Thứ Hai, 30 tháng 1, 2023

 

Đúc kết giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và vận dụng trong tình hình hiện nay

(LLCT) - Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khẳng định nội dung tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẹn nguyên giá trị, vạch đường đổi mới, soi sáng tương lai. Bài viết đúc kết, khẳng định những giá trị trường tồn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để tiếp tục học tập và làm theo.


1. Đúc kết giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng hiện nay

Thứ nhất, giá trị “cốt”, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng

Cần phải khẳng định thắng lợi của cách mạng Việt Nam là nhờ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, phải nhận thức khoa học rằng, Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với thực tế Việt Nam nên chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn.

Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa cách mạng và khoa học nhất; là vũ khí không gì thay thế được. Công cuộc đổi mới phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh “làm cốt”, làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

Cần phải thấu triệt phương pháp học tập lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là học tập tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân. Tuân thủ nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tế, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là phải biết vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề cụ thể trong sự nghiệp đổi mới. Lời dạy của Hồ Chí Minh “chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam chứ không phải là kinh thánh”(1) là định hướng quan trọng trong học tập, nghiên cứu lý luận trong tình hình hiện nay.

Thứ hai, giá trị về mục tiêu và con đường cách mạng

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc đi tới và gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Theo Hồ Chí Minh, nước mất độc lập thì dân nô lệ, nên phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc. Không có độc lập dân tộc sẽ không có gì hết. Đấu tranh giành độc lập dân tộc phải theo con đường cách mạng vô sản thì mới thành công, tức là độc lập dân tộc đi tới CNXH. Có được độc lập rồi thì phải đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Tuy nhiên, nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Hạnh phúc là hạt ngọc lung linh của CNXH. Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, CNXH là thước đo giá trị của độc lập dân tộc. Đây chính là mối quan hệ, sự gắn quyện vào nhau giữa dân tộc và giai cấp theo bản chất và lập trường của giai cấp công nhân.

Cống hiến vĩ đại nhất, cũng là sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin sáng tạo nhất của Hồ Chí Minh là giải quyết mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH. Điều này đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua minh chứng hoàn toàn đúng đắn. Trong tình hình hiện nay, phải tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Phải “phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”(2).

 Di sản Hồ Chí Minh cho thấy độc lập dân tộc là mục tiêu trước hết, là cơ sở, tiền đề để đi tới chủ nghĩa xã hội. CNXH là mục tiêu, con đường bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc. Tinh thần, lập trường, quan điểm Hồ Chí Minh cho thấy không bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước thì không thể tiến hành sự nghiệp đổi mới thành công. Trong đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phải tích cực xây dựng đất nước theo con đường XHCN, tạo động lực tinh thần và vật chất bảo vệ đất nước. Phải phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng, gắn kết chặt chẽ hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong xây dựng có bảo vệ, trong bảo vệ có xây dựng, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc thì mới có điều kiện thực hiện khát vọng Việt Nam, xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu như mong muốn của Người.

Thứ ba, giá trị về dân và đại đoàn kết toàn dân tộc

Hệ giá trị về dân. Một là, dân rất tốt. Họ anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù, khôn khéo, trí tuệ, thông minh, sáng kiến, luôn luôn trung thành với Đảng; Hai là, dân là chủ, là gốc, địa vị cao nhất là dân, “tiếng dân chính là truyền lại ý trời”(3); Ba là, dân chúng nhiều tai mắt, cái gì họ cũng nghe, cũng thấy. Họ so sánh đúng, giải quyết đúng, gọn gàng, hợp lý, công minh. Họ biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Bốn là, dân chúng chứa đựng một xung lực mạnh mẽ vô cùng tận, cả tài, sức, lực lượng, quyền, trí, lòng dân; Năm là, nhân dân được hưởng tất cả lợi ích vật chất và tinh thần; Sáu là, dân chúng có trách nhiệm trong cách mạng, kháng chiến, đổi mới, xây dựng đất nước, làm nên những thắng lợi lịch sử; Bảy là, dân tổ chức nên Nhà nước; có quyền và khả năng sửa chữa nghị quyết, cán bộ và tổ chức của ta; Tám là, hạnh phúc của người dân là thước đo năng lực lãnh đạo - cầm quyền của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phẩm chất đạo đức của cán bộ.

Trước thềm Đại hội XIII, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới. Họ phải được thụ hưởng thành quả của đổi mới. Sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.

Đại đoàn kết toàn dân tộc, giá trị một chữ “đồng”. Theo Hồ Chí Minh, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân và kẻ thù chỉ sợ dân ta đoàn kết. Đoàn kết của ta không chỉ rộng rãi mà còn lâu dài; là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân ta. Nhờ tín tâm, quyết tâm, đồng tâm, đoàn kết muôn người như một mà chúng ta thắng lợi. Thành công của cách mạng tỷ lệ thuận với chuỗi giá trị của đoàn kết: đoàn kết trong Đảng, đoàn kết nhân dân, đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Càng đoàn kết, đại đoàn kết, càng thành công, đại thành công.

Hiện nay, đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, được xác định là đường lối chiến lược của sự nghiệp đổi mới, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Muốn đoàn kết thành sức mạnh thật sự phải lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng. Phải dựa trên lợi ích chung của quốc gia - dân tộc, khơi dậy tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, nhân ái, khoan dung, tôn trọng những điểm khác biệt. Phải giải quyết hài hòa vấn đề lợi ích, bảo đảm ai cũng được hưởng thành quả đổi mới. Xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh làm chỗ dựa thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, tạo đồng thuận xã hội.

Thứ tư, giá trị về Đảng và Nhà nước

Giá trị về sự lãnh đạo của Đảng. Cách mạng trước hết phải có Đảng. Đảng có vững cách mạng mới thành công. Vai trò của Đảng vừa là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng vừa đem lại chất mới, trình độ mới cho sự phát triển, trường tồn của đất nước.

Giá trị về Đảng cầm quyền. Giá trị này tập trung ở việc xử lý mối quan hệ giữa Đảng với dân. Nhân dân trao sứ mệnh cầm quyền cho Đảng. Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc, là chủ. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn của Đảng cầm quyền: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Xử lý mối quan hệ giữa quyền lực và đạo đức. Lý luận và thực tiễn cho thấy quyền lực có xu hướng tha hóa, quyền lực tuyệt đối, tha hóa tuyệt đối. Muốn chống sự tha hóa quyền lực, cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng đạo đức và Đảng phải đan cái lồng cơ chế để kiểm soát quyền lực, đặc biệt là cơ chế dân chủ. Phải ghi tạc lời dạy của Hồ Chí Minh: “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”(4). Trong Di chúc - quốc bảo xây dựng đất nước theo tinh thần đổi mới, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(5). Người chỉ rõ kế hoạch xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn là công việc to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng rất vẻ vang. “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”(6).

Giá trị về Nhà nước. Nước ta là nước Dân chủ Cộng hòa. Nhà nước của dân (quyền của dân), Nhà nước do dân (dân tổ chức), Nhà nước vì dân (dân hưởng lợi ích). Chính phủ là công bộc của dân. Nhà nước dân chủ chú trọng pháp quyền và đội ngũ cán bộ, công chức tận tụy, chuyên nghiệp, vừa “hồng” vừa “chuyên”. Xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân kết hợp “đức trị” với “pháp trị” theo tinh thần giáo dục là chính, nhưng pháp luật phải nghiêm, thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào.

Hiện nay, từ giá trị của Nhà nước Dân chủ Cộng hòa, tập trung xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo. Tinh thần cơ bản là tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp; thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, kết hợp chặt chẽ “xây” và “chống”.

Thứ năm, giá trị văn hóa và con người

Là nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam mang tầm vóc nhân loại, Hồ Chí Minh để lại hệ giá trị toàn diện về văn hóa, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học, hướng đến chân - thiện - mỹ. Văn hóa là một mặt trận, nền tảng vững chắc của xã hội, sức mạnh nội sinh, soi đường cho quốc dân đi, lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Hồ Chí Minh xây dựng hệ giá trị toàn diện của con người Việt Nam với tư cách vừa là chủ thể vừa khách thể của văn hóa, gồm đức, trí, thể, mỹ, nói ngắn gọn vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đó là những con người yêu nước, có trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức pháp luật, dám xả thân vì độc lập - tự do - hạnh phúc, có khát vọng xây dựng nước Việt Nam đàng hoàng, to đẹp, sánh vai với các cường quốc năm châu.

