lực lượng, chống đối chính quyền, để
khi mâu thuẫn lên cực điểm, chúng sẵn sàng kêu gọi kết hợp đấu tranh bất bạo động với
bạo động để chống chính quyền, như vụ gây rối trật tự công cộng, hủy hoại tài sản nhà
nước ở Bình Thuận (tháng 6-2018).
Để ngăn chặn, làm thất bại thủ đoạn kêu gọi “bất tuân dân sự” của các thế lực thù
địch, cần quán triệt và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó, tập trung thực
hiện tốt các nội dung trọng tâm sau:
Chủ động vạch trần bản chất của thủ đoạn “bất tuân dân sự”, làm cho người dân hiểu rõ
những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” là một thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm, nằm trong chiến
lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhằm phá hoại môi trường hòa bình,
ổn định để xây dựng đất nước của nhân dân ta. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo
dục làm cho người dân thấy rõ bản chất của thủ đoạn “bất tuân dân sự” là những hành
động cố ý cản trở việc thực thi luật pháp, chính sách của chính quyền. Nói cách khác, đó là
hành động vi phạm pháp luật có chủ ý, thể hiện tư tưởng cực đoan, “vô chính phủ” của cá
nhân, tổ chức, hay của một nhóm người cụ thể; đi ngược lại lợi ích chính đáng của đại đa
12
số quần chúng nhân dân. Ở nước ta, khi bị các thế lực thù địch lợi dụng, “bất tuân dân sự”
trở thành công cụ để lật đổ chính quyền, thay đổi thể chế chính trị. Do đó, mọi người dân
cần đề cao cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” dưới mọi hình thức.
Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho mọi
tầng lớp nhân dân; làm cho khẩu hiệu “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” đi
vào thực tiễn cuộc sống, được nhân dân quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh ở mọi lúc,
mọi nơi. Theo đó, cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị để tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn; trong
đó, chú trọng nâng cao hiệu quả công tác này trong các nhà trường, ở các bậc học, từ bậc
phổ thông đến đại học. Các cơ quan thông tin, truyền thông cần phát huy thế mạnh của
mình, thường xuyên dành dung lượng phù hợp (số trang, số giờ phát sóng,…) để tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; trong đó, cần đẩy mạnh hơn nữa tuyên truyền Nghị
định 38/2005/NĐ-CP, ngày 18-3-2005 của Chính phủ “Quy định một số biện pháp bảo
đảm trật tự công cộng”. Tập trung làm rõ những hành vi bị cấm, như: “(1). Lợi dụng các
quyền tự do dân chủ của công dân để thực hiện hoặc lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng
ép người khác tập trung đông người nhằm gây rối trật tự công cộng hoặc để thực hiện các
hành vi vi phạm pháp luật khác; (2). Tập trung đông người trái với quy định của pháp luật
ở lòng đường, vỉa hè, trước trụ sở cơ quan, tổ chức, tại khu vực đang diễn ra các hội nghị
quốc tế, kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc các hoạt động chính trị quan trọng
khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
hoặc nơi công cộng khác”, v.v. Hình thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật cần đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ chấp hành, phù hợp với trình độ nhận thức
của từng đối tượng cụ thể để nội dung mỗi luật và văn bản quy phạm pháp luật nhanh
chóng được người dân tiếp nhận. Chính quyền cơ sở ở các địa phương cần coi trọng việc
hướng dẫn người dân cách thức, quy trình, thủ tục khiếu nại, tố cáo, phản biện xã hội theo
quy định của pháp luật để người dân thực hiện. Kiên quyết, kiên trì động viên, thuyết phục
người dân tự giác chấp hành pháp luật theo đúng quy trình, trình tự; đồng thời, giải thích
cho họ hiểu rõ lợi ích của việc tuân theo và hệ quả của việc bất chấp quy trình, thủ tục đã
được pháp luật quy định.
