Thứ Hai, 10 tháng 4, 2023

Khóa họp 52 Hội đồng Nhân quyền ghi nhận dấu ấn nổi bật của Việt Nam

Ngày 4/4, tại trụ sở Văn phòng Liên hợp quốc (LHQ) ở Geneva (Thụy Sĩ), Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền LHQ đã kết thúc, hoàn thành chương trình đề ra từ đầu Khóa họp, với 43 nghị quyết được thông qua, trong đó có Nghị quyết về kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna do Việt Nam đề xuất, soạn thảo. Đây là dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong Khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025. Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên là sáng kiến của Việt Nam, được Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đề xuất tại phiên họp cấp cao mở đầu Khóa họp 52 của Hội đồng Nhân quyền tại Geneva ngày 27/2, nhằm khẳng định lại và tăng cường các nỗ lực cũng như hành động hướng tới đạt được những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của hai văn kiện quan trọng nêu trên, cũng như các cam kết chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người. Nghị quyết nhận được sự tham gia đồng bảo trợ Nghị quyết của 98 nước (tính đến cuối giờ chiều 3/4 giờ Geneva), bao gồm 14 nước nòng cốt (Việt Nam, Áo, Bangladesh, Bỉ, Bolivia, Brazil, Chile, Costa Rica, Fiji, Ấn Độ, Panama, Rumani, Nam Phi và Tây Ban Nha), 34 nước thành viên Hội đồng Nhân quyền, các nước phương Tây và nhiều nước đang phát triển từ cả 5 nhóm khu vực, trong đó có hầu hết các nước ASEAN. Nội dung Nghị quyết tập trung vào tầm quan trọng và nhiều nội dung tích cực của Tuyên ngôn và Tuyên bố nêu trên như nhắc lại các nguyên tắc chính về quyền con người của hai văn kiện; phản ánh quan tâm rộng rãi của các nước trong việc kỷ niệm hai văn kiện; nâng cao vị thế, vai trò, hiệu quả hoạt động của Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế nhân quyền LHQ; nhấn mạnh vai trò hàng đầu của các quốc gia trong bảo đảm quyền con người; ghi nhận sự tham gia của phụ nữ, vai trò của hợp tác và đoàn kết quốc tế, tôn trọng sự đa dạng, bao trùm… trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung và trong tham gia công việc của Hội đồng Nhân quyền nói riêng. Nghị quyết cũng đề nghị Cao ủy Nhân quyền LHQ triển khai chương trình hoạt động kỷ niệm Tuyên ngôn và Tuyên bố nêu trên, trong đó có Sự kiện cấp cao của LHQ về quyền con người vào tháng 12/2023 và Báo cáo về các hoạt động kỷ niệm lên Khóa họp 56 Hội đồng Nhân quyền vào đầu năm tới. Trả lời phỏng vấn báo chí ngay sau khi Hội đồng Nhân quyền LHQ thông qua Nghị quyết, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn nhấn mạnh, Nghị quyết là một dấu ấn nổi bật của Việt Nam tại Khóa họp đầu tiên trên cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, thể hiện đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam vào công việc của Hội đồng Nhân quyền. Theo Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn, Nghị quyết đã truyền tải đi nhiều thông điệp lớn và tích cực, trong đó có về hợp tác và đoàn kết quốc tế, tôn trọng tính đa dạng, hoà hợp, qua đó giúp thúc đẩy đồng thuận, hoà hợp, hàn gắn và không khí hợp tác tại Hội đồng Nhân quyền, trong bối cảnh nhiều diễn đàn quốc tế thời gian qua bị chia rẽ sâu sắc, thậm chí chính trị hoá. Việc Việt Nam đề xuất Nghị quyết này tại Hội đồng Nhân quyền rất kịp thời, đáp ứng sự quan tâm của cộng đồng quốc tế về kỷ niệm và đề cao Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna, hai văn kiện quan trọng về quyền con người, thể hiện vai trò Việt Nam là thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền và cộng đồng quốc tế. Việc Nghị quyết được thông qua bằng đồng thuận, có sự đồng bảo trợ của 98 nước cho thấy Nghị quyết thể hiện sự quan tâm và ưu tiên chung của các nước và cộng đồng quốc tế, thu hút được sự hưởng ứng, tham gia ủng hộ của đông đảo các nước, được sự đánh giá cao của các bên. Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, kết quả này có được là nhờ những nỗ lực chủ động, sáng tạo và sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Bộ Ngoại giao và các cơ quan thành viên của Tổ Công tác liên ngành về việc Việt Nam đảm nhiệm vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, giữa trong nước và Phái đoàn Việt Nam tại Geneva, New York và các Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài trong tích cực triển khai tham vấn, trao đổi ở nhiều kênh và nhiều cấp. Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn tin tưởng, Nghị quyết sẽ góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức, quyết tâm và hành động của các nước thành viên và cộng đồng quốc tế trong hiện thực hoá các mục tiêu, tôn chỉ về quyền con người đề ra trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna. Đây cũng là đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam vào công việc của Hội đồng Nhân quyền, đúng như tinh thần phương châm tham gia của Việt Nam đó là: “Tôn trọng và Hiểu biết. Đối thoại và Hợp tác. Tất cả quyền con người cho tất cả mọi người”. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 10/12/1948 với nội dung chính gồm: khẳng định mọi người sinh ra tự do, bình đẳng, không phân biệt, khẳng định các quyền của con người như quyền sống, quyền được xét xử công bằng, không bị tra tấn, không phải làm nô lệ và các quyền khác trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Tuy không phải là văn kiện pháp lý quốc tế nhưng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền là nền tảng để xây dựng luật quốc tế về nhân quyền, trong đó có Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; cũng như được đưa vào các văn kiện về quyền con người của các cơ chế khu vực và vào pháp luật của các quốc gia. Ngày 10/12 sau này trở thành Ngày Nhân quyền quốc tế. Đây là một trong những văn kiện quan trọng nhất của thế kỷ 20, được tất cả các nước thông qua và đã trở thành nền tảng để các quốc gia, trong đó có Việt Nam sử dụng trong quá trình xây dựng các văn kiện liên quan đến việc bảo vệ quyền con người. Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA) được các nước thành viên LHQ thông qua năm 1993, tại hội nghị quốc tế về Nhân quyền được tổ chức tại Vienna (Áo). Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna khẳng định lại các giá trị của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, đồng thời làm rõ việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người phải là ưu tiên cao nhất của mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế; nhấn mạnh trong khi cần tính tới các đặc thù của mỗi quốc gia, xã hội, các quyền con người cần được nhìn nhận là giá trị phổ quát, cần được đánh giá trong mỗi quan hệ cân bằng, phụ thuộc lẫn nhau. Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna cũng khẳng định vai trò của LHQ trong thúc đẩy quyền con người trên thế giới và khởi động cho việc thành lập Cao ủy Nhân quyền LHQ.

