Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023
Khóa họp 52 Hội đồng Nhân quyền ghi nhận dấu ấn nổi bật của Việt Nam
Hội đồng Nhân quyền LHQ thông qua Nghị quyết do Việt Nam đề xuất và soạn thảo
Những thành tựu cơ bản trong thực hiện tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
1) Công tác tôn giáo đã động viên được đồng
bào có đạo, các tín đồ, chức sắc…hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua
yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ
2) Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng
góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.
3) Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây
dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân
tộc theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách
pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây
dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.
4) “Các ngành, các cấp đã chủ động tích cực
thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh
tế xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời
đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
để hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước”[1]
[1] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn
kiện Hội nghị ban chấp hành Trung ương 7, Khóa IX. Nxb CTQG,H.2003, tr46
Hệ thống chính trị vùng dân tộc không ngừng được xây dựng vững chắc, lãnh thổ chủ quyền quốc gia ở vùng biên giới được đảm bảo
Hệ thống chính trị vùng dân tộc
thiểu số và miền núi không ngừng được xây dựng, củng cố, đáp ứng ngày càng tốt
hơn yêu cầu lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tê-
xã hội ở địa phương. Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, vùng dân tộc và là
người dân tộc thiểu trong hệ thống chính trị từng bước được nâng lên, nhất là
cấp cơ sở về số lượng và chất lượng.
Lãnh thổ chủ quyền quốc gia ở vùng
biên giới được đảm bảo. An ninh chính trị và trật tự xã hội trong vùng dân tộc
cơ bản ổn định. Hiện nay đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số vẫn tin tưởng
tuyệt đối vào Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng bào đoàn kết, nâng
cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu chia rẽ, phá hoại của các thế lực
thù địch; đã và đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập với khu vực và
thế giới của cả nước.
Công tác y tế ở vùng đồng bào đân tộc thiểu số có nhiều tiến bộ
Công tác y tế có bước cải thiện đáng
kể. Mạng lưới y tế ở vùng dân tộc phát triển. Đến nay nhiều xã đã đạt chuẩn về
y tế, có bác sĩ. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu được nâng lên, tiêm chủng
mở rộng cho trẻ em được thực hiện đều khắp, nhiều dịch bệnh nguy hiểm được kiểm
soát và đẩy lùi như bệnh sốt rét, bạch hầu, uốn ván. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 25%. Đồng bào nghèo được khám, chữa bệnh miễn
phí và hưởng chính sách bảo hiểm y tế theo quy định. Đời sống mọi mặt của đồng
bào các dân tộc không ngừng được cải thiện đã góp phần nâng cao chất lượng dân
số và kiểm soát ban đầu tỷ lệ sinh tăng tự nhiên.
Văn hóa- xã hội phát triển; văn hóa truyền thống được bảo tồn, tiếng nói, chữ viết, tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số được tôn trọng
Văn hóa các dân tộc tiếp tục được
giữ gìn và phát huy. Thiết chế văn hóa cơ sở nhiều nơi được củng cố gắn với phong
trào xây dựng nếp sống văn hóa mới. Đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc
thiểu số được nâng lên. Mạng lưới thông tin, phát thanh, truyền hình phủ rộng
khắp, giúp người dân tiếp cận được nhiều hơn chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, đời sống chính trị- xã hội của đất nước,
tiến bộ khoa học- kỹ thuật góp phần quan trọng mở mang dân trí. Các giá trị văn
hóa dân tộc được bảo tồn, phát huy góp phần làm phng phú, sống động hơn văn hóa
Việt Nam. Nhiều di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc được Tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận (không gian văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên) và một số di sản được công nhận là di sản quốc gia (sử thi
Đam San- Tây Nguyên, Hát then - dân tộc Tầy, Nùng), v.v...
Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023
Đẩy mạnh phát triển sản xuất đồng bào dân tộc thiểu số
Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát
triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc
thiểu số, miền núi. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, tình hình
đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng nhà nước đã ưu tiên bố trí nguồn lực kết hợp
với nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và địa phương
để hỗ trợ, đầu tư phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Chỉ tính giai đoạn 2011-2015, Nhà nước đã đầu tư khoảng 135,000 tỉ đồng (tăng
gấp 3 lần so với 5 năm trước)[1])
giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu. Nhờ đó sản xuất hầu hết các địa bàn vùng
dân tộc thiểu số và miền núi đều phát triển, nhất là trong lĩnh vực nông
nghiệp. Đồng bào đã thay đổi phương thức canh tác truyền thống, áp dụng tiến bộ
khoa học - kỹ thuật, giống mới có chất lượng, năng xuất cao. Các huyện, xã đều
có điển hình sản xuất giởi; một số vùng đã có sản xuất hang hóa với các sản
phẩm chủ lực như: cà phê, hồ tiêu, cao su (ở các tỉnh Tây Nguyên); chè, lúa,
gạo, cây ăn quả (ở miền núi phía Bắc); cây ăn quả (ở các tỉnh Tây nam Bộ). Việc
làm và thu nhập của người dân tăng lên. Nhờ đó tốc độ tang trưởng kinh tế của
vùng dân tộc thiểu số và miền núi khá cao; giai đoạn 2016-2018 đạt bình quân
07% và tăng dần hằng năm. Đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số
ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm, bình quân toàn
vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 4%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm
05%-06%/năm trở lên. Giai đoạn 2015-2019, đã có 8/64 huyện nghèo theo Nghị
quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính phủ thoát nghèo; 14/30 huyện
nghèo hưởng cơ chế theo nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính
phủ thoát khỏi tình trạng khó khăn; 124/2.139 xã, 1.322/20.176 thôn đặc biệt
khó khăn ra khỏi diện đầu tư của chương trình 135. Từ năm 2013 -2020, bộ mặt
nông thôn cả nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng được đổi thay rõ
rệt; thu nhập và điều kiện sống của người dân được cải thiện và nâng cao. Đồng
thơi, chính phủ tập trung xây dựng hang vạn công trình nước sạch, trường, lớp
học, trạm y tế, nhà văn hóa, mạng lưới chợ, tạo thuận lợi, có ý nghĩa quyết
định đến sự phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều
trường lớp học, trạm y tế đã được xây dựng mới. Đến nay 100% huyện có đường đến
trung tâm huyện; 98,4 xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn,
bản có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; 100% xã
có trường tiểu học và trung học cơ sở; 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo;
99,3% xã có trạm y tế; 65,8% số xã và 76,7% số thôn có nhà văn hóa hoặc nhà
sinh hoạt cộng đồng
Những nội dung căn bản trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được quốc hội khóa XIV kỳ họp thức 2 thông qua
ngày 18/11/2016 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Luật Tín ngưỡng,
tôn giáo gồm 9 chương, 68 điều. Các chương đó là: Chương 1: Những quy định
chung (gồm 5 điều, từ điều 1 đến điều 5). Chương II: Quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 6 đến Điều 9). Chương III: Hoạt động tín ngưỡng
(gồm 6 điều, Từ Điều 10 đến Điều 15). Chương IV: Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập
trung, đăng ký hoạt động tôn giáo (gồm 5 điều, từ Điều 16 đến Điều 20). Chương
V: Tổ chức tôn giáo (gồm 22 điều, từ Điều 21 đến Điều 42). Chương VI: Hoạt động
tôn giáo; hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân
đạo của tổ chức tôn giáo (gồm 13 điều, từ Điều 43 đến Điều 55). Chương VII: Tài
sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 56 đến Điều 59).
Chương VIII. Quản lý nhà nước và xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn
giáo (gồm 6 điều, từ Điều 60 đến Điều 65). Chương IX: Điều khoản thi hành (gồm
3 điều, từ Điều 66 đến Điều 68). Từ nội dung cụ thể chính sách đối với tôn
giáo, tín ngưỡng như trên đây, Nhà nước còn ra các văn bản hướng dẫn thực hiện,
hoặc quy định đối với một số lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng, hoặc một số tôn
giáo cụ thể như: Chỉ thị số 01/2005.CT-TTg ngày 04-02-2005 về một số công tác
đối với đạo Tin Lành; Chỉ thị số 1940/CT-TTg ngày 31-12-2008 về nhà, đất liên
quan đến tôn giáo.