Thực hiện tốt nền nếp chế độ tiếp dân của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các địa
phương, kịp thời giải quyết các bức xúc của người dân, không để “việc bé xé thành to”,
tạo cơ hội để các thế lực thù địch kích động phong trào “bất tuân dân sự”. Theo đó, cấp
ủy các địa phương cần thực hiện nghiêm túc Quy định 11-QĐi/TW, ngày 18-02-2019 của
Bộ Chính trị về “Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp công dân, đối
thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân”. Người đứng đầu cấp
ủy các địa phương (tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn) không chỉ trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo
công tác tiếp dân, xử lý, giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân, mà còn
phải trực tiếp thực hiện việc tiếp dân (theo định kỳ, hay đột xuất), kịp thời đối thoại với
dân khi cần thiết và xử lý, giải quyết các phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân
theo thẩm quyền. Cùng với đó, người đứng đầu chính quyền các địa phương phải coi trọng
phát huy quyền làm chủ của người dân; nghiêm túc thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở và
13
quy định của địa phương về tiếp công dân để kịp thời giải quyết các vướng mắc, bức xúc
chính đáng của người dân. Việc tiếp dân, đối thoại và xử lý, giải quyết những phản ánh,
kiến nghị, khiếu nại, tố cáo phải trên tinh thần tôn trọng, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng
của dân; dân chủ, công tâm, khách quan, kịp thời, đúng phạm vi thẩm quyền; trình tự, thủ
tục cần đơn giản, tạo thuận lợi cho người dân.
Tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân;
nâng cao năng lực nghiên cứu, ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước; tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ. Đó là những biện pháp nhằm triệt tiêu các nguy cơ tiềm ẩn mà
các thế lực thù địch có thể lợi dụng để kêu gọi người dân thực hiện “bất tuân dân sự”.
Trong giai đoạn hiện nay, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp xây dựng Chính phủ “kỷ
cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”; xây dựng nền hành chính
phục vụ, trọng dân và gần dân. Đồng thời, nâng cao hơn nữa năng lực nghiên cứu, đề xuất,
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo sát thực tiễn, có tính khả thi cao. Quá
trình thực hiện, cần quán triệt tinh thần: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của
nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến” 1 ; khắc phục triệt để việc đề xuất, ban hành
những chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật xa rời thực tiễn, gây bức xúc
dư luận, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng kích động. Muốn vậy, cần coi trọng
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước thực sự tinh, gọn,
hiệu quả; “Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong
chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức” 2 . Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh
phòng, chống tham nhũng; xử lý nghiêm minh các cá nhân tham nhũng, không có “vùng
cấm”; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp
luật. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 4 (khóa XII); tích cực ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gắn với thực
hiện có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và
làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương để bám
nắm cơ sở; sớm phát hiện và đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng lôi
kéo người dân thực hiện “bất tuân dân sự” ngay khi mới manh nha. Các địa phương cần
có các phương án, kế hoạch phòng, chống “bất tuân dân sự”, lồng ghép vào các đợt diễn
tập khu vực phòng thủ để đánh giá mức độ sẵn sàng của địa phương. Khi có dấu hiệu xảy
ra hiện tượng “bất tuân dân sự”, các lực lượng của địa phương cần bình tĩnh phân tích,
đánh giá, xác định rõ nguyên nhân, đúng tính chất của tình hình, không nhầm lẫn giữa
mâu thuẫn nội bộ nhân dân với mâu thuẫn địch - ta; đồng thời, khéo léo phân hóa, cô lập
kẻ cầm đầu; kiên trì đối thoại, thuyết phục người dân bị lôi kéo không vi phạm pháp luật.
Trên cơ sở hiểu rõ nguyên nhân vụ việc, có biện pháp đồng bộ, xử lý triệt để, có lý, có
tình; xử lý nghiêm minh theo pháp luật những kẻ cầm đầu để răn đe và giáo dục, thuyết
phục những người nhẹ dạ, cả tin, bị lôi kéo. Việc huy động các lực lượng tham gia giải
14
quyết các “điểm nóng”, tụ tập đông người, cần thực hiện đúng quy định của Chính phủ,
không tùy tiện.
Cùng với những giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt các chính sách an
sinh xã hội, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, việc
thực hiện đồng bộ các nội dung trọng tâm nói trên sẽ góp phần quan trọng làm thất bại
mưu toan kích động “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt
Nam.
Tóm lại, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, thiết yếu của
các quyền tự do, dân chủ của người dân với ý nghĩa là một quyền thiết thân của con người,
là động lực phát triển của đất nước. Tuy nhiên, không một quốc gia nào trên thế giới lại
dung thứ các hành vi lợi dụng dân chủ, cổ xúy cho các hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn
hại đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của người dân.
