Thứ Hai, 31 tháng 10, 2022

Xây dựng “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới

 


Việt Nam có đường biên giới đất liền dài hơn 5.044, 856 km, tiếp giáp với ba nước: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Cam-pu-chia; có bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng hơn 1 triệu km2; với 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 233 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, 1.084 xã, phường, thị trấn có biên giới. 

    Khu vực xã biên giới có khoảng 2,4 triệu hộ dân, với 9,8 triệu người đang sinh sống, địa hình đa dạng, phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng kinh tế - xã hội còn kém phát triển, đời sống của đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao. Đồng bào các dân tộc vùng biên giới, hải đảo cần cù, chịu khó, đoàn kết, gắn bó, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, có nhiều cống hiến, hy sinh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tích cực tham gia bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.

    Lịch sử đã khẳng định dân là chỗ dựa cơ bản, dân là tai mắt, là lực lượng tại chỗ cùng với các lực lượng đứng chân trên địa bàn tạo ra thế chiến lược, vừa xây dựng biên giới vững mạnh vừa bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới sẽ không thể hoàn thành nếu không dựa vào sức mạnh của “thế trận lòng dân”, “nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong”. Những đóng góp của nhân dân các dân tộc ở biên giới trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước là rất to lớn, nhất là từ khi có Đảng lãnh đạo đã thể hiện rõ hình ảnh của “biên giới lòng dân” vững chắc.

    Vì vậy, việc xây dựng “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với thế trận quân sự, an ninh và đối ngoại tạo thành thế trận biên phòng toàn dân vững chắc, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.



Nghị quyết Đại hội X của Đảng lần đầu tiên sử dụng cụm từ “thế trận lòng dân” và xác định: xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Để củng cố và tăng cường hơn nữa “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới. Đại hội XI của Đảng tiếp tục chỉ rõ: Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

    Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của khu vực biên giới, hải đảo, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ, phát triển vùng biên giới còn nhiều khó khăn, nhờ vậy, tình hình phát triển kinh tế - xã hội biên giới đã có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế của các địa phương biên giới đạt tốc độ khá cao; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được đầu tư xây dựng; hoạt động thương mại biên giới tăng trưởng khá; các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện tốt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao; mối quan hệ Đảng, chính quyền với nhân dân và lực lượng vũ trang được tăng cường; chủ quyền biên giới, lãnh thổ quốc gia được giữ vững, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; quan hệ đối ngoại được mở rộng. Đó chính là cơ sở quan trọng để đồng bào đặt niềm tin vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới, tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” trong thế trận biên phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.


Cùng với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, trong những năm qua, lực lượng Bộ đội Biên phòng luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, gắn bó máu thịt với đồng bào các dân tộc nơi biên giới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Với phương châm “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, cán bộ, chiến sĩ biên phòng đã kiên trì thực hiện “ba bám” - bám đơn vị, bám địa bàn, bám chủ trương, chính sách, “bốn cùng” - cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc. Các phong trào thi đua yêu nước, các mô hình, chương trình tiêu biểu như: “Bộ đội Biên phòng chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Nâng bước em tới trường”, “Hãy làm sạch biển”, Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”... đem lại kết quả cụ thể, thiết thực, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh; phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn biên giới, thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Hình ảnh người “Thầy thuốc quân hàm xanh”, “Thầy giáo quân hàm xanh”, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng quên mình giúp dân trong phòng, chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn đã in đậm trong tâm trí nhân dân cả nước. Đặc biệt, trong thời gian vừa qua, cùng với các lực lượng chức năng, gần 7.000 cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đã và đang ngủ lán, căng mình tại hơn 1.600 tổ, chốt biên giới để tăng cường tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn xuất nhập cảnh trái phép; nhiều đơn vị đã chủ động nhường nơi ăn, chốn nghỉ, huy động lực lượng phục vụ, chăm sóc, bảo đảm điều kiện tốt nhất cho người nhập cảnh thực hiện cách ly, phòng, chống dịch Covid-19. Những việc làm đó đã góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân, qua đó góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.



Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhất là trong xu thế hội nhập đang đặt ra nhiều khó khăn thách thức đối với công tác xây dựng “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới, đó là: khoảng cách phát triển giữa vùng biên giới với các vùng khác trong cả nước có xu hướng gia tăng; các thế lực thù địch, phản động không ngừng lôi kéo, kích động, tăng cường hoạt động chống phá gây mất lòng tin của đồng bào đối với Đảng, chế độ, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc; các hoạt động truyền đạo trái pháp luật, buôn lậu, gian lận thương mại, tội phạm ma túy, mua bán người qua biên giới... vẫn diễn biến rất phức tạp. Những thách thức nêu trên nếu không sớm được khắc phục sẽ làm giảm sức mạnh của “thế trận lòng dân” trong việc bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

    Để tiếp tục củng cố, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở khu vực biên giới, tạo nền tảng xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh, thời gian tới, cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

    Một là, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh khu vực biên giới, nhất là Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28-9-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Nghị quyết số 88-2019-QH14 của Quốc hội khóa XIV phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Kết hợp chặt chẽ chính sách phát triển kinh tế - xã hội gắn với giữ vững quốc phòng - an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tạo môi trường thuận lợi, ổn định dân cư lâu dài ở khu vực biên giới. Đây là nhân tố có tính chất quyết định trong việc xây dựng “thế trận lòng dân”, là mục tiêu của cách mạng, là động lực thúc đẩy sức mạnh của toàn dân.