2. Đúc kết giá trị đạo đức Hồ Chí Minh và vận dụng hiện nay

Thứ nhất, giá trị về vai trò của đạo đức cách mạng

Giải phóng dân tộc hay đổi mới, phát triển đất nước đều phải thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của đạo đức cách mạng. Theo Người, cách mạng cần đạo đức, con người cần đạo đức, cán bộ, đảng viên lại càng phải có đạo đức. Không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Đạo đức có vai trò như gốc của cây, nguồn của sông, sức mạnh của con người gánh nặng đường xa. Trước đây cũng như hiện nay, thiếu một đức thì không thành người. Người đảng viên - tuy đại biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc - nhưng vẫn trên nền “làm người”; đổ vỡ tư cách làm người, thiếu nhân tính là đổ vỡ tất cả. Cán bộ, đảng viên cũng là người. Song đã hiểu biết, tình nguyện vào Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.

Hơn lúc nào hết, hiện nay phải nhận thức thấu đáo rằng cùng với kinh tế và xã hội, đạo đức là một thước đo, tiêu chí quan trọng của CNXH. Những gì trái với đạo đức cách mạng là trở lực trên con đường xây dựng CNXH, cần phải quét sạch. Đạo đức cách mạng cũng là liều thuốc để chống bệnh công thần, tự cao tự đại, bệnh “say sưa với vòng nguyệt quế”, “cua cậy càng, cá cậy vây”; đồng thời nó giúp người cách mạng vượt qua gian khổ, hy sinh. Không những thế, có đạo đức thì có thể học tập để dần dần có tài năng; ngược lại, có tài năng mà không có đạo đức thì tài năng dễ mai một, thậm chí thành công cụ để làm việc bậy, việc ác, việc xấu xa, gây tác hại lớn cho cách mạng.

Thứ hai, giá trị cốt lõi của đạo đức cách mạng

Phẩm chất đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ mật thiết, trở thành chuẩn mực, mang giá trị trường tồn. Tuy nhiên, cần phải xác định giá trị đạo đức cốt lõi. Theo Hồ Chí Minh, nhận thức và rèn luyện đạo đức cách mạng, trước hết người cán bộ, đảng viên phải có lòng vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào, từ đó sẽ tiến đến chí công vô tư. Có chí công vô tư thì lòng dạ mới trong trẻo, đầu óc mới sáng suốt để làm những việc ích nước, lợi dân như cần, kiệm, liêm, chính, nhân, nghĩa, trí, dũng. Như vậy, giá trị cốt lõi của đạo đức cách mạng là chí công vô tư, tức là nêu cao chủ nghĩa tập thể, đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết, suốt đời làm người đày tớ thật trung thành của nhân dân, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.

Thứ ba, giá trị thực hành đạo đức.

Quan trọng nhất trong thực hành đạo đức cách mạng là nêu gương, nói đi đôi với làm, nói là làm, nói ít làm nhiều, đem lại hiệu quả thiết thực. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người lãnh đạo, đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cán bộ cấp chiến lược phải là những tấm gương sáng, đi trước, nói được làm được, khắc vào tim chứ không phải viết lên trán chữ “cộng sản”. Bởi vì, một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Quần chúng chỉ quý trọng những người có tư cách đạo đức, lời nói thống nhất với hành động vì dân, vì nước.

3. Đúc kết giá trị phong cách Hồ Chí Minh và vận dụng hiện nay

Thứ nhất, giá trị về tư duy.

Trong phong cách, hàng đầu và xuyên suốt là phong cách tư duy. Giá trị lớn nhất, đặc sắc nhất là xuất phát từ thực tế, tư duy phải có tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn luôn đổi mới, mở rộng tư duy trên cơ sở nghiên cứu mọi tư tưởng, học thuyết đã có và hướng tầm nhìn ra thế giới. Phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: “Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Phải suy nghĩ chín chắn”(7).

Phải nhận thức “xã hội bây giờ ngày một phát triển. Nếu cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả”(8). Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng đắn, hôm sau đã không hợp thời nữa, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước”(9).

Thứ hai, giá trị phong cách làm việc quần chúng, dân chủ, khoa học.

Về giá trị phong cách làm việc quần chúng. Hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải hiểu thấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình là phụng sự nhân dân, tức là làm đày tớ cho dân. Nói cách khác, phải thực hành nguyên tắc: “Theo đúng đường lối nhân dân” với 6 điều: đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình làm gương mẫu cần kiệm liêm chính để nhân dân noi theo.

Gắn với phong cách làm việc quần chúng, nổi lên giá trị phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nghĩa là thực hành dân chủ đối với quần chúng. Hạt nhân của giá trị thực hành dân chủ với quần chúng là bàn luận dân chủ, làm cho người dân dám nói, dám làm, có quyền làm, có quyền nói, dám phê bình cán bộ, đảng viên, chính quyền và Đảng. Dân chủ là dựa vào lực lượng của quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng.

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một khía cạnh của dân vận khéo. Để làm được điều đó, phải nắm vững và hành động theo quy luật dân vận: óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm.

Về giá trị phong cách làm việc dân chủ. Cần thực hành tốt phong cách lãnh đạo dân chủ. Lãnh đạo dân chủ là phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng; là giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; là thực hành tự phê bình và phê bình; là bàn luận dân chủ. Hồ Chí Minh khuyến khích cán bộ “có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được”(9).

Dám cãi, dám phê bình Đảng, Chính phủ và cán bộ cấp trên, “khiến cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”(10) là những giá trị dân chủ lớn cần được khai thác, phát huy, vận dụng sáng tạo trong tình hình hiện nay. Chỉ có như vậy mới tạo ra sự đột phá, tiếp cận gần với chân lý, tạo sức mạnh, động lực trong chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Giá trị khoa học trong phong cách làm việc. Làm việc khoa học là phải cụ thể, đi sâu, đi sát, điều tra, nghiên cứu, nắm người, nắm việc, hiểu thấu từ gần đến xa, từ hẹp đến rộng, từ chi tiết nhỏ đến những vấn đề lớn của đất nước và thế giới. Làm việc phải có chương trình, kế hoạch, nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, tình hình thực tế, năng lực cán bộ; kế hoạch phải gắn với biện pháp và quyết tâm. Phải kịp thời, thiết thực, toàn diện nhưng có trọng điểm, điển hình, cụ thể. Phải xuất phát từ gốc, coi trọng ý kiến và so sánh kinh nghiệm của dân chúng, có quần chúng giúp sức, chống quan liêu. Đó là cách lãnh đạo đúng.

Công tác cán bộ cũng phải chứa đựng giá trị khoa học. Xem xét, đánh giá, sử dụng cán bộ phải tỉnh táo, khách quan, tinh tường, dựa vào quần chúng. “Phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt”(11).

Làm việc khoa học là phải kiểm tra, vì lãnh đạo mà không kiểm tra, coi như không lãnh đạo. Cuối cùng là rút kinh nghiệm, tìm ra bài học thành công và chưa thành công hoặc thất bại cho giai đoạn tiếp theo.

Những nội dung trên là đúc kết bước đầu những giá trị lớn, trường tồn trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để làm căn cứ khoa học, định hướng nội dung triển khai việc tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2021

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.120.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.147.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Sđd, tr.97.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Sđd, tr.127.

(5), (6), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr.611-612, 617, 661.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.98-99.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Sđd, tr.55.

(10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.319, 319.

Nguồn : PGS, TS Bùi Đình Phong


 

Giải pháp thực hiện hiệu quả công tác dân tộc trong thời kỳ mới

(LLCT) - Thực hiện tốt công tác dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần bảo đảm phát triển bền vững đất nước. Bài viết đánh giá vai trò của công tác dân tộc trong quản lý, khai thác và phát huy các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số (DTTS) thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân tộc trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.


1. Thực trạng thực thi chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay

Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển là nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc được Đảng ta đề ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), được khẳng định trong văn kiện các Đại hội, nghị quyết Hội nghị Trung ương của Đảng và trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011(1).

Nguyên tắc này được cụ thể hóa thông qua hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi(2). Nhờ đó, kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có những bước phát triển.

Tuy nhiên, nghiên cứu thực tiễn quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi thời kỳ đổi mới, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế còn tồn tại của hệ thống chính sách(3), đó là:

Thứ nhất, hệ thống chính sách thiếu đồng bộ. Các chính sách phát triển vùng dân tộc, miền núi ở nước ta hướng tới khai thác nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội miền núi, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhưng do cơ chế thực hiện thiếu đồng bộ, quá trình triển khai còn hạn chế, nên chưa tạo điều kiện cho các hộ nghèo nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần. Các văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện một số chính sách chậm được ban hành. Một số chính sách khó thực hiện, hoặc không còn phù hợp với thực tiễn nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung.

Đối tượng thụ hưởng chính sách chưa rõ ràng, khâu quản lý, tổ chức thực hiện chính sách chưa công khai, minh bạch; các chính sách thiếu sự kết nối về nội dung, nhiệm vụ, trùng lắp về địa bàn và đối tượng thụ hưởng. Cụ thể, nội dung hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng có 24 chính sách, được cụ thể hóa bằng các chương trình khác như: Chương trình 135, Chương trình 30a, Chương trình giảm nghèo, Chương trình định canh, định cư,... Nội dung hỗ trợ phát triển sinh kế có tới 20 chính sách khác nhau được ban hành; hỗ trợ đồng bào dân tộc vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, song các mức vay và lãi suất cho vay khác nhau, không thống nhất.

Thứ hai, nội dung chính sách thiếu công bằng. Công bằng là yêu cầu quan trọng trong xây dựng và thực thi chính sách vùng dân tộc, nhằm bảo đảm xử lý hài hòa mối quan hệ nội bộ từng dân tộc cũng như mối quan hệ giữa các dân tộc. Công bằng còn được nhìn nhận dưới khía cạnh bình đẳng cơ hội phát triển giữa các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc rất ít người, sinh sống ở những vùng xa xôi hẻo lánh, thiếu cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển cũng như các dịch vụ xã hội cơ bản và quyền tham chính. Hiện nay, một số chính sách ưu đãi phát triển cho vùng dân tộc và miền núi được áp dụng chung trên cả nước, nhưng khó thực thi ở một số vùng, hoặc người dân ít được hưởng lợi từ chính sách. Chẳng hạn, ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc, điều kiện tự nhiên khó khăn, nguồn lực hạn chế; kết cấu hạ tầng yếu kém cả về giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, do đó nhu cầu đầu tư lớn hơn, nhưng do chính sách đối với các vùng đều như nhau nên gây bất lợi cho sự phát triển của khu vực này.

Thứ ba, các chính sách hỗ trợ cho người nghèo còn mang tính bao cấp, như chính sách hỗ trợ gạo, vải mặc, dầu hỏa, cấp tiền điện, v.v, chưa thúc đẩy các hộ tự vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống; chưa có chính sách đối với các hộ cận nghèo, do đó, làm tăng tính ỷ lại của đối tượng thụ hưởng, một số hộ nghèo không muốn thoát nghèo, một số hộ cận nghèo muốn được công nhận là hộ nghèo để hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Có nhiều chính sách được ban hành nhưng nguồn lực thực hiện chưa đáp ứng nhu cầu; việc xây dựng chính sách mang tính nhiệm kỳ, ngắn hạn, thời gian và nguồn lực thực hiện không tương xứng. Vì vậy, hiệu quả thực thi chính sách còn hạn chế.

Thứ tư, công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách chưa phù hợp.

- Năng lực xây dựng và ban hành chính sách còn yếu, chất lượng chính sách chưa cao. Sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành trong xây dựng và phân bổ nguồn lực chưa chặt chẽ. Nhiều chính sách ban hành không sát với nhu cầu thực tiễn nên hiệu quả không cao, cách tiếp cận, hỗ trợ của chính sách chưa tạo sự năng động, sáng tạo cho người thụ hưởng chính sách.

- Việc phân công quản lý, chỉ đạo, điều hành thực hiện chính sách còn chồng chéo. Các chính sách được xây dựng với mục tiêu lớn, nhưng thời gian thực hiện mang tính nhiệm kỳ, ngắn hạn. Cơ chế thực thi chính sách không đồng bộ, việc phân công quản lý, điều hành một số chương trình, dự án có sự chồng chéo về đối tượng và địa bàn, trùng lắp về nội dung... Một số chính sách còn thiếu sự phối hợp hoặc bỏ sót vai trò của hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc dẫn đến khó khăn trong triển khai. Vai trò và trách nhiệm của từng bộ, ngành chưa rõ ràng, cụ thể; năng lực phối hợp thực thi chính sách còn hạn chế, nguồn lực thực hiện phân tán, thiếu sự điều phối thống nhất. Hầu như mỗi chính sách giảm nghèo được ban hành có nguồn lực riêng, đòi hỏi cơ chế tài chính riêng dẫn đến việc phân bổ nguồn lực phân tán, manh mún, nhiều đầu mối.

- Việc phân cấp thực hiện thiếu đồng bộ. Thí dụ, với các công trình cùng quy mô, nhưng có công trình do xã quản lý, có công trình do huyện làm chủ đầu tư. Các chương trình, dự án không gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhiều công trình cùng lúc triển khai trên địa bàn nhưng không được tham vấn dẫn đến việc lồng ghép các nguồn lực gặp khó khăn, làm giảm hiệu quả đầu tư, quy trình giám sát cộng đồng bị coi nhẹ, nhiều nơi mang tính hình thức.

- Quá trình thực hiện chính sách chưa gắn với cân đối, bố trí nguồn lực, chưa bám sát thực trạng và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Phần lớn các chính sách đều mang tính hỗ trợ, định mức đầu tư thấp dẫn đến tình trạng manh mún; có chính sách chậm bố trí vốn, phải kéo dài thời gian thực hiện dẫn đến định mức không còn phù hợp. Có chính sách cấp vốn thiếu đồng bộ (vốn đầu tư, vốn sự nghiệp, vốn vay...) dẫn đến khó khăn trong thực hiện; có chính sách cấp không đủ vốn, các địa phương bố trí dàn trải không dứt điểm từng công trình, ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách. Cơ chế phân bổ nguồn lực chưa hợp lý, còn mang tính bình quân, chưa căn cứ vào quy mô dân số, vị trí địa lý, điều kiện phát triển và mức độ khó khăn của địa phương.

- Việc thực hiện một số chính sách thiết yếu về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào DTTS nghèo chưa được giải quyết dứt điểm; việc quy hoạch, đền bù, tái định cư tại một số dự án kinh tế - xã hội như: thủy điện, khai khoáng, các dự án thu hồi đất và giao đất cho nông, lâm trường... chưa thỏa đáng, chưa phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa của từng dân tộc, chưa gắn nơi ở với địa bàn canh tác, do đó đồng bào không thích nghi với cuộc sống mới, nguy cơ di cư tự do và tái nghèo cao.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng, cơ hội phát triển và tăng cường đoàn kết các dân tộc trong thời gian tới

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về công tác quản lý nhà nước về phát triển các dân tộc thiểu số.

Từ kinh nghiệm của các quốc gia đa dân tộc và thực tiễn nước ta cho thấy, để thực hiện quản lý nhà nước về phát triển DTTS, cần sớm ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương của Đảng trong lĩnh vực dân tộc. Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi sẽ quy định các vấn đề về nguyên tắc hỗ trợ, các chính sách hỗ trợ và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính sách dân tộc, về quyền con người, quyền công dân của các dân tộc; khắc phục những bất cập về thể chế và chính sách hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề dân tộc mà Việt Nam tham gia và cam kết thực hiện, như: Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ..., qua đó thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Nhà nước Việt Nam.

Việc xây dựng chính sách phải bảo đảm đúng quy trình, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung chính sách phải bảo đảm tính khoa học, thống nhất và có sự liên kết, tránh chồng chéo, xung đột, mâu thuẫn. Cần tiến hành rà soát chính sách dân tộc hiện nay để điều chỉnh phù hợp với yêu cầu tình hình mới.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý không chỉ là những nội dung quy định về quản lý, phân công trách nhiệm và quyền lợi giữa các cấp, các tổ chức, mà còn bao gồm hướng dẫn xây dựng, cải tiến tổ chức và điều hành bộ máy, góp phần tăng cường sự tham gia của người dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp ở địa phương trong thực hiện công tác dân tộc và hỗ trợ phát triển vùng dân tộc và miền núi. Xây dựng mạng lưới, thúc đẩy sự liên kết giữa các tổ chức và cá nhân trong hỗ trợ phát triển vùng dân tộc và miền núi.

Thứ hai, đổi mới, hoàn thiện cơ chế hoạch định và thực thi chính sách dân tộc.

- Tăng cường sự phối hợp trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Hệ thống chính sách dân tộc liên quan đến nhiều lĩnh vực, do nhiều ngành chịu trách nhiệm quản lý nên cần có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan, nhất là các bộ chuyên ngành.

Cần tuân thủ đúng quy định của Hiến pháp về vai trò tham gia của Hội đồng Dân tộc đối với các dự thảo chính sách dân tộc trước khi Chính phủ ban hành. Ủy ban Dân tộc chủ động hình thành cơ chế quản lý thông tin về hệ thống chính sách dân tộc ở cấp tỉnh và Trung ương; xây dựng kế hoạch, chương trình công tác; phối hợp chặt chẽ với Hội đồng Dân tộc trong việc xác định vấn đề chính sách, xây dựng nội dung chính sách và tổ chức thực thi, tiến hành kiểm tra, giám sát hằng năm và 5 năm.

Cải tiến tổ chức và điều hành quản lý trên cơ sở những chế định rõ ràng về trách nhiệm, phân công hợp lý, xác lập cơ cấu tổ chức phù hợp. Cần tiếp tục đẩy mạnh sự tham gia của các tổ chức Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân... vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn. Một số hoạt động có thể giao trực tiếp như: Quản lý tín dụng giao cho Hội phụ nữ, mô hình kỹ thuật giao cho Đoàn thanh niên hoặc tổ chức khác tùy theo điều kiện từng nơi.

- Đổi mới công tác giám sát, đánh giá, quản lý theo mục tiêu chính sách, thiết lập hệ thống mục tiêu và chỉ tiêu phù hợp.

Công khai hóa các chương trình, dự án đầu tư, đặc biệt là nguồn lực tài chính, cơ chế thực thi chính sách, các chế độ liên quan đến người nghèo, đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, để người dân được biết và tham gia, bảo đảm nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nghiên cứu đổi mới hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá chung và cụ thể hóa cho từng chính sách phục vụ công tác giám sát, đánh giá các cấp.

Tăng cường phối hợp kiểm tra, giám sát, chia sẻ thông tin giữa các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiện các chính sách và sử dụng các nguồn tài chính huy động được.

Đổi mới công tác thanh tra của Ủy ban Dân tộc, tăng cường hoạt động thanh tra của các Ban Dân tộc địa phương; tập trung vào các vụ việc nổi cộm, có giải pháp xử lý rõ ràng, gắn với kiến nghị điều chỉnh chính sách hoặc cơ chế quản lý.

Tăng cường các hoạt động khảo sát, giám sát; tổ chức các phiên giải trình của Hội đồng Dân tộc, các cơ quan của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về những nội dung liên quan đến thực hiện chính sách dân tộc. Phối hợp tổ chức các phiên giải trình về chính sách liên quan đến các bộ, ngành; tổng hợp các vấn đề cấp thiết cũng như đề xuất giải pháp liên quan đến cơ chế, chính sách đưa ra diễn đàn Quốc hội để kiến nghị đối với Đảng, Nhà nước.

- Tăng cường công tác thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ, minh bạch và đẩy mạnh nghiên cứu phục vụ điều hành, quản lý. Nắm bắt tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trật tự và môi trường vùng dân tộc và miền núi, trong đó, tập trung vào vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng, khu vực biên giới; các dân tộc còn nhiều khó khăn, các dân tộc ít người, vùng tiềm ẩn nhân tố gây bất ổn về an ninh chính trị và trật tự xã hội.

Xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về đặc điểm, điều kiện tự nhiên, xã hội, dân tộc cùng các chỉ số phát triển cho các vùng, các dân tộc, đơn vị hành chính. Thông tin về chính sách và tiến trình thực hiện chính sách, kết quả và những tác động ảnh hưởng đến các cơ quan quản lý có liên quan, phương tiện thông tin đại chúng nhằm tăng cường thông tin và nhận thức chung.

- Đổi mới cách thức thông tin, phổ biến, quán triệt chính sách đến cơ sở, người dân. Tổ chức truyền thông, tuyên truyền và phân phối thông tin theo nhiều kênh khác nhau như: truyền hình, phát thanh, báo chí, internet, tuyên truyền lưu động phù hợp với điều kiện từng vùng, địa phương về chủ trương, chính sách dân tộc và chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo vùng dân tộc và miền núi. Thông tin rộng rãi về các mô hình và kinh nghiệm phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo hiệu quả ở các vùng sinh thái, với các quy mô khác nhau.

- Nâng cao năng lực của cấp ủy và chính quyền các cấp trong vận dụng và tổ chức thực hiện chính sách phù hợp với đặc điểm từng địa phương. Ban Dân vận cần tăng cường khả năng tham mưu cho cấp ủy địa phương về công tác dân vận vùng đồng bào DTTS; Ban Dân tộc phối hợp với các ban, ngành xây dựng các chương trình, dự án phát triển cũng như đề xuất các kiến nghị, giải pháp để bổ sung, hoàn chỉnh chính sách. Cấp ủy và chính quyền cấp huyện và cơ sở không ngừng nâng cao vai trò trong tổ chức và phối hợp thực hiện chủ trương, chính sách chung của Trung ương, của địa phương cũng như các chương trình, dự án cụ thể.

Thứ ba, đổi mới tổ chức và nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy thực hiện công tác dân tộc.

 Trước hết, cần hoàn thiện và nâng cao năng lực hệ thống cơ quan phụ trách công tác dân tộc ở Trung ương và địa phương trên cơ sở bảo đảm số lượng, chất lượng, tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện chính sách dân tộc. Xây dựng cơ chế phối hợp, xác định rõ vai trò, trách nhiệm cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc; cơ quan quản lý chuyên ngành, cơ quan thực hiện chính sách và các cấp chính quyền địa phương.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở vùng dân tộc. Chú trọng đào tạo, xây dựng phong cách làm việc cho cán bộ gắn với dân chủ hóa trong đời sống kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, khắc phục tư tưởng xa dân, quan liêu và cục bộ. Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức các ngành, các cấp có liên quan để có đủ khả năng và kiến thức hoạch định chính sách, quản lý và triển khai các chương trình phát triển ở vùng dân tộc và miền núi.

Xây dựng và ban hành chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức người DTTS phù hợp với điều kiện, khả năng và tình hình cụ thể mỗi giai đoạn. Nâng cao ý thức trách nhiệm chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên trước Đảng, trước đồng bào các DTTS, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân.

Thứ tư, gắn chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi với chính sách xây dựng khối đoàn kết các dân tộc. Trong đó, chăm lo phát triển kinh tế nhằm cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng và đồng bào các dân tộc có số dân ít đang còn nhiều khó khăn là nền tảng bền vững để xây dựng khối đoàn kết các dân tộc.

Quan tâm xây dựng lực lượng chính trị trong vùng đồng bào các DTTS để họ tự đảm nhận công việc tại cơ sở, đưa dân tộc mình tiến lên cùng các dân tộc khác. Phát huy vai trò của những người có uy tín (già làng, trí thức DTTS) trong quá trình củng cố và tăng cường khối đoàn kết các dân tộc.

Đổi mới công tác dân vận, công tác vận động quần chúng, thật sự hướng về cơ sở, nhất là các thôn, buôn vùng đồng bào các DTTS, đồng bào có đạo. Nội dung, phương pháp vận động cụ thể, thiết thực, phù hợp với trình độ nhận thức và tâm lý của đồng bào.

Mặt trận và các đoàn thể các cấp phối hợp chặt chẽ với chính quyền, hoạt động thông qua quy chế phối hợp, hướng hoạt động nhiều hơn về cơ sở, đến từng tôn giáo, từng tộc người, đến từng hộ gia đình, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS, vùng đồng bào có đạo.

Công tác vận động quần chúng phải được coi là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của hệ thống chính trị các cấp, trong đó, cấp cơ sở có trách nhiệm chủ động, tự lực, trực tiếp thực hiện. Các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp đẩy mạnh các phong trào hoạt động của quần chúng và cử cán bộ tham gia các đội công tác phát động quần chúng. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng có tâm huyết, biết nghe dân nói, nói dân nghe, làm dân tin.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2021

(1) Xem: ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X, XI, XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1991, 1996, 2001, 2006, 2011, 2016.

(2) Theo thống kê của Ủy ban Dân tộc, đến năm 2017, có khoảng 66 luật và hơn 200 văn bản dưới luật có nội dung liên quan đến lĩnh vực công tác dân tộc, từ đầu tư phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục đến an ninh và quốc phòng... vùng DTTS và miền núi. Trong số các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc, có 1 Nghị định, còn lại chủ yếu là thông tư, quyết định phê duyệt các chương trình, kế hoạch hỗ trợ phát triển, mang tính chất quản lý, điều hành việc thực hiện, triển khai các dự án, chương trình đầu tư, hỗ trợ cụ thể (Báo Biên phòng). Ngoài ra, các địa phương đã chủ động thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước bằng việc ban hành những chủ trương, chính sách riêng phù hợp với đặc thù của từng địa phương. (Nguồn: Trương Minh Dục (Chủ nhiệm đề tài): Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp quốc gia: “Xu hướng biến đổi quan hệ dân tộc: Những vấn đề đặt ra và định hướng chính sách”, mã số: KX.04.21/16-20).

(3) Cụ thể: Phạm Văn Hùng (Chủ biên): Một số vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015; Vũ Trường Giang và Nguyễn Thị Thêu: Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đánh giá tác động của các trào lưu lý luận dân tộc cơ bản trong thế giới đương đại đối với Việt Nam hiện nay, do Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị khu vực III và Ủy ban Dân tộc phối hợp tổ chức, Đà Nẵng, tháng 10-2017; Lê Văn Lợi (Chủ biên): Giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2018; Trương Minh Dục (Chủ nhiệm đề tài): Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp quốc gia: “Xu hướng biến đổi quan hệ dân tộc: Những vấn đề đặt ra và định hướng chính sách”, mã số: KX.04.21/16-20, v.v..

 

Nguồn : PGS, TS Trương Minh Dục

Học viện Chính trị khu vực III


 

Hệ giá trị Hồ Chí Minh - Nội dung và ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

(LLCT) - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân một di sản vô giá, trong đó có hệ giá trị Hồ Chí Minh hướng đạo cho sự phát triển đất nước. Hệ giá trị Hồ Chí Minh chính là hệ giá trị Việt Nam với các giá trị căn cốt như độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ và giàu mạnh. Cho dù “đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay”(1) nhưng so với mục tiêu, khát vọng “sánh vai các cường quốc năm châu” mà Hồ Chí Minh đề ra thì đích đến vẫn còn rất xa. Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ hệ giá trị Hồ Chí Minh để tìm thấy trong đó động lực tinh thần và giải pháp hành động phù hợp, là yêu cầu bức thiết của cuộc sống hôm nay.

1. Hệ giá trị Hồ Chí Minh: Độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ và giàu mạnh

Nói đến giá trị là nói đến những gì quý giá, có tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của con người, tổ chức và dân tộc. Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vô cùng gian khổ và oanh liệt của dân tộc Việt Nam đã chắt lọc, đúc kết lên hệ giá trị của mình và tư tưởng Hồ Chí Minh đã biểu đạt các giá trị cao quý đó.

Do yếu tố địa - chính trị nên Việt Nam luôn bị nạn xâm lăng của ngoại bang. Vì thế, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam thấu hiểu giá trị của độc lập tự do. Trong quá trình tìm đường cứu nước, việc tiếp thu tư tưởng tự do của văn hóa phương Tây và sự trải nghiệm thực tiễn đã giúp Hồ Chí Minh nhận ra: Độc lập - Tự do là những giá trị không thể tách rời. Chỉ khi nước được độc lập thì người dân mới được hưởng cuộc sống tự do, hạnh phúc. Ngược lại, nếu mỗi người dân không được hưởng những quyền tự do chính đáng của mình thì nền độc lập đó chỉ là giả tạo. Vì thế, Hồ Chí Minh từng tuyên bố: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”(2). Năm 1930, Người đã soạn thảo cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo mà tư tưởng cốt lõi là độc lập - tự do. Tháng 8-1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Người đã thể hiện quyết tâm giành độc lập tự do của dân tộc Việt Nam bằng câu nói bất hủ: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành được độc lập”(3). Ngày 2-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với cả thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(4). Giữ vững lời thề thiêng liêng đó, trước âm mưu tái chiếm Việt Nam của thực dân Pháp, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh đã thay mặt dân tộc Việt Nam thể hiện thái độ chính trị dứt khoát và kiên định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!”(5). Hồ Chí Minh đã đúc kết lẽ sống của nhân dân Việt Nam và chân lý lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Rõ ràng, độc lập tự do là giá trị hàng đầu của Hồ Chí Minh.

Là nhà nhân văn chủ nghĩa vĩ đại, luôn quan tâm đến số phận của nhân dân, đối với Hồ Chí Minh, độc lập tự do nhất thiết phải gắn với hạnh phúc của nhân dân. Chương trình Việt Minh do Hồ Chí Minh chỉ đạo soạn thảo và được thông qua vào tháng 10-1941 đã khẳng định: Mặt trận Việt Minh “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước: 1. Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. 2. Làm cho nhân dân Việt Nam được sung sướng, tự do”(6). Sau Cách mạng Tháng Tám, Người tuyên bố: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc thì nền độc lập đó cũng chẳng có ý nghĩa gì”(7). Người còn nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi được ăn no, mặc đủ”(8). Gắn độc lập tự do với hạnh phúc của nhân dân là điểm khác biệt giữa quan niệm về độc lập của Hồ Chí Minh với các sỹ phu phong kiến - độc lập đơn thuần là không bị mất nước. Với Hồ Chí Minh, độc lập phải gắn với tự do và cơm no, áo ấm, cuộc sống yên bình của nhân dân. Làm cách mạng phải dựa vào dân nhưng làm cách mạng để vì dân là tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh. Câu nói “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đã thể hiện sự gắn kết giữa các giá trị độc lập, tự do, hạnh phúc và tinh thần nhân văn triệt để của Hồ Chí Minh, hạnh phúc phải dành cho tất cả mọi người.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn chú trọng giá trị dân chủ - khát vọng chung của cả loài người. Trong định danh tên nước sau Cách mạng Tháng Tám “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa/ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, Hồ Chí Minh đã kết hợp giá trị dân chủ với giá trị độc lập, tự do, hạnh phúc để tạo thành hệ giá trị không thể tách rời. Điều này hoàn toàn đúng vì nếu nước không được độc lập, thì những quyền tự do cơ bản của người dân đều bị tước đoạt, quyền công dân, quyền con người, quyền “là chủ” và “làm chủ” sẽ không được thực thi. Do đó, chống đế quốc phải đi đôi với lật đổ chế độ phong kiến lỗi thời để lập nên thể chế dân chủ cộng hòa. Lúc này, dân chủ không chỉ là một kiểu thiết chế nhà nước với quyền lực thuộc về nhân dân mà còn là động lực, là “cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(9).

Trong hệ giá trị Hồ Chí Minh còn hiển thị một giá trị thiết yếu nữa là sự giàu mạnh của đất nước, nói chính xác hơn là dân giàu, nước mạnh. Với Hồ Chí Minh, việc làm giàu chính đáng của người dân phải được khích lệ vì “dân có giàu thì nước mới mạnh”(1) và sự giàu mạnh chính là điều kiện, tiền đề bảo đảm nền độc lập của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Thực tế cho thấy, sự giàu có mà thiếu nền tảng văn hóa sẽ không bền và khó có hạnh phúc, nhưng trong nghèo khổ, bần hàn thì người dân không thể có hạnh phúc và nền độc lập dân tộc khó giữ vững. Vì thế, ngay trong những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã bày tỏ một khát vọng vĩ đại là Việt Nam sẽ trở thành một nước giàu mạnh “sánh vai với các cường quốc năm châu”(11). Khẳng định vị thế dân tộc là biểu hiện chân xác của tinh thần tự tôn và lòng tự hào dân tộc. Việc kết hợp chặt chẽ giá trị độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ với giá trị giàu mạnh đã thể hiện rõ trong bản Di chúc của Hồ Chí Minh: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là toàn Đảng, toàn dân đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(12). Như vậy, trong chiều sâu tư tưởng của Hồ Chí Minh, độc lập, tự do chỉ là tiền đề, điều kiện để đi đến những tầm cao mới.

Nếu so sánh, đối chiếu hệ giá trị của từng quốc gia, chúng ta nhận thấy, mỗi dân tộc có hệ giá trị khác nhau cho dù các giá trị cụ thể đa phần là giống nhau. Cái làm nên sự khác biệt đó chính là giá trị quan, tức là sự đánh giá vị trí của từng giá trị trong bảng giá trị để đi đến kết luận: Điều gì là trọng yếu nhất trong lý tưởng và mục tiêu phấn đấu của dân tộc đó. Với Việt Nam, trải qua bao thăng trầm của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ và giàu mạnh đã hiển hiện như các giá trị cốt lõi nhất; từng thành tố trong hệ giá trị đó luôn là tiền đề, điều kiện và kết quả của nhau. Tinh thần chủ đạo của hệ giá trị Hồ Chí Minh chính là: Giải phóng để phát triển và phát triển là vì hạnh phúc con người. Hệ giá trị Hồ Chí Minh không chỉ chắt lọc các giá trị “bất biến” trong thực tế dựng nước và giữ nước mà còn là lý tưởng thiêng liêng, mục tiêu chiến lược và định hướng phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Sự đồng nhất giữa hệ giá trị dân tộc và hệ giá trị Hồ Chí Minh - con người cả đời “chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân”(13) đã nói lên sự cao quý của nhân cách và giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

2. Ý nghĩa của hệ giá trị Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, hệ giá trị Hồ Chí Minh đã trở thành đường lối chiến lược của Đảng, mục tiêu bất biến của cách mạng và lẽ sống của nhân dân Việt Nam trong công cuộc bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc.

Đánh giá rất cao ý chí độc lập tự do của nhân dân Việt Nam nên Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông súng mạnh, nước Nam đã thắng”(14). Từ sự thấu hiểu sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đúc kết nên giá trị đầu bảng của văn hóa Việt Nam là khát vọng độc lập, tự do. Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là đội tiền phong của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân Việt Nam đã đưa giá trị cao quý đó thành đường lối đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nhờ đó, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên những kỳ tích lịch sử: Cách mạng Tháng Tám và thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Không chỉ làm nên quá khứ hào hùng, hệ giá trị Hồ Chí Minh còn là nền tảng cho đường lối an ninh, quốc phòng của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Kế thừa quan điểm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, nhận thức của Đảng về mục tiêu giữ vững nền độc lập dân tộc ngày càng được mở rộng về nội hàm. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991), Đảng đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập dân tộc: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân”(15). Đến Đại hội XI, việc “giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời”(16) đã trở thành nội dung mới của bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, cuộc đấu tranh bảo vệ quyền chủ quyền biển, đảo của nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ ngừng lại. Một bài toán hóc búa là chúng ta phải bảo vệ bằng được chủ quyền dân tộc nhưng không được để xảy ra chiến tranh hay phá vỡ sự hợp tác. Do đó, bên cạnh việc hiện đại hóa lực lượng vũ trang, phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, mỗi công dân Việt Nam phải được trang bị kiến thức lịch sử, pháp lý về chủ quyền không tranh cãi của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa cũng như các quy định của luật pháp quốc tế về lãnh hải và thềm lục địa để tiến hành đấu tranh một cách khôn khéo, hiệu quả.

Đến Đại hội XII, nội hàm của công tác bảo vệ Tổ quốc được bổ sung thêm nội dung “bảo vệ nền văn hóa dân tộc”(17). Như vậy, giá trị độc lập, tự do của Hồ Chí Minh luôn là nền tảng của chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thứ hai, hệ giá trị Hồ Chí Minh đã trở thành chiến lược xây dựng đất nước dân chủ và giàu mạnh của Đảng và cổ vũ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

Trong lịch sử nhân loại, dân chủ vừa là thể chế nhà nước với sự thừa nhận quyền lực thuộc về người dân, vừa là một giá trị xã hội vĩnh hằng mà loài người phải đấu tranh gian khổ mới từng bước giành được. Hồ Chí Minh luôn coi dân chủ là một đặc tính căn cốt của xã hội tiến bộ, “là của quý báu nhất của nhân dân”(18), là động lực to lớn của CNXH. Thực hiện tư tưởng của Người, trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức mới về dân chủ và đã nỗ lực đẩy nhanh quá trình dân chủ hóa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bằng chứng là dân chủ đã trở thành một nội dung căn cốt trong hệ mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(19) và là động lực trọng yếu để phát triển đất nước.

Nhận thức rõ vai trò của tiềm lực kinh tế trong phát triển đất nước, Đảng ta đã lãnh đạo sự nghiệp đổi mới theo phương châm lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp. Nhờ đường lối đúng đắn, kinh tế Việt Nam đã khởi sắc. Đến năm 1996, Việt Nam đã cơ bản thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội; đến năm 2010 đã thoát ra khỏi nhóm nước kém phát triển và bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Mức tăng trưởng GDP 7,08% (năm 2018) và 7,02 % (năm 2019) đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Ngay trong năm 2020, trong điều kiện dịch COVID -19 lan rộng, Việt Nam vẫn được dự báo là nền kinh tế duy nhất ở Đông Nam Á có mức tăng trưởng dương(20). GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã đạt mức 2.590 USD vào năm 2018 và xấp xỉ 2.800 USD vào năm 2019; tỷ lệ hộ nghèo ở giảm mạnh chỉ còn 4% năm 2019(21); số lượng tầng lớp trung lưu hiện chiếm trên 15% dân số và sẽ còn tăng lên; tinh thần “khởi nghiệp” ngày càng lan tỏa trong xã hội, đặc biệt là trong giới trẻ. Sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam chính là điều kiện để thực thi giá trị độc lập, tự do cho Tổ quốc, no ấm, hạnh phúc cho nhân dân như ước nguyện tha thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ ba, hệ giá trị Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận để xác định phương hướng, mục tiêu phát triển của đất nước và gợi mở hệ thống giải pháp nhằm gia tăng sức mạnh dân tộc, hiện thực hóa khát vọng Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ: Đổi mới là tất yếu nhưng đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện tốt hơn bằng hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”(22). Cương lĩnh đã xác định rõ đặc trưng tổng quát và cũng là mục tiêu của CNXH ở Việt Nam là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(23). Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII còn cụ thể hóa mục tiêu giàu mạnh gắn với các dấu mốc quan trọng của đất nước: Đến năm 2025, Việt Nam là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 - thời điểm tròn 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam sẽ là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại và mức thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 - thời điểm tròn 100 năm thành lập nước, Việt Nam sẽ trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Xác định mục tiêu phù hợp đã khó nhưng thực hiện nó còn khó hơn. Mục tiêu lớn đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải thực sự quyết tâm và phát huy tinh thần sáng tạo. Hệ giá trị Hồ Chí Minh không chỉ cổ vũ nhân dân Việt Nam hành động mà còn gợi mở phương hướng hành động sao cho hiệu quả nhất.

Trong nhiệm kỳ vừa qua, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tương đối cao nhưng nó vẫn ở mức dưới tiềm năng và chưa bền vững; sức cạnh tranh của nền kinh tế chậm được cải thiện; kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng, tức là dựa vào sự gia tăng nguồn vốn và khai thác tài nguyên chứ chưa dựa vào chất lượng nguồn nhân lực. Trong chiến lược phát triển kinh tế, Việt Nam phải giải quyết cả 2 yêu cầu là “nhanh” và “bền vững”. Nếu không phát triển nhanh, không có sự bứt phá thì Việt Nam sẽ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” và nguy cơ tụt hậu về kinh tế sẽ dẫn đến nguy cơ lệ thuộc về chính trị. Tuy nhiên, nếu phát triển “nóng”, phát triển nhanh “bằng mọi giá” thì lại tạo ra thảm họa cho tương lai. Muốn phát triển nhanh và bền vững thì lúc này Việt Nam phải tăng cường đầu tư cho khoa học - công nghệ, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhất thiết phải gắn với việc “bảo vệ tài nguyên, môi trường”(24).

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, một nền độc lập thực sự luôn gắn liền với tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân nên mọi chính sách của Đảng và Nhà nước phải hướng tới mục tiêu là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh phải gia tăng chỉ số “hạnh phúc” cho nhân dân. Đảng phải giải quyết hợp lý bài toán tăng trưởng và bồi dưỡng sức dân, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xóa đói, giảm nghèo, không để sự phân hóa giàu - nghèo phát triển tự phát dẫn đến bất bình đẳng, xung đột xã hội và phải kiến tạo hệ thống phúc lợi xã hội tiến bộ, vững chắc, hiệu quả. Suy cho cùng, tính ưu việt của chế độ xã hội phải được đo bằng mức sống, mức độ thụ hưởng, mức độ hài lòng và sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

Về phương diện chính trị, đúng như Đảng ta đã xác định “Thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị nước ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”(25), tăng cường thực hiện dân chủ là phương hướng quan trọng để thực hiện khát vọng Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình dân chủ hóa đất nước không đơn giản chỉ là hoàn thiện pháp luật, cải cách thể chế, đổi mới tổ chức bộ máy công quyền và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức mà phải là xây dựng văn hóa dân chủ trong Đảng và trong xã hội, làm cho văn hóa ấy ngấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành đạo đức, điều chỉnh hành vi của con người. Cơ chế dân chủ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII bổ sung thêm vế “dân giám sát, dân thụ hưởng” nhưng điều quan trọng là cơ chế đó phải là cơ sở để hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Muốn giữ vững nền độc lập và gia tăng vị thế đất nước trên trường quốc tế thì phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc - “thẻ căn cước” của mỗi dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế. Lịch sử nhân loại cho thấy, nếu không giữ được bản sắc văn hóa thì dù cho cương vực quốc gia vẹn nguyên, nhân dân nước đó vẫn bị đồng hóa, xâm lăng về văn hóa và kết cục là mất nước. Do sự giao thoa văn hóa ngày nay diễn ra rất mạnh nên chúng ta phải ý thức rõ, cái gì là bản sắc văn hóa dân tộc để giữ gìn, đồng thời có trách nhiệm quảng bá nó tới nhân loại.

Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(26) và sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trước bối cảnh mới hiện nay càng cần phải đẩy mạnh công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng về mọi mặt. Nền chính trị Việt Nam hiện đại phải là nền chính trị thấm nhuần tinh thần văn hóa, đạo đức. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải là lực lượng tiên phong trong nguồn nhân lực chất lượng cao với các phẩm chất như tâm sáng, tầm xa, tài cao và biết làm việc trong môi trường quốc tế. Cuộc đời và sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chứng minh rằng, cách lãnh đạo tốt nhất là lãnh đạo bằng khoa học, dân chủ, đạo đức và nêu gương, tức là bằng sức mạnh của văn hóa chứ không bằng quyền uy.

Đúng như Hồ Chí Minh đã nói: “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”(27), động lực quan trọng nhất để thực hiện hệ giá trị Hồ Chí Minh và cũng là hệ giá trị dân tộc, chính là những con người Việt Nam được giáo dục một cách toàn diện. Muốn hội nhập thành công đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam phải đào tạo ra lớp “công dân toàn cầu” nhưng có tâm hồn Việt, tinh thần Việt. Muốn đạt mục đích đó, bên cạnh việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chính trong di sản vô giá mà Hồ Chí Minh để lại, mỗi người dân Việt Nam sẽ tìm thấy hình mẫu lý tưởng về văn hóa làm người để giáo dục con em và tự giáo dục bản thân. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải thực sự trở thành nội dung căn cốt của văn hóa dân tộc, là vũ khí sắc bén để chống lại sự tha hóa trong mỗi con người và sự suy thoái đạo đức của xã hội.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 12-2020

(1) https://vnexpress.net/tong-bi-thu-dat-nuoc-chua-bao-gio-co-duoc-co-do-nhu-ngay-nay-3877029-p2.html.

(2) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về hoạt động của Hồ Chủ tịch, tr.65.

(3) Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.225.

(4), (5), (7), (8), (11), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.3, 534, 64, 175, 35, 272.

(6) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.470.

(9), (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.15, sđd, tr.325, 614.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.316.

(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.98.

(15), (25) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.142, 27.

(16), (19), (22), (23), (24) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.233.

(17) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.147, 70, 70, 70, 75.

(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.457.

 (20) https://vnfinance.vn/viet-nam-la-nen-kinh-te-duy-nhat-o-dong-nam-a-tang-truong-duong-nam-2020-11064.html.

(21) https://nhandan.org.vn/tin-tuc-xa-hoi/ty-le-ho-ngheo-binh-quan-ca-nuoc-con-duoi-4-472886.

(26) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.289.

(27) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.66.

Nguồn : PGS, TS Trần Thị Minh Tuyết

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Truyền thông chính sách và các cấp độ của truyền thông chính sách

 


 

Truyền thông chính sách  là một cách tiếp cận mới đối với không chỉ quá trình vận động, tuyên truyền của Đảng và Nhà nước nói chung mà còn là đối với chính quá trình chính sách – một quá trình trong quan niệm truyền thống là thuộc về nội bộ hoặc thậm chí là “đặc quyền Nhà nước”. Khác với tuyên truyền, vận động, truyền thông chính sách thừa nhận rằng, đối tượng chính sách và cộng đồng xã hội không dễ chấp nhận một chiều, không chấp nhận, cũng không nên bị áp đặt, ép buộc thực hiện ngay và đầy đủ các chính sách của chính quyền các cấp. Do đó, đây không đơn thuần chỉ là truyền thông điệp chính sách một cách một chiều từ các chủ thể để chính sách được các đối tượng chính sách và các bên liên quan tuân thủ một cách chặt chẽ.

Nội hàm truyền thông chính sách gồm hai mảng hành động là: Một là, giao tiếp, xây dựng và chia sẻ thông điệp dạng ngôn từ (dạng nói và dạng văn bản) và hình ảnh; Hai là, hành động, tổ chức thực hiện, làm gương, làm mẫu để đưa các chính sách, các giải pháp chính sách thành hành động thực tiễn (ví dụ tổ chức xây dựng hệ thống vị trí việc làm kèm theo các bản mô tả công việc để thực hiện chính sách cải cách chế độ quản lý công vụ, từng bước kết hợp giữa chế độ chức nghiệp với chế độ vị trí việc làm).

Chủ thể truyền thông chính sách bao gồm: Thứ nhất, các chủ thể chính sách như cơ quan nhà nước, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (một số cơ quan nhà nước hình thành các đơn vị chuyên trách, như: Vụ Truyền thông và Thi đua khen thưởng của Bộ Y tế, Vụ Truyền thông của Ngân hàng Nhà nước); Thứ hai, báo chí, các cơ quan thông tấn; Thứ ba, mạng xã hội và các nhân vật nổi tiếng (ví dụ dùng hình ảnh và tiếng nói của người nổi tiếng để truyền thông về chính sách cắt giảm đồ dùng bằng nhựa,…).

Thời điểm truyền thông chính sách, truyền thông cần được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình chính sách từ nhận diện vấn đề, hoạch định chính sách (chẩn đoán được nguyên nhân bản chất sâu xa; thiết kế giải pháp, thử các giải pháp – thí điểm và đánh giá, phân biệt được hệ quả khi áp dụng chính sách và hệ lụy (tiêu cực) nếu không có phản ứng chính sách đó, điều chỉnh và hoàn thiện chính sách) đến tổ chức thực thi và đánh giá chính sách.

Có 3 cấp độ truyền thông chính sách, bao gồm: cung cấp thông tin website, hệ thống quản lý văn bản điện tử thống nhất, thông suốt; hợp tác với các cơ quan truyền thông, thông tấn báo chí để truyền tải thông điệp; có chiến lược truyền thông bài bản, toàn diện (phát huy nhiều kênh, nhiều hình thức như họp báo, cung cấp thông tin cho báo chí, công báo, từ “lời nói đến việc làm” …).

 


 

Truyền thông chính sách dễ trở thành công cụ thúc đẩy sự hợp pháp hóa các hoạt động phi pháp

 


Trong nhiều trường hợp, sự liên kết giữa các nhà báo và các nhà hoạch định chính sách quyết định chương trình chính sách có lợi cho họ. Điều này dẫn đến tình trạng truyền thông chính sách trở thành một công cụ quan trọng để hợp pháp hóa các chính sách có lợi cho nhóm xã hội nhất định.  

Các tập đoàn truyền thông có thể thiết lập các chương trình nghị sự chính sách, nhưng khi thời gian của các chu kỳ chú ý chính sách tiếp tục giảm, ảnh hưởng của các kết quả chính sách sẽ ngày càng xa tầm với của công chúng và an toàn đối với các nhà hoạch định chính sách. Vì vậy, khi báo chí liên minh với các nhà hoạch định chính sách để thể chế hóa vấn đề chính sách, công chúng nói chung sẽ bị đẩy xa hơn ra phía lề của các quá trình hoạch định chính sách. Truyền thông chính sách có nguy cơ đánh lừa công chúng về sự thành công hay thất bại của chính sách, tạo ra áp lực không đáng có cho các nhà hoạch định chính sách (những người có thể cảm thấy cần phải thay đổi chính sách hiệu quả để bảo vệ vị thế của họ, hoặc ngăn các nhà hoạch định chính sách khác tìm kiếm giải pháp cho các chính sách không hiệu quả).

Khi truyền thông bị thao túng, các nhóm yếu thế và công chúng bị đưa ra ngoài chu trình chính sách. Điều này khiến họ cảm thấy khó khăn khi đưa ra ý kiến trên các phương tiện truyền thông và ngay cả khi những ý kiến đó được nêu ra thì cũng bị truyền thông hướng dư luận theo hướng khác. Theo đó, để hạn chế những mặt tiêu cực, truyền thông chính sách phải lấy công chúng làm trung tâm trong thúc đẩy sự hiểu biết của công chúng về các vấn đề chính sách, nâng cao năng lực tiếp nhận chính sách của công chúng cũng như thúc đẩy các sáng kiến và giải pháp./.


 

Truyền thông chính sách dễ bị thao túng bởi các thế lực chính trị đối lập


Các nghiên cứu cho rằng, trong xã hội thiếu dân chủ, các chính sách dễ bị thao túng bởi các thế lực chi phối hệ thống chính trị. Mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế rất phức tạp. Trong lĩnh vực kinh tế, khi truyền thông rơi vào tay một số tập đoàn, các phương tiện truyền thông hoạt động như một “diễn viên” chính trị mạnh mẽ, lợi ích của nó gắn chặt với doanh nghiệp - chủ thể chịu tác động của chính sách thay vì công chúng nói chung. Các nhà truyền thông định hình các chương trình nghị sự chính sách bằng cách chủ động chọn lọc các vấn đề phù hợp với lợi ích của họ. Theo đó, vấn đề chính sách nào được đề cập và nguồn lực nào được sử dụng để thực hiện chính sách là tùy thuộc vào họ. Trên góc độ chính trị, nếu truyền thông bị đảng chính trị thao túng sẽ dẫn đến tình trạng các cuộc thảo luận chính sách chỉ giới hạn trong các ranh giới được thiết lập bởi các đảng chính trị chi phối truyền thông, hoặc đảng cầm quyền và các nhà hoạch định chính sách của đảng đó quyết định. Những nghiên cứu truyền thông chính sách ở các nước tư bản cho thấy bản chất bảo thủ của những kiểu tranh luận chính sách như vậy được củng cố bởi giới truyền thông, đặc biệt là truyền hình, truyền thanh và mạng xã hội nhằm phục vụ lợi ích của các thế lực chính trị đứng đằng sau. Nguy hiểm hơn là đảng chính trị và doanh nghiệp truyền thông cấu kết với nhau để định hướng chính sách có lợi cho doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, ngay cả khi truyền thông có thể chủ động thiết lập chương trình nghị sự chính sách, không có nghĩa là chúng ảnh hưởng đến kết quả chính sách. Truyền thông chính sách khó bảo đảm đối với các quyết định chính sách ngay cả khi chương trình nghị sự chính sách và thảo luận chính trị bị ảnh hưởng bởi truyền thông. Truyền thông chính sách đóng vai trò rất quan trọng trong việc giúp công chúng hiểu chương trình nghị chính sách và đóng khung các quyết định về các vấn đề “giật gân” để định hướng và thu hút sự quan tâm của xã hội. Tuy nhiên, các vấn đề chính sách phần lớn không bị ảnh hưởng khi đảng cầm quyền mạnh và được công chúng tín nhiệm.

Ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đối với quy trình chính sách là lôi cuốn hoặc khởi xướng tình cảm công chúng nhằm thúc đẩy những thay đổi rộng rãi trong dư luận, sau đó tổ chức và gây sức ép với chính phủ để đưa ra những cải cách chính sách phù hợp. Khi truyền thông chính sách bị thao túng, các nhóm lợi ích, đặc biệt và giới tinh hoa chính trị chi phối các quá trình hoạch định chính sách, không công khai trong thay đổi chính sách sẽ gây ra phản ứng của công chúng. Trong trường hợp này, chính sự liên kết giữa các nhà báo và nhà hoạch định chính sách là động lực thực sự của chương trình nghị sự chính sách chứ không phải là từ công chúng.         

 


 


TƯ TƯỞNG “NƯỚC LẤY DÂN LÀM GỐC” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có vị trí đặc biệt quan trọng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Tư tưởng đó là sự kế thừa, phát huy truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của nhân dân trong lịch sử; cần tiếp tục được vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trên hai phương diện cơ bản: Một là, Người chỉ rõ, mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; phải tôn trọng và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Bởi lẽ, nhân dân là người chủ thực sự của đất nước, là lực lượng lao động cơ bản của xã hội, chủ thể sáng tạo lịch sử; là lực lượng quyết định sự thành bại của cách mạng; nếu không có quần chúng nhân dân thì không có lịch sử nào cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào”.
Hai là, phát huy trách nhiệm của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, Người yêu cầu mỗi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên phải gần dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân để đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân và tổ chức, lãnh đạo, động viên nhân dân thực hiện. Khi trở thành đảng cầm quyền, tất cả đường lối, chủ trương của Đảng đều phải nhằm nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là làm cho nhân dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành. Cán bộ, đảng viên phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phải lấy việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là mục đích, lẽ sống, niềm vui, hạnh phúc của mình, “tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai”. Có như vậy, “gốc” mới vững, mới bảo đảm cách mạng đi đến thắng lợi.
Trong lĩnh vực quân sự, với tư tưởng “nước lấy dân làm gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, lực lượng tham gia hoạt động quân sự là toàn dân; bởi vì, sức mạnh của nhân dân là vô cùng to lớn, có vai trò quyết định đến thắng lợi. Theo Người, mọi người dân đều có thể tham gia hoạt động trên lĩnh vực quân sự, không phân biệt giới tính, độ tuổi; tất cả các tầng lớp nhân dân trong xã hội đều tham gia đánh giặc bằng mọi vũ khí, từ thô sơ đến hiện đại, bằng mọi cách đánh trên các địa bàn chiến lược. Chúng ta tiến hành đánh địch bằng mọi lực lượng, như bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, kết hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, kết hợp giữa đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ,... Người nói: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”.
Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn, góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Đồng thời, tư tưởng đó của Người còn là cơ sở quan trọng để Đảng ta đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, lấy quyền lợi, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, của Tổ quốc làm mục tiêu phấn đấu; tổ chức, giáo dục, rèn luyện Đảng trong sạch, vững mạnh, thực sự là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Nhờ đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận được sự tin tưởng, đồng tình, ủng hộ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được những thắng lợi vẻ vang trong lịch sử, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam cho thấy, đất nước thịnh hay suy, mạnh hay yếu, có giữ được giang sơn gấm vóc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc hay không đều phụ thuộc vào “lòng dân”, vào việc xây dựng “thế trận lòng dân”. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã nói, “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”; Nguyễn Trãi khẳng định, “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Trong thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Người là gốc rễ, là cơ sở, nền tảng hình thành đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, độc đáo, sáng tạo, góp phần quan trọng vào việc phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược. Từ thực tiễn đó, Đảng ta xác định xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng để phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Đại hội X của Đảng, lần đầu tiên thuật ngữ “thế trận lòng dân” được ghi trong Văn kiện Đại hội, đó là: “Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc”. Kế thừa quan điểm đó, Đại hội XI, Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”.
“Thế trận lòng dân” thực chất là trạng thái chính trị, tinh thần của người dân, được biểu hiện ở tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, sự tin tưởng của nhân dân vào chế độ, vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Trạng thái đó được xây dựng vững chắc, trở thành “thế trận”, sẵn sàng để huy động, sử dụng, tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Xây dựng “thế trận lòng dân” là thực hiện đồng bộ các giải pháp về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, làm cho dân no, dân yên, dân tin yêu Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về “lòng dân”, “nước lấy dân làm gốc”, là quan điểm, chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân. Sự phát triển đó đã khơi dậy, tập hợp, quy tụ và phát huy thế mạnh, sức mạnh của từng nhân tố tạo nên “thế trận lòng dân”; là một trong những bí quyết làm nên thành công của cách mạng Việt Nam.
ST
Không có mô tả ảnh.

NHỮNG NGƯỜI LÀM VẨN ĐỤC MÙA XUÂN


Hiếm có năm nào mà đất nước ta đón xuân mới mang đầy đủ các yếu tố “thiên thời địa lợi, nhân hòa” như năm nay. Thời tiết của cả ba miền đều khá thuận lợi cho việc du xuân, đón Tết. Nguồn cung hàng hóa Tết dồi dào, phong phú, đa dạng, giá cả thị trường tương đối ổn định so với ngày thường, không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, ổn định… Sau hai năm bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, Tết Quý Mão 2023 thực sự là Tết sum vầy. Nhân dân phấn khởi trước những thành tựu của đất nước trong năm Nhâm Dần 2022, đặc biệt là kết quả việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nhân dân tràn trề niềm tin, hy vọng vào sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Tiếc rằng, vẫn còn có những người lạc lõng làm vẩn đục mùa xuân. Đó là một số người vẫn còn sử dụng pháo lậu gây tai nạn. Một số người bị “ma men” lạm dụng khi sử dụng rượu, bia dẫn tới đánh cãi nhau, gây tai nạn giao thông. Một số người xuyên tạc, bịa đặt, tình hình của đất nước trên mạng xã hội…
Vẫn “trung thành” với âm mưu thâm độc là nói xấu Đảng; nói xấu chế độ; nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chia rẽ mối đoàn kết gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân… Thế nhưng vào những ngày đầu xuân mới Quý Mão này, một số đối tượng thù địch, các phần tử cơ hội chính trị lại có vẻ như là “đổi mới phương thức xuyên tạc” bằng cách thu lượm những gì đã diễn ra rồi “phân tích”, “bình luận”, “thêm gia vị”, “thu gọn tích cực, thổi phồng tiêu cực”, “dự báo”… để “gài” những ý đồ xấu xa, hằn học của người viết.
Lời chúc Tết xúc động của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được tuyệt đại đa số nhân dân hoan nghênh thì một số đối tượng thù địch lại cho rằng, đó là “vi hiến”. Có lẽ những người này chưa đọc Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bởi lẽ, trong Hiến pháp không hề có điều nào quy định ai đọc lời chúc Tết vào dịp đầu xuân mới. Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 ghi như sau:
“1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.
3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Như vậy, việc đồng chí Tổng Bí thư, người đứng đầu của Đảng ta đọc Lời chúc Tết là phù hợp với Hiến pháp và cũng là phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân.
Trên mạng xã hội, có người còn nhẫn tâm đăng lại ảnh của những năm trước rồi cho rằng: “người dân khổ sở đón Tết”. 55 năm trước, chúng ta đã giành thắng lợi lớn trong Tết Mậu Thân 1968 thì nay một số người lại bóp méo sự thật…
Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm. Dù một số người với dã tâm thâm độc làm vẩy đục mùa xuân. Thế nhưng những mảng đục đó chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Lộc tốt vẫn vươn lên trong tiết xuân ấm áp. Những mưu đồ thâm độc của một số ít người này đã và đang được các tầng lớp nhân dân phát hiện ra, sẽ “gạn đục, khơi trong” thông tin để Xuân Quý Mão 2023 thực sự là mùa xuân tươi đẹp./.
ST