Nhận diện các biểu hiện lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và
cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược
trong điều kiện hiện nay, không chỉ góp phần thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống
chính trị và của từng người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá âm
mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó chủ động trong việc triển khai có
hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn./.
tuân dân sự” hay là chiêu trò kích động, chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị
TCCS - Thực tiễn tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cũng như tại Việt
Nam cho thấy, các thế lực phản động, thù địch đã sử dụng chiêu bài “bất tuân dân
sự” để tiến hành các hoạt động chống phá, tấn công nhằm làm thay đổi tình hình
chính trị của quốc gia. Thủ đoạn chống phá dưới chiêu bài “bất tuân dân sự” là
nguồn gốc thai nghén các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, bạo loạn
lật đổ chính quyền… tại không ít nơi trên thế giới, tạo ra những hệ quả vô cùng
nghiêm trọng, những hậu quả khôn lường cho an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã
hội ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Bất tuân dân sự - góc nhìn, quan điểm và một số biểu hiện biến
tướng
Thuật ngữ “bất tuân dân sự” lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Hen-ri
Đây-vít Thơ-râu, nhà văn, nhà triết học người Mỹ, người bị chính quyền bang Ma-sa-
chu-sét bắt do hành vi không đóng thuế vào cuối tháng 7 năm 1846, với nhan đề “Về
bổn phận bất tuân dân sự” vào tháng 5-1849 (1) . Quan điểm của Thơ-râu sau đó được
phát triển bởi một số học giả khác, chẳng hạn Gin-Sáp, Giáo sư chính trị học tại
trường Đại học Massachusetts Dartmouth (Mỹ).
Khái niệm bất tuân dân sự đã phát triển trong một thời gian dài, được rút ra từ các giai
đoạn lịch sử khác nhau và từ các nền văn hóa khác nhau. Đã có nhiều tác giả nghiên
cứu, đưa ra quan điểm, cách nhìn để nhận diện bất tuân dân sự. Theo Giôn-Ron, nhà
triết học chính trị nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ XX, định nghĩa bất tuân dân sự là một
hành động công khai, bất bạo động, triệt để nhưng có tính chính trị trái với luật pháp
nhằm mục đích thay đổi luật pháp hoặc chính sách (2) . Hu-gô A-đam Bê-đâu, Giáo sư
triết học của Đại học Tufts (Mỹ) định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động bất hợp
pháp, được thực hiện một cách công khai, không mang tính bạo lực và thực hiện một
cách cố ý, trong khuôn khổ pháp quyền và với ý định phản kháng hoặc phản đối một số
luật, chính sách hoặc quyết định của chính phủ hoặc một số công chức của chính phủ (3) .
Ki-li và Ba-mu-lơ định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động có chủ ý, công khai và
bất bạo động vi phạm luật mà người đó phải chịu trách nhiệm và chế tài (4) . Xờ-mít quan
niệm rằng bất tuân dân sự là một cuộc phản đối công khai, bất hợp pháp và mang tính
chính trị được thực hiện chống lại nhà nước hoặc chính sách (5) . Sen-đơn trong cuốn
Bách khoa toàn thư về tư tưởng chính trị định nghĩa bất tuân dân sự là bất tuân hoặc vi
phạm pháp luật vì các lý do đạo đức, tôn giáo hoặc các lý do khác, bởi một cá nhân
hoặc một nhóm có tổ chức (6) .
Bất tuân dân sự có nhiều hình thức và cách biểu hiện khác nhau. Ví dụ, có cách tiếp cận
cho rằng bất tuân dân sự có 5 hình thức biểu hiện (7) : Một là, tuần hành muối do Ma-
hát-ma Gan-đi lãnh đạo (dẫn đầu đoàn 78 người đi bộ trong 24 ngày để phản đối
chính sách độc quyền muối do chính quyền Anh áp đặt) (8) ; hai là, chiến dịch
Extremadura - một phong trào cải cách ruộng đất ở Tây Ban Nha; ba là, tuần hành
ủng hộ và phong trào bất di chuyển ở Mỹ; bốn là, loại bỏ các doanh nghiệp không
mong muốn (phong trào chống toàn cầu hóa ở Pháp); năm là, phong trào vận động
không đóng thuế ở Luân đôn năm 1990.
