Thứ Năm, 20 tháng 10, 2022

PHÒNG CHỐNG TƯ TƯỞNG TÔN GIÁO CỰC ĐOAN

 

Đây là những biểu hiện hết sức nguy hiểm mà các thế lực thù địch lợi dụng để tăng cường xây dựng, phát triển những phần tử phản động ở trong nước để chống phá cách mạng từ bên trong là chủ yếu. Tư tưởng dân tộc hẹp hòi và tôn giáo cực đoan là một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước”. Thực chất của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”: là tư tưởng khép kín, biệt lập, bảo thủ, bài ngoại, ngờ vực dân tộc khác. Mục đích của “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi” là chia cắt đất nước ta thành nhiều vùng miền, khu vực tự trị của đồng bào dân tộc thiểu số và không phụ thuộc vào Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thay vào đó sẽ là lực lượng chính trị phản động nắm giữ…

T ư tưởng tôn giáo cực đoan: là tuyệt đối hóa tính biệt lập, đặc thù của mỗi tôn giáo, đề cao tôn giáo mình, phủ nhận hoặc xem thường với thái độ miệt thị các tôn giáo khác và những người không theo tôn giáo; chỉ thấy quyền lợi của tôn giáo mình, chà đạp lên quyền lợi của tôn giáo khác và nuôi dưỡng ngày càng sâu mối hận thù với các dân tộc, tôn giáo khác. Tạo dựng được những lực lượng phản động bên trong đối lập với Đảng, Nhà nước và chính quyền cơ sở để dụ dỗ và lôi kéo dân lành xúi giục, kích động mọi người tham gia biểu tình, gây rối, vi phạm pháp luật theo kịch bản đã định trước của chúng. Nhằm phá hoại an ninh, gây mất trật tự, mất ổn định xã hội cùng với sự hỗ trợ từ bên ngoài sẽ từng bước làm cho Việt Nam “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và tự sụp đổ.

Do vậy, phải chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoanlàm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là trách nhiệm của mỗi chúng ta cần  nhận thức sâu sắc về “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo”, sự nguy hại của nó để chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh. Đồng thời qua tuyên truyền, làm cho nhân dân thấy rõ ý đồ đen tối của các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài kích động “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chú trọng tuyên truyền về truyền thống quý báu trong lịch sử dân tộc ta; mỗi dân tộc, mỗi loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, sự phát triển khác nhau, nhưng đều có điểm chung đó là tinh thần bao dung, đoàn kết giữa các thành phần dân tộc, đoàn kết lương giáo trong đại gia đình dân tộc Việt Nam.

PHÒNG, CHỐNG BỆNH GIÁO ĐIỀU

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh giáo điều lý luận. Người cán bộ, đảng viên phải có thái độ đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập lý luận. Như vậy, thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận là quán triệt quan điểm thực tiễn để chống bệnh giáo điều trong học tập lý luận.Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong cán bộ, đảng viên; trong đó cần đấu tranh khắc phục bệnh giáo điều

Cần thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận, chống giáo điều về lý luận, tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận. Tăng tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Cần vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác.

Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ trở nên giáo điều về lý luận. Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, mổ xẻ thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác của bản thân mình và của Đảng, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn.

Bác luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp cách mạng để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là một phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý.

Cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm”. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới.

 

NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN VỚI ĐẢNG

 

Trong những tháng gần đây, có một số bài viết thổi phồng một số tiêu cực trong xã hội, cổ súy cho những hành vi chống phá Nhà nước, phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước từ đó hòng kích động chia rẽ truyền thống đoàn kết máu thịt giữa Đảng với nhân dân; nhưng những âm mưu, thủ đoạn của địch không hề bị lung lạc niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước làm cho đời sống của người dân ở mọi miền không ngừng được cải thiện theo thời gian, là một thực tế không thể phủ nhận. Đến nay, đất nước đã thu được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử; phát triển cả quy mô, trình độ; nền kinh tế được nâng lên vượt bậc. Từ một nước nghèo, kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên, được xếp trong nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp.

Thực tiễn thành quả cách mạng, đã chứng minh chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai chữ “Đảng ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn của Đảng mà không phải đảng chính trị nào trên thế giới cũng có được. Và cũng chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc giành những thắng lợi to lớn.

Niềm tin của nhân dân ta đối với Đảng, với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay là niềm tin đã được tôi luyện trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhân dân nguyện một lòng theo Đảng, Đảng một lòng, một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân thì Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác, chân lý đó đã được thực tiễn kiểm nghiệm và minh chứng hết sức hùng hồn, nhân dân không thể bị lung lạc bởi những luận điệu xuyên tạc, thổi phồng thiếu căn cứ của các thế lực thù địch, phản động.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành thành công hai cuộc kháng chiến, đất nước thu về một mối, cả nước độc lập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Là một nước nghèo, vừa thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc nên gặp phải những khó khăn gay gắt. Song, với bản lĩnh của một đảng cách mạng, chân chính, đổi mới đất nước.

NHÂN DÂN VIỆT NAM MỘT LÒNG VỮNG TIN THEO ĐẢNG

 

Trên trang mạng xã hội vừa qua đăng một số bài viết thổi phồng một số tiêu cực trong xã hội, cổ súy cho những hành vi chống phá Nhà nước, phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước từ đó hòng kích động chia rẽ truyền thống đoàn kết máu thịt giữa Đảng với nhân dân, gây nên thái độ ngộ nhận, tâm trạng hoang mang, hoài nghi, dao động, mất lòng tin ở một bộ phận nhân dân. Song, niềm tin của nhân dân đối với Đảng không hề bị lung lạc, bởi lẽ:

Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong đó khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày 30/4/1975, cả nước độc lập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Là một nước nghèo, vừa thoát khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc nên gặp phải những khó khăn gay gắt. Song, với bản lĩnh của một đảng cách mạng, chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới đất nước.

Đến nay, sau hơn 35 năm, công cuộc đổi mới đất nước đã thu được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên vượt bậc, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, đến nay Việt Nam đã trở thành một quốc gia có quy mô dân số gần 100 triệu người với mức thu nhập bình quân gần 3.400 đô la/người (năm 2020). Từ một nước nghèo, kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên, được xếp trong nhóm các nước đang phát triển.

Nhân dân Việt Nam luôn đặt trọn niềm tin với Đảng; thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước làm cho đời sống của người dân ở mọi miền không ngừng được cải thiện theo thời gian, là một thực tế không thể phủ nhận. Kết quả của Chương trình xây dựng nông thôn mới đã đem lại cho bộ mặt nhiều miền quê trên đất nước, có những thay đổi một trời một vực, khiến lòng dân phấn khởi. Những xử lý có hiệu quả của nước ta trong việc kiểm soát và dập dịch COVID-19 khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ. Những việc làm thiết thực của cả hệ thống chính trị, của các tổ chức xã hội và các nhà hảo tâm, trong việc hỗ trợ người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa vượt qua khó khăn để “không ai bị bỏ lại phía sau” đang làm cho mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, quan hệ giữa con người với con người nổi lên như một dấu son tươi màu.

Thực tiễn chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 90 năm qua, Đảng ta luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi bằng hai chữ “Đảng ta”. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn của Đảng mà không phải đảng chính trị nào trên thế giới cũng có được. Và cũng chính điều đó đã tạo nên sức mạnh để Đảng ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc giành những thắng lợi to lớn.

Niềm tin của nhân dân ta đối với Đảng, với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay là niềm tin đã được tôi luyện trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhân dân nguyện một lòng theo Đảng, Đảng một lòng, một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân thì Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác, chân lý đó đã được thực tiễn kiểm nghiệm và minh chứng hết sức hùng hồn, đâu có dễ bị lung lạc bởi những luận điệu xuyên tạc, thổi phồng thiếu căn cứ của bọn phản cách mạng chống phá Đảng.