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mọi người
Hiến pháp năm 2013 ghi
nhận quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mọi người. Quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo quy định tại Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã được chuyền từ
“quyền công dân” theo điều 70 của Hiến pháp năm 1992, thành “quyền con người”,
Tại Điều 24 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định: 1)Mọi người có quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng
trước pháp luật. 2) Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo 3) Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo đề vi phạm pháp luật. Như vậy quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo
là quyền của tất cả mọi người, là quyền con người, và quyền này không bị giới
hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi. Hiến định như vậy về quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, chính sách của Nhà nước ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo đã
tiệm cận với nhận thức và chính sách chung về tôn giáo của các quốc gia tiên
tiến trên thế giới.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bộ mặt đô thị, nông thôn vùng dân tộc được cải thiện rõ rệt
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bộ mặt đô thị,
nông thôn vùng dân tộc được cải thiện rõ rệt. Những năm qua quy mô, mạng lưới
trường lớp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm
non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội
trú, bán trú được phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện cho
con em dân tộc thiểu số được học tập, ăn ở tại trường. Triển khai đề án củng cố
các trường phổ thông dân tộc nội trú, đã có nhiều lớp học, phòng phục vụ học
tập được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới. Hiện nay có 316 trường phổ thống dân
tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố với 109.245 học sinh, trong đó có khoảng 40 %
số trường được công nhân đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục ở các trường
phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được nâng lên qua từng năm học. Trường phổ
thông dân tộc bán trú đã được thành lập ở 28 tỉnh, với quy mô 1.097 trường và
185.671 học sinh. Tỷ lệ học sinh bán trú hoàn thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp
trung học cơ sở đạt 92%. Có 15,2% số trường phổ thông dân tộc bán trú được công
nhận đạt chuẩn quốc gia.
Nguyên tắc tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Trên cơ sở quan điểm của Đảng
về tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng, Nhà nước đã đề ra nguyên tắc chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng, đó là
1)Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín
ngưỡng, tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền
lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo, cũng như
giữa các tôn giáo khác nhau. 2) Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và
không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân. 3) Mọi cá nhân và tổ chức
hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ hiến pháp và phá luật; có nghĩa vụ
bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam XHCN; gìn giữ độc lập dân tộc và chủ quyền
quốc gia. 4) Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện
vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm. Những giá trị văn
hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy. 5)
Mọi hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm mất trật tự an toàn xã hội,
phương hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân,
chống lại Nhà nước gây tổn hại các giá trị đạo đức, lối sống, văn hóa của dân
tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân, đều bị
xử lý theo pháp luật. Hoạt động mê tín phải bị phê phán và loại bỏ. Quán triệt
nguyên tắc chính sách đối với tôn giáo, Đảng, nhà nước ta có những chính sách
cụ thể đối với tín ngưỡng tôn giáo như
Quyền tham kiến về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng cao
Nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà
nước, công tác dân tộc ở nước ta đã đạt những thành tựu quan trọng; tất cả mọi
công dân không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giới đều bình đẳng về
chính trị, bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống và bình đẳng trước pháp
luật. Đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, tôn trọng. các dân tộc tôn
trọng, đoàn kết giúp đỡ cùng phát triển, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng bào các dân tộc thiểu số được hưởng các quyền
bình đẳng với dân tộc Kinh.
Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá
quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở
địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội
đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan
trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước. Quốc
hội khóa 14 có 86 đại biểu quốc
hội là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 17,4%; 49/53 dân tộc thiểu số có đại biểu trong Quốc hội; Đại biểu trong
hội đồng nhân dân các cấp khoảng 20%. Nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước là người
dân tộc thiểu số như Tổng bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, ban bí thư, ủy viên
Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng, Bí thư,
Chủ tịch tỉnh,...