Không thể bác bỏ một chân lý hiển nhiên rằng, xây dựng pháp luật
là công việc nội bộ của từng quốc gia, xuất phát từ nhu cầu, lợi ích
của từng quốc gia
Cần khẳng định rằng, dưới góc độ một nhà nước pháp quyền, một khi đạo luật đã được
ban hành thì đạo luật đó phải được tôn trọng và thực thi. Không một quốc gia nào trên
thế giới lại dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ, không một
quốc gia nào lại cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho
hoạt động công quyền, thực thi công lý. Đồng thời, hậu quả do việc lợi dụng “bất tuân
dân sự” để lại rất nặng nề, kéo dài không chỉ ảnh hưởng về kinh tế - xã hội, mà còn
gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền. Mặt khác,
7
việc xây dựng và thực thi pháp luật là công việc nội bộ của từng quốc gia và phải phù hợp
với điều kiện của từng quốc gia. Không ai có thể phản bác điều hiển nhiên này. Nhiều
nhà tư tưởng nổi tiếng thế giới cũng chỉ rõ việc nghiên cứu về quốc gia, xây dựng và
thực thi pháp luật phải căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của từng quốc gia, khu vực, dân
tộc. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Mông-te-xki-ơ, nhà bình luận xã hội và
tư tưởng chính trị nổi tiếng người Pháp, chỉ rõ: “Khi tôi nghiên cứu về con người, tôi
đã đi đến kết luận rằng, những sự khác biệt của pháp luật và của đạo lý loài người
không phải do họ tự vẽ ra một cách tùy tiện. Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ
chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này.
Và chỉ có những trường hợp rất đặc biệt luật của dân tộc này mới có thể thích ứng với
dân tộc khác (9) . Hê-ghen, nhà triết học vĩ đại người Đức, cũng khẳng định điều tương
tự: “Mỗi dân tộc có chế độ nhà nước của mình; chế độ nhà nước Anh quốc là của người
Anh; và nếu như người ta tự dưng muốn chuyển cho người Phổ thì điều đó cực kỳ vô lý
như là quyết định chuyển Nhà nước Phổ cho người Thổ Nhĩ Kỳ. Mỗi một chế độ nhà
nước chỉ là sản phẩm, là sự thể hiện tinh thần của riêng một dân tộc và của trình độ
phát triển của ý thức dân tộc của họ mà thôi. Sự phát triển đó đòi hỏi một sự vận động
liên tục và nhiều bước trong đó không một bước nào có thể bị xóa bỏ” (10) . Công ước về
các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền
tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của
mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa” (11) . Công ước về các quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa năm 1966 khẳng định: “1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất
phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát
triển kinh tế, xã hội và văn hóa...” (12) .
Vì lẽ đó, việc xác định và lựa chọn ban hành đạo luật nào là quyền năng riêng của từng
quốc gia. Ban hành Luật An ninh mạng là một ví dụ điển hình. Cần thấy rằng, luật
(pháp luật) về an ninh mạng luôn được quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều
quốc gia và tổ chức quốc tế trên toàn thế giới (13) ... Luật An ninh mạng rất cần thiết không
chỉ để bảo vệ an ninh quốc gia mà còn nhằm bảo vệ người dân, để có môi trường xã hội
phát triển lành mạnh trên không gian mạng. Các quy định trong dự thảo Luật An ninh
mạng của Việt Nam được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, với sự tham gia đóng góp ý kiến
của các bộ, ngành chức năng, cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, nhiều
chuyên gia, tổ chức, tập đoàn kinh tế, viễn thông nước ngoài lớn (như Facebook,
Google, Apple, Amazon, Hội đồng kinh doanh Mỹ - ASEAN, Hiệp hội điện toán đám
mây châu Á; các cơ quan đại diện nước ngoài như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Nhật
Bản... và ý kiến rộng rãi của quần chúng nhân dân; sự thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng
và An ninh, sự chỉnh lý của các đại biểu Quốc hội qua 2 kỳ họp thứ 4 và thứ 5, Quốc hội
khóa XIV (14) . Các quy định của Luật An ninh mạng cũng phù hợp với pháp luật các nước và
thông lệ quốc tế. Quy định về tội phạm mạng trong Luật An ninh mạng không phải là
điều xa lạ gì, bởi lẽ không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia cũng quy định về tội phạm