Hai là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cho toàn dân, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tổ chức đoàn thể và nhân dân các dân tộc trên địa bàn biên giới. Làm tốt công tác tuyên truyền để mọi người dân không chỉ nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mà còn hiểu rõ, hiểu đúng tình hình thực tế, bản chất của các vấn đề nhạy cảm, phức tạp đang diễn ra, những thách thức về an ninh phi truyền thống khu vực biên giới, vạch rõ các quan điểm sai trái, luận điệu phản động, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch nhằm tạo nên sự đồng thuận “ý Đảng, lòng dân”. Trên cơ sở đó, mỗi người dân nhận thức đúng quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh ở địa phương, nâng cao cảnh giác cách mạng, tỉnh táo trước các thủ đoạn chống phá của kẻ xấu, tự giác tham gia cùng các cấp, các ngành, các lực lượng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia.

    Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Để xây dựng “thế trận lòng dân” ở khu vực biên giới thì trước hết phải xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là hệ thống chính trị ở cơ sở thật sự trong sạch, vững mạnh. Các cấp ủy đảng, chính quyền, đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường đối thoại, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người dân với tinh thần “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Chú ý đẩy mạnh phong trào thi đua nhằm phát hiện, khen thưởng các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân” và nhân rộng trong toàn xã hội.  Thực tiễn đất nước qua gần 35 năm đổi mới, đặc biệt là những kết quả quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua là minh chứng rõ nhất để không ngừng củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. 

Bốn là, đổi mới toàn diện, đồng bộ các mặt công tác biên phòng, thường xuyên và chủ động nắm chắc tình hình, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; đấu tranh khôn khéo, kiên quyết và có hiệu quả đối với tội phạm và các đối tượng vi phạm pháp luật, giữ vững ổn định chính trị, giữ gìn an ninh khu vực biên giới. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác vận động quần chúng nhằm tăng cường đoàn kết quân dân ở khu vực biên giới trong tình hình mới. Bộ đội Biên phòng phải ra sức phấn đấu làm tròn vai trò nòng cốt trong xây dựng nền Biên phòng toàn dân; đồng thời có nhiều hình thức, phương pháp tiến hành công tác xây dựng khối đoàn kết quân dân; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới, nhất là việc tuyên truyền, vận động, giáo dục hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thực hiện tốt phương châm: thận trọng, kiên nhẫn, kiên quyết, hiểu phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội của địa phương để nghe được dân nói, nói cho dân hiểu. Coi trọng “lời nói đi đôi với việc làm”, “làm trước, nói sau”, làm đến đâu, chắc đến đó, lấy hiệu quả công tác làm tiêu chí đánh giá hoàn thành nhiệm vụ của bộ đội trên từng cương vị được giao. Đồng thời bộ đội phải luôn có thái độ và ý thức chấp hành nghiêm túc 12 điều kỷ luật trong quan hệ quân dân; rèn luyện ý thức tự giác, tính độc lập tự chủ, nhất là trong điều kiện công tác xa đơn vị; tôn trọng, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân; xây dựng đạo đức, lối sống giản dị, khiêm tốn, tâm huyết, trách nhiệm, nhiệt tình trong công việc tạo nên tình đoàn kết quân dân bền chặt, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia./.

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2022

Quan hệ Việt - Trung phát triển ổn định, hướng tới giai đoạn mới

 

Quan hệ Việt - Trung phát triển ổn định, hướng tới giai đoạn mới

Những năm gần đây, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, song quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục phát triển tích cực trên nhiều lĩnh vực và ở các cấp.

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam coi trọng việc củng cố và phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện với Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc; sẵn sàng cùng Trung Quốc tăng cường tin cậy chính trị, đi sâu hợp tác trên các lĩnh vực.

Củng cố niềm tin giữa hai Đảng, hai nước

Chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ ngày 30/10 đến 2/11/2022 theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Tập Cận Bình, sẽ góp phần củng cố và phát triển quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Trước đó, ngày 23/10/2022, nhân dịp ông Tập Cận Bình được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XX, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân danh cá nhân đã gửi điện chúc mừng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ trân trọng và đánh giá cao những tình cảm tốt đẹp, sự quan tâm, đóng góp to lớn của Tổng Bí thư Tập Cận Bình đối với quan hệ Việt Nam - Trung Quốc vì lợi ích của Nhân dân hai nước.

Sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1/2021), lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội hai nước lần lượt có các cuộc điện đàm, hội đàm trực tuyến, đưa ra những định hướng lớn quan trọng, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi Việt Nam - Trung Quốc phát triển ổn định, lành mạnh. Hợp tác, giao lưu kênh Đảng, ngoại giao, quốc phòng, công an, các địa phương biên giới và giao lưu nhân dân hai nước duy trì mật thiết. Hai bên tổ chức thành công Phiên họp lần thứ 14 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc (tháng 7/2022).

Ngày 1/10/2022, nhân kỷ niệm 73 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cũng đã gửi điện mừng tới các nhà lãnh đạo Trung Quốc.

Trong điện mừng, Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam coi trọng việc củng cố và phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện với Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc; sẵn sàng cùng Trung Quốc tăng cường tin cậy chính trị, đi sâu hợp tác trên các lĩnh vực, đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển ổn định, lành mạnh, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.

Đẩy mạnh hợp tác song phương

Trong bối cảnh môi trường hợp tác toàn cầu chịu nhiều tác động tiêu cực từ các cuộc xung đột và đại dịch, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn giữ đà phát triển ổn định.

Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, trong khi Việt Nam tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và đối tác lớn thứ 6 của Trung Quốc trên thế giới.

Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, trong khi Việt Nam tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và đối tác lớn thứ sáu của Trung Quốc trên thế giới.

Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, kim ngạch hai chiều 9 tháng đầu năm nay đạt 132,3 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu hoa quả của Việt Nam sang Trung Quốc có tiến triển mới, trong đó sầu riêng chính thức là loại quả thứ mười được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc từ tháng 7/2022.

Hợp tác phòng chống dịch Covid-19 đạt nhiều kết quả thực chất. Trung Quốc là một trong những nước cung cấp vaccine nhiều nhất, đóng góp hiệu quả cho công tác phòng chống, kiểm soát dịch bệnh tại Việt Nam.

Giao lưu Nhân dân từng bước được khôi phục, 9 tháng đầu năm 2022, có 78.100 lượt khách Trung Quốc đến Việt Nam, tăng 1,7 lần so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy mở rộng điểm đồng, xử lý thỏa đáng các khác biệt

Về biên giới lãnh thổ, hai bên đã phối hợp chặt chẽ triển khai thực hiện các văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, tăng cường quản lý an ninh, an toàn khu vực biên giới; đạt được nhận thức chung về kiểm soát bất đồng, duy trì hòa bình, ổn định trên biển phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982. 

Hai bên cũng đồng thời tích cực thúc đẩy các cơ chế đàm phán về các vấn đề trên biển, thực hiện hiệu quả Tuyên bố của các bên ở Biển Đông (DOC), thúc đẩy tiến trình tham vấn Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). 

Tại cuộc điện đàm với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường ngày 19/9/2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Trung Quốc tăng cường đầu tư chất lượng cao trong các lĩnh vực phù hợp với nhu cầu, chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam; cùng nhau hợp tác bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh mạng... Thủ tướng Lý Khắc Cường đề nghị hai bên tăng cường kết nối chiến lược, hợp tác duy trì chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, phát huy ưu thế của mỗi bên để cùng mở rộng khai thác thị trường thế giới.

Về vấn đề biên giới lãnh thổ, hai bên nhất trí tiếp tục duy trì hiệu quả các kênh trao đổi về biên giới trên đất liền và vấn đề trên biển, thúc đẩy mở rộng điểm đồng, xử lý thỏa đáng các khác biệt, giữ gìn hòa bình, ổn định chung.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên tiếp tục thực hiện tốt 3 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc; cùng nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định, xử lý ổn thỏa vấn đề trên biển theo tinh thần nhận thức chung cấp cao, “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”; đẩy nhanh đàm phán trên biển; giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

 

Bài học về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí từ tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Bài học về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí từ tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong bài báo “Thế nào là Kiệm?” đăng trên báo Cứu quốc ngày 31/5/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Kiệm là Tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi… Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng.”

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng, trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng thẳng thắn chỉ ra: “Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế… Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Đại hội xác định “Thực hiện kiên trì, kiên quyết, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí” là một nhiệm vụ chính trị quan trọng trong nhiệm kỳ và những năm tiếp theo. 

 

RỒI SẼ ĐẾN MỘT NGÀY


Các nước giàu có đang nghĩ đến việc khai thác vũ trụ để làm giàu. Tốt thôi! Nhưng rồi sẽ không tránh khỏi sự cạnh tranh, những cuộc chiến tranh tương tàn để xác định ngôi vị bá chủ, giữ chặt môi trường kinh doanh mới – vũ trụ.
Trên lục địa hiện nay đang diễn ra sự bất công mà chủ nghĩa tư bản tạo ra. Những nước giàu mạnh muốn bắt các nước nhỏ làm con tin, làm chư hầu để nặn bóp tất cả những gì còn lại để làm giàu cho cố quốc. Sự bất công, bất bình đẳng đó chính là sự phân chia lợi ích không đồng đều, mà lại đem lợi ích đó tiếp thêm sức mạnh cho các nước đi xâm lược.
Ngày nay, bộ mặt của chủ nghĩa tư bản không còn gì để che đậy, cứ nhìn vào cuộc bỏ phiếu “tín nhiệm” nước Nga trong cuộc họp của đại hội đồng LHQ hồi cuối tháng Tám thì rõ. Nước Nga ngày nay, tuy không phải là một nước XHCN nhưng đối với người dân trong nước Nga, và đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển kém hoặc trung bình, đều chấp nhận cách hành xử của Nga trên trường quốc tế. Chính vì thế mà chỉ có một phần ba (1/3) quốc gia theo Mỹ để chống Nga, còn hai phần ba (2/3) thì ngược lại.
Nói lang bang một chút để nhắc nhở chúng ta, rằng những chương trình chinh phục vũ trụ mà những nước giàu có đang đi trên con đường chạy đua vũ trang, chứ không hoàn toàn là để làm cho loài người, ai cũng có cuộc sống bình đẳng, bác ái và sung túc về vật chất và tinh thần đâu.
Hiện nay ở Mỹ có một công ty khởi nghiệp, có tên là Astra, đang được quảng cáo rầm rộ về khả năng đưa bất cứ thứ gì lên vũ trụ chỉ trong vài ngày. Không chỉ có vậy, Astra còn quảng cáo về cách tạo ra những tên lửa cỡ lớn bằng những vật liệu rẻ tiền như nhôm.
Các chuyến bay vào vũ trụ ngày càng trở nên chật chội. Ngoài 20 công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực vũ trụ đã thất bại, thì lại có ít nhất 80 công ty đang rắp tâm tiến vào thị trường này. Ít người biết rằng, vào thời điểm năm 2021 có khoảng 22.200 vệ tinh hoạt động quanh trái đất, trong 5-10 năm tới, số vệ tinh bay quanh trái đất có thể lên tới 50.000 đến 100.000 chiếc.
Chinh phục vũ trụ là mơ ước của nhiều quốc gia, hiện nay tham gia vào ‘thị trường’ này đã có Nga, Mỹ, Trung quốc, Nhật bản, Ấn độ và mới nhất là Hàn quốc, đã nhờ tên lửa của Mỹ đẩy con tàu có tên là Danuri (nghĩa là ‘thưởng trăng’), nhằm mục đích thăm dò mặt trăng.
Tại sao các nước lại quan tâm đến việc đi vào vũ trụ như vậy? Vì vấn đề kinh tế cả đó. Trên mặt trăng có băng nước, có uranium, helium-3, silicon và nhôm. Những nước có tiềm lực kinh tế mạnh, sẽ cạnh tranh với nhau theo quy luật kinh tế thị trường – mạnh được yếu thua, và có khi lại nảy sinh các cuộc chiến tranh thương mại.
Năm 2017, công ty dịch vụ tài chính Morgan Stanley dự đoán ngành công nghiệp vũ trụ toàn cầu sẽ tăng quy mô từ 348 tỷ USD vào năm 2017 lên 1.000 tỷ USD vào năm 2040. Ngân hàng Bank of Ammerica còn dự đoán, ngay từ năm 2030, quy mô ngành khai thác vũ trụ sẽ là 1.400 tỷ USD.
Như vậy, các nước nghèo thì chỉ đứng dưới mặt đất mà ngửa mặt lên coi những nhà giàu đang làm gì trên đó? Và rồi liệu có ảnh hưởng gì đến cuộc sống của loài người dưới ‘hạ giới’ không?
Tất cả các cuộc chiến tranh trên trái đất này cũng đều xuất phát từ sự muốn chiếm đoạt để các nước giàu càng giàu thêm và các nước nghèo sẽ càng nghèo thêm. Mỗi cuộc chiến tranh đó đã giết chết hàng triệu con người trên trái đất, song những nhà cầm quyền ở những nước giàu có ấy chưa ai bị trúng phát đạn nào của chiến tranh. Chẳng những thế, họ đã hủy hoại môi trường sống trên trái đất này bằng công cuộc “phát triển khoa học kỹ thuật”, các nhà máy xí nghiệp công nghiệp cứ thoải mái xả dioxit-carbon ra môi trường rồi lại kêu gọi mọi người chống biến đổi khí hậu.
Rồi đến một ngày, một số cuộc chiến tranh lại được tiến hành trong vũ trụ, không biết điều này sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của loài người trên mặt đất thế nào đây? Đánh nhau trên mặt đất chưa đủ, chưa chán hay sao mà còn đem nhau lên vũ trụ mà chiến đấu? Ước gì mọi quốc gia bớt đi lòng tham để mọi người được sống trong hòa bình nhỉ?./.
Hình trong bài: Chiến tranh giữa các vì sao.
ST
Có thể là hình ảnh theo phong cách hoạt hình Nhật Bản về 1 người và văn bản cho biết 'STAR THE RISE OF SKYWALKER WARS'

ĐÔI LỜI VỀ ẤN "HOÀNG ĐẾ CHI BẢO".



Năm 1972, cựu hoàng Bảo Đại kết hôn với bà Monique Baudot, người Pháp. Trước khi qua đời vào tháng 8-1997, cựu hoàng để lại di chúc, trao quyền thừa kế toàn bộ tài sản của ông ở Pháp cho bà Monique Baudot, trong đó có ấn "Hoàng đế chi bảo", một biểu tượng quyền lực của các vua triều Nguyễn, chiếc ấn được đúc từ năm Minh Mạng thứ tư 1823. Đến năm 2021, bà Monique Baudot qua đời. Con cháu của bà Monique Baudot đã chọn thời điểm này để nhờ Hãng MILLON đưa ấn vàng ra bán đấu giá.Trước đây, bà vợ người Pháp của Bảo Đại (Monique Marie Eugene Baudot) từng có ý định mạng quốc ấn Hoàng đế chi bảo trả về Việt Nam, nhưng bà này đưa ra 3 điều kiện với Nhà nước:
1. Trả lại Cung An Định.
2. Đưa tro cốt của Bảo Đại về Việt Nam với một nghi thức cụ thể và có một lăng tẩm riêng để chôn cất.
3. Trả cho bà này một khoản tiền.
Cả những điều kiện trên đều không được chấp nhận và bây giờ con cháu Bảo Đại mang ra đấu giá lấy tiền. Thiết nghĩ, chiếc ấn này chỉ có giá trị đối với những người thích cổ vật và số lượng vàng đúc thành nó. Không có giá trị với dân tộc Việt Nam. Vì thực tế, sau thời Thiệu Trị và nửa đời Tự Đức, nhà Nguyễn trên thực tế đã không thể có quyền tự quyết. Đến năm 1884 thì vua tôi nhà Nguyễn hèn hạ ký hoà ước Giáp Thân, dâng nước ta cho Pháp. Vì thế giá trị của chiếc ấn này đơn thuần chỉ là cổ vật được đúc bằng vàng ròng chứ không có giá trị về mặt biểu tượng đối với Việt Nam.
Người Pháp đô hộ nước ta và mang về nước họ nhiều tài nguyên khoáng sản, báu vật. Vua triều Nguyễn sau năm 1884 chỉ là bầy rối, được người Pháp hợp thức hóa để phục vụ mục đích xâm lược, đô hộ nước ta. Chẳng thể mà nhân dân ta có câu "bảo hộ trau dồi nên tượng gỗ/vua thời còn đó nước thời không". Các cơ quan chức năng cũng đừng lao tâm khổ tứ, lấy ngân sách nhà nước, tiền thuế của người dân để tham gia phiên đấu giá vô bổ và tốn kém đó. Hoàng đế chi bảo cũng chỉ giống với Ngọc tỷ truyền quốc khi xưa trong tay Viên Thuật thời Tam Quốc bên tàu. Viên Thuật chết khô giữa đường khi trong tay vẫn cầm cái gọi là "Ngọc tỷ truyền quốc". Nếu có giá trị thì nó đơn thuần chỉ là cổ vật, làm bằng vàng, ai thích thì tham gia đấu giá chứ đừng lôi nhà nước vào. Việt Nam không cần cái gọi là"Hoàng đế chi bảo " vô thưởng vô phạt đó./.
ST


Nhân quyền Việt Nam: Sự thật không thể phủ nhận

 

Nhân quyền Việt Nam: Sự thật không thể phủ nhận

Với thông điệp “Tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và hợp tác. Tất cả các quyền con người - cho tất cả mọi người”, chúng ta khẳng định những giá trị mà Việt Nam luôn phấn đấu mang lại cho người dân nước mình cũng chính là những giá trị Liên hiệp quốc cam kết mang lại cho nhân loại. Theo ông Federico Villegas - Chủ tịch Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc (HĐNQ), thông điệp của Việt Nam khi lần thứ hai trúng cử vào HĐNQ chính là tinh thần các nước cần theo đuổi khi tham gia HĐNQ.

Sự thừa nhận khách quan

Ngày 21-9-2022, Báo Washington Times đã đăng bài viết ủng hộ Việt Nam ứng cử vào HĐNQ Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Ngoài việc ủng hộ Việt Nam, bài báo còn khẳng định những thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người: Cử cán bộ tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hiệp quốc tại Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi; là thành viên tích cực trong các cuộc đàm phán nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững ưu tiên của Liên hiệp quốc; cung cấp khẩu trang và thiết bị y tế cho các quốc gia ít được hỗ trợ trong đại dịch Covid-19; hoàn thành Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của HĐNQ và đang tiến hành những khuyến nghị cho UPR chu kỳ 3…

Ngay sau khi trúng cử, tờ báo này đã khẳng định “Việt Nam xứng đáng được bầu vào HĐNQ Liên hiệp quốc, bởi kể từ khi chính thức trở thành thành viên Liên hiệp quốc vào tháng 9-1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hiệp quốc, trong xây dựng hòa bình, phát triển và đảm bảo quyền con người, là thành viên tích cực trong các cuộc đàm phán nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững ưu tiên của Liên hiệp quốc”. Như vậy, việc đảm bảo một cách tốt đẹp quyền con người ở Việt Nam không phải là sự “tự thừa nhận” như một số phần tử thường rêu rao, mà là sự nhận định khách quan từ các cơ quan, tổ chức có uy tín từ bên ngoài.

Trước đó, các báo cáo liên quan đến đảm bảo quyền con người của Việt Nam đều đạt kết quả rất khả quan. Theo Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), trong năm 2021, “không giống như hầu hết các nước đang phát triển, Việt Nam đã cố gắng duy trì tăng trưởng kinh tế trong đại dịch. Dù tốc độ tăng trưởng trung bình chậm lại, và các nhóm dễ bị tổn thương đã có những giai đoạn rất khó khăn, nhưng Việt Nam đã tránh được sự đảo ngược tiến độ phát triển con người”. Theo đó, giá trị Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng 2 bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu, từ 117/189 quốc gia vào năm 2019 lên 115/191 quốc gia vào năm 2021.

Đặc biệt, Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá cao nỗ lực tiên phong của Việt Nam trong công tác phòng chống bệnh lao, đậu mùa, dự phòng trước phơi nhiễm HIV… Đồng thời, rất ấn tượng trước những quyết sách, nỗ lực và thành quả của Việt Nam phục hồi hậu đại dịch, xem đó là bài học kinh nghiệm quý báu cho cộng đồng quốc tế.

Kết tinh nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân

Những thành quả về quyền con người mà Việt Nam đã tích cực tham gia như đảm nhận thành công vai trò thành viên HĐNQ Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2014-2016; hoàn thành Mục tiêu Thiên niên kỷ vào năm 2015 (vượt trước 10 năm); tích cực thúc đẩy các Công ước của Liên hiệp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, loại bỏ các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ; đóng góp tự nguyện 1 triệu USD cho Chương trình COVAX đã thể hiện nỗ lực trách nhiệm của Việt Nam và chắc chắn đã trở thành những “điểm số” ấn tượng để Việt Nam đạt được sự tín nhiệm.

Đặc biệt, Việt Nam trúng cử HĐNQ góp phần triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, trong đó tiếp tục nâng tầm đối ngoại đa phương, chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương quan trọng có tầm chiến lược, để lại nhiều dấu ấn quan trọng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, qua đó nâng cao hơn nữa vị thế và uy tín quốc tế của đất nước.

Kết quả đó còn tiếp tục góp phần quan trọng khẳng định chủ trương, quan điểm khoa học và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong việc đặc biệt coi trọng và phát huy hiệu quả nhân tố con người để phát triển đất nước, gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Quan điểm đúng đắn này đã được cụ thể hóa trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật, theo đó các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam giai đoạn 2023-2028 đã đặt ra mục tiêu là “truyền thông về quyền con người nhằm tạo sự chuyển biến trong nhận thức, hiểu biết của toàn xã hội về các quyền con người; thông tin đầy đủ giúp người dân trong nước, đồng bào ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ về quan điểm, chủ trương, nỗ lực và kết quả đạt được trong công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam; nâng cao uy tín của Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người ở phạm vi trong nước, khu vực và trên thế giới” (Chính phủ, 2022), Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam giai đoạn 2023-2028, số: 1079/QĐ-TTg, ngày 14/9/2022, Hà Nội, tr.2).

Bên cạnh đó, các nghị định, văn bản luật liên quan trực tiếp đến quyền con người được ban hành gần đây như: Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 69/2020/QH14, ngày 13-11-2020); Nghị định số 20/2021/NQ-CP ngày 15-3-2021 của Chính phủ quy định trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội (trong đó quy định nạn nhân bị mua bán là đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp thuộc diện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời tại cộng đồng); Thông tư 43/2021/TT-BCA ngày 22-4-2021 của Bộ Công an quy định trách nhiệm của lực lượng công an nhân dân trong việc thực hiện một số trình tự, thủ tục tố tụng hình sự thân thiện trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án xâm hại người dưới 18 tuổi…, đã ngày càng khẳng định quan điểm rõ ràng, nhất quán, đầy tính nhân đạo, nhân văn của Việt Nam trong đảm bảo và thực thi quyền con người.

Khi đã là thành viên của HĐNQ, Việt Nam xác lập một tâm thế sẵn sàng để có được tiếng nói và vị thế nổi bật hơn. Đồng thời, việc tham gia HĐNQ sẽ mở ra những cơ hội chia sẻ và học hỏi những kinh nghiệm tốt, tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, giúp cho người dân Việt Nam được thụ hưởng các quyền con người, quyền công dân ngày càng tốt hơn. Việc tăng cường hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề nhân quyền sẽ giúp Việt Nam có cơ hội trao đổi kinh nghiệm, tiếp cận những phương cách, giải pháp mới để vận dụng vào nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ đảm bảo quyền con người.

Trúng cử HĐNQ Liên hiệp quốc, Việt Nam truyền tải thông điệp mạnh mẽ về hình ảnh yêu chuộng hòa bình, đề cao các giá trị nhân văn và nhân đạo; đồng thời góp phần quan trọng giúp các cấp, các ngành và toàn dân cũng như bạn bè quốc tế hiểu đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc hơn chủ trương, chính sách và thành tựu quyền con người. Trên một số diễn đàn yêu nước, nhiều độc giả đã bày tỏ thái độ rõ ràng, đúng đắn: “Tự hào Việt Nam - một dân tộc luôn chiến thắng vì chính nghĩa và công lý”; “Một dân tộc đã hy sinh hàng ngàn người con ưu tú để bảo vệ Tổ quốc và nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng, là một dân tộc mãi mãi tôn trọng quyền con người”… Đó là minh chứng xác thực, sống động nhất để đập tan những luận điệu trơ trẽn, lạc lõng khi cho rằng “Việt Nam là một quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và triền miên, không tuân thủ các cam kết, có thành tích hợp tác kém với HĐNQ”; “Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người trong đại dịch Covid-19” hay “Việt Nam thiếu nền dân chủ”, “vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”; “Ở Việt Nam, tự do tôn giáo không được bảo vệ”… Đồng thời, qua đó, thế giới ngày càng hiểu rõ hơn bản chất của sự thật đằng sau “chiếc mặt nạ” của các tổ chức phản động, của các phần tử chống đối Việt Nam.

 

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 29/10


“Không Quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 77, ngày 29 tháng 10 năm 1945.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, núp bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, rồi đánh chiếm rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ và phần lớn Cam-pu-chia; khống chế vùng nông thôn rộng lớn ở Lào,... từng bước thực hiện dã tâm xâm lược Đông Dương lần thứ hai. Nền độc lập mà dân tộc ta mới giành lại được phải đương đầu với nhiều kẻ thù, bị uy hiếp từ nhiều phía. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi đồng bào Nam Bộ giữ vững tinh thần chiến đấu, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc; trong đó Người tiếp tục khẳng định tinh thần chiến đấu anh dũng hy sinh của dân tộc ta là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần “Quyết t.ử, để Tổ quốc quyết sinh” là nhân tố bao trùm, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quả cảm của dân tộc Việt Nam, được hun đúc trong lịch sử và tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Những giá trị văn hóa ấy, không chỉ có sức mạnh tập hợp, đoàn kết trong suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh mà còn lan xa, thấm đậm trong lòng bạn bè quốc tế, thức tỉnh lương tri nhân loại trên thế giới ủng hộ Việt Nam đánh bại mọi đế quốc, thực dân xâm lược và bè lũ tay sai, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và gặt hái được những thành tựu bước đầu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ra đời vào thời điểm đầy gian khó của cách mạng Việt Nam, trong cuộc đấu tranh sống còn của dân tộc chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân - phong kiến, Quân đội ta đã được Đảng và Bác Hồ thành lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện; từ 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ của ngày đầu thành lập, Quân đội ta đã không ngừng phát triển, trưởng thành, lập nên những chiến công chói lọi. Cán bộ, chiến sỹ đã hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai... Với truyền thống vẻ vang và những chiến công vang dội đó, Quân đội ta thật sự là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”./.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH'

PHẠM XUÂN ẨN - TÊN NGƯỜI NHƯ CUỘC ĐỜI!