Chính sách dân tộc ở Việt Nam toàn diện, kịp thời, liên kết, minh bạch
Chỉ tính từ năm 2010- 2015, ngoài những văn
bản do quốc hội ban hành, trong đó có những nội dung liên quan đến dận tộc
thiểu số, Chính phủ đã ban hành 154 chính sách dân tộc được thể hiện tại 177
văn bản, 37 nghị định và nghị quyết của Chính phủ, 140 quyết định của Thủ tướng
chính phủ. Mặc dù số lượng văn bản rất lớn, bao gồm những văn bản chỉ điều chỉnh
và áp dụng riêng đối với vùng dân tộc thiểu số và cả những văn bản áp dụng
chung đối với mọi đối tượng, trong đó có quy định riêng về việc áp dụng đối với
dân tộc thiểu số nhưng trong hệ thống văn bản đó, các nguyên tắc cơ bản xác
định quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
theo quan điểm của Đảng được thể hiện khá đầy đủ. Cùng với tính toàn diện, hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc còn thể hiện tính kịp thời, tính
liên kết, tính minh bạch. Ở mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật cụ thể khác
nhau, một số văn bản (chủ yếu là văn bản dưới luật) có nội dung quy định cụ thể
các chế độ, chính sách áp dụng đối với đồng bào dân tộc thiểu số/đồng bào dân
tộc thiểu số được sửa đổi, bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với sự phát triển kinh
tế- xã hội của đất nước và tình hình thực hiện chính sách dân tộc đối với các
vùng, miền hoặc các đối tượng cụ thể. Cơ chế chính sách đã từng bước thay đổi
về quan điểm, tư duy khi thực hiện phân cấp cho địa phương trên cơ sở công
khai, minh bạch từ công tác xây dựng, lập kế hoạch dến tổ chức thực hiện. Đối
với các địa phương, theo quy trình triển khai văn bản cũng như căn cứ trách
nhiệm được quy định, sau khi văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành ở
cấp trung ương có hiệu lực, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương đã ban hành hoặc chỉ đạo cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ban hành văn
bản để thực hiện các nội dung, quy định, nhiệm vụ về công tác dân tộc trên địa
bàn quản lý của mình. Đối với văn bản luật, nghị định, thông tư, ủy ban nhân
dân các tỉnh/thành phố thường thông qua hình thức tuyên truyền, phổ biến để
triển khai đến nhân dân và áp dụng những quy định luật pháp để điều chỉnh,
thống nhất hệ thống quy tắc xử sự chung của các cơ quan, tổ chức và nhân dân.
Đối với các văn bản chỉ đạo, điều hành, căn cứ vào nội dung, các địa phương sẽ
xây dựng văn bả triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm được giao hoặc tổ
chức thực hiện.
Chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta
Từ quan điểm của
Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo.
Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó
với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được
ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân
Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công
dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự
do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn
giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992,
Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một
tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm
tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”;
Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền
tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng
tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn
giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo
là quyền con người”
Việt Nam thực hiện tốt chính sách dân tộc
Đảng ra chủ trương,
Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện,các tổ chức đoàn thể tham mưu
tổ chức thực hiện. Để thể chế hóa các
quan điểm, nguyên tắc của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp, các bộ luật
thể hiện nội dung về chính sách dân tộc. Trong Hiến pháp năm 1946, bản Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thể hiện rõ chính sách đại
đoàn kết, quyền bình đẳng của mọi công dân, không phân biệt đối xử với bất kỳ
dân tộc nào: “Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được
giúp đỡ về mọi phương diện, để chóng tiến kịp trình độ chung”[1]
Hiến pháp năm 1992 của nước ta một lần nữa khẳng
định rõ chính sách đoàn kết, không phân biệt và giúp nhau giữa các dân tộc “Nhà
nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc,
nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc…Nhà nước thực hiện chính sách
phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
đồng bào dân tộc thiểu số”[2] Cụ thể hóa các
điều quy định trong hiến pháp, Quốc hội đã ban hành nhiều luật liên quan đến
quyền lợi các dân tộc thiểu số như: Luật giáo dục, Luật bảo hiểm y tế, Luật
khám bệnh, chữa bệnh, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Luật bình
đẳng giới, Luật hôn nhân và gia đình...Nhằm cụ thể hóa các quan điểm, đường lối
của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách,
chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, thực hiện chính
sách giảm nghèo và an sinh xã hội cho đồng bào các dân tộc. Kể từ khi đổi mới đến nay, chính phủ đã ban
hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc khá đầy đủ, toàn diện trên
các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc, miền núi.
Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Ngay sau khi giành chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đặc biệt quan tâm đến công tác dân tộc, chính sách dân tộc và tình cảm
với đồng bào các dân tộc, thể hiện tư tưởng chỉ đạo về chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước ta. Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số Nam Bộ năm
1946, Người viết “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê
Đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là
an hem ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp
nhau”[1].
Quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân tộc, chính sách dân tộc được
ghi trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về công tác dân tộc, với 5
quan điểm cơ bản như sau:
Các dân tộc bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ
dân tộc.
Phát triển toàn diện
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội và an ninh-
quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với
phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh
Ưu tiên đầu tư phát
triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào
phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.
Công tác dân tộc và
thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ
Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán,
xen kẽ nhau. Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập
trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ
riêng biệt như một số nước trên thế giới. Địa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu
ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở
các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, Chăm sống ở đồng
bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cứ trú
thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của
tỉnh, huyện, xã và các bản, mường. Hiện
nay, hầu như không có một đơn vị hành chính xã, huyện, tỉnh, nào ở vùng dân tộc
thiểu số chỉ có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú
như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng... Phần lớn các
huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản, mường có tới 3 đến 4 dân
tộc cùng sinh sống. Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các
dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Ngày
nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh
tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, càng
có thêm điều kiện đoàn kết và hòa hợp giữa các dân tộc anh em.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc
Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc,
dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến
01/4/2019 [1]1,
dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số cả
nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh
đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi
định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn gọi là
dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt - Mường
(còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc Thái, Hoa,
Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán chỉ và Giáy
di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư
từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia có dân tộc Kheme v.v... Thời
kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung
Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam… Các
dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn kết đã trở thành truyền
thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững
xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Quan điểm về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng ta
Nhận thức về tầm
quan trọng của tôn giáo đối với sự phát triển của xã thời, Đảng ta ngay từ khi
mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để
giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ
nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ
Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành
độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ,
đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn
tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có
hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng
trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng
đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990
Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng
VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ
thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Trong thời kỳ đổi
mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa
IX, với 5 quan điểm cơ bản, trong đó bình đẳng, đoàn kết tôn giáo; phát huy giá
trị, nguồn lực của tôn giáo là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong
thời kỳ đổi mới.
Dân thụ hưởng” không phải là khẩu hiệu suông
Đấu tranh Phản bác các luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ
Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo
Như chúng ta đã biết tôn giáo là những vấn đề phức
tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế
giới cho thấy, khi nào vấn đề tôn giáo được giải quyết thành công thì xã hội
mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột,
làm mất ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện
tốt công tác tôn giáo, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời
và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn
giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý,
đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia. Việt Nam là
quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông
Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các
nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa,
các tôn giáo trên thế giới. Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Mỗi
dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình. Người
Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng,
thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là
tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số với
hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô tem
giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo. Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ
phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ
phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như
Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo
luật, lễ nghị và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn
giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong
quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp. Ước tính đến nay ở Việt Nam có
khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất
đa dạng, bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín
ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện
nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, với trên 24 triệu tín đồ,
chiếm khoảng 27% dân số cả nước; hiện có 6 tôn giáo lớn, trong đó có 2 tôn giáo
nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài. Với sự đa dạng các loại hình tín
ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo
của thế giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn
giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên
đó là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với
tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể.
Thế giới đánh giá cao thành quả Việt Nam thời gian qua
Với nhưng thành tựu nổi bật trên, Việt Nam đã cơ
bản hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ do liên hợp quốc đề ra về quyền con
người, trong đó có nhiều mục tiêu như: giảm nghèo, y tế, giáo dục hoàn thành trước
thời hạn, được đánh giá là điểm sáng của thế giới. Tổng Bí Thư BCHTW Đảng Cộng
sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đánh giá: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ,
tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay…
Qua nhiều bài viết, phỏng vấn, hội thảo, đề tài…
của nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế uy tín thế giới (Liên hợp quốc; Cao ủy nhân
quyền thế giới; Tổ chức y tế thế giới; Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp
quốc; Ngân hàng thế giới; tổ chức
thương mại thế giới; các tổ chức phi chính phủ… và nhiều cá nhân, đánh giá, ca
ngợi Việt Nam trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với nhiều góc cạnh khác
nhau. Xin được khái quát như sau: Việt Nam có chế độ chính trị ổn định, yên
bình, vì con người, (không để ai bỏ lại phía sau; sức khỏe, tính mạng của con
người là trên hết, trước hết). Con người nhân ái, đôn hậu, thông minh, đoàn
kết. Nền kinh tế năng động, bền vững trong tốp đầu thế giới, môi trường kinh
doanh tin cậy, có sức thu hút. Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Tín ngưỡng,
tôn giáo được tự do, đồng hành cùng dân tộc. Việt Nam là thành viên tích cực,
có trách nhiệm trong phát triển bền vững, trong đấu tranh vì hòa bình thế giới.
PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM “Ở VIỆT NAM KHÔNG CÓ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO” (!)
Đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn
lật đổ, thời gian gần đây, các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền, kích
động trên các phương tiện thông tin đại chúng, với nhiều quan điểm sai trái về
tôn giáo, trong đó có quan điểm: “Ở Việt Nam không có tự do tín ngưỡng tôn
giáo, các tôn giáo bị ngăn cấm, bị o ép”(!). Đây là luận điệu hoàn toàn bịa
đặt, vu khống, đi ngược lại truyền thống đạo lý dân tộc và bản chất chế độ ta;
hoàn toàn bịa đặt sai sự thật những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta
về tín ngưỡng, tôn giáo. Thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam,
luôn coi trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn, quan trọng, mang ý nghĩa lịch sử, các tôn giáo được quan tâm, chăm lo,
phát triển, đã phát huy tốt các giá trị tôn giáo. Các tôn giáo luôn đồng hành
cùng dân tộc.
Việt Nam thực hiện tốt quyền con người
Với chế độ chính trị ưu việt như vậy, hơn 35 đổi mới Việt Nam đã đạt được nhiều thành tưu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật: Kinh tế năng động, tăng trưởng khá cao (khoảng 6%/năm). Chính trị xã hội ổn định, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Các lĩnh vực an sinh xã hội, y tế giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam, v.v. có nhiều chuyển biến tích cực, có mặt khá nổi bật (Xin đơn cử một số thành tựu vì con người ở Việt nam như sau: Trên lĩnh vực kinh tế: Với nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, người dân được công hữu về tư liệu sản xuất, được khỏa sức phát triển kinh tế nhiều thành phần. Kinh tế tư nhân phát triển, chiếm 40% thành phần kinh tế, đóng góp 60% DGP cả nước. Trên lĩnh vực chính trị: Đất nước độc lập, hòa bình, con người được tự do, trật tự an ninh, an toàn xã hội tốt. Đất nước không có khủng bố, biểu tình, xung đột dân tộc, sắc tộc. (người nước ngoài, nhất là các nguyên thủ quốc gia đến Việt nam có thể đi bộ ở công viên, đường phố mà không sợ mất an toàn). Trên lĩnh vực xã hội: Với quan điểm: “Không có ai bị bỏ lại phía sau; sức khỏe, tính mạng, niềm hạnh phúc của con người là trước hết, trên hết”, nên phát triển kinh tế luôn gắn với xã hội và là phát triển bền vững. Thời gian qua chỉ số phát triển con người ở Việt Nam ngày càng cao (tuổi thọ trung bình người dân: 73,6 tuổi (năm 2019); trình độ dân trí ngày càng cao (tốp 40 hàng đầu thế giới về giáo dục- đào tạo); DGP 3500 USD/ người/năm (trước năm 1980 có 180USD/người/năm). Bình đẳng giới luôn được trú trọng (đứng tốp 16 thế giới). Hôn nhân lành mạnh, cơ bản 1 vợ, 1 chồng, xây dựng gia đình “no ấm”, “tiến bộ”, “hạnh phú”, “văn minh”. Các dân tộc: Dân tộc kinh- dân tộc đa số, 53 dân tộc- dân tộc thiểu số bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển. Tôn giáo, tín ngưỡng được tự do (Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016: Tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi người). Thực hiện tốt giảm nghèo. Hiện nay tỷ lệ nghèo đa chiều còn dưới 3%. Bảo hiểm y tế được trú trọng: Bảo đảm khám, chữa bệnh, dịch vụ y tế cho 100% đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người có công với cách mạng, người yếu thế. Bảo hiểm xã hội được trú trọng, nhất là những người neo đơn, không nơi lương tựa. Người dân ngày càng được tiếp cận chất lượng các dịch vụ: điện, đường, trường, trạm, khu vui chơi, nước sạch, thực phẩm an toàn. Nhà ở xã hội (người có thu nhập thấp) được trú trọng, phấn đấu đến năm 2030 về cơ bản giải quyết xong nhà ở xã hội. Chống dịch luôn được trú trọng (Với đại dịch Covid-19: Chống dịch như chống giặc, đã kịp thời khống chế, cơ bản kiểm soát, ngăn chặn được sự lây lan của đại dịch Covid-19 trong cộng đồng- là điểm sang của thế giới trong chống dịch Covid-19). Thực hiện tốt chính sách người có công với cách mạng: 100% các bà mẹ Việt Nam anh hung được các tập thể, cá nhân phụng dưỡng; 90 % người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân nơi cư trú; 98,5% xã , phường làm tốt công tác thương binh liệt sỹ. Trên lĩnh vực văn hóa: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh: người dân được cống hiến trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được bảo vệ tính mạng, tài sản theo hiến pháp, pháp luật.
NẮM VỮNG CHỦ NGHĨA MÁC- LEENIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM
Thời gian gần đây, các thế lực thù địch thường
tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng là: “ở Việt nam không có
chính sách dân tộc”. Đây là luận điệu hoàn toàn bịa đặt, vu khống, đi ngược lại
truyền thống đạo lý dân tộc và bản chất chế độ ta; hoàn toàn bịa đặt sai sự
thật những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về dân tộc, nhất là đối
với đồng bào dân tộc thiểu số.
Như chúng ta đã biết dân tộc là những vấn đề phức
tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế
giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc được giải quyết thành công thì xã hội
mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột,
làm mất ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện
tốt công tác dân tộc, với các chính sách dân tộc thiết thức, tạo động lực to
lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh trong những năm vừa qua trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đặc
biệt trong tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang
đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương
châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế làm mũi nhọn,
ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền làm ngòi nổ,
kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự. Vì vậy, công cuộc đổi mới theo định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam chỉ có thể thành công trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành
động, đồng thời phải xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước và gắn với đặc
điểm của thời đại hiện nay. Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, trước hết đòi
hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, nhìn nhận và đánh giá đúng những vấn đề lý luận
và thực tiễn, trong đó có vấn đề dân tộc đang và sẽ có nhiều biểu hiện mới, đa
dạng, phức tạp, cần giải quyết đúng đắn.
Ở Việt Nam có thiết chế chính trị ưu việt
Tương ứng với nền tảng chính trị, tư tưởng trên, ở
Việt Nam duy nhất có Đảng Cộng sản Việt Nam- đội tiên phong của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam- Người lãnh đạo và là đầy tớ
trung thành của nhân dân. Đảng có đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng” vừa “chuyên”, thay mặt nhân dân xây dựng và
thực hiện công tác quản lý xã hội theo chức năng của Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa- nhà nước của dân do dân và vì dân.
Từ thể chế và thiết chế chính trị ưu việt, nên ở
Việt Nam có chế độ chính trị rất tốt đẹp, với một nền dân chủ ưu việt: mọi
quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[1],
với mục tiêu cách mạng là vì sự nghiệp giải phóng con người, tất cả vì con
người. “Lấy con người là trung tâm và được chia sẻ những thành quả của quá
trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức
mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển và
sức mạnh của nhân dân”[2]
Ở Việt Nam có thể chế chính trị ưu việt
Một xã hội, một quốc gia dân tộc có môi trường sống
(chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng- an ninh) tốt hay không phải
dựa vào đường lối chính trị của xã hội, quốc gia, dân tộc đó (đường lối đó phục
vụ cho ai, giai cấp nào, lực lượng nào cho xã hội). Đường lối chính trị phụ
thuộc vào 2 yếu tố: Thể chế chính trị và thiết chế xã hội. Thể chế chính trị ở
Việt Nam được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin (học thuyết khoa học,
tiến bộ, vì sự giảỉ phóng loài người thoát cảnh bị bóc lột, bất công, cùng cực
trở thành những người chủ của đất nước, xã hội); dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh
- danh nhân văn hóa thế giới, với những tư tưởng được vận dụng sáng tạo học
thuyết Mác- Lênin, kinh nghiệm truyền thống cha ông, tinh hoa văn hóa thế giới;
dựa trên bài học kinh nghiệm quý báu trong quản trị đất nước của các nước trên
thế giới.
LẬT TẨY CHIÊU TRÒ VU CÁO ĐÀN ÁP TÔN GIÁO, ĐÀN ÁP ĐỒNG BÀO
DTTS TÂY NGUYÊN
Ngày 08/4/2023 vừa qua, Cơ quan An
ninh điều tra, Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định khởi tố vụ án “Phá hoại
chính sách đoàn kết” (xảy ra tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) theo quy định
tại Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, khởi tố bị
can đối với đối tượng Aga - đối tượng phản động FULRO lưu vong và khởi tố bị
can, bắt tạm giam đối với đối tượng Y Krếc Byă (thường gọi là Ama Guôn, SN
1978, ở buôn K’nia 2, xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk).
Đây là những đối tượng có âm mưu,
hoạt động phá hoại chính sách đoàn kết; tổ chức hàng trăm buổi hội họp tập huấn
trực tuyến để chỉ đạo thu thập các thông tin, tài liệu xuyên tạc, gây chia rẽ
giữa người dân với chính quyền và lực lượng vũ trang; gây chia rẽ giữa người
dân theo các tôn giáo khác nhau trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng và các tỉnh
Tây Nguyên nói chung.