mạng. Theo thống kê của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
(UNCTAD), đã có đến 154 quốc gia trong tổng số 194 quốc gia thành viên UNCTAD ban
hành luật pháp về tội phạm mạng (15) . Các quy định của Luật An ninh mạng về bảo vệ
thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân,
bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng cũng phù hợp với xu hướng
chung trên toàn thế giới về bảo vệ thông tin cá nhân. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới đã ban hành Luật về bảo vệ thông tin cá nhân dưới nhiều tên gọi khác
nhau như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Bảo vệ dữ liệu, Luật Bảo vệ thông tin cá
nhân, Luật về bảo vệ các mối quan hệ không công khai... Theo thống kê của UNCTAD,
128 trong tổng số 194 quốc gia thành viên của UNCTAD đã ban hành luật để bảo đảm
việc bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư (16) . An ninh quốc gia cũng là một ngoại lệ trong các
8
điều ước quốc tế quan trọng về thương mại quốc tế (17) . Điều này thể hiện tầm quan trọng và
ý nghĩa sống còn của vấn đề an ninh quốc gia đối với tất cả các nước trên thế giới.
Lật tẩy các hành động lợi dụng quyền tự do, dân chủ để “bất tuân
dân sự”, vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt
động công quyền, thực thi công lý
Không thể bác bỏ một điều hiển nhiên rằng, việc các thế lực phản động, thù địch tìm
mọi cách xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta từ nhiều phương diện khác nhau
như xuyên tạc Luật An ninh mạng, xuyên tạc dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế
đặc biệt, lợi dụng việc phản đối một số chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước ta
một cách phi lý, thiếu căn cứ đã và đang là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Việt
Nam, xâm hại quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội và từng người dân. Các đối tượng
phản động, thù địch đã kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở
giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương
nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng,
doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến pháp luật của Nhà nước,
xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công
dân...
Đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, mặc dù Quốc hội đã quyết
định lùi thời hạn thông qua để có thời gian bổ sung, hoàn thiện, nhưng các thế lực
phản động, thù địch vẫn tung thông tin xuyên tạc, kích động, đòi phải đưa vấn đề này
ra trưng cầu ý dân toàn quốc theo Luật Trưng cầu ý dân năm 2015; thổi phồng rằng
không thể chỉ dừng ở đấu tranh cho một vài đạo luật mà phải thực hiện đa nguyên, đa
đảng theo mô hình dân chủ phương Tây; kích động các đợt biểu tình, tuần hành bằng
những mỹ từ mị dân như “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”,
“nhiều người trong bộ máy cầm quyền thức tỉnh”...; thực hiện những chiêu trò mới
như gây kẹt xe ở các đô thị, biểu tình trên mạng, hô hào các tổ chức phản động tổ chức
biểu tình ở nước ngoài...
Trước hết, cần thấy rõ rằng bất kỳ dự án luật nào cũng cần thực hiện đầy đủ quy trình xây
dựng, ban hành. Các cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật của Việt Nam đều luôn
tuân thủ quy trình đó, bảo đảm cao nhất sự tham gia của nhân dân góp ý xây dựng các
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Bản thân Dự luật Đơn vị hành chính
- kinh tế đặc biệt cũng không nằm ngoài quy trình đó. Theo quy định của Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật, việc xây dựng, ban hành văn bản luật phải thông qua một
quy trình rất chặt chẽ. Người dân có quyền được tiếp tục góp ý để Quốc hội hoàn thiện
dự án Luật trên cơ sở góp ý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận, các cơ quan, tổ chức
khác, cá nhân, lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và cơ quan,
tổ chức có liên quan theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật, đồng thời việc góp ý kiến phải trên cơ sở tìm hiểu kỹ lưỡng dự thảo luật và có cơ
sở khoa học, không tiếp tay cho những hành vi xuyên tạc, kích động, chống đối, phá
hoại đất nước.