 

 

QUÂN ĐỘI TÍCH CỰC CÓ HIỆU QUẢ THAM GIA ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội đã và đang xuất hiện nhiều luận điệu xuyên tạc nhắm vào việc đấu tranh trên không gian mạng nhằm làm trong sạch môi trường internet. Chúng cố ý xuyên tạc, bóp méo sự thật; chúng cho rằng quân đội tham gia đấu tranh trên mạng xã hội, làm trong sạch môi trường internet chính là đang tham gia vào lĩnh vực dân sự, như vậy là vi hiến.

Chúng xuyên tạc rằng: Quân đội chỉ cần làm tốt nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là đủ, còn việc đấu tranh trên không gian mạng đã có lực lượng khác đảm nhiệm, không phải chức năng của quân đội. Vì vậy, quân đội tham gia đấu tranh trên không gian mạng là lấn sân, lạm quyền, sai chức năng nhiệm vụ, đụng chạm đến chức năng của các bộ, ngành khác. Hay ấu trĩ hơn, chúng còn cho rằng quân đội làm gì có đủ lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất mà đòi tham gia đấu tranh trên mạng xã hội. Tất cả luận điệu này là hết sức phi lý, trơ trẽn, xuyên tạc, hòng phủ nhận vai trò tác chiến của quân đội nhân dân Việt Nam

Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái đó, không để cho chúng lợi dụng không gian mạng để bôi nhọ quân đội ta. Quân đội cần tăng cường hơn nữa trong việc tham gia đấu tranh trên không gian mạng; nhằm, làm sạch môi trường internet ở Việt Nam là hết sức cần thiết hiện nay, phù hợp Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Từ đó, xác định đấu tranh trên không gian mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an toàn thông tin, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, từng bước làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động; để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

PHÒNG CHỐNG CHỐNG BỆNH GIÁO ĐIỀU

 

Phải tăng cường tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh giáo điều lý luận. Người cán bộ, đảng viên phải có thái độ đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập lý luận. Như vậy, thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận là quán triệt quan điểm thực tiễn để chống bệnh giáo điều trong học tập lý luận.

Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, mổ xẻ thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác của bản thân mình và của Đảng, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn. Cần vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác. Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ trở nên giáo điều về lý luận.

Phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm”. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới.

Phong cách thực tiễn là một trong những nét nổi bật trong hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách thực tiễn của Bác luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp cách mạng để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là một phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu và học tập phong cách thực tiễn của Người là rất cần thiết đối với mỗi người, bởi đó là phương thức góp phần loại bỏ căn bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

 

TĂNG CƯỜNG PHÒNG CHỐNG AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG

 

Sự cần thiết ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh; phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe của nhân dân.Đồng thời, tăng cường quốc phòng và an ninh; đây là những vấn đề cơ bản tạo nền tảng vững chắc cho việc đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.

Cần phải tăng cường các biện pháp để đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống vừa là yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc. đây là điều kiện quan trọng để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường giáo dục nhận thức nâng cao ý thức cho mọi tầng lớp nhân dân về bảo vệ Tổ quốc theo yêu cầu mớitrong gia đoạn hiện nay. Quán triệt giáo dục sâu rộng mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần của Đại hội XIII của Đảng cho toàn xã hội, đặc biệt là cho cán bộ, đảng viên. Đồng thời nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; tăng cường tuyên truyền, trao đổi thông tin về các mối đe dọa an ninh, quốc phòng cho tất cả các tổ chức trong xã.

Đẩy mạnh hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế, các cơ quan an ninh, cảnh sát của các nước trong vấn đề an ninh phi truyền thống, đấu tranh chống khủng bố, phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; thiết lập hành lang pháp lý, xây dựng cơ chế hợp tác với các nước trong khu vực và quốc tế, với các tổ chức quốc tế có liên quan; chú trọng tăng cường quan hệ hợp tác với các nước khu vực trong đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; tăng cường hơn nữa các biện pháp kế hoạch và cơ chế phù hợp để chống lại những thế lực thù địch lợi dụng lợi dụng những nội dung hoạt động chưa đồng bộ, chưa hiệu quả để chống phá ta.

 

ĐẤU TRANH CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN MẶT TRẬN BÁO TRÍ TRUYỀN THÔNG VÀ MẠNG XÃ HỘI

 

Trong những năm qua, các thế lực thù địch đã tăng cường đẩy mạnh xâm nhập, tác động, hướng lái truyền thông Việt Nam theo ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, trên mặt trận báo chí, truyền thông và mạng xã hội, công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” cần tăng cường đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên mặt trận báo chí, truyền thông và mạng xã hội của tỉnh trong thời gian tới, cần tập trung làm tốt một số giải pháp sau:

Một là, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức tự giác, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và của người dân.

Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao ý thức tự giác, bản lĩnh chính trị, để mỗi cá nhân biết cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin phù hợp, đặc biệt là thông tin trên mạng xã hội; tích cực thông tin, chia sẻ trên mạng xã hội của địa phương, đơn vị những gương người tốt, việc tốt, những hoạt động tích cực của ngành, đoàn thể, địa phương; đăng tải và chia sẻ các tin, bài, hình ảnh, video clip vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động. Xác định việc tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người dân khi sử dụng mạng xã hội là giải pháp quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người dân cùng chung tay với các cơ quan chức năng bảo đảm môi trường mạng lành mạnh, phản bác các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch  trên Internet và mạng xã hội.

Hai là, phát huy sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng; tăng cường phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

Do đặc thù của Internet là tốc độ truyền thông tin rất nhanh, do đó để kịp thời phát hiện các thông tin xấu, độc cần có sự phối hợp một cách hiệu quả giữa các cơ quan chức năng cũng như sự phối hợp của các cộng tác viên, của từng cá nhân ở các địa phương, đơn vị để có biện pháp đấu tranh phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể; chú trọng những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị, các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, của địa phương, những địa bàn trọng điểm. Huy động sự phối hợp đồng bộ trong công tác tuyên truyền, phản bác của các cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử và của các trang mạng xã hội của các địa phương, đơn vị

Ba làlàm tốt công tác định hướng thông tin; đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về báo chí và tuyên truyền

Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù độ phức tạp của sự việc đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt định hướng thông tin thì sự việc sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, nhất là không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt chống phá.

Để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân không bị mắc bẫy, theo những thông tin xấu, độc thì trước tiên chúng ta phải kịp thời nhận diện, chỉ rõ các âm mưu, thủ đoạn tán phát thông tin xấu, độc của các thế lực thù địch. Chỉ rõ tính hai mặt của mạng xã hội, nhất là mặt tiêu cực, tránh tình trạng các cá nhân vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá, thậm chí có các hành vi tiêu cực. Đặc biệt, cần hết sức cảnh giác khi tiếp cận những thông tin được đăng tải từ những trang không chính thống, giả mạo, có nguồn gốc từ nước ngoài, hoặc do cá nhân, phần tử xấu lập ra. Khi tiếp nhận được những thông tin tiêu cực trên mạng xã hội, hãy chủ động tìm kiếm từ các trang báo chí, thông tin chính thống để so sánh, đối chiếu. Nếu không xác định được nguồn gốc, động cơ, mục đích của thông tin và người chia sẻ thông tin, cần bình tĩnh, thận trọng khi bình luận, phát tán thông tin.

 

 NGUỒN GỐC PHONG TRÀO “BA ĐẢM ĐANG


Năm 1965, trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, ở miền nam chúng tăng hàng vạn lính Mỹ và vũ khí, mở rộng chiến tranh ra miền bắc. 

Với khẩu hiệu “Tất cả vì miền nam ruột thịt”, toàn miền bắc đã dấy lên một phong trào tình nguyện vào miền nam chống Mỹ, cứu nước; đồng thời vừa tích cực lao động sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. 

Khắp nơi, thanh niên nô nức lên đường tòng quân, xung phong đi chiến đấu. Phụ nữ các địa phương đã hăng hái làm đơn tình nguyện gửi Ủy ban nhân dân, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam... xin được làm thêm những công việc của nam giới để sẵn sàng thay thế anh em đi chiến đấu. 

