TCCS - Thực tiễn tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cũng như tại Việt
Nam cho thấy, các thế lực phản động, thù địch đã sử dụng chiêu bài “bất tuân dân
sự” để tiến hành các hoạt động chống phá, tấn công nhằm làm thay đổi tình hình
chính trị của quốc gia. Thủ đoạn chống phá dưới chiêu bài “bất tuân dân sự” là
nguồn gốc thai nghén các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, bạo loạn
lật đổ chính quyền… tại không ít nơi trên thế giới, tạo ra những hệ quả vô cùng
nghiêm trọng, những hậu quả khôn lường cho an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã
hội ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Bất tuân dân sự - góc nhìn, quan điểm và một số biểu hiện biến
tướng
Thuật ngữ “bất tuân dân sự” lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Hen-ri
Đây-vít Thơ-râu, nhà văn, nhà triết học người Mỹ, người bị chính quyền bang Ma-sa-
chu-sét bắt do hành vi không đóng thuế vào cuối tháng 7 năm 1846, với nhan đề “Về
bổn phận bất tuân dân sự” vào tháng 5-1849 (1) . Quan điểm của Thơ-râu sau đó được
phát triển bởi một số học giả khác, chẳng hạn Gin-Sáp, Giáo sư chính trị học tại
trường Đại học Massachusetts Dartmouth (Mỹ).
Khái niệm bất tuân dân sự đã phát triển trong một thời gian dài, được rút ra từ các giai
đoạn lịch sử khác nhau và từ các nền văn hóa khác nhau. Đã có nhiều tác giả nghiên
cứu, đưa ra quan điểm, cách nhìn để nhận diện bất tuân dân sự. Theo Giôn-Ron, nhà
triết học chính trị nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ XX, định nghĩa bất tuân dân sự là một
hành động công khai, bất bạo động, triệt để nhưng có tính chính trị trái với luật pháp
nhằm mục đích thay đổi luật pháp hoặc chính sách (2) . Hu-gô A-đam Bê-đâu, Giáo sư
triết học của Đại học Tufts (Mỹ) định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động bất hợp
pháp, được thực hiện một cách công khai, không mang tính bạo lực và thực hiện một
cách cố ý, trong khuôn khổ pháp quyền và với ý định phản kháng hoặc phản đối một số
luật, chính sách hoặc quyết định của chính phủ hoặc một số công chức của chính phủ (3) .
Ki-li và Ba-mu-lơ định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động có chủ ý, công khai và
bất bạo động vi phạm luật mà người đó phải chịu trách nhiệm và chế tài (4) . Xờ-mít quan
niệm rằng bất tuân dân sự là một cuộc phản đối công khai, bất hợp pháp và mang tính
chính trị được thực hiện chống lại nhà nước hoặc chính sách (5) . Sen-đơn trong cuốn
Bách khoa toàn thư về tư tưởng chính trị định nghĩa bất tuân dân sự là bất tuân hoặc vi
phạm pháp luật vì các lý do đạo đức, tôn giáo hoặc các lý do khác, bởi một cá nhân
hoặc một nhóm có tổ chức (6) .
Bất tuân dân sự có nhiều hình thức và cách biểu hiện khác nhau. Ví dụ, có cách tiếp cận
cho rằng bất tuân dân sự có 5 hình thức biểu hiện (7) : Một là, tuần hành muối do Ma-
hát-ma Gan-đi lãnh đạo (dẫn đầu đoàn 78 người đi bộ trong 24 ngày để phản đối
chính sách độc quyền muối do chính quyền Anh áp đặt) (8) ; hai là, chiến dịch
Extremadura - một phong trào cải cách ruộng đất ở Tây Ban Nha; ba là, tuần hành
ủng hộ và phong trào bất di chuyển ở Mỹ; bốn là, loại bỏ các doanh nghiệp không
mong muốn (phong trào chống toàn cầu hóa ở Pháp); năm là, phong trào vận động
không đóng thuế ở Luân đôn năm 1990.