Việc xây dựng, ban hành một đạo luật trước hết phải dựa trên lợi ích của quốc gia đó và
phải có cơ sở, lập luận khoa học. Không phải tự nhiên mà đạo luật An ninh mạng được
ban hành ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Một điều dễ nhận thấy là an
toàn thông tin đang là vấn đề nổi cộm ở không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước trên
9
thế giới. Theo số liệu từ Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), hơn
9.300 trang web tại Việt Nam bị tấn công trong năm 2019. Theo báo cáo International
Privacy Day Report 2020 của Kaspersky, Việt Nam đứng thứ 9 trên toàn cầu về mức độ
bị ảnh hưởng bởi phần mềm gián điệp, với 7.216 người dùng bị tấn công vào năm 2019.
Theo số liệu thống kê được ghi nhận bởi hệ thống giám sát của hãng bảo mật Mỹ
SonicWall, hầu hết các hình thức tấn công đều có xu hướng gia tăng trên toàn cầu
trong năm 2018. Cụ thể, số lượng các tấn công bằng mã độc gia tăng trên toàn cầu
trong ba năm liên tiếp. Theo Báo cáo rủi ro toàn cầu năm 2019 của Diễn đàn Kinh tế
thế giới, các cuộc tấn công an toàn, an ninh mạng hiện nằm trong số những rủi ro
hàng đầu trên toàn cầu. Trong năm 2019, hệ thống CyStack Attack Map ghi nhận
563.000 cuộc tấn công vào các trang web trên toàn cầu.
Thực tiễn các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã chỉ ra một điều hiển nhiên
rằng, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt luôn diễn ra và là hiện tượng phổ biến trên
thế giới (18) . Theo dữ liệu thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong vòng 30
năm, từ năm 1975 đến năm 2006, đã có sự tăng vọt số lượng SEZ và số lượng quốc gia
có SEZ trên toàn thế giới (19) . Nhiều quốc gia đã ban hành các luật riêng về khu kinh tế (20) .
Như vậy, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt trên thế giới không phải là hiện
tượng ngẫu nhiên xuất hiện, mà đã có một quá trình hình thành lâu dài, với nhiều
dạng thức khác nhau, được ghi nhận trong nhiều tài liệu của các tổ chức quốc tế lớn, và
được quy định trong một đạo luật riêng biệt của quốc gia.
Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ,
nhưng không dung thứ cho hành vi lợi dụng tự do, dân chủ, “bất
tuân dân sự” để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng và Nhà nước
Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, cần thiết cho cuộc sống, là
một biểu hiện cho tiến bộ và là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhưng tự do
chưa bao giờ và không bao giờ là tự do chung chung, tự do vô bờ bến. Điều này được thể
hiện rõ nét trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế (21) . Pháp luật Việt Nam chỉ hạn
chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Ví dụ, khoản 1,
Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân
chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc
quy định chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng cũng
phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Cụ thể là, Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị (ICCPR) đề cập cụ thể trong một số điều quy định về các quyền có thể
chịu sự giới hạn (Điều 4, Điều 19). Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm
1789 đưa ra các giới hạn đối với quyền tự do ngôn luận theo đúng định nghĩa của nó
(Điều 4, Điều 10, Điều 11).
Nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng quyền tự do ngôn luận để phát ngôn tiêu cực, thù địch
trên in-tơ-nét, Ủy ban châu Âu (European Commission) đã ký Quy tắc ứng xử về chống
lại lời nói có nội dung tiêu cực, thù địch bất hợp pháp trực tuyến với Google (YouTube),
Facebook, Twitter và Microsoft năm 2016. Instagram, Google+, Dailymotion, Snap và
Jeuxvideo.com sau đó đã tham gia Quy tắc này.
Thông qua đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam
luôn quan tâm đến việc bảo đảm sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Nhà
10
nước và xã hội, bảo đảm quyền giám sát, phản biện xã hội của các chủ thể. Nhà nước
Việt Nam bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ thể, ủng hộ phản
biện xã hội chân chính để hoàn thiện chính sách, pháp luật, xây dựng xã hội thượng
tôn pháp luật. Nhưng việc lợi dụng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ xúy và bảo vệ những
hành vi vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền cần
phải được ngăn chặn, đẩy lùi. Nhiều quan điểm trên thế giới cũng chỉ rõ tính trái pháp luật
của hành vi bất tuân dân sự, phản bác việc lợi dụng bất tuân dân sự để kích động các hành
vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại đến hoạt động công quyền. Pi-tơ Mai-ơ, Giáo sư khoa
học chính trị tại Đại học Wisconsin-Eau Claire (Mỹ), chỉ ra rằng bất tuân dân sự “gây
ra mối đe dọa đối với nhà nước pháp quyền” (22) . Trong một nghiên cứu trên một Tạp chí
về luật của Mỹ, Ét-uốt Ma-rếc chỉ rõ: “Hành vi như vậy có thể được phân loại là bất
tuân dân sự theo nghĩa là nó vi phạm một hệ thống luật có trật tự, nhưng nó cũng là
hành vi không thể được bảo vệ bởi hiến pháp hoặc chế tài tư pháp bất kể mục đích của
nó là gì hoặc sự bất công của các luật mà nó chống lại” (23) . Trên một phân tích trên tờ
Thời báo New York, Sác-lơ Phơ-ran-ken, nhà triết học người Mỹ, viết: “tôi có thể
đúng khi nghĩ rằng một sắc lệnh chống đi bộ đường dài là một sự vi phạm không cần
thiết đối với các quyền của tôi. Tuy nhiên, điều này không hợp lý khi tôi tổ chức một
cuộc đình công khổng lồ trên những con phố tắc nghẽn giao thông trong một tuần” (24) .
Luật sư người Mỹ Mô-rít Lép-man, người được Tổng thống Mỹ Rô-nan Ri-gân trao
tặng Huân chương Tự do Tổng thống vào năm 1981, dẫn lời Tổng thống Mỹ A-bra-
ham Lin-côn, viết: “Mỗi người hãy ghi nhớ rằng vi phạm pháp luật là chà đạp lên máu
mủ của cha mình, và xé bỏ hiến chương về quyền tự do của chính mình và con cái
mình. Hãy để cho sự tôn kính pháp luật được hít thở bởi mỗi bà mẹ Mỹ đối với đứa con
đang nói ngọng nựng nịu trong lòng mình; hãy để nó được giảng dạy trong các trường
học, trong các chủng viện và trong các trường cao đẳng; hãy để nó được viết trong các
sách bổ túc, sách chính tả, và trong các niên giám; hãy để nó được rao giảng từ bục
giảng, được công bố trong các phòng lập pháp và được thực thi tại các tòa án” (25) . Tòa án
nhiều nước đều không cho phép hành vi bất tuân dân sự làm ảnh hưởng đến lợi ích chung.
Phó Giáo sư luật Ri-sát Mô-lơ, Trung tâm Luật của Đại học Georgetown (Mỹ), dẫn lời
của Chánh án thứ 11 của Tối cao Pháp viện Mỹ Sác-lơ Êvan Hu-gơ, viết: “duy trì cơ hội
thảo luận chính trị tự do đến cùng để chính phủ có thể đáp ứng ý chí của người dân và
những thay đổi có thể đạt được bằng các phương tiện hợp pháp... là một nguyên tắc cơ
bản của hệ thống hiến pháp của chúng tôi” (26) .
“Sạn” trong các sách giáo khoa Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10 mới
Trong chủ đề 7, hoạt động 2: Tìm hiểu thông tin về các nhóm nghề ở trang 61 sách giáo khoa Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10 của bộ sách Cánh diều cũng như trong Chủ đề 8 - Phần tìm hiểu nhóm nghề định lựa chọn của bản thân ở trang 70 sách giáo khoa Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10 của bộ sách Chân trời tri thức … các tác giả đã không mô tả các nghề theo Danh mục nghề nghiệp Việt Nam ban hành kèm Quyết định số 34/2020/QĐ-TTg ngày 26/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ (hay được giới chuyên môn gọi là VISCO) mà đều dùng mô tả các nhóm ngành, nghề đào tạo trích dẫn theo Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2020 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Ban hành Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng. Nhìn từ góc độ hướng nghiệp cho học sinh trung học, nhiều chuyên gia nhận định đây là một sai lầm nghiêm trọng.
Theo Tiến sĩ Lê Đông Phương, khi thực hiện các hoạt động tư vấn về hướng nghiệp, chọn nghề và phát triển sự nghiệp, những người biên soạn sách giáo khoa luôn cần phân biệt cho học sinh 3 khái niệm có liên quan nhưng lại rất khác nhau, đó là: ngành học/ngành đào tạo - nghề làm việc và ngành/lĩnh vực kinh tế. Cả ba vấn đề này đều có các văn bản pháp lý tương ứng về phân loại, phản ánh bản chất khác biệt của chúng. Mặc dù các văn bản pháp lý này có rất nhiều khái niệm tương tự nhau nhưng lại có ý nghĩa khác nhau trong các bối cảnh. Về danh mục ngành đào tạo có Quyết định 01/2017/QĐ-TTg Ban hành Danh mục giáo dục, đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân với các Mã ngành cấp I, II và III. Trên cơ sở Quyết định này Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có Thông tư 26/2020/TT-BLĐTBXH Ban hành Danh mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Thông tư số 09/2022/TT-BGDĐT Quy định Danh mục thống kê ngành đào tạo của giáo dục đại học (mã ngành cấp IV). Ở đó, Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ quy định phân loại các ngành, nghề đào tạo thuộc các trình độ trung cấp và cao đẳng của hệ thống giáo dục nghề nghiệp, chứ không phải phân loại nghề làm việc. Do vậy, việc đưa phân loại ngành, nghề đào tạo theo Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vào làm căn cứ cho học sinh tìm hiểu thế giới nghề nghiệp là sự nhầm lẫn rất sơ đẳng, bởi ngành đào tạo và nghề làm việc là hai câu chuyện khác nhau, chứng tỏ nhóm tác giả thiếu hiểu biết về hệ thống phân loại của Nhà nước cũng như sự khác nhau về bản chất của ngành, nghề đào tạo với nghề làm việc. Chẳng hạn, Nhóm biên soạn liệt kê từ danh mục ngành, nghề đào tạo như: nghề đào tạo giáo viên, nghề an ninh - quốc phòng… nhưng đây không phải là nghề làm việc, mà là cụm ngành học, ngành đào tạo, không phải là khái niệm về nghề làm việc. Mặt khác, phải phân biệt rành rọt ngành đào tạo với nghề làm việc vì có những khái niệm được sử dụng trong cả hai hệ khái niệm. Ví như các trường đại học có đào tạo ngành kế toán, bên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng đào tạo nghề kế toán, tuy nhiên nghề kế toán (nghề làm việc) lại không giống như ngành kế toán. Theo đó, trong ngành kế toán, người học sẽ học những kiến thức cơ sở ngành như nguyên lý kế toán, kế toán quản trị, kế toán chi phí, kiểm toán, … đến các kiến thức chuyên sâu của ngành như Kế toán ngân hàng, Kế toán tài chính, Thuế, Kế toán công công ty chứng khoán, phân tích báo cáo tài chính, nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối. Tuy nhiên khi học xong ngành kế toán người ta có thể đi làm Chuyên viên phụ trách kế toán, kiểm toán, giao dịch ngân hàng, thuế, kiểm soát viên, thủ quỹ, tư vấn tài chính; Nhân viên môi giới chứng khoán, nhân viên quản lý dự án, nhân viên phòng giao dịch và ngân quỹ; Thanh tra kinh tế, nghiên cứu tài chính hay giảng dạy về kế toán. Còn bản thân nghề kế toán có thể tuyển dụng người có bằng cấp về kế toán hay toán, thống kê, kinh tế .…
Như vậy, nếu sử dụng danh mục ngành, nghề đào tạo theo Thông tư số 26/2020/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để coi đó như sự giới thiệu về thế giới việc làm, người học sẽ hiểu sai khái niệm, dễ dẫn đến ảo tưởng cho người học là học xong nghề đó là có việc làm. Thêm nữa, danh mục ngành, nghề đào tạo đó chỉ phân loại trình độ đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao đẳng, còn thiếu các ngành đào tạo trình độ đại học, sau đại học.
Vì vậy, vị chuyên gia mới buông lời cảm thán rằng: “Thế này bảo sao các cháu bị hướng nghiệp sai. Vậy mà qua được khâu thẩm định mới giỏi. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định lại và sớm có sự bổ khuyết, điều chỉnh thích hợp cho các sách giáo khoa Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10 bị lỗi này”./.