Hội đồng Nhân quyền LHQ thông qua Nghị quyết do Việt Nam đề xuất và soạn thảo

Ngày 3/4 (giờ địa phương), tại trụ sở Văn phòng Liên hợp quốc (LHQ) tại Geneva (Thụy Sỹ), Hội đồng Nhân quyền LHQ đã đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo. Theo đó, nghị quyết được thông qua với sự tham gia đồng bảo trợ nghị quyết của 98 nước, bao gồm 14 nước nòng cốt, 34 nước thành viên Hội đồng Nhân quyền, các nước phương Tây và nhiều nước đang phát triển từ cả 5 nhóm khu vực, trong đó có hầu hết các nước ASEAN. Đây là dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025. Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên là sáng kiến của Việt Nam, được Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang đề xuất tại phiên họp cấp cao mở đầu khóa họp 52 của Hội đồng Nhân quyền tại Geneva ngày 27/2 vừa qua, nhằm khẳng định lại và tăng cường các nỗ lực cũng như hành động hướng tới đạt được những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của hai văn kiện quan trọng nêu trên, cũng như các cam kết chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người. Nội dung nghị quyết tập trung vào tầm quan trọng và nhiều nội dung tích cực của Tuyên ngôn và Tuyên bố nêu trên như nhắc lại các nguyên tắc chính về quyền con người của hai văn kiện; phản ánh quan tâm rộng rãi của các nước trong việc kỷ niệm hai văn kiện; nâng cao vị thế, vai trò, hiệu quả hoạt động của Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc; nhấn mạnh vai trò hàng đầu của các quốc gia trong bảo đảm quyền con người; ghi nhận sự tham gia của phụ nữ, vai trò của hợp tác và đoàn kết quốc tế, tôn trọng sự đa dạng, bao trùm… trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung và trong tham gia công việc của Hội đồng Nhân quyền nói riêng. Nghị quyết cũng đề nghị Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc triển khai chương trình hoạt động kỷ niệm Tuyên ngôn và Tuyên bố nêu trên, trong đó có Sự kiện cấp cao của Liên hợp quốc về quyền con người vào tháng 12/2023 và có Báo cáo về các hoạt động kỷ niệm lên Khóa họp 56 Hội đồng Nhân quyền vào đầu năm tới. Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên là sáng kiến của Việt Nam, được Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang đề xuất tại phiên họp cấp cao mở đầu khóa họp 52 của Hội đồng Nhân quyền tại Geneva ngày 27/2 vừa qua, nhằm khẳng định lại và tăng cường các nỗ lực cũng như hành động hướng tới đạt được những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của hai văn kiện quan trọng nêu trên, cũng như các cam kết chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người. Nội dung nghị quyết tập trung vào tầm quan trọng và nhiều nội dung tích cực của Tuyên ngôn và Tuyên bố nêu trên như nhắc lại các nguyên tắc chính về quyền con người của hai văn kiện; phản ánh quan tâm rộng rãi của các nước trong việc kỷ niệm hai văn kiện; nâng cao vị thế, vai trò, hiệu quả hoạt động của Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc; nhấn mạnh vai trò hàng đầu của các quốc gia trong bảo đảm quyền con người; ghi nhận sự tham gia của phụ nữ, vai trò của hợp tác và đoàn kết quốc tế, tôn trọng sự đa dạng, bao trùm… trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung và trong tham gia công việc của Hội đồng Nhân quyền nói riêng. Nghị quyết cũng đề nghị Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc triển khai chương trình hoạt động kỷ niệm Tuyên ngôn và Tuyên bố nêu trên, trong đó có Sự kiện cấp cao của Liên hợp quốc về quyền con người vào tháng 12/2023 và có Báo cáo về các hoạt động kỷ niệm lên Khóa họp 56 Hội đồng Nhân quyền vào đầu năm tới. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 10/12/1948 với nội dung chính gồm: khẳng định mọi người sinh ra tự do, bình đẳng, không phân biệt, khẳng định các quyền của con người như quyền sống, quyền được xét xử công bằng, không bị tra tấn, không phải làm nô lệ và các quyền khác trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Tuy không phải là văn kiện pháp lý quốc tế nhưng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền là nền tảng để xây dựng luật quốc tế về nhân quyền, trong đó có Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; cũng như được đưa vào các văn kiện về quyền con người của các cơ chế khu vực và vào pháp luật của các quốc gia. Ngày 10/12 sau này trở thành Ngày Nhân quyền quốc tế. Đây là một trong những văn kiện quan trọng nhất của thế kỷ 20, được tất cả các nước thông qua và đã trở thành nền tảng để các quốc gia, trong đó có Việt Nam sử dụng trong quá trình xây dựng các văn kiện liên quan đến việc bảo vệ quyền con người. Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) được các nước thành viên LHQ thông qua năm 1993, tại hội nghị quốc tế về Nhân quyền được tổ chức tại Viên. Tuyên bố và Chương trình hành động Viên khẳng định lại các giá trị của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, đồng thời làm rõ việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người phải là ưu tiên cao nhất của mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế; nhấn mạnh trong khi cần tính tới các đặc thù của mỗi quốc gia, xã hội, các quyền con người cần được nhìn nhận là giá trị phổ quát, cần được đánh giá trong mỗi quan hệ cân bằng, phụ thuộc lẫn nhau. Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng khẳng định vai trò của Liên hợp quốc trong thúc đẩy quyền con người trên thế giới và khởi động cho việc thành lập Cao ủy Nhân quyền LHQ.

Những thành tựu cơ bản trong thực hiện tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

 


1) Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ, chức sắc…hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ

2) Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.

3) Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

4) “Các ngành, các cấp đã chủ động tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước”[1]



[1] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị ban chấp hành Trung ương 7, Khóa IX. Nxb CTQG,H.2003, tr46

Hệ thống chính trị vùng dân tộc không ngừng được xây dựng vững chắc, lãnh thổ chủ quyền quốc gia ở vùng biên giới được đảm bảo

 


Hệ thống chính trị vùng dân tộc thiểu số và miền núi không ngừng được xây dựng, củng cố, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tê- xã hội ở địa phương. Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, vùng dân tộc và là người dân tộc thiểu trong hệ thống chính trị từng bước được nâng lên, nhất là cấp cơ sở về số lượng và chất lượng.

Lãnh thổ chủ quyền quốc gia ở vùng biên giới được đảm bảo. An ninh chính trị và trật tự xã hội trong vùng dân tộc cơ bản ổn định. Hiện nay đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số vẫn tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng bào đoàn kết, nâng cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch; đã và đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập với khu vực và thế giới của cả nước.

 

 

 

 

Công tác y tế ở vùng đồng bào đân tộc thiểu số có nhiều tiến bộ

 


Công tác y tế có bước cải thiện đáng kể. Mạng lưới y tế ở vùng dân tộc phát triển. Đến nay nhiều xã đã đạt chuẩn về y tế, có bác sĩ. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu được nâng lên, tiêm chủng mở rộng cho trẻ em được thực hiện đều khắp, nhiều dịch bệnh nguy hiểm được kiểm soát và đẩy lùi như bệnh sốt rét, bạch hầu, uốn ván. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 25%. Đồng bào nghèo được khám, chữa bệnh miễn phí và hưởng chính sách bảo hiểm y tế theo quy định. Đời sống mọi mặt của đồng bào các dân tộc không ngừng được cải thiện đã góp phần nâng cao chất lượng dân số và kiểm soát ban đầu tỷ lệ sinh tăng tự nhiên.

Văn hóa- xã hội phát triển; văn hóa truyền thống được bảo tồn, tiếng nói, chữ viết, tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số được tôn trọng

 


Văn hóa các dân tộc tiếp tục được giữ gìn và phát huy. Thiết chế văn hóa cơ sở nhiều nơi được củng cố gắn với phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới. Đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được nâng lên. Mạng lưới thông tin, phát thanh, truyền hình phủ rộng khắp, giúp người dân tiếp cận được nhiều hơn chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đời sống chính trị- xã hội của đất nước, tiến bộ khoa học- kỹ thuật góp phần quan trọng mở mang dân trí. Các giá trị văn hóa dân tộc được bảo tồn, phát huy góp phần làm phng phú, sống động hơn văn hóa Việt Nam. Nhiều di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận (không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên) và một số di sản được công nhận là di sản quốc gia (sử thi Đam San- Tây Nguyên, Hát then - dân tộc Tầy, Nùng), v.v...

Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023

Đẩy mạnh phát triển sản xuất đồng bào dân tộc thiểu số

 


Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, tình hình đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng nhà nước đã ưu tiên bố trí nguồn lực kết hợp với nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và địa phương để hỗ trợ, đầu tư phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Chỉ tính giai đoạn 2011-2015, Nhà nước đã đầu tư khoảng 135,000 tỉ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước)[1]) giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu. Nhờ đó sản xuất hầu hết các địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi đều phát triển, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng bào đã thay đổi phương thức canh tác truyền thống, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, giống mới có chất lượng, năng xuất cao. Các huyện, xã đều có điển hình sản xuất giởi; một số vùng đã có sản xuất hang hóa với các sản phẩm chủ lực như: cà phê, hồ tiêu, cao su (ở các tỉnh Tây Nguyên); chè, lúa, gạo, cây ăn quả (ở miền núi phía Bắc); cây ăn quả (ở các tỉnh Tây nam Bộ). Việc làm và thu nhập của người dân tăng lên. Nhờ đó tốc độ tang trưởng kinh tế của vùng dân tộc thiểu số và miền núi khá cao; giai đoạn 2016-2018 đạt bình quân 07% và tăng dần hằng năm. Đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm, bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 4%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm 05%-06%/năm trở lên. Giai đoạn 2015-2019, đã có 8/64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính phủ thoát nghèo; 14/30 huyện nghèo hưởng cơ chế theo nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính phủ thoát khỏi tình trạng khó khăn; 124/2.139 xã, 1.322/20.176 thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đầu tư của chương trình 135. Từ năm 2013 -2020, bộ mặt nông thôn cả nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng được đổi thay rõ rệt; thu nhập và điều kiện sống của người dân được cải thiện và nâng cao. Đồng thơi, chính phủ tập trung xây dựng hang vạn công trình nước sạch, trường, lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa, mạng lưới chợ, tạo thuận lợi, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều trường lớp học, trạm y tế đã được xây dựng mới. Đến nay 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4 xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; 100% xã có trường tiểu học và trung học cơ sở; 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,3% xã có trạm y tế; 65,8% số xã và 76,7% số thôn có nhà văn hóa hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng



[1] Ủy ban Dân tộc- Báo cáo đánh giá và triển khai chính sách vùng dân tộc, năm 2016

Những nội dung căn bản trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016

 


Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được quốc hội khóa XIV kỳ họp thức 2 thông qua ngày 18/11/2016 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 9 chương, 68 điều. Các chương đó là: Chương 1: Những quy định chung (gồm 5 điều, từ điều 1 đến điều 5). Chương II: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 6 đến Điều 9). Chương III: Hoạt động tín ngưỡng (gồm 6 điều, Từ Điều 10 đến Điều 15). Chương IV: Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo (gồm 5 điều, từ Điều 16 đến Điều 20). Chương V: Tổ chức tôn giáo (gồm 22 điều, từ Điều 21 đến Điều 42). Chương VI: Hoạt động tôn giáo; hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo (gồm 13 điều, từ Điều 43 đến Điều 55). Chương VII: Tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 56 đến Điều 59). Chương VIII. Quản lý nhà nước và xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo (gồm 6 điều, từ Điều 60 đến Điều 65). Chương IX: Điều khoản thi hành (gồm 3 điều, từ Điều 66 đến Điều 68). Từ nội dung cụ thể chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng như trên đây, Nhà nước còn ra các văn bản hướng dẫn thực hiện, hoặc quy định đối với một số lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng, hoặc một số tôn giáo cụ thể như: Chỉ thị số 01/2005.CT-TTg ngày 04-02-2005 về một số công tác đối với đạo Tin Lành; Chỉ thị số 1940/CT-TTg ngày 31-12-2008 về nhà, đất liên quan đến tôn giáo.

Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mọi người

 


Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mọi người. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định tại Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã được chuyền từ “quyền công dân” theo điều 70 của Hiến pháp năm 1992, thành “quyền con người”, Tại Điều 24 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định: 1)Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2) Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 3) Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo đề vi phạm pháp luật. Như vậy quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là quyền của tất cả mọi người, là quyền con người, và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi. Hiến định như vậy về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chính sách của Nhà nước ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo đã tiệm cận với nhận thức và chính sách chung về tôn giáo của các quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bộ mặt đô thị, nông thôn vùng dân tộc được cải thiện rõ rệt

 


Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bộ mặt đô thị, nông thôn vùng dân tộc được cải thiện rõ rệt. Những năm qua quy mô, mạng lưới trường lớp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được học tập, ăn ở tại trường. Triển khai đề án củng cố các trường phổ thông dân tộc nội trú, đã có nhiều lớp học, phòng phục vụ học tập được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới. Hiện nay có 316 trường phổ thống dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố với 109.245 học sinh, trong đó có khoảng 40 % số trường được công nhân đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục ở các trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được nâng lên qua từng năm học. Trường phổ thông dân tộc bán trú đã được thành lập ở 28 tỉnh, với quy mô 1.097 trường và 185.671 học sinh. Tỷ lệ học sinh bán trú hoàn thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp trung học cơ sở đạt 92%. Có 15,2% số trường phổ thông dân tộc bán trú được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Nguyên tắc tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

 


Trên cơ sở quan điểm của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng, Nhà nước đã đề ra nguyên tắc chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng, đó là 1)Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo, cũng như giữa các tôn giáo khác nhau. 2) Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân. 3) Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ hiến pháp và phá luật; có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam XHCN; gìn giữ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. 4) Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm. Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy. 5) Mọi hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm mất trật tự an toàn xã hội, phương hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống lại Nhà nước gây tổn hại các giá trị đạo đức, lối sống, văn hóa của dân tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân, đều bị xử lý theo pháp luật. Hoạt động mê tín phải bị phê phán và loại bỏ. Quán triệt nguyên tắc chính sách đối với tôn giáo, Đảng, nhà nước ta có những chính sách cụ thể đối với tín ngưỡng tôn giáo như

Quyền tham kiến về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng cao

 


Nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, công tác dân tộc ở nước ta đã đạt những thành tựu quan trọng; tất cả mọi công dân không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giới đều bình đẳng về chính trị, bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống và bình đẳng trước pháp luật. Đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, tôn trọng. các dân tộc tôn trọng, đoàn kết giúp đỡ cùng phát triển, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng bào các dân tộc thiểu số được hưởng các quyền bình đẳng với dân tộc Kinh. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước. Quốc hội khóa 14 có 86 đại biểu quốc hội là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 17,4%; 49/53 dân tộc thiểu số có đại biểu trong Quốc hội; Đại biểu trong hội đồng nhân dân các cấp khoảng 20%. Nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước là người dân tộc thiểu số như Tổng bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, ban bí thư, ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng, Bí thư, Chủ tịch tỉnh,...

Chính sách dân tộc ở Việt Nam toàn diện, kịp thời, liên kết, minh bạch

 


Chỉ tính từ năm 2010- 2015, ngoài những văn bản do quốc hội ban hành, trong đó có những nội dung liên quan đến dận tộc thiểu số, Chính phủ đã ban hành 154 chính sách dân tộc được thể hiện tại 177 văn bản, 37 nghị định và nghị quyết của Chính phủ, 140 quyết định của Thủ tướng chính phủ. Mặc dù số lượng văn bản rất lớn, bao gồm những văn bản chỉ điều chỉnh và áp dụng riêng đối với vùng dân tộc thiểu số và cả những văn bản áp dụng chung đối với mọi đối tượng, trong đó có quy định riêng về việc áp dụng đối với dân tộc thiểu số nhưng trong hệ thống văn bản đó, các nguyên tắc cơ bản xác định quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo quan điểm của Đảng được thể hiện khá đầy đủ. Cùng với tính toàn diện, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc còn thể hiện tính kịp thời, tính liên kết, tính minh bạch. Ở mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật cụ thể khác nhau, một số văn bản (chủ yếu là văn bản dưới luật) có nội dung quy định cụ thể các chế độ, chính sách áp dụng đối với đồng bào dân tộc thiểu số/đồng bào dân tộc thiểu số được sửa đổi, bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và tình hình thực hiện chính sách dân tộc đối với các vùng, miền hoặc các đối tượng cụ thể. Cơ chế chính sách đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy khi thực hiện phân cấp cho địa phương trên cơ sở công khai, minh bạch từ công tác xây dựng, lập kế hoạch dến tổ chức thực hiện. Đối với các địa phương, theo quy trình triển khai văn bản cũng như căn cứ trách nhiệm được quy định, sau khi văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành ở cấp trung ương có hiệu lực, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành hoặc chỉ đạo cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ban hành văn bản để thực hiện các nội dung, quy định, nhiệm vụ về công tác dân tộc trên địa bàn quản lý của mình. Đối với văn bản luật, nghị định, thông tư, ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố thường thông qua hình thức tuyên truyền, phổ biến để triển khai đến nhân dân và áp dụng những quy định luật pháp để điều chỉnh, thống nhất hệ thống quy tắc xử sự chung của các cơ quan, tổ chức và nhân dân. Đối với các văn bản chỉ đạo, điều hành, căn cứ vào nội dung, các địa phương sẽ xây dựng văn bả triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm được giao hoặc tổ chức thực hiện.

Chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta

 


Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người”

Việt Nam thực hiện tốt chính sách dân tộc

 


Đảng ra chủ trương, Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện,các tổ chức đoàn thể tham mưu tổ chức thực hiện. Để thể chế hóa các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp, các bộ luật thể hiện nội dung về chính sách dân tộc. Trong Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thể hiện rõ chính sách đại đoàn kết, quyền bình đẳng của mọi công dân, không phân biệt đối xử với bất kỳ dân tộc nào: “Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện, để chóng tiến kịp trình độ chung”[1]

Hiến pháp năm 1992 của nước ta một lần nữa khẳng định rõ chính sách đoàn kết, không phân biệt và giúp nhau giữa các dân tộc “Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc…Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”[2] Cụ thể hóa các điều quy định trong hiến pháp, Quốc hội đã ban hành nhiều luật liên quan đến quyền lợi các dân tộc thiểu số như: Luật giáo dục, Luật bảo hiểm y tế, Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Luật bình đẳng giới, Luật hôn nhân và gia đình...Nhằm cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, thực hiện chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội cho đồng bào các