Không thể bác bỏ một chân lý hiển nhiên rằng, xây dựng pháp luật
là công việc nội bộ của từng quốc gia, xuất phát từ nhu cầu, lợi ích
của từng quốc gia
Cần khẳng định rằng, dưới góc độ một nhà nước pháp quyền, một khi đạo luật đã được
ban hành thì đạo luật đó phải được tôn trọng và thực thi. Không một quốc gia nào trên
thế giới lại dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ, không một
quốc gia nào lại cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho
hoạt động công quyền, thực thi công lý. Đồng thời, hậu quả do việc lợi dụng “bất tuân
dân sự” để lại rất nặng nề, kéo dài không chỉ ảnh hưởng về kinh tế - xã hội, mà còn
gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền. Mặt khác,
7
việc xây dựng và thực thi pháp luật là công việc nội bộ của từng quốc gia và phải phù hợp
với điều kiện của từng quốc gia. Không ai có thể phản bác điều hiển nhiên này. Nhiều
nhà tư tưởng nổi tiếng thế giới cũng chỉ rõ việc nghiên cứu về quốc gia, xây dựng và
thực thi pháp luật phải căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của từng quốc gia, khu vực, dân
tộc. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Mông-te-xki-ơ, nhà bình luận xã hội và
tư tưởng chính trị nổi tiếng người Pháp, chỉ rõ: “Khi tôi nghiên cứu về con người, tôi
đã đi đến kết luận rằng, những sự khác biệt của pháp luật và của đạo lý loài người
không phải do họ tự vẽ ra một cách tùy tiện. Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ
chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này.
Và chỉ có những trường hợp rất đặc biệt luật của dân tộc này mới có thể thích ứng với
dân tộc khác (9) . Hê-ghen, nhà triết học vĩ đại người Đức, cũng khẳng định điều tương
tự: “Mỗi dân tộc có chế độ nhà nước của mình; chế độ nhà nước Anh quốc là của người
Anh; và nếu như người ta tự dưng muốn chuyển cho người Phổ thì điều đó cực kỳ vô lý
như là quyết định chuyển Nhà nước Phổ cho người Thổ Nhĩ Kỳ. Mỗi một chế độ nhà
nước chỉ là sản phẩm, là sự thể hiện tinh thần của riêng một dân tộc và của trình độ
phát triển của ý thức dân tộc của họ mà thôi. Sự phát triển đó đòi hỏi một sự vận động
liên tục và nhiều bước trong đó không một bước nào có thể bị xóa bỏ” (10) . Công ước về
các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền
tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của
mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa” (11) . Công ước về các quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa năm 1966 khẳng định: “1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất
phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát
triển kinh tế, xã hội và văn hóa...” (12) .
Vì lẽ đó, việc xác định và lựa chọn ban hành đạo luật nào là quyền năng riêng của từng
quốc gia. Ban hành Luật An ninh mạng là một ví dụ điển hình. Cần thấy rằng, luật
(pháp luật) về an ninh mạng luôn được quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều
quốc gia và tổ chức quốc tế trên toàn thế giới (13) ... Luật An ninh mạng rất cần thiết không
chỉ để bảo vệ an ninh quốc gia mà còn nhằm bảo vệ người dân, để có môi trường xã hội
phát triển lành mạnh trên không gian mạng. Các quy định trong dự thảo Luật An ninh
mạng của Việt Nam được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, với sự tham gia đóng góp ý kiến
của các bộ, ngành chức năng, cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, nhiều
chuyên gia, tổ chức, tập đoàn kinh tế, viễn thông nước ngoài lớn (như Facebook,
Google, Apple, Amazon, Hội đồng kinh doanh Mỹ - ASEAN, Hiệp hội điện toán đám
mây châu Á; các cơ quan đại diện nước ngoài như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Nhật
Bản... và ý kiến rộng rãi của quần chúng nhân dân; sự thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng
và An ninh, sự chỉnh lý của các đại biểu Quốc hội qua 2 kỳ họp thứ 4 và thứ 5, Quốc hội
khóa XIV (14) . Các quy định của Luật An ninh mạng cũng phù hợp với pháp luật các nước và
thông lệ quốc tế. Quy định về tội phạm mạng trong Luật An ninh mạng không phải là
điều xa lạ gì, bởi lẽ không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia cũng quy định về tội phạm