Phạm Xuân Ẩn là một nhà tình báo chiến lược xuất sắc của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông còn là một nhà báo, một phóng viên sáng giá của Hãng thông tấn Reuters (Anh) và một loạt các tạp chí nổi tiếng thế giới.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn luôn toàn tâm, toàn ý phục vụ cách mạng, hiến dâng suốt đời cho nước, cho dân. Sự hy sinh thầm lặng cùng những cống hiến hết mình của ông đã góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc trong ngày 30/4/1975.
Ông được chính bác sĩ Phạm Ngọc Thạch tuyển vào chiến khu D nhận nhiệm vụ hoạt động tại trung tâm đầu não quân sự của địch ở Sài Gòn, để nắm được các ý đồ chiến lược về chính trị, quân sự, an ninh, kinh tế của thực dân Pháp. Trần Văn Trung đổi tên thành Phạm Xuân Ẩn.
Cái “mác” công chức, lại là dân học trường Tây, có giấy khai sinh do Tây cấp và là con của một cựu trắc địa sư tên tuổi, đã giúp ích rất nhiều cho người chiến sĩ tình báo Phạm Xuân Ẩn trở thành nhân viên tham mưu tin cậy trong Bộ Chỉ huy Quân đội Liên hiệp Pháp.
Sau khi Hiệp định Geneva năm 1954 được ký kết, ông trở thành “cộng sự” thân thiết của phái bộ quân sự Mỹ tại Sài Gòn (Sài Gòn Military Mission). Ông được cố vấn quân sự Mỹ đề nghị tham gia soạn thảo các tài liệu về tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần để xây dựng “Quân đội Việt Nam Cộng hòa”.
Tháng 10/1957, để có thể đi nhiều nơi, tiếp cận với những nhân vật quyền lực nhất, nhằm thu thập các tin tức tình báo nhanh chóng và chính xác nhất, Phạm Xuân Ẩn đã được Đảng cử sang Mỹ học ngành báo chí tại California từ 1957-1959. Đây là cơ hội hiếm có để ông tiếp thu kiến thức và tiếp cận với các cơ quan đầu não của địch, nhằm thực hiện nhiệm vụ tình báo chiến lược sau này.
Sau khi trở về nước, ông được mời làm phóng viên cho hãng thông tấn Reuters (Anh) và các báo khác của Mỹ. Do có quan hệ rộng với các cơ quan quân sự, tình báo, thông tin Mỹ, cùng quan chức cao cấp của Phủ Tổng thống, Tổng nha Cảnh sát quốc gia, Bộ Tổng tham mưu… nên các chính khách, tướng tá của chế độ Sài Gòn hết sức quý trọng ông và “cho rằng” Phạm Xuân Ẩn là người của “CIA”.
Lúc bấy giờ, các phe phái cầm quyền ở Sài Gòn, tuy đều “thuần phục” Mỹ nhưng luôn hục hặc, tìm cách hất cẳng nhau. Do đó, “ông nhà báo gốc CIA” Phạm Xuân Ẩn trở thành nhân vật đáng nể mà phe phái nào trên chính trường Sài Gòn cũng muốn tranh thủ, để vừa đón được ý đồ của quan thầy Mỹ, vừa nghe ngóng tình hình của nhau.
Với vỏ bọc là phóng viên tuần báo Time của Mỹ và danh nghĩa là “người của CIA”, Phạm Xuân Ẩn đã có được nhiều nguồn tin tức quan trọng từ quân đội, cảnh sát và cơ quan tình báo Mỹ. Những tin tức và phân tích tình báo chiến lược của ông được bí mật gửi cho Trung ương cục miền Nam thông qua mạng lưới H63, sau đó gửi cho Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ở Hà Nội. Phạm Xuân Ẩn đã gửi về căn cứ tổng cộng 498 báo cáo, tài liệu nguyên gốc được sao chụp, các thông tin thu lượm được về tình hình của Mỹ-Ngụy.
Trong hoạt động tình báo, ông luôn tuân thủ phương pháp bảo mật hết sức chặt chẽ: không quan hệ, tiếp xúc và hợp tác với những đồng nghiệp có tư tưởng tiến bộ, thân cách mạng hoặc những người mà ông biết chắc là “người đằng mình”.
Phải chối bạn, chơi với kẻ thù là điều hết sức khổ tâm, nhưng vì sự nghiệp chung, nhà tình báo chiến lược Phạm Xuân Ẩn đã cố nén lòng suốt hơn 20 năm, chỉ quan hệ, chơi với các tướng tá an ninh, mật vụ, cảnh sát Sài Gòn, và “đồng nghiệp thân thiết” là những nhà báo bồi bút chống phá ta.
Suốt 20 năm chiến tranh, ông đã làm được những việc ít có nhà tình báo cổ kim đông tây nào làm nổi. Trong 20 năm đó, đầu não kháng chiến nắm được ý đồ của Mỹ phần nhiều qua những tin tức và phân tích từ ông. Những chiến lược, chiến thuật, những chiến dịch, những cuộc hành quân lớn, những ý đồ quân sự - chính trị của đối phương, nhất là trong các thời điểm đặc biệt, đều được ông cung cấp từ trong trứng nước cho cấp chỉ huy cao nhất của kháng chiến.
Điều lạ lùng là ông đã làm những chuyện kỳ diệu đó không theo cách thông thường của hoạt động tình báo mà người ta quen hiểu. Ông làm việc gì cũng quang minh chính đại. Ông hoạt động tình báo vì Tổ quốc mình và khi trở thành nhà tình báo ông hoạt động chuyên nghiệp, không cảm tính. Là một người chính trực, Phạm Xuân Ẩn không cung cấp thông tin theo "khẩu vị" cấp trên. Đó là lý do khiến cho những tin tức tình báo từ Phạm Xuân Ẩn được cấp trên tin cậy một cách tuyệt đối.
Ở Phạm Xuân Ẩn không ai tìm thấy sự giả dối trong các bài báo của ông. Sau 30 năm kết thúc chiến tranh, một trí thức Mỹ, giáo sư Thomas A.Bass đã viết về Phạm Xuân Ẩn trên tờ The New Yorker: "Ẩn là một người Việt Nam thầm lặng, một mẫu người tiêu biểu với một lý tưởng cách mạng vững vàng. Anh thường nói anh không bao giờ dối ai, rằng anh cung cấp những bài phân tích chính trị cho báo Time mà anh đã gửi cho Bắc Việt. Anh là một người bị xẻ đôi có lòng trung chính cao độ, một người sống với sự giả dối nhưng lại nói toàn sự thật".
Sau ngày 30/4/1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, ông mới được phép trở về với con người thật của mình. Ông được Đảng và Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 4 Huân chương Chiến công (1 hạng Nhất, 2 hạng Nhì, 1 hạng Ba)...
Đặc biệt, ngày 15/1/1976, ông vinh dự được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Ông mất ngày 20/9/2006 tại TP. Hồ Chí Minh, hưởng thọ 80 tuổi.
(TTXVN)
Có thể là hình ảnh về 1 người và đang đứng