Thứ Năm, 27 tháng 10, 2022
NÓI VỚI NGƯỜI NƯỚC KHÁC...
CỬ TRI TIN TƯỞNG SÂU SẮC HƠN VÀO ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ tư, ngày 20-10, Quốc hội nghe Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến trình bày Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi đến Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV. Báo cáo cho biết, cử tri và Nhân dân đánh giá cao, tin tưởng vào những nội dung quan trọng đã được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 khóa XIII quyết định; đồng thời nhất trí cao với Báo cáo của Chính phủ và rất vui mừng, phấn khởi khi nước ta đã kiểm soát được đại dịch Covid-19.
Mọi hoạt động kinh tế - xã hội trở lại gần như bình thường; dự báo 14/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2022 được hoàn thành và hoàn thành vượt mức, đời sống của nhân dân ổn định và từng bước được nâng lên.
Cử tri và nhân dân cũng trân trọng ghi nhận sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Nhà nước trong công tác xây dựng pháp luật, nhất là những đạo luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ và đời sống của nhân dân như: Luật Đất đai (sửa đổi); Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; Luật Xây dựng; Luật Nhà ở; Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật Thanh tra…; đồng thời mong đợi, kỳ vọng lớn vào Luật Đất đai (sửa đổi) sẽ giải quyết được nhiều vướng mắc hiện nay.
Bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ rất cao và ngày càng tin tưởng sâu sắc hơn vào đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đứng đầu là [Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ](https://www.qdnd.vn/tag/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-7.html)trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, cử tri và nhân dân cũng hoan nghênh các cơ quan chức năng đã kịp thời điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham ô, tham nhũng trong phòng, chống dịch Covid-19, vi phạm trong quản lý đất đai, đầu tư xây dựng, thao túng thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp... Cử tri đánh giá cao việc thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay tại địa phương, cơ sở.
Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng nêu rõ, cử tri và nhân dân vui mừng, phấn khởi khi nền kinh tế đất nước được phục hồi nhanh, hàng hóa thông thương, sản xuất kinh doanh, dịch vụ, du lịch mở cửa trở lại sau một thời gian dài đình trệ do dịch bệnh.
Chủ trương, chính sách thúc đẩy phục hồi, phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước bước đầu đã phát huy hiệu quả. Kinh tế phục hồi nhanh, các chính sách hỗ trợ đời sống cho người lao động, người nghèo, người yếu thế… được quan tâm kịp thời, an sinh xã hội được bảo đảm. Kết quả phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam được các tổ chức quốc tế có uy tín và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Trong bối cảnh quốc tế, khu vực có nhiều biến động phức tạp, Đảng, Nhà nước đã xử lý linh hoạt, khéo léo, giữ vững được sự ổn định về mọi mặt. Cử tri và nhân dân vui mừng, phấn khởi khi Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc; đồng thời ủng hộ các phát ngôn của Bộ Ngoại giao về chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông và những vấn đề quốc tế quan tâm khác; đánh giá cao Đảng, Nhà nước đã có các biện pháp kịp thời bảo hộ công dân Việt Nam bị ngược đãi trong các tổ chức bất hợp pháp ở Campuchia trong thời gian gần đây.
Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận thấy, trong bối cảnh thế giới đầy biến động, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp song đất nước vẫn đạt được những kết quả tích cực như Báo cáo của Chính phủ là rất đáng trân trọng, tự hào; qua đó tiếp tục củng cố, tăng cường niềm tin vững chắc của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, cử tri và Nhân dân còn bày tỏ sự băn khoăn, lo lắng đối với một số vấn đề, trong đó có tình hình dịch Covid-19 và gần đây xuất hiện một số bệnh mới...; việc thiếu thuốc, vật tư y tế; mất an toàn cháy nổ, an toàn giao thông; tình trạng giá xăng, dầu, nguyên vật liệu, vật tư sản xuất nông, lâm nghiệp, chi phí dịch vụ tăng cao… ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của người dân; và cử tri cũng đề nghị Chính phủ thực hiện phù hợp hơn chính sách tiền lương.
TỰ SOI ĐỂ NHẬN DIỆN CÁC LOẠI “BỆNH CÁ NHÂN”
Những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, mang nặng tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trong mình là những người đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường, họ không còn thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không còn gương mẫu, tiền phong, thống nhất giữa nói và làm; không còn xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn.
Họ quên mất rằng “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”, nên, trong họ cái tôi luôn được đề cao. Họ luôn coi mình là trung tâm, có quyền hưởng thụ, chăm chăm tính đếm lợi ích của cá nhân mình và người thân, dòng họ mình mà không màng đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Vì thế, khi đã để những chứng bệnh cá nhân chủ nghĩa nảy sinh, thì dần dần tinh thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng cũng kém sút; họ quên rằng tiêu chuẩn số một của người cách mạng là sống có lý tưởng, vì lý tưởng của Đảng mà hành động.
Họ kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại, chỉ thích “nhìn từ trên xuống” khi phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình. Họ sợ tự phê bình hay bị người khác phê bình sẽ làm mất đi cái uy thế, cái thể diện, cái uy tín của họ, nên “họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh cán bộ ngoài Đảng”. Không dừng ở đó, “họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn công tác theo ý thích cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng”. Thậm chí có những người còn cho rằng mình là “cứu tinh’ của dân, “công thần” của Đảng nên đã “kể công” với Đảng, “muốn Đảng phải “cảm ơn” họ. Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ”. Khi không được thỏa mãn thì họ quay sang bất mãn, “oán trách Đảng”, vì cho rằng mình “không có tiền đồ”, “bị hy sinh”, thậm chí theo đuôi và cổ xúy cho những đối tượng phản động, cơ hội nhằm bôi đen sự thật, chống phá Đảng và chế độ.
Trong công việc, vì không muốn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và tự cho mình quyền hành động tự do, vô tổ chức, vô kỷ luật, nên họ độc đoán, chuyên quyền và mắc các trọng bệnh là “con đẻ” của chủ nghĩa cá nhân như: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh khai hội, bệnh nể nang, bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh; bệnh cận thị, bệnh tị nạnh, bệnh xu nịnh, a dua, bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, bệnh nóng tính, bệnh lụp chụp... Những chứng tật bệnh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong nhiều bài viết, bài nói và bài phát biểu của mình; và cũng theo Người, những “bệnh cá nhân” này không chỉ gây bức xúc, làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân với những cán bộ, đảng viên đã và đang suy thoái, mà còn đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trong quan hệ với quần chúng, họ tự cho rằng “mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng". Họ không muốn học hỏi quần chúng mà chỉ muốn làm thầy quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”, nên đóng cửa, ngồi bàn giấy, xây dựng kế hoạch, viết chương trình rồi dùng mệnh lệnh “cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo”, ép dân chúng làm. Vì tự cho mình quyền là “quan phụ mẫu”, nên những cán bộ, đảng viên để chủ nghĩa cá nhân chi phối này thậm chí trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện còn không bàn bạc, không giải thích với quần chúng; không cho quần chúng phát biểu, tham gia ý kiến đóng góp mà chỉ “bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh” của mình. Vì tự cho mình quyền được “ăn trên ngồi trốc”, nên những vị “cha mẹ dân” này không cần biết đến cơ sở, cũng không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, ý kiến xác đáng của quần chúng... khiến “quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.
Tất cả những chứng bệnh nêu trên đều do chủ nghĩa cá nhân sinh ra; đều xuất hiện ở những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tất cả những “bệnh cá nhân” này dường như không chững lại mà còn tiếp tục nảy nở cùng với thời gian. “Chúng” đã, đang và sẽ xuất hiện với những biểu hiện mới, khi công khai, khi ngấm ngầm, song dù ở dưới dạng nào thì “chúng” cũng đều trái với đạo đức cách mạng, trái với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính và vì thế “chúng” đều vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật đảng và các nguyên tắc của một Đảng Mácxít-Lêninnít chân chính, cách mạng. Tất cả những “trọng bệnh” này đều đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tự soi để nhận diện đúng và tự sửa/tự khắc phục bằng những phương pháp hữu hiệu theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh!
TRAO GIẢI CUỘC THI VIẾT CHÍNH LUẬN VỀ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Tối ngày 23/10, tại Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tới dự có Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa, các Ủy viên Trung ương Đảng và lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành Trung ương.
Sau hơn 8 tháng phát động, cuộc thi đã tạo được sức lan tỏa rộng rãi trong hệ thống chính trị cả nước với hơn 116.000 tác phẩm dự thi. Các tác phẩm dự thi bám sát các vấn đề nổi lên về lý luận, thực tiễn của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Lê Hải Bình nhấn mạnh: Các tác phẩm tập trung bảo vệ, khẳng định những giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Cương lĩnh, đường lối của Đảng; lý luận về đường lối đổi mới đất nước; bảo vệ, lan tỏa nội dung Văn kiện Đại hội 13 của Đảng và Nghị quyết các Hội nghị Trung ương khoá 13; cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; tổng kết thực tiễn, cung cấp những kinh nghiệm hay, mô hình, cách làm sáng tạo và đề xuất giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Ông Lê Hải Bình nhấn mạnh: "Nhiều tác phẩm thể hiện sâu sắc tính Đảng, tính chiến đấu, theo phương châm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Một số bài viết đã tổng kết thực tiễn cung cấp những kinh nghiệm hay mô hình, cách làm sáng tạo và đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao công tác hiệu quả nền tảng, tư tưởng của đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch."
Các tác phẩm dự thi không chỉ của đội ngũ cán bộ tuyên giáo, cán bộ các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, phóng viên báo chí mà còn của đông đảo cán bộ, đảng viên, giáo viên, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân. Nhiều đồng chí đảng viên lão thành rất tích cực tham gia Cuộc thi, tác giả cao tuổi nhất là 100 tuổi, ở thành phố Hải Phòng.
Ban tổ chức đã lựa chọn trao giải cho 102 cá nhân, 20 tác giả/nhóm tác giả là đoàn viên, thanh niên có bài viết chất lượng tốt được trao giải triển vọng và 15 giải tập thể xuất sắc cho các cơ quan, đơn vị, địa phương phát động cuộc thi sâu rộng và nhiều bài viết chất lượng tốt.
Bà Hoàng Thị Nguyệt Nga, Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ đạt giải A chia sẻ: "Chúng tôi đã thu thập nhiều thông tin, những nhận định, đánh giá, dư luận trong nước và quốc tế xoay quanh bài viết của đồng chí Tổng Bí thư đề từ đó sưu tầm tư liệu chắp bút viết bài dự thi của mình. Qua cuộc thi tôi thấy mình được bổ sung thêm những kiến thức thực tiễn rất quan trọng đối với giảng viên lý luận chính trị. Lý luận chính trị kết hợp thực tiễn thì mình có nhiều kiến thức thực tiễn để minh chứng cho nội dung bài giảng của mình, khi mình đi truyền đạt kiến thức lý luận chính trị và kiến thức thực tiễn nữa thì sẽ minh chứng sinh động cho mình hơn trong quá trình giảng dạy".
PHÁT HUY VAI TRÒ “THANH BẢO KIẾM” VÀ “LÁ CHẮN” BẢO VỆ NHÂN DÂN, ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, CHẾ ĐỘ
Kiên trì quan điểm, kế thừa, phát huy những kết quả, kinh nghiệm đã đạt được trong các nhiệm kỳ Đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định và bổ sung một số định hướng lớn, kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, tiêu cực, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, tiêu cực; không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Thời gian qua Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp, quy định mới, mạnh mẽ, ngày càng quyết liệt về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, hoàn thiện thể chế về kinh tế-xã hội, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Hành động ngang tầm quyết tâm chính trị
Việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế, thể chế về quản lý kinh tế-xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được chú trọng đẩy mạnh, từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để người có quyền hành “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng.
Nhiều quy định, nghị quyết được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đi vào cuộc sống; khắc phục được một bước những sơ hở, bất cập làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng. Cho đến nay, các chủ trương, quy định của Đảng, các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Nhà nước đã tương đối đầy đủ.
Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã sớm thành lập các đoàn kiểm tra việc triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương. Theo đó, các đoàn kiểm tra, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đối với 20 cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương về lãnh đạo, chỉ đạo công tác nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Quy định về trách nhiệm nêu gương.
Cùng với đó, các đoàn kiểm tra của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thành lập do các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng làm trưởng đoàn đã tiến hành kiểm tra đối với các cấp ủy đảng trực thuộc Trung ương với nội dung trọng tâm về lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Quy chế phối hợp giữa các cơ quan nội chính cấp trung ương được ký kết, được triển khai đi vào thực tiễn ngày càng phát huy hiệu quả “liên thông thông tin, giải pháp, nguồn lực”. Các tỉnh, thành phố đã thành lập Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy làm trưởng ban nhằm triển khai những quan điểm chỉ đạo, giải pháp, nội dung tạo thành sự thống nhất, đồng bộ, thấu triệt trong phối hợp triển khai hiệu quả quyết tâm chính trị của Đảng.
Có thể khẳng định, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, chúng ta đã được chứng kiến sự phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; không chỉ là ngăn chặn, đẩy lùi mà là một cuộc tiến công mạnh mẽ, chủ động, kiên quyết, xử lý nghiêm tình trạng suy thoái, tiêu cực, tự diễn biến, tự chuyển hóa.
Đã có 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang bị xử lý kỷ luật… Cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ với 7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế.
Đặc biệt, mới đây Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xảy ra tại Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư An Đông và các tổ chức, đơn vị có liên quan. Cơ quan điều tra xác định, bà Trương Mỹ Lan và các đồng phạm đã có hành vi gian dối trong việc phát hành, mua bán trái phiếu trái quy định của pháp luật để chiếm đoạt hàng nghìn tỷ đồng của người dân.
Điểm qua kết quả trên là để minh chứng cho quyết tâm “không ngừng, không nghỉ” của Đảng trong cuộc chiến sinh tử với “giặc nội xâm”. Cuộc tiến công này đã tạo bước đột phá mới, cấp độ cao hơn, cường độ, mức độ quyết liệt hơn, xử lý nghiêm khắc hơn, nhưng vẫn còn nóng bỏng, cam go.
Hiệp đồng thống nhất, tác chiến hiệu quả
Trong những năm qua, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Đảng, Nhà nước ta tiến hành quyết liệt, bền bỉ. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, tham nhũng, tiêu cực vẫn là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta.
Tổng hợp kết quả kiểm tra của các đoàn Trung ương mới đây cho thấy vẫn còn một số tỉnh, thành phố, bộ, ban, ngành chưa có quyết tâm cao, chưa có sự chuyển biến mạnh mẽ trên mặt trận này.
Việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn còn hạn chế. Tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn hiệu quả. Tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng, thất thoát còn thấp; việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn là khâu yếu. Tham nhũng trên một số lĩnh vực vẫn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, xảo quyệt, gây bức xúc trong xã hội.
Thực tế cho thấy, những đối tượng tham nhũng, sai phạm về kinh tế, tiêu cực thường là những người có chức vụ, quyền hạn, thậm chí có trọng trách, có trình độ hiểu biết, có chuyên môn sâu nên thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có tính tổ chức cấu kết chặt chẽ…, nhất là thủ đoạn đối phó với cơ quan điều tra, gây khó cho công tác phát hiện và thu thập chứng cứ; việc kết luận giám định trong một số lĩnh vực, nhất là xây dựng cơ bản, quản lý tài nguyên, các sai phạm trong quản lý sử dụng tài chính công, tài sản công của một số cơ quan quản lý nhà nước đang còn nhiều hạn chế, bất cập...
Để xảy ra tình trạng nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do người đứng đầu một số cấp ủy, tổ chức đảng còn thiếu gương mẫu, có biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, không nắm chắc tình hình địa bàn, cơ quan, đơn vị.
Đáng lưu ý, công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, triển khai công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố các vụ việc có dấu hiệu tội phạm về kinh tế, tham nhũng, tiêu cực tiến hành chưa thường xuyên; kết quả phát hiện, chuyển giao nguồn tin về tội phạm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp qua công tác kiểm tra, giám sát, tự thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ chưa nhiều.
Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chưa hiệu quả; một số cấp ủy chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và các quy định về nêu gương. Sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của người đứng đầu một số cấp ủy, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị còn nhiều bất cập.
Trước thực trạng nêu trên, một yêu cầu cao mang tính xuyên suốt lúc này vẫn là tiếp tục củng cố sự thống nhất cao về ý chí và hành động từ trung ương đến địa phương, các cấp, các ngành, “dọc ngang thông suốt”.
Cấp ủy, ban cán sự đảng các địa phương, bộ, ngành cần tiếp tục quán triệt, nắm vững và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, chủ trương, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; gắn liền với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát cũng như công tác tự kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đối với lĩnh vực công tác này, coi trọng nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát, tự kiểm tra, giám sát; đồng thời, đẩy mạnh kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời xử lý, điều chuyển, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý khi có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, uy tín thấp; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới; tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.
Có sự vận động đáng mừng là Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thành lập ở các tỉnh, thành phố, do trực tiếp đồng chí bí thư cấp ủy làm trưởng ban, đã khẩn trương, tích cực đi vào hoạt động, tham mưu cho ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy trong việc chỉ đạo, đôn đốc, phối hợp, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại địa phương.
Theo đó, các cấp ủy ban hành và thực hiện kế hoạch kiểm tra việc khởi tố điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế, vụ việc, vụ án phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm và rà soát các cuộc thanh tra về kinh tế, xã hội tại một số địa phương, đơn vị và lồng ghép nội dung này trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Đảng ta xác định rõ cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đòi hỏi “phải kiên trì, liên tục” với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để, hiệu quả hơn.
Việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác phát hiện, chuyển giao, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; kiến nghị khởi tố các vụ việc có dấu hiệu tội phạm về tham nhũng, kinh tế, tiêu cực ở các địa phương chuyển biến tích cực, hiệu quả.
Có thể thấy sự phối hợp giữa các cơ quan nội chính đã đẩy nhanh tiến độ kết thúc điều tra, đưa một số vụ án lớn đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm ra truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật với các mức án vừa nghiêm khắc vừa nhân văn, có lý, có tình, có tác dụng răn đe, giáo dục.
Đảng ta xác định rõ cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đòi hỏi “phải kiên trì, liên tục” với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để, hiệu quả hơn; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, tiêu cực, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, tiêu cực; không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự.
Trong tổ chức thực hiện, thêm một lần cần quán triệt phương châm, tinh thần được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo, nhấn mạnh về phương thức, cách làm mới, bài bản, khoa học, “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng” và “Dọc ngang thông suốt”, từ đó nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành nhiều thắng lợi mới.