mạng. Theo thống kê của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
(UNCTAD), đã có đến 154 quốc gia trong tổng số 194 quốc gia thành viên UNCTAD ban
hành luật pháp về tội phạm mạng (15) . Các quy định của Luật An ninh mạng về bảo vệ
thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân,
bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng cũng phù hợp với xu hướng
chung trên toàn thế giới về bảo vệ thông tin cá nhân. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới đã ban hành Luật về bảo vệ thông tin cá nhân dưới nhiều tên gọi khác
nhau như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Bảo vệ dữ liệu, Luật Bảo vệ thông tin cá
nhân, Luật về bảo vệ các mối quan hệ không công khai... Theo thống kê của UNCTAD,
128 trong tổng số 194 quốc gia thành viên của UNCTAD đã ban hành luật để bảo đảm
việc bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư (16) . An ninh quốc gia cũng là một ngoại lệ trong các
8
điều ước quốc tế quan trọng về thương mại quốc tế (17) . Điều này thể hiện tầm quan trọng và
ý nghĩa sống còn của vấn đề an ninh quốc gia đối với tất cả các nước trên thế giới.
Lật tẩy các hành động lợi dụng quyền tự do, dân chủ để “bất tuân
dân sự”, vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt
động công quyền, thực thi công lý
Không thể bác bỏ một điều hiển nhiên rằng, việc các thế lực phản động, thù địch tìm
mọi cách xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta từ nhiều phương diện khác nhau
như xuyên tạc Luật An ninh mạng, xuyên tạc dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế
đặc biệt, lợi dụng việc phản đối một số chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước ta
một cách phi lý, thiếu căn cứ đã và đang là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Việt
Nam, xâm hại quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội và từng người dân. Các đối tượng
phản động, thù địch đã kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở
giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương
nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng,
doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến pháp luật của Nhà nước,
xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công
dân...
Đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, mặc dù Quốc hội đã quyết
định lùi thời hạn thông qua để có thời gian bổ sung, hoàn thiện, nhưng các thế lực
phản động, thù địch vẫn tung thông tin xuyên tạc, kích động, đòi phải đưa vấn đề này
ra trưng cầu ý dân toàn quốc theo Luật Trưng cầu ý dân năm 2015; thổi phồng rằng
không thể chỉ dừng ở đấu tranh cho một vài đạo luật mà phải thực hiện đa nguyên, đa
đảng theo mô hình dân chủ phương Tây; kích động các đợt biểu tình, tuần hành bằng
những mỹ từ mị dân như “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”,
“nhiều người trong bộ máy cầm quyền thức tỉnh”...; thực hiện những chiêu trò mới
như gây kẹt xe ở các đô thị, biểu tình trên mạng, hô hào các tổ chức phản động tổ chức
biểu tình ở nước ngoài...
Trước hết, cần thấy rõ rằng bất kỳ dự án luật nào cũng cần thực hiện đầy đủ quy trình xây
dựng, ban hành. Các cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật của Việt Nam đều luôn
tuân thủ quy trình đó, bảo đảm cao nhất sự tham gia của nhân dân góp ý xây dựng các
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Bản thân Dự luật Đơn vị hành chính
- kinh tế đặc biệt cũng không nằm ngoài quy trình đó. Theo quy định của Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật, việc xây dựng, ban hành văn bản luật phải thông qua một
quy trình rất chặt chẽ. Người dân có quyền được tiếp tục góp ý để Quốc hội hoàn thiện
dự án Luật trên cơ sở góp ý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận, các cơ quan, tổ chức
khác, cá nhân, lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và cơ quan,
tổ chức có liên quan theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật, đồng thời việc góp ý kiến phải trên cơ sở tìm hiểu kỹ lưỡng dự thảo luật và có cơ
sở khoa học, không tiếp tay cho những hành vi xuyên tạc, kích động, chống đối, phá
hoại đất nước.