Đứng trước khí thế cách mạng đó, ngày 18/3/1965, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động phong trào phụ nữ Ba đảm nhiệm với 3 nội dung chính:

1. Đảm nhiệm sản xuất thay chồng con đi chiến đấu

2. Đảm nhiệm gia đình để chồng con yên tâm công tác

3. Đảm nhiệm sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết

Ngày 22/3/1965, Ban Thường vụ Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ra Chỉ thị số 03/CT về mở cuộc vận động phong trào “Ba đảm nhiệm” trong phụ nữ tăng cường đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. Nội dung gồm 3 phần:

1. Tình hình nhiệm vụ mới, tăng cường đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. Cụ thể là: Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước: Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, ở miền nam chúng tăng hàng vạn lính Mỹ và vũ khí, mở rộng chiến tranh ra miền bắc. Vì vậy, nhiệm vụ cấp thiết của Hội Liên hiệp phụ nữ lúc này là:

“Giáo dục, động viên toàn thể phụ nữ nhận rõ tình hình nhiệm vụ mới đó, thấy rõ trách nhiệm để có một sự chuyển biến mới về tư tưởng, tình cảm cũng như trong hành động, phát huy truyền thống và lực lượng cách mạng tiềm năng của phong trào phụ nữ nước ta, trong đó quan trọng nhất là chị em phụ nữ nông dân ra sức nỗ lực nâng cao sản xuất, tích cực phục vụ chiến đấu và tham gia chiến đấu”.

2. Mục đích, nội dung phong trào “ba đảm nhiệm”: Giáo dục, động viên mọi người phụ nữ nhận rõ tình hình mới, nhận rõ trách nhiệm để quyết tâm đẩy mạnh sản xuất và chiến đấu. Có 3 nội dung chính:

- Đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho nam giới đi chiến đấu.

- Đảm nhiệm gia đình, khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu.

- Đảm nhiệm chiến đấu khi cần thiết.

3. Kế hoạch chỉ đạo:

- Trước hết cần tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong phụ nữ và nhân dân về mục đích, ý nghĩa, nội dung của cuộc vận động “3 đảm nhiệm”;

- Phát động phong trào chủ yếu là ở cấp cơ sở, tránh làm rầm rộ và tập trung đông;

- Việc chỉ đạo thường xuyên của cấp Hội tỉnh phải nắm chắc trọng điểm và phát hiện, sử dụng điển hình.

Cũng trong tháng 3/1965, sau Chỉ thị 03 của Ban Thường trực Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ về vận động phong trào “Ba đảm nhiệm”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam nên sửa tên phong trào “Ba đảm nhiệm” thành phong trào “Ba đảm đang”.

Nội dung của phong trào “Ba đảm đang”:

1. Đảm đang sản xuất và công tác thay thế nam giới đi chiến đấu.

2. Đảm đang gia đình, động viên chồng con, anh em đi chiến đấu.

3. Đảm đang phục vụ chiến đấu và chiến đấu.

Đến tháng 5/1965 (sau hơn 2 tháng kể từ khi phát động), toàn miền bắc đã có 1 triệu 70 vạn phụ nữ đăng ký “Ba đảm đang” lập thành tích xuất sắc.

Ngày 3/12/1965, Thành hội phụ nữ Hà Nội mở Đại hội “Ba đảm đang”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu tại Đại hội. Người đã biểu dương truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam: Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng, thanh niên Việt Nam là thanh niên anh hùng, phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng. Hai nghìn năm trước đây ta đã có các nữ anh hùng: Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong kháng chiến chống Pháp trước kia và trong kháng chiến chống Mỹ ngày nay, ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ. Trên thế giới chưa có nơi nào phụ nữ làm Phó Tổng tư lệnh như ở miền nam nước ta. Thi đua với phụ nữ miền nam là đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh. Khó khăn đến mấy ta cũng vượt qua được và nhất định chúng ta đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. 

Sau một năm phát động phong trào “Ba đảm đang”, khí thế cách mạng của quần chúng phụ nữ trong các ngành, khắp các địa phương diễn ra sôi nổi và rộng khắp. Để tổng kết và tiếp tục phát động phong trào, ngày 19/2/1966, Ban Chấp hành Trung ương Hội ra Chỉ thị trong đó có nội dung thống nhất nội dung “năm tốt” trong phong trào “Ba đảm đang”, đẩy mạnh cuộc vận động “Ba đảm đang” thành phong trào quần chúng lớn mạnh duy nhất của quần chúng phụ nữ và đẩy mạnh phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền bắc học tập và thi đua với miền nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

* Nguồn tư liệu: Biên niên Lịch sử Hội phụ nữ Việt Nam, tập 1 (1930-1976); Bài viết "Phong trào phụ nữ “ba đảm đang” - một mốc son trong lịch sử phụ nữ Việt Nam", Hà Thị Khiết, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

ST

MỐI QUAN HỆ VIỆT - XÔ TRONG QUÁ KHỨ 

 

74 năm (1917-1991) tồn tại, Liên Xô là siêu cường viện trợ lớn nhất cho các quốc gia đang phát triển. Ngân sách Liên Xô từ sau 1975, hàng năm cõng hàng chục tỷ đôla cho viện trợ phát triển, viện trợ quân sự cho các nước nghèo ở châu Phi, châu Á, đa số là viện trợ không hoàn lại. Chi cho viện trợ nước ngoài chiếm một tỷ lệ quan trọng trong ngân sách Liên Xô. Nước Nga kế thừa Liên Xô đã xóa 29 tỷ đôla viện trợ Cuba, 10 tỷ đôla cho Triều Tiên, hàng trăm tỷ đôla ở các nước khác.


Riêng Việt Nam, viện trợ của Liên Xô mỗi năm từ 700 triệu đến 1 tỷ đôla. Hầu hết các công trình thủy lợi, thủy điện, các nhà máy lớn của miền Bắc đều có đóng góp quan trọng của nguồn viện trợ kinh tế, trang thiết bị và chuyên gia kỹ thuật Liên Xô. Hai lần xóa nợ cho Việt Nam. Năm 1973, Chính phủ Liên Xô đã ký với Chính phủ Việt Nam "Hiệp định miễn cho Việt Nam trả các khoản nợ đã vay" trước đó. Đến năm 2001, Nga (nước kế thừa Liên Xô) xóa 85% nợ trong tổng 11 tỷ đôla viện trợ (từ 1973-1991), 15% còn lại (1,65 tỷ đôla) Việt Nam phải trả trong vòng 23 năm.


Nga giúp Việt Nam tiến hành đàm phán với các quỹ tiền tệ IMF, WB, bảo lãnh khoản nợ 908 triệu đôla (sau khi đàm phán) chính quyền VNCH nợ Mỹ và các tổ chức tài chính quốc tế khác. Sau 1975, trong khi Việt Nam cần nguồn tài chính để kiến thiết lại đất nước bị chiến tranh tàn phá, Mỹ ra lệnh cấm các tổ chức tài chính quốc tế cho Việt Nam vay (cho đến năm 1991). Mỹ đòi Việt Nam trả hàng tỷ đôla (đã giảm) từng cho VNCH vay, Việt Nam chỉ chấp nhận trả 145 triệu USD viện trợ nông nghiệp nông thôn chứ không chấp nhận trả các khoản vay quân sự của chế độ cũ.Đàm phán kéo dài và nhiều lần bế tắc. Mỹ gây áp lực đòi Việt Nam trả nợ nếu không không có chuyện vay IMF hay các tổ chức tài chính khác. Tuy nhiên, việc Nga xóa nợ cũng gây áp lực, ảnh hưởng đến việc "Câu lạc bộ Paris" xóa/ giảm nợ cho Việt Nam, khai thông nguồn vốn viện trợ phát triển từ bên ngoài, qua đó cũng gây áp lực buộc Mỹ chấp nhận điều kiện của Việt Nam trong việc trả nợ của chế độ cũ.