KHÔNG KIỂM TRA COI NHƯ KHÔNG LÃNH ĐẠO
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Kiểm tra, giám sát là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Đảng ta khẳng định, kiểm tra là một chức năng lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ của toàn Đảng; lãnh đạo mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo. Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng. Kiểm tra, giám sát là “thanh bảo kiếm để chữa lành các vết thương”.
Vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đối với tổ chức đảng sớm được V.I. Lê-nin chỉ ra. Người nhấn mạnh, việc kiểm tra đảng viên và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác là mấu chốt của toàn bộ công tác. “Phải nghĩ đến chuyện kiểm tra lại những chủ trương mà chúng ta tuyên bố hàng giờ, quyết định hàng phút, rồi từng giây chứng minh tính chất không vững chắc, không kiên định và khó hiểu của những chủ trương đó”. V.I. Lênin cũng chỉ rõ hướng đổi mới công tác kiểm tra: “Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác - mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy”.
Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh ví công tác kiểm tra như “ngọn đèn pha” giúp cho việc lãnh đạo đúng đắn. Người chỉ ra: “Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”. Vì vậy, theo tư tưởng Người, công tác kiểm tra phải được tiến hành toàn diện ở tất cả các khâu, từ chuẩn bị đến cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện các nghị quyết. Điều này trái ngược hoàn toàn với tác phong chỉ chú ý ban hành nghị quyết, chỉ thị mà thiếu kiểm tra đôn đốc công việc thực tế. Bởi kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là một phương thức hoạt động quan trọng, thông qua đó thúc đẩy, giáo dục cán bộ, đảng viên nêu cao trách nhiệm đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; làm cho tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên giữ vững bản lĩnh, lập trường, mục tiêu, lý tưởng cách mạng; đồng thời, cảnh tỉnh, cảnh báo, ngăn ngừa cán bộ, đảng viên khác.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở: Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không như vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng. Khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội thì công tác kiểm tra càng có tác dụng, tầm quan trọng đặc biệt… Người coi kiểm tra là một phương tiện, một liều thuốc đặc hiệu chống lại căn bệnh “nghị quyết một đằng thi hành một nẻo” và bệnh quan liêu giấy tờ.
Song, muốn đạt hiệu quả cao thì phải “khéo kiểm soát”. “Khéo” tức là phải trên cơ sở khoa học, có hình thức, phương pháp kiểm tra linh hoạt, đa dạng. Người phê phán nghiêm khắc lối làm việc quan liêu; thiếu kiểm tra, kiểm soát cụ thể; thích làm việc bằng giấy tờ thật nhiều; ngồi một nơi chỉ tay năm ngón. Cách làm việc như thế rất có hại. Nó làm cho lãnh đạo không đi sát với phong trào, không hiểu rõ được tình hình bên dưới, cho nên phần nhiều chủ trương, nghị quyết không được chấp hành đến nơi đến chốn...
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào giao đoạn phát triển mới, đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra từ nhiệm kỳ Đại hội VII vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn…, vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng càng phải được đặc biệt coi trọng, tiến hành một cách thực chất, hiệu quả.
Nếu buông lỏng hoặc xem nhẹ công tác kiểm tra, giám sát tất yếu dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Đó là “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, nhiều người phạm tội tham nhũng, biến thành “giặc nội xâm”, hại dân, hại nước, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Bài học về vụ án Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu (năm 1950) bị tử hình do phạm tội tham nhũng đến nay vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở chúng ta về chính sách sử dụng cán bộ, về vị trí, vai trò không thể xem nhẹ của công tác kiểm tra, giám sát.
PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đi đôi với khẳng định và thúc đẩy sự vận động, phát triển giá trị Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch luôn dùng mọi thủ đoạn nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng lên hàng đầu.
Trước hết chúng ta cần nhận thức rõ mục đích, âm mưu của các thế lực thù địch tuyên truyền xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phủ định vai trò to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam và phủ định hệ tư tưởng của Đảng ta. Qua đó làm cho nhân dân Việt Nam bị lầm tưởng và mơ hồ về chính trị và con đường phát triển của dân tộc; phá hoại thế giới quan của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời từng bước hình thành các khuynh hướng, trào lưu quan điểm đối lập, thù địch với Đảng, Nhà nước ta. Chúng muốn lợi dụng sự chuyển hóa nhận thức tư tưởng của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, tiến tới hình thành các lực lượng đối lập ở Việt Nam để gây mất ổn định chính trị, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta; gây dựng cơ sở tư tưởng và cơ sở giai cấp, tiến tới các mục tiêu chính trị sâu xa là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hướng Việt Nam đi theo con đường chủ nghĩa tư bản...
Để đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Trước hết cần xác định đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đấu tranh phức tạp, khó khăn, quyết liệt, lâu dài; là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của mỗi cán bộ, đảng viên. Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về Bác phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng.
Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đi đôi với khẳng định và thúc đẩy sự vận động, phát triển giá trị Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về Bác, trước hết cần vạch rõ và làm phá sản âm mưu, hành động, bôi nhọ, nói xấu, bịa đặt về Người của các thế lực phản động. Quan trọng hơn là thông qua đấu tranh để bảo vệ, khẳng định và phát triển giá trị tư tưởng bền vững của Người, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng.
Nhận thức đầy đủ, đúng đắn về Chủ tịch Hồ Chí Minh là một phần quan trọng trong phòng chống các luận điệu xuyên tạc về Người. Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh phải kết hợp đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, cần kiên quyết, quyết liệt và kịp thời vạch trần sự lợi dụng của các thế lực thù địch dựa vào việc một bộ phận cán bộ thoái hóa biến chất bị kỷ luật để bôi nhọ, xuyên tạc, phủ định giá trị hiện thực của tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bóp méo chủ trương học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh của Đảng và nhân dân ta.
Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó cần quan tâm việc đăng ký và thực hiện công việc đột phá của tập thể và cá nhân. Đẩy mạnh việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là nêu gương ở mọi lúc, mọi nơi của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả của công tác tư tưởng, nhất là lĩnh vực tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, cần kịp thời biểu dương nhân rộng những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo Bác; đồng thời thực hiện nghiêm việc kiểm tra, giám sát để kịp thời uốn nắn, xem xét những cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng vi phạm kỷ luật. Đẩy mạnh việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngay từ chi bộ. Đẩy mạnh hơn nữa việc đấu tranh với các thế lực thù địch trên mọi phương diện để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chú trọng đấu tranh trên không gian mạng để loại bỏ những thông tin xấu độc, thông tin thất thiệt, bịa đặt, xúi giục của các thế lực thù địch...
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 28 THÁNG 10 NĂM 1950!
Mối liên hệ mật thiết giữa chi bộ với quần chúng trong quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh
“Chi bộ là gốc rễ của
Đảng ở trong quần chúng. Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi
hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng”- Là lời của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong bài viết “Những chi bộ tốt và chi bộ chưa tốt”, bút danh “T.L”, đăng
Báo Nhân dân, số 3503, ngày 31-10-1963.
Đây là sự đánh giá, khẳng định của Bác về bản chất, nguồn gốc
sức mạnh của Đảng, vai trò, mối liên hệ mật thiết giữa chi bộ với quần chúng.
Quán triệt và thực hiện lời Bác dạy, từ khi thành lập đến nay,
Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của chi bộ, coi chi bộ là tế
bào, là cơ sở của Đảng, là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ ở cơ
sở; đảng viên là những người có trách nhiệm góp phần xây dựng đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng; đồng thời có trách nhiệm tổ chức thực hiện đường
lối, chủ trương, chính sách đó với tư cách vừa là người lãnh đạo, vừa là người
đầy tớ của nhân dân. Do vậy, xây dựng chi bộ tốt, đội ngũ đảng viên tốt là
nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng; làm cơ sở, nền
tảng xây dựng Đảng ta xứng đáng với trọng trách là Đảng duy nhất cầm quyền,
lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Thực hiện lời Bác Hồ dạy, công tác xây dựng Đảng trong Quân đội
luôn được Quân ủy Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong toàn quân quan
tâm lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nghiêm túc. Chất lượng sinh hoạt,
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ không ngừng được nâng lên. Đội ngũ
đảng viên trong quân đội phát triển cả số lượng và chất lượng, luôn nêu cao
tính tiền phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ
luật và năng lực hoàn thành các nhiệm vụ được giao; kiên định lập trường giai
cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Đảng, của Quân đội;
phát huy tốt tinh thần chủ động, sáng tạo, tự nguyện, tự giác, dám nghĩ, dám
làm, gương mẫu trước bộ đội được bộ đội tin yêu, thật sự là hạt nhân lãnh đạo,
đoàn kết trong đơn vị.
Đặc biệt, cán bộ, đảng viên trong toàn quân tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng với những việc làm thiết thực, hiệu quả, sát chức trách, nhiệm vụ được giao, theo phương châm “trong trước, ngoài sau, trên trước, dưới sau” tạo sức lan tỏa sâu rộng trong cơ quan, đơn vị, thiết thực góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Tinh thần chiến đấu anh dũng hy sinh của dân tộc ta là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù
“Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”- Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 77, ngày 29-10-1945.
Ngày 23-9-1945, núp bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, rồi đánh chiếm rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ và phần lớn Campuchia; khống chế vùng nông thôn rộng lớn ở Lào,… từng bước thực hiện dã tâm xâm lược Đông Dương lần thứ hai. Nền độc lập mà dân tộc ta mới giành lại được phải đương đầu với nhiều kẻ thù, bị uy hiếp từ nhiều phía. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi đồng bào Nam Bộ giữ vững tinh thần chiến đấu, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc; trong đó Người tiếp tục khẳng định tinh thần chiến đấu anh dũng hy sinh của dân tộc ta là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần “Quyết tử, để Tổ quốc quyết sinh” là nhân tố bao trùm, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quả cảm của dân tộc Việt Nam, được hun đúc trong lịch sử và tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Những giá trị văn hóa ấy, không chỉ có sức mạnh tập hợp, đoàn kết trong suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh mà còn lan xa, thấm đậm trong lòng bạn bè quốc tế, thức tỉnh lương tri nhân loại trên thế giới ủng hộ Việt Nam đánh bại mọi đế quốc, thực dân xâm lược và bè lũ tay sai, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và gặt hái được những thành tựu bước đầu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ra đời vào thời điểm đầy gian khó của cách mạng Việt Nam, trong cuộc đấu tranh sống còn của dân tộc chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân - phong kiến, Quân đội ta đã được Đảng và Bác Hồ thành lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện; từ 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ của ngày đầu thành lập, Quân đội ta đã không ngừng phát triển, trưởng thành, lập nên những chiến công chói lọi. Cán bộ, chiến sĩ đã hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai… Với truyền thống vẻ vang và những chiến công vang dội đó, Quân đội ta thật sự là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.
Cán bộ phải thương yêu đội viên...
Cán bộ phải thương yêu đội viên. Đối với anh
em ốm yếu, thương tật, cán bộ phải trông nom, thăm hỏi”- Là lời huấn thị của
Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Hội nghị tổng kết chiến dịch
Lê Hồng Phong II, họp từ ngày 23 đến ngày 28-10-1950 tại Lam Sơn, tỉnh Cao
Bằng.
Tình
đồng chí, đồng đội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của
quân đội cách mạng, vừa là cơ sở tạo nên sức mạnh của quân đội, trong đó quan
hệ giữa cán bộ với chiến sĩ là mối quan hệ đặc trưng bản chất. Mối quan hệ giữa
cán bộ với chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam được hình thành, phát
triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của quân
đội, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Một mặt, nó dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước,
chức năng, nhiệm vụ, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội; mặt
khác, nó dựa trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc,
đoàn kết gắn bó chặt chẽ keo sơn với nhau như ruột thịt “lúc thường cũng
như lúc ra trận” giữa những con người cùng chung lý tưởng, mục tiêu, cùng
thực hiện nhiệm vụ cao cả của người quân nhân cách mạng.
Đó
là nguồn sức mạnh vô tận để bộ đội ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Chính vì vậy, đòi hỏi cán bộ phải luôn luôn là tấm
gương sáng cho chiến sĩ học tập, noi theo; chiến sĩ phải “tuyệt đối
phục tùng mệnh lệnh cấp trên, khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực
thi hành nhanh chóng và chính xác”. Tình thương yêu đồng chí, đồng đội được tôi
luyện, thiết lập vững chắc trong Quân đội ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, và trở thành nét đẹp truyền thống,
thành bản chất không thể phai mờ của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ, là một
trong những nhân tố gốc cấu thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền
thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ kính yêu căn dăn, đội ngũ cán bộ các cấp trong Quân đội các thời kỳ đã luôn quan tâm thiết thực và chu đáo đến đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội, hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân tay”, do vậy cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu óc”, như người thân; từ đó họ sẽ mang hết khả năng của mình để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Trái lại, nếu cán bộ không làm “mực thước” cho cấp dưới, quan liêu, hách dịch, bè cánh thì chắc chắn cấp dưới sẽ xa lánh họ; chỉ thị, mệnh lệnh mà họ đưa ra sẽ được cấp dưới tiếp thu một cách khiên cưỡng, hiệu quả thấp, thậm chí bị chối bỏ. Bởi vậy hơn ai hết, lãnh đạo, chỉ huy phải thường xuyên phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện xứng đáng là người anh, người “chị hiền” tận tuỵ chăm lo cho tập thể, cho từng chiến sĩ, là hạt nhân đoàn kết thống nhất xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.
Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành
“Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt
đối phục tùng và triệt để thi hành”- Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh
được trích trong bài nói tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, họp
từ ngày 23 đến ngày 28-10-1950 tại Lam Sơn, tỉnh Cao Bằng.
Kỷ
luật là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội
nhân dân Việt Nam. Chấp hành kỷ luật là một nguyên tắc trong xây dựng quân đội
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là điều kiện bảo đảm cho
quân đội luôn có sự tập trung thống nhất cao về ý chí và hành động, vượt qua
khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Hồ Chí Minh
đã khẳng định:“quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ
kỷ luật nghiêm”.
Tuyệt
đối phục tùng và chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên là biểu hiện
tập trung cao nhất của việc chấp hành nghiêm kỷ luật. Do vậy, Người luôn yêu
cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự
giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối
phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh
chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải
phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương…
Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, lời huấn thị: “Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng, trở thành lời thề danh dự của mỗi quân nhân đã góp phần xây dựng Quân đội ta, từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Lời kêu gọi và khuyên nhủ các chiến sĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh
“Các cán bộ các cấp phải lãnh đạo và phải làm
kiểu mẫu trong việc kiểm thảo và tự phê bình. Làm như thế thì chúng ta sẽ phát
triển thêm ưu điểm, sửa chữa sạch khuyết điểm. Đánh thắng khuyết điểm của ta
tức là đã một lần đánh thắng quân địch”. Đây là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong “Lời kêu gọi và khuyên nhủ các chiến sĩ”, báo Cứu quốc, số 1676,
ngày 26-10-1950.
Sau
thắng lợi của các trận Đông Khê, Thất Khê, Cao Bằng mở ra một thời kỳ mới trong
cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược - thời kỳ thế chủ
động trên chiến trường hoàn toàn nằm trong tay quân đội cách mạng Việt Nam.
Chiến
dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Để
khắc phục sự chủ quan, tự mãn có thể sẽ xuất hiện trong cán bộ, chiến sĩ, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời viết thư để tri ân các liệt sĩ, thăm hỏi thương
binh, động viên bộ đội và huấn thị cán bộ phải làm tốt công tác lãnh đạo việc
phê bình và tự phê bình. Bởi theo Bác, muốn phát huy tốt tác dụng của phê
bình, phải tự phê bình mình trước, phê bình từ trong cấp ủy, trong
chi bộ đến đơn vị. Tự phê bình không phải là tự hạ thấp mình,
tự “nhún nhường” mà là thể hiện trình độ nhận thức, lòng dũng cảm, sự
trung thực, ngay thẳng trước tổ chức, đồng chí, đồng đội và rộng hơn là trước Đảng,
trước nhân dân; là thể hiện tinh thần cầu thị, ý chí vươn lên của bản thân.
Thấu
triệt tư tưởng đề cao tự phê bình và phê bình, nhất là với đối với đội ngũ cán
bộ các cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,
Đảng ta luôn kiên định và thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng, coi đây
là nguyên tắc cơ bản xây dựng Đảng. Sự trưởng thành của Đảng ta trong hơn 80
năm qua một phần quan trọng là do Đảng luôn kiên định và thực hiện các nguyên
tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, trong đó có tự phê bình và phê bình, phát huy
tốt tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ các cấp.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, đội ngũ cán bộ các cấp trong Quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược luôn gương mẫu trong học tập, rèn luyện, đề cao tự phê bình và phê bình, có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, phong cách, năng lực lãnh đạo, chỉ huy tốt; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, phương pháp làm việc khoa học, khả năng phân tích, xử lý tốt các tình huống; có tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung và khả năng phát huy được sức mạnh tổng hợp của cơ quan, đơn vị; gần gũi, sâu sát với bộ đội, được cán bộ, chiến sĩ tin tưởng, yêu mến.
Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc...
“Quân sự mà không có chính trị như cây không
có gốc, vô dụng lại có hại”- Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại
Trường chính trị trung cấp Quân đội (nay là Học viện Chính trị/ Bộ Quốc phòng)
nhân dịp Người về thăm trường ngày 25-10-1951.
Bác
đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của chính trị đối với quân sự và quân
đội. Theo Người, chính trị là hồn cốt, là yếu tố quyết định sức mạnh của
quân đội. Chính trị không chỉ là đường lối, chính sách của Đảng, còn là
bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tinh thần, ý chí, nghị lực, quyết tâm
chiến đấu hy sinh của cán bộ, đảng viên. Quan điểm này của Hồ Chí Minh không
chỉ đúng với học thuyết Mác - Lênin về xây dựng quân đội của giai cấp vô
sản, mà còn kế thừa những giá trị truyền thống đặc sắc về xây dựng quân đội của
ông cha ta, như “hun đúc bằng những điều nhân nghĩa” cho quân đội.
Hơn cả, là sự phù hợp với thực tiễn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ
Tổ quốc của nước ta trong điều kiện còn hạn chế về vũ khí trang bị, phương tiện
chiến tranh.
Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; xu thế quốc tế hóa và hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự gắn kết chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hay tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; đáng chú ý là các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình chống phá cách mạng nước ta, cổ xúy cho cái gọi là: “quân đội phi chính trị”, “quân đội phi đảng phái”, đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam càng phải thấm nhuần hơn lời dạy của Người về xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng quân đội về chính trị; tăng cường bản chất giai cấp công nhân, nâng cao giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh; phát huy bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa quân đội và nhân dân; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam… để dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, quân đội ta vẫn luôn giữ vững, phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước.