Việc xây dựng, ban hành một đạo luật trước hết phải dựa trên lợi ích của quốc gia đó và
phải có cơ sở, lập luận khoa học. Không phải tự nhiên mà đạo luật An ninh mạng được
ban hành ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Một điều dễ nhận thấy là an
toàn thông tin đang là vấn đề nổi cộm ở không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước trên
9
thế giới. Theo số liệu từ Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), hơn
9.300 trang web tại Việt Nam bị tấn công trong năm 2019. Theo báo cáo International
Privacy Day Report 2020 của Kaspersky, Việt Nam đứng thứ 9 trên toàn cầu về mức độ
bị ảnh hưởng bởi phần mềm gián điệp, với 7.216 người dùng bị tấn công vào năm 2019.
Theo số liệu thống kê được ghi nhận bởi hệ thống giám sát của hãng bảo mật Mỹ
SonicWall, hầu hết các hình thức tấn công đều có xu hướng gia tăng trên toàn cầu
trong năm 2018. Cụ thể, số lượng các tấn công bằng mã độc gia tăng trên toàn cầu
trong ba năm liên tiếp. Theo Báo cáo rủi ro toàn cầu năm 2019 của Diễn đàn Kinh tế
thế giới, các cuộc tấn công an toàn, an ninh mạng hiện nằm trong số những rủi ro
hàng đầu trên toàn cầu. Trong năm 2019, hệ thống CyStack Attack Map ghi nhận
563.000 cuộc tấn công vào các trang web trên toàn cầu.
Thực tiễn các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã chỉ ra một điều hiển nhiên
rằng, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt luôn diễn ra và là hiện tượng phổ biến trên
thế giới (18) . Theo dữ liệu thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong vòng 30
năm, từ năm 1975 đến năm 2006, đã có sự tăng vọt số lượng SEZ và số lượng quốc gia
có SEZ trên toàn thế giới (19) . Nhiều quốc gia đã ban hành các luật riêng về khu kinh tế (20) .
Như vậy, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt trên thế giới không phải là hiện
tượng ngẫu nhiên xuất hiện, mà đã có một quá trình hình thành lâu dài, với nhiều
dạng thức khác nhau, được ghi nhận trong nhiều tài liệu của các tổ chức quốc tế lớn, và
được quy định trong một đạo luật riêng biệt của quốc gia.
Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ,
nhưng không dung thứ cho hành vi lợi dụng tự do, dân chủ, “bất
tuân dân sự” để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng và Nhà nước
Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, cần thiết cho cuộc sống, là
một biểu hiện cho tiến bộ và là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhưng tự do
chưa bao giờ và không bao giờ là tự do chung chung, tự do vô bờ bến. Điều này được thể
hiện rõ nét trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế (21) . Pháp luật Việt Nam chỉ hạn
chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Ví dụ, khoản 1,
Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân
chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc
quy định chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng cũng
phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Cụ thể là, Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị (ICCPR) đề cập cụ thể trong một số điều quy định về các quyền có thể
chịu sự giới hạn (Điều 4, Điều 19). Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm
1789 đưa ra các giới hạn đối với quyền tự do ngôn luận theo đúng định nghĩa của nó
(Điều 4, Điều 10, Điều 11).
Nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng quyền tự do ngôn luận để phát ngôn tiêu cực, thù địch
trên in-tơ-nét, Ủy ban châu Âu (European Commission) đã ký Quy tắc ứng xử về chống
lại lời nói có nội dung tiêu cực, thù địch bất hợp pháp trực tuyến với Google (YouTube),
Facebook, Twitter và Microsoft năm 2016. Instagram, Google+, Dailymotion, Snap và
Jeuxvideo.com sau đó đã tham gia Quy tắc này.