Hàng vạn sĩ quan, chiến sĩ kỹ thuật Liên Xô đã giúp người Việt tiếp cận với những phương tiện khí tài hiện đại, hàng vạn công nhân, kỹ sư Liên Xô đã xung phong lên những công trình quan trọng của Việt Nam (thủy điện Thác Bà, thủy điện Hòa Bình, Sơn La, Trị An...), nhà máy giấy Bãi Bằng, xí nghiệp xe Thống Nhất, liên doanh Vietsovpetro, đường sắt Bắc-Nam...nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại.


(Ảnh) Tình hữu nghị Việt - Xô - một di sản không thể phai mờ. Một bức tranh cổ động nói đến tình anh em của những người lao động. Vào thời chống Mỹ, Liên Xô là nước hỗ trợ Việt Nam nhiều nhất.

ST

TIẾP TỤC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN HÙNG HẬU 

 

Lực lượng dự bị động viên là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam; là quân nhưng được gửi ở trong dân để sẵn sàng động viên làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc khi cần thiết. Vì thế, tiếp tục xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược trong tiến trình xây dựng Quân đội hiện đại và là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, nhằm củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.


Những năm qua, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về lực lượng dự bị động viên, làm cơ sở pháp lý để các cấp, ngành, địa phương và các đơn vị Quân đội triển khai thực hiện. Bộ Quốc phòng đã tham mưu cho Đảng, Nhà nước và trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện với nhiều giải pháp đồng bộ, sát thực tiễn, đạt kết quả quan trọng. Nổi bật là, thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc giao chỉ tiêu xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu đã tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch về quy mô, loại hình tổ chức, số lượng đơn vị dự bị động viên; chỉ tiêu kế hoạch về tiếp nhận lực lượng dự bị động viên và quy định thực hiện động viên trong từng trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Đây là bước đột phá, tạo cơ sở để từng bước xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu ở hầu khắp các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và địa phương, với đầy đủ các chế độ về đăng ký, quản lý, phúc tra, kiểm tra,... quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật dự bị và được duy trì thường xuyên, có nền nếp. 


Bộ Tổng Tham mưu thường xuyên chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương nâng cao chất lượng công tác huấn luyện cho lực lượng dự bị động viên; trong đó, tập trung bồi dưỡng nâng cao trình độ, kiến thức về quân sự, quốc phòng; khả năng quản lý, huấn luyện cho cán bộ là quân nhân dự bị các cấp từ tiểu đội và tương đương đến tiểu đoàn; đồng thời, đẩy mạnh đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp huấn luyện đối với quân nhân dự bị. Hằng năm, các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức tốt việc diễn tập chỉ huy và cơ quan về động viên, có một phần thực binh, với nhiều tình huống giả định, sát thực tiễn chiến đấu và gắn với hoạt động tác chiến của khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; kết hợp huy động, tiếp nhận đơn vị dự bị động viên trong huấn luyện, diễn tập; bảo đảm đúng, đủ chế độ, chính sách cho quân nhân dự bị và gia đình quân nhân, nên đã khích lệ, động viên quân nhân dự bị thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.


Tuy nhiên, quá trình xây dựng lực lượng dự bị động viên vẫn còn bộc lộ một số hạn chế. Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức và đơn vị đối với nhiệm vụ này có mặt còn hạn chế. Công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật liên quan ở các địa phương, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập. Vai trò, trách nhiệm của một số cấp ủy, chính quyền, ban, ngành đoàn thể địa phương trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện chưa cao. Công tác đăng ký, quản lý, phúc tra,... quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật dự bị ở một số địa phương, đơn vị chưa thực sự được chú trọng. Việc phối hợp, hiệp đồng giữa địa phương giao nguồn và đơn vị nhận nguồn còn những hạn chế nhất định...


Những năm tới, tuy dòng chảy chính của thời đại vẫn là hòa bình, hợp tác và phát triển, song tình hình thế giới, khu vực sẽ tiếp tục có biến chuyển nhanh, diễn biến phức tạp, khó lường; tình trạng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, vi phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên biển, đảo,... tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực. Tình hình trên Biển Đông, vùng biển Tây Nam vẫn tiềm ẩn nhiều nhân tố, nguy cơ gây mất ổn định. Đối với nước ta, sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, tiềm lực các mặt, nhất là tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... ngày càng được củng cố, tăng cường; vị thế, uy tín quốc gia trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, v.v. Mặc dù vậy, chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức đan xen, trong đó có các nguy cơ: tụt hậu về kinh tế, những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” Quân đội với thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta vì thế cũng đứng trước những yêu cầu mới cao hơn, nặng nề hơn. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tiếp tục tăng cường đoàn kết, thống nhất, tập trung đẩy mạnh củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Trong đó, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu là chủ trương chiến lược, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta, cần được triển khai thực hiện một cách toàn diện, với nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả. Để thực hiện tốt chủ trương đó, các cấp, ngành, địa phương, các đơn vị cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:


Một là, tăng cường quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ quan trọng này. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu về xây dựng lực lượng dự bị động viên, bởi chỉ có trên cơ sở định hướng đúng, nhận thức đầy đủ và sâu sắc, xác định rõ động cơ, trách nhiệm,... mới tạo sự quyết tâm, thống nhất cao trong tổ chức thực hiện, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị toàn quân, nhất là cấp ủy, người đứng đầu và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị (khóa XIII); Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; Luật Lực lượng dự bị động viên. Trong đó, tập trung quán triệt quan điểm: xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy, sự điều hành của chính quyền, cơ quan quân sự làm tham mưu. Trên cơ sở đó, đề ra những biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng, phù hợp từng đối tượng, địa bàn và khả năng của từng địa phương. 


Để đạt hiệu quả cao, các cấp, ngành, địa phương, đơn vị Quân đội cần đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành và tổ chức thực hiện. Đặc biệt, bám sát sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và kế hoạch của Bộ Quốc phòng về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục nghiên cứu, tham mưu điều chỉnh quy mô, loại hình tổ chức đơn vị dự bị động viên phù hợp với định hướng điều chỉnh tổ chức biên chế Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Quá trình triển khai, cần giữ vững nguyên tắc trong xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên, đó là: xây dựng, huy động đơn vị dự bị động viên bảo đảm đủ quân số, phương tiện kỹ thuật dự bị; đúng tiêu chuẩn, thời gian; bảo đảm bí mật, an toàn theo quy định của pháp luật và kế hoạch được phê duyệt. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò, ý nghĩa chiến lược về xây dựng lực lượng dự bị động viên trong tình hình mới; trên cơ sở đó, xác định quyết tâm, trách nhiệm, cũng như sự đồng thuận cao trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.


Hai là, xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu gắn với thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên từng địa bàn và cả nước. Trên cơ sở tuân thủ hiến pháp và pháp luật, nhất là Luật Lực lượng dự bị động viên, thực hiện sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, các cấp, ngành, địa phương cần gắn xây dựng lực lượng dự bị động viên với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, nhất là xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Để thực hiện, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện. Trong đó, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quân nhân dự bị, cán bộ quân sự xã, phường, nhất là những nơi xung yếu, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.


Cơ quan quân sự các các cấp chủ động tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương cùng cấp làm tốt hơn nữa công tác đăng ký, quản lý quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật dự bị. Tăng cường phối hợp với các đơn vị thường trực thực hiện tốt công tác phúc tra, kiểm tra, sắp xếp quân nhân dự bị vào các đơn vị theo quy định; kết hợp chặt chẽ giữa sắp xếp đúng và gần đúng chuyên nghiệp quân sự với gần, gọn địa bàn. Để khắc phục sự mất cân đối nguồn động viên và chuyên nghiệp quân sự, cần tiếp tục tham mưu gắn địa bàn tuyển quân với địa bàn động viên, tạo nguồn quân nhân dự bị ngay từ khâu tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ, chuyển loại chuyên nghiệp quân sự cho quân nhân chuẩn bị xuất ngũ, đào tạo sĩ quan dự bị, nhất là đối với các địa bàn khó khăn về nguồn. Chủ động rà soát, bổ nhiệm, miễn nhiệm quân nhân dự bị giữ chức vụ chỉ huy đơn vị dự bị động viên, xây dựng đội ngũ cán bộ là quân nhân dự bị. Trong quá trình thực hiện, các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở phải tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng lực lượng dự bị động viên. Phát huy vai trò cán bộ chuyên trách; tăng cường phối hợp giữa cơ quan quân sự các cấp với ban, ngành đoàn thể địa phương tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện có hiệu quả; tránh tình trạng khoán trắng cho cơ quan quân sự. Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ; vận dụng kinh nghiệm, truyền thống, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới để xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.


Ba là, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo sĩ quan dự bị, huấn luyện quân nhân dự bị. Đây là nội dung quan trọng, xuyên suốt và mang tính động lực, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng lực lượng dự bị động viên trong tình hình mới. Đặc biệt hiện nay, trước yêu cầu cao của nhiệm vụ động viên quân nhân dự bị, động viên quốc phòng trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống thì thực hiện tốt giải pháp này càng có ý nghĩa quan trọng. Các cấp, ngành, địa phương cần chủ động rà soát, bổ sung và đề ra nhiều biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan dự bị. Trước mắt, cần làm tốt việc tuyển chọn, xét duyệt đầu vào các khóa đào tạo sĩ quan dự bị theo hướng: thực hiện nghiêm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể cho từng đối tượng, bảo đảm có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức, trình độ, độ tuổi phù hợp và có số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng ngày càng cao. Các học viện, nhà trường Quân đội đảm nhiệm đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan dự bị cần chấp hành nghiêm kế hoạch, tích cực đổi mới phương pháp, hình thức đào tạo theo hướng cập nhật khoa học kỹ thuật hiện đại, bám sát đòi hỏi của thực tiễn, bảo đảm đào tạo đội ngũ sĩ quan dự bị có đủ trình độ, năng lực chỉ huy, quản lý, chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ theo chức trách, nhiệm vụ.


Trong huấn luyện quân nhân dự bị cần chuẩn hóa chương trình, nội dung cho các đối tượng, theo hướng “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, bảo đảm toàn diện, nhưng chuyên sâu, có trọng tâm, trọng điểm, sát thực tế; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị, rèn luyện kỷ luật, xây dựng bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt, các đơn vị, địa phương phải coi trọng huấn luyện đội ngũ cán bộ là quân nhân dự bị, huấn luyện chuyển loại chuyên nghiệp quân sự; tăng cường tổ chức luyện tập, diễn tập chỉ huy, cơ quan, diễn tập chiến thuật có bắn đạn thật, thực hành huy động tham gia diễn tập khu vực phòng thủ, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu,… nhằm rèn luyện, nâng cao năng lực tổ chức chỉ huy, trình độ kỹ thuật, chiến thuật, khả năng phối hợp, hiệp đồng chiến đấu. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần có kế hoạch, huy động mọi nguồn lực, tập trung xây dựng, củng cố cơ sở huấn luyện dự bị động viên theo quy định của pháp luật.


Cùng với các nội dung, giải pháp trên, các cấp, các ngành, các đơn vị Quân đội cần thực hiện tốt nền nếp, chế độ công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng lực lượng dự bị động viên; kiện toàn đầy đủ tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, chăm lo xây dựng khung thường trực và đơn vị dự bị động viên vững mạnh. Tích cực huy động các nguồn lực quy hoạch, đầu tư kinh phí xây dựng thao trường, nâng cấp cơ sở vật chất bảo đảm cho tập trung huấn luyện lực lượng dự bị động viên hằng năm. Đồng thời, chủ động có kế hoạch mua sắm trang thiết bị, công nghệ phục vụ công tác đăng ký, quản lý quân nhân dự bị, chủ phương tiện kỹ thuật, góp phần xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ 

ST

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÓ NĂNG LỰC, UY TÍN NGANG TẦM NHIỆM VỤ!

         Nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, Đảng ta đã có những quy định chặt chẽ về công tác cán bộ, nhất là trong quy hoạch, bổ nhiệm. Nhưng trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo vẫn có những người chưa phát huy được năng lực bản thân, trình độ còn yếu kém hoặc suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật. Vì vậy, Đảng đặt ra yêu cầu cán bộ “chủ động xin từ chức khi thấy mình không còn đủ điều kiện, năng lực, uy tín để thực hiện nhiệm vụ”. Tuy nhiên, trong thực tế rất ít cán bộ thực hiện yêu cầu này. Điều đó cho thấy cần tiếp tục hoàn thiện các quy định để từ chức trở thành việc thường xuyên và là điều bình thường trong công tác cán bộ.

Vừa qua, theo dõi Hội nghị Trung ương 6, dư luận cán bộ, đảng viên, nhân dân rất quan tâm và đánh giá cao việc Ban Chấp hành Trung ương đã biểu quyết thống nhất để ba đồng chí Ủy viên Trung ương thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Đây là lần đầu Ban Chấp hành Trung ương tiến hành xem xét, quyết định để cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương theo chủ trương của Bộ Chính trị tại Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3/11/2021 và Thông báo mới đây nhất của Bộ Chính trị về bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật (Thông báo kết luận số 20-TB/TW, ngày 8/9/2022).

Có thể thấy, Trung ương đã kiên quyết quan điểm “kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm”. Cũng tại hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương quyết định khai trừ ra khỏi Đảng đồng chí Phạm Xuân Thăng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương do các vi phạm nghiêm trọng về nguyên tắc tập trung dân chủ, về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy.

Nói về những quyết định nêu trên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đây là sự việc rất đau xót, nhưng vì sự nghiêm minh của kỷ luật đảng, để giáo dục, ngăn ngừa, cảnh tỉnh, răn đe các trường hợp khác và vì sự lớn mạnh của Đảng buộc chúng ta phải làm. Và đây cũng là bài học đắt giá mà mỗi đồng chí chúng ta cần phải rút kinh nghiệm thật sự sâu sắc; từ đó càng phải gương mẫu, càng phải nêu gương hơn nữa trong việc tu dưỡng và rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, phải thực sự là những tấm gương tiêu biểu để cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng noi theo”.

Vấn đề miễn nhiệm, từ chức nhằm thay thế cán bộ kém phẩm chất, năng lực hạn chế, không hoàn thành nhiệm vụ, đã được Đảng ta nêu ra từ nhiều nhiệm kỳ. Nhấn mạnh quan điểm này, năm 2009, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 260-QĐ/TW về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ. Năm 2018, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Quy định số 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, trong đó nêu rõ: “Chủ động xin từ chức khi thấy mình không còn đủ điều kiện, năng lực, uy tín để thực hiện nhiệm vụ”. Song, trong thực tế, rất ít cán bộ chủ động thực hiện điều này.
Theo số liệu của Ban Tổ chức Trung ương, từ năm 2009 đến năm 2019, cả nước có 2.268 trường hợp từ chức, chủ yếu ở các địa phương. Cán bộ xin từ chức phần lớn là để chuyển giao vị trí lãnh đạo, quản lý hoặc vì lý do sức khỏe và lý do cá nhân khác.

Theo số liệu của Ban Tổ chức Trung ương, từ năm 2009 đến năm 2019, cả nước có 2.268 trường hợp từ chức, chủ yếu ở các địa phương. Cán bộ xin từ chức phần lớn là để chuyển giao vị trí lãnh đạo, quản lý hoặc vì lý do sức khỏe và lý do cá nhân khác. Có 124 cán bộ xin từ chức do nhận thấy không đủ uy tín để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, do sai phạm, khuyết điểm của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của cấp dưới có liên quan trách nhiệm của mình (tỷ lệ 5,46%).

Trong khi đó, theo Ban Nội chính Trung ương, từ năm 2012 đến năm 2022 (tính đến tháng 6/2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật gần 168.000 đảng viên. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý; riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã kỷ luật hơn 50 cán bộ diện Trung ương quản lý. Điều này cho thấy, quy định của Trung ương đã được triển khai nhưng còn rất hạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu.

Trước thực tế ấy, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3/11/2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ (thay thế cho Quy định số 260-QĐ/TW), trong đó không còn quy định trường hợp xin từ chức để chuyển giao vị trí lãnh đạo, quản lý và trường hợp do nhận thấy hạn chế về sức khỏe; đồng thời bổ sung trường hợp xin từ chức do có hơn 50% số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định. Đây là một bước rất quan trọng nhằm hoàn thiện thể chế công tác cán bộ; nhất là cụ thể hóa các quy định về miễn nhiệm, từ chức, tạo căn cứ pháp lý để việc “có lên, có xuống”, “có vào, có ra” trở thành bình thường, góp phần sàng lọc những cán bộ không đủ uy tín, năng lực, phẩm chất.

Quyết tâm hơn nữa, cụ thể hơn nữa, Bộ Chính trị ra Thông báo kết luận số 20-TB/TW, ngày 8/9/2022 về bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật. Theo đó “khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức. Nếu không tự nguyện xin từ chức thì cấp có thẩm quyền xem xét miễn nhiệm theo quy định”. Như vậy từ chức không chỉ là việc tự nguyện mà đã trở thành trách nhiệm phải thực hiện, bao gồm trách nhiệm của bản thân cán bộ bị kỷ luật và trách nhiệm của cấp có thẩm quyền. Việc bố trí công tác cho cán bộ sau khi từ chức như thế nào cũng đã được nêu rõ tại Hướng dẫn Điểm 3, Thông báo kết luận số 20-TB/TW do Ban Tổ chức Trung ương ban hành.

Như vậy từ chức không chỉ là việc tự nguyện mà đã trở thành trách nhiệm phải thực hiện, bao gồm trách nhiệm của bản thân cán bộ bị kỷ luật và trách nhiệm của cấp có thẩm quyền. Việc bố trí công tác cho cán bộ sau khi từ chức như thế nào cũng đã được nêu rõ tại Hướng dẫn Điểm 3, Thông báo kết luận số 20-TB/TW do Ban Tổ chức Trung ương ban hành.

Qua việc Trung ương từng bước cụ thể hóa chủ trương, quan điểm, quy định về miễn nhiệm, từ chức, có thể thấy để việc từ chức trở thành điều bình thường, là nếp văn hóa ứng xử của cán bộ thì không thể chỉ khuyến khích tự nguyện mà cần phải có chế tài, tạo sức ép để người cán bộ nhận rõ trách nhiệm, nhường vị trí lãnh đạo cho người khác xứng đáng hơn. Điều đáng nói, cùng với việc đề ra chế tài, Ban Chấp hành Trung ương tiến hành thực hiện ngay Thông báo kết luận số 20-TB/TW tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII chỉ sau một tháng ban hành là sự nêu gương sâu sắc, có ý nghĩa định hướng rất quan trọng đối với tất cả các cấp ủy, tổ chức đảng.

Tới đây, khẩn trương, nghiêm túc thực hiện Thông báo kết luận số 20-TB/TW gắn với công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, các ngành, địa phương trong cả nước sẽ có sự chuyển biến mạnh trong công tác cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trong sạch, vững mạnh. Ngày 10/10 vừa qua, tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, Ban Tổ chức Tỉnh ủy đã công bố Quyết định số 634-QĐNS/TW, ngày 27/9/2022 của Ban Bí thư về việc đồng chí Trần Hồng Quảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình được nghỉ hưu trước tuổi từ ngày 1/10/2022 (đồng chí còn thời gian công tác gần 2 năm).

Trước đó, tại Kỳ họp thứ 13 (diễn ra từ ngày 28 đến 31/3/2022), Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo, đã quyết định kỷ luật cảnh cáo đồng chí Trần Hồng Quảng do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương...

Với sự quyết tâm, quyết liệt của Trung ương, từ chức, miễn nhiệm đang từng bước trở thành việc bình thường trong công tác cán bộ. Tuy nhiên, dư luận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đặt vấn đề làm thế nào để thay thế kịp thời những cán bộ không bị kỷ luật, nhưng yếu kém, quan liêu, quản lý, điều hành trì trệ, ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế- xã hội, tới đời sống dân sinh.
Trong thực tế không thiếu những cán bộ như thế nhưng vẫn yên vị công tác cho đến khi về hưu. Quy định số 41-QĐ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra tiêu chí sàng lọc như: Xem xét miễn nhiệm đối với cán bộ có trên 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định; có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ. Xem xét cho cán bộ từ chức khi có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định, hạn chế về năng lực hoặc không còn đủ uy tín để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao…

Mặc dù đã có tính định lượng nhưng việc áp dụng những tiêu chí này còn nhiều khó khăn vì đòi hỏi phải thực hiện rất tốt những quy định liên quan như quy định về đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, về lấy phiếu tín nhiệm, về thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình… Với tình trạng có lúc, có nơi còn nể nang, né tránh, ngại va chạm, như hiện nay việc đánh giá cán bộ, thể hiện tín nhiệm đối với cán bộ chưa hoàn toàn bảo đảm khách quan, minh bạch, đúng thực chất. Nhưng bên cạnh đó cũng cho thấy, để đánh giá thế nào là cán bộ năng lực yếu kém, chưa hoàn thành nhiệm vụ rất khó vì chỉ bằng những lời nhận xét, đánh giá thì chưa đủ căn cứ để xem xét việc miễn nhiệm, từ chức.

Vì vậy, trên cơ sở các quy định đã có của Trung ương, các ban, ngành, địa phương, đơn vị cần phải tiếp tục chủ động cụ thể hóa thành những tiêu chí sát với tình hình thực tiễn ở địa phương, đơn vị để nâng cao chất lượng, hiệu quả đánh giá, xếp loại cán bộ, làm căn cứ để việc xem xét từ chức, miễn nhiệm trở thành việc làm thường xuyên, hiệu quả. Khi ấy, từ chức sẽ trở thành điều bình thường trong tư duy, nếp nghĩ của mỗi cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp có năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ./.
Yêu nước ST.

NGĂN CHẶN KỊP THỜI THÁCH THỨC TỪ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG

 

Ngày 18-10, trong khuôn khổ Diễn đàn “Hợp tác Quản trị an ninh phi truyền thống khu vực ASEAN”, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ phối hợp với Viện An ninh phi truyền thống, Trường Quản trị và Kinh doanh (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức tọa đàm “An ninh phi truyền thống và thách thức đặt ra”.


Nhận diện những vấn đề thuộc về an ninh phi truyền thống, theo Trung tướng, GS, TS Nguyễn Xuân Yêm, Viện trưởng Viện An ninh phi truyền thống, Trường Quản trị và Kinh doanh (Đại học Quốc gia Hà Nội), ngoài những vấn đề an ninh truyền thống là an ninh quân sự, an ninh chính trị thì tất cả những mối đe dọa, những vấn đề làm cho nền kinh tế phát triển không bền vững, môi trường sống xã hội không an toàn, lương thực không được đảm bảo, du lịch không được phát triển tốt để phục vụ cho người dân… đều gọi đó là phạm trù an ninh phi truyền thống.


Những vấn đề thuộc về an ninh phi truyền thống có thể làm mất ổn định xã hội hoặc quốc gia từ những mối đe dọa phi quân sự, ví dụ như an ninh kinh tế, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh mạng hoặc an ninh năng lượng, an ninh lương thực...


PGS, TS Đỗ Cảnh Thìn, chuyên gia Tội phạm học, Phó viện trưởng Viện An ninh phi truyền thống, Trường Quản trị và Kinh doanh (Đại học Quốc gia Hà Nội) đánh giá, những thách thức của an ninh phi truyền thống nếu không được giải quyết, không được ứng xử đúng, không được ngăn ngừa, ngăn chặn thì tất yếu sẽ chuyển hóa thành vấn đề an ninh truyền thống. Có nghĩa là chúng tác động trực tiếp đến sự ổn định, vững mạnh của một Nhà nước, một chế độ xã hội, sự phát triển, độc lập, thống nhất và chủ quyền lãnh thổ của quốc gia.


Chia sẻ với quan điểm này, PGS, TS Hoàng Đình Phi, Hiệu trưởng Trường Quản trị và Kinh doanh (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, nếu chúng ta không có cách nhìn toàn diện, kiến thức, có công cụ quản trị, hoạch định được chính sách, kế hoạch phòng ngừa rủi ro phi truyền thống, để nó trở thành khủng hoảng thì rõ ràng một gia đình không thể phát triển được, một doanh nghiệp bị rơi vào khủng hoảng, mất khả năng thanh khoản.


Việc nghiên cứu, học tập, nhận thức và hành động cụ thể trong quản trị tốt rủi ro của bản thân, gia đình, doanh nghiệp và đất nước giúp giảm thiểu rất nhiều rủi ro, để những rủi ro đó không thể trở thành khủng hoảng nặng, không gây thiệt hại. Có như vậy, chúng ta mới phát triển bền vững được.


Đối với việc phòng ngừa các vấn đề an ninh phi truyền thống trên môi trường mạng, ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó tổng giám đốc VNPT Vinaphone nhìn nhận, đầu tiên cần có bước đào tạo, hướng dẫn người sử dụng và người dân. Gần đây nhất, chúng ta đã hình thành các tổ chuyển đổi số cộng đồng với nhiệm vụ không chỉ truyền đạt, truyền thông về công nghệ mới mà còn hướng dẫn cho người dân về nhận thức, cách sử dụng các dịch vụ công nghệ thông tin, ứng xử trên môi trường mạng để bảo đảm các hoạt động khi tương tác với Chính phủ, với doanh nghiệp một cách thông minh nhất, phòng tránh rủi ro, giảm thiểu nhiều nguy cơ từ cộng đồng.


Để giải quyết các mối đe dọa về an ninh phi truyền thống, GS, TS Nguyễn Xuân Yêm nhấn mạnh, cần có đầy đủ và ngày càng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, đường lối, chủ trương… đối với việc phòng ngừa, ứng phó trong lĩnh vực này. Vấn đề thứ hai là như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII có nêu, phải tăng cường quản trị quốc gia, quản trị an ninh phi truyền thống.


Bên cạnh đó, cần tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, tập huấn những kỹ năng, kiến thức về quản trị an ninh phi truyền thống cho đội ngũ cán bộ cốt cán. Đồng thời, cần đầu tư nghiên cứu khoa học và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

ST


VIỆT NAM MONG MUỐN TIẾP TỤC ĐÓNG GÓP VÀO SỨ MỆNH BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

 

Việt Nam là thành viên duy nhất của khối ASEAN ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Điều đó khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là không ngừng phấn đấu hoàn thiện thể chế và tạo dựng cơ sở vật chất để bảo đảm tốt hơn quyền con người, đồng thời thể hiện mong muốn trong việc đóng góp vào các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.


Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc


Cùng với các vấn đề an ninh, hòa bình và phát triển, vấn đề thúc đẩy và bảo đảm quyền con người được xác định là một trong ba trụ cột chính của Liên hợp quốc (LHQ). Là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng LHQ được thành lập năm 2006, Hội đồng Nhân quyền LHQ là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người trong hệ thống đa phương lớn nhất toàn cầu. 


Hội đồng Nhân quyền có chương trình nghị sự trải rộng trên 10 đề mục, một mặt bám sát các quan tâm chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người, mặt khác cũng phản ánh rõ nét những ưu tiên, chiến lược lớn của các nước và các nhóm nước trong lĩnh vực này và có một hệ thống cơ quan, cơ chế trực thuộc đặc biệt. Trong đó, cơ chế được quan tâm, tham gia rộng rãi và đầy đủ nhất là Cơ chế Rà soát định kỳ Phổ quát (UPR).


Trong những năm gần đây, nội dung hoạt động của Hội đồng Nhân quyền ngày càng gắn trực tiếp hơn với các trọng tâm của LHQ và quan tâm chung của cộng đồng quốc tế, như phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu, di cư, bảo vệ và thúc đẩy quyền của các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, các nhóm thiểu số, người di cư...


Bên cạnh đó, Hội đồng Nhân quyền cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xem xét, thảo luận về tình hình tại hầu hết các điểm nóng, các cuộc khủng hoảng nhân đạo hoặc xung đột vũ trang có nguy cơ xảy ra vi phạm quyền con người trên phạm vi toàn thế giới.


Là diễn đàn đối thoại, hợp tác và thúc đẩy cân bằng tất cả các quyền con người, kể cả quyền phát triển, Hội đồng Nhân quyền LHQ hoạt động trên cơ sở khách quan, hợp tác và đối thoại, trên tinh thần xây dựng, không thiên vị, chọn lọc, chính trị hóa và tiêu chuẩn kép.


Dấu ấn thành viên


Ngày 12/11/2013, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 68 đã tiến hành bỏ phiếu kín bầu 14 thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền cho nhiệm kỳ 2014-2016. Việt Nam đã nhận được 184 phiếu ủng hộ (trên tổng số 193 nước bỏ phiếu), lần đầu trúng cử Hội đồng Nhân quyền với sự ủng hộ gần như tuyệt đối, cao nhất trong số 14 nước trúng cử.


Mặc dù là thành viên lần đầu tiên tham gia Hội đồng Nhân quyền nhưng Việt Nam đã thực sự chứng tỏ là một thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền, cùng các nước thành viên khác xử lý các thách thức chung của nhân loại trong lĩnh vực quyền con người. Việt Nam đã tham gia phát biểu, thảo luận tại hàng trăm cuộc họp, tham vấn về các chủ đề khác nhau liên quan đến việc bảo vệ quyền con người, từ các nội dung liên quan đến quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, quyền phát triển, quyền giáo dục, y tế, cho đến những vấn đề như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Việt Nam đã có những đóng góp thực chất vào quá trình xây dựng các nghị quyết, quyết định của Hội đồng Nhân quyền theo hướng ủng hộ cách tiếp cận cân bằng, toàn diện, đáp ứng được quan tâm, lợi ích của nhiều bên, hướng tới đồng thuận. Việt Nam cũng luôn có phản ứng kịp thời trước các sự kiện nóng về nhân quyền trên phạm vi toàn cầu, tham gia vào các phiên họp khẩn cấp, các cuộc thảo luận về các tình hình khủng hoảng, vấn đề Nhà nước Hồi giáo IS, chủ nghĩa cực đoan, khủng hoảng di cư…


Hàng năm, Việt Nam đều có đoàn tham dự Hội nghị cấp cao thường niên của Hội đồng Nhân quyền. Đây là diễn đàn để chúng ta khẳng định thông điệp về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam cũng như những đóng góp có trách nhiệm trong việc xử lý các vấn đề nhân quyền trên toàn cầu.


Việt Nam chính là điều phối viên của ASEAN tại Hội đồng Nhân quyền. Trong vai trò này, Việt Nam rất tích cực trong việc điều phối lập trường của các nước ASEAN ở Hội đồng Nhân quyền và thay mặt ASEAN phát biểu các đề mục ở Hội đồng này. Việt Nam cũng được chọn vào nhóm làm việc về tình hình. Đây là nhóm chuyên xem xét các kháng thư của các quốc gia. Việt Nam thay mặt cho tất cả các nước châu Á trong Hội đồng Nhân quyền đảm nhận nhiệm vụ này.


Nỗ lực vì quyền con người


Trong những năm qua, đặc biệt từ 2020 đến nay, trong bối cảnh khủng hoảng về nhân quyền do ảnh hưởng hưởng của đại dịch Covid-19 cũng như những bất ổn về chính trị, chiến tranh, Việt Nam nổi lên là một quốc gia phát triển ổn định, điểm đến an toàn của các nhà đầu tư trên thế giới. Kinh tế phát triển, chính trị ổn định cho phép Việt Nam thúc đẩy và bảo đảm quyền con người được thực hiện trong thực tế, đồng thời có những đóng góp hiệu quả vào sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực này.


Việt Nam nghiêm túc thực hiện UPR, cơ chế quan trọng nhất của Hội đồng Nhân quyền. Cụ thể là, Việt Nam triển khai có hiệu quả Kế hoạch tổng thể thực hiện các khuyến nghị UPR chu kỳ III đã chấp thuận. Tháng 3/2022, Việt Nam đã công bố Báo cáo giữa kỳ tự nguyện, cung cấp bức tranh toàn diện và phản ánh chân thực những cam kết, nỗ lực của Việt Nam trong việc tiếp tục ổn định kinh tế-xã hội, bảo đảm quyền con người, nhất là những nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh đại dịch Covid-19.


Không chỉ ở Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam cũng ghi nhiều dấu ấn trong việc bảo đảm quyền con người tại các diễn đàn đa phương khác như Ủy ban các vấn đề nhân đạo, xã hội, văn hóa (Ủy ban 3) của Đại hội đồng LHQ, ASEAN. Trong đó, Việt Nam tích cực thúc đẩy hành động và đóng góp nhiều giải pháp, sáng kiến về quan tâm chung của cộng đồng quốc tế, các vấn đề an ninh phi truyền thống thuộc quan tâm chung, đặc biệt là ứng phó với đại dịch Covid-19 và biến đổi khí hậu, thể hiện cam kết mạnh mẽ về bảo đảm quyền con người với tư cách là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.


Trong năm 2020, với 112 nước đồng bảo trợ, Việt Nam lần đầu tiên đề xuất và thúc đẩy thông qua bằng đồng thuận nghị quyết của Đại hội đồng LHQ lấy ngày 27/12 hàng năm là Ngày quốc tế phòng chống dịch bệnh, đóng góp thiết thực vào nỗ lực chung của thế giới nhằm nâng cao nhận thức về sự cần thiết sẵn sàng ứng phó với dịch bệnh.


Cũng trong năm 2020, với vai trò Chủ tịch luân phiên ASEAN, Việt Nam đã đảm nhiệm vị trí Chủ tịch Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR) với ưu tiên thúc đẩy quyền của nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch. Cùng các nước ASEAN, Việt Nam đã dẫn dắt, triển khai Quỹ ASEAN để ứng phó dịch Covid-19; xây dựng Quy chế hoạt động của Kho dự trữ vật tư y tế khu vực; hình thành Khung chiến lược ASEAN trong tình huống khẩn cấp y tế công cộng… bảo đảm quyền, sức khỏe cho hơn 650 triệu người dân trong khu vực.


Ngoài ra, Việt Nam cũng cam kết đạt mức thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Đây là một bước ngoặt lịch sử trong chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam, là một trong những nước đi đầu về cam kết cắt giảm phát thải.


Mong muốn đóng góp vào nỗ lực chung


Tháng 7/2020, ngay trong thời gian Việt Nam đang đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực của HĐBA LHQ, Thủ tướng Chính phủ đã duyệt chủ trương Việt Nam ứng cử làm thành viên HĐNQ LHQ nhiệm kỳ 2023-2025.


Ngày 22/2/2022, tại Geneve (Thụy Sỹ), trong khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc theo hình thức trực tuyến, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã thông báo việc Việt Nam, với tư cách ứng cử viên của ASEAN, tham gia ứng cử vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025. Thông tin này ngay lập tức được nhiều thành viên Liên hợp quốc hoan nghênh.


Ngày 2/3/2022, trong khuôn khổ Phiên họp cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 49 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc diễn ra tại Geneva (Thụy Sỹ)-sự kiện quan trọng nhất và ở cấp cao nhất của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trong năm 2022, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn tái khẳng định mong muốn đóng góp của Việt Nam thông qua việc ứng cử làm thành viên nhiệm kỳ 2023-2025 với thông điệp: “Tôn trọng lẫn nhau. Đối thoại và Hợp tác. Bảo đảm tất cả quyền con người cho tất cả mọi người”.


Việc lần thứ hai Việt Nam ứng cử tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thể hiện đường lối, định hướng phát triển của Việt Nam là hết sức đúng đắn, thể hiện ở chủ trương của Đảng, Nhà nước trong việc hoạch định những chính sách phát triển về quyền con người, lấy con người làm trung tâm. Đồng thời thể hiện mong muốn của Việt Nam được đóng góp vào các nỗ lực chung của thế giới nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.

ST


TÁC PHẨM CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG CÓ Ý NGHĨA TO LỚN ĐỐI VỚI PHONG TRÀO CỘNG SẢN QUỐC TẾ

 

Ngày 19-10, Học viện Chính trị Khu vực II tổ chức tọa đàm "Trao đổi về hoạt động của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ và tầm quan trọng của bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam".


Phát biểu chào mừng tại tọa đàm, TS Nguyễn Thị Tuyết Mai, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Khu vực II, nhấn mạnh, ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định con đường cách mạng của dân tộc Việt Nam là đi lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.


Đó không chỉ là sự lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn là khát vọng của toàn thể nhân dân, phù hợp với thực tiễn vận động của lịch sử Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.


Trải qua hơn 90 năm Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng (1930 - 2022), đặc biệt là hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986 - 2022), Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn.


Theo TS Nguyễn Thị Tuyết Mai, từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới (1986) đến nay, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và sáng tỏ. Năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.


Sau đó, cuốn sách cùng tên với bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được xuất bản đã đúc kết những thành tựu phát triển lý luận, những kết quả tổng kết thực tiễn mới nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Bài viết và cuốn sách đã nhận được sự hưởng ứng, đón nhận của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong nước, đặc biệt là sự quan tâm, đánh giá cao của các chính đảng, chính khách, nhà nghiên cứu, học giả và dư luận quốc tế.


Buổi tọa đàm tập trung trao đổi, chia sẻ về bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng từ góc nhìn của một học giả quốc tế - Amiad Horowitz, Ủy viên Ban Quốc tế của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ.


Tại buổi tọa đàm, ông Amiad Horowitz đã trao đổi về tầm quan trọng của các bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.


Ông Amiad Horowitz đánh giá, trong tác phẩm Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tác giả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu lên một số điểm có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào cộng sản quốc tế.


Ông Amiad Horowitz cũng phân tích nhiều nội dung mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập trong cuốn sách; đồng thời khẳng định đây là một tác phẩm có ý nghĩa to lớn đối với phong trào cộng sản quốc tế; là một công cụ tuyệt vời cho những ai muốn hiểu rõ hơn về Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam.


Ngoài ra, ông Amiad Horowitz đã giới thiệu, chia sẻ, trao đổi thông tin với các đại biểu về hoạt động của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ.


Tại buổi tọa đàm, ngoài cán bộ lãnh đạo, giảng viên và đại diện học viên Học viện Chính trị khu vực II còn có cán bộ lãnh đạo, giảng viên Học viện Chính trị khu vực IV và một số trường chính trị khu vực phía Nam cùng tham dự dưới hình thức trực tuyến. Trong đó, nhiều học viên đã có ý kiến trao đổi về thực tiễn chủ nghĩa xã hội và Quốc tế cộng sản.


Phát biểu kết luận tại tọa đàm, PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Giám đốc Học viện Chính trị Khu vực II nhấn mạnh, qua trao đổi tại tọa đàm cho thấy bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận được sự hưởng ứng không chỉ của cán bộ, đảng viên, nhân dân Việt Nam mà còn nhận được sự quan tâm, đánh giá cao của các học giả quốc tế.


“Các học giả quốc tế nhìn nhận rằng đây là một tài liệu rất quan trọng mang tính định hướng, có giá trị thực tiễn cao không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với những Đảng cộng sản và những người Mácxít - Lêninnít trên toàn thế giới. Những vấn đề lý luận và thực tiễn được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ trong bài viết đã góp phần làm sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cổ vũ nhân dân Việt Nam giữ vững niềm tin vào con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn”, PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng nhận xét.


Theo PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng, những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ở các nước xã hội chủ nghĩa khác đã có ý nghĩa to lớn, góp phần đưa phong trào cộng sản quốc tế tiếp tục tiến lên.

ST