Việc đối tượng Y Krếc Byă (từng bị
xử phạt 8 năm tù về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết”) nhưng nay lại “ngựa
quen đường cũ” đến nay bị bắt và khởi tố bị can là hoàn toàn đúng quy định pháp
luật, là điều đã được dự báo từ trước về những hoạt động núp bóng lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chố.ng ph.á đất nước dưới vỏ bọc “Hội thánh Tin
lành đấng Christ Tây Nguyên” để hình thành một tín ngưỡng, tôn giáo riêng cho
đồng bào DTTS Tây Nguyên nhằm hoạt động FULRO ch.ống phá chính quyền như mà
cách trước đây họ đã từng làm như “Tin lành Đề ga”.
Vậy nhưng, lợi dụng vụ việc trên một
số trang mạng “Việt Tân”, RFA, “Người Thượng vì Công lý”, “Hmong Human Rights
Coalition”… đồng loạt đăng tải các bài viết để tuyên truyền, xuyên tạc cho rằng
“Nhà cầm quyền tỉnh Đắk Lắk vừa bắt giam và câu lưu một nhóm người Thượng theo
đạo Tin Lành!…”. Thậm chí, lợi dụng vụ việc này Việt Tân còn tuyên truyền, vu
cáo cho rằng đây là minh chứng cho việc Bộ Ngọai giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh
sách các quốc gia cần theo dõi đặc biệt về tôn giáo - SWL. Đây là chiêu trò
quen thuộc của những kẻ thiếu thiện chí đang muốn lợi dụng các vụ việc phức tạp
liên quan đến tôn giáo, dân tộc để nhằm chố.ng ph.á chính quyền mà thôi./.
“DÂN CHỦ KIỂU MỸ” QUA LĂNG KÍNH DONALD TRUMP
Trong các đời Tổng thống Mỹ từ khi nước Mỹ được thành lập cho
đến nay thì có lẽ ông Donald Trump là vị Tổng thống Mỹ gặp phải nhiều “biến cố”
và trớ trêu nhất. Là Tổng thống của đất nước “dân chủ nhất thế giới”, đất nước
luôn tung hộ “tự do và nhân quyền” nhưng lại bị 02 mạng xã hội lớn nhất ở Mỹ,
do người Mỹ điều hành (Facebook và Twitter) “khóa miệng”, khóa trang cá nhân và
phải lập trang mới xã hội mới cho riêng mình (Truth Social). Về phương diện nào
đó thì Mỹ đúng là tự do dân chủ “nhất thế giới” bởi vì đã bịt miệng cả Tổng
thống, bịt miệng người đứng đầu Chính phủ.
Đến khi chuẩn bị ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo
(nhiều nhà phân tích đánh giá có khả năng thắng cử cao) thì lại bị Tòa án khởi
tố, đưa ra xét xử. Đúng thật là trớ trêu.
Mặc dù phiên tòa được thông báo là xét xử công khai nhưng người
thân, bạn bè của ông Donald Trump lại không hề được tham dự; phóng viên báo chí
được lựa chọn 5 người nhưng hoàn toàn là người của tòa án chỉ định, và họ cũng
chỉ được tham gia vài phút trước khi phiên tòa bắt đầu. Vậy đó là phiên tỏa
“kín” hay “hở”, mong các nhà zận chủ Việt trả lời giúp câu hỏi này.
Đồng thời, được biết lực lượng cảnh sát dựng rất nhiều hàng rào
chắn trước phiên tòa, các thiết bị phá sóng cũng đã được kích hoạt, người ta
cấm tuyệt đối việc ghi âm, chụp ảnh trong suốt quá trình xét hỏi ông Donald
Trump. Đất nước “dân chủ, tự do” mà sao tôi cảm thấy chưa được tự do, dân chủ
như những gì người ta hô hào.
Vậy nên, cũng dễ hiểu có những vị Tổng thống, lãnh tụ của các
quốc gia không làm Mỹ hài lòng đã bị “lật đổ”, thay thế bởi người khác (như
Gaddafi, Saddam Husen..). Vì thế, đừng nên nghe những gì Mỹ hô hào mà hãy nhìn
những gì họ làm bởi sự thật thường không thể hiện qua lời nói.