Thông qua đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam
luôn quan tâm đến việc bảo đảm sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Nhà
10
nước và xã hội, bảo đảm quyền giám sát, phản biện xã hội của các chủ thể. Nhà nước
Việt Nam bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ thể, ủng hộ phản
biện xã hội chân chính để hoàn thiện chính sách, pháp luật, xây dựng xã hội thượng
tôn pháp luật. Nhưng việc lợi dụng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ xúy và bảo vệ những
hành vi vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền cần
phải được ngăn chặn, đẩy lùi. Nhiều quan điểm trên thế giới cũng chỉ rõ tính trái pháp luật
của hành vi bất tuân dân sự, phản bác việc lợi dụng bất tuân dân sự để kích động các hành
vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại đến hoạt động công quyền. Pi-tơ Mai-ơ, Giáo sư khoa
học chính trị tại Đại học Wisconsin-Eau Claire (Mỹ), chỉ ra rằng bất tuân dân sự “gây
ra mối đe dọa đối với nhà nước pháp quyền” (22) . Trong một nghiên cứu trên một Tạp chí
về luật của Mỹ, Ét-uốt Ma-rếc chỉ rõ: “Hành vi như vậy có thể được phân loại là bất
tuân dân sự theo nghĩa là nó vi phạm một hệ thống luật có trật tự, nhưng nó cũng là
hành vi không thể được bảo vệ bởi hiến pháp hoặc chế tài tư pháp bất kể mục đích của
nó là gì hoặc sự bất công của các luật mà nó chống lại” (23) . Trên một phân tích trên tờ
Thời báo New York, Sác-lơ Phơ-ran-ken, nhà triết học người Mỹ, viết: “tôi có thể
đúng khi nghĩ rằng một sắc lệnh chống đi bộ đường dài là một sự vi phạm không cần
thiết đối với các quyền của tôi. Tuy nhiên, điều này không hợp lý khi tôi tổ chức một
cuộc đình công khổng lồ trên những con phố tắc nghẽn giao thông trong một tuần” (24) .
Luật sư người Mỹ Mô-rít Lép-man, người được Tổng thống Mỹ Rô-nan Ri-gân trao
tặng Huân chương Tự do Tổng thống vào năm 1981, dẫn lời Tổng thống Mỹ A-bra-
ham Lin-côn, viết: “Mỗi người hãy ghi nhớ rằng vi phạm pháp luật là chà đạp lên máu
mủ của cha mình, và xé bỏ hiến chương về quyền tự do của chính mình và con cái
mình. Hãy để cho sự tôn kính pháp luật được hít thở bởi mỗi bà mẹ Mỹ đối với đứa con
đang nói ngọng nựng nịu trong lòng mình; hãy để nó được giảng dạy trong các trường
học, trong các chủng viện và trong các trường cao đẳng; hãy để nó được viết trong các
sách bổ túc, sách chính tả, và trong các niên giám; hãy để nó được rao giảng từ bục
giảng, được công bố trong các phòng lập pháp và được thực thi tại các tòa án” (25) . Tòa án
nhiều nước đều không cho phép hành vi bất tuân dân sự làm ảnh hưởng đến lợi ích chung.
Phó Giáo sư luật Ri-sát Mô-lơ, Trung tâm Luật của Đại học Georgetown (Mỹ), dẫn lời
của Chánh án thứ 11 của Tối cao Pháp viện Mỹ Sác-lơ Êvan Hu-gơ, viết: “duy trì cơ hội
thảo luận chính trị tự do đến cùng để chính phủ có thể đáp ứng ý chí của người dân và
những thay đổi có thể đạt được bằng các phương tiện hợp pháp... là một nguyên tắc cơ
bản của hệ thống hiến pháp của chúng tôi” (26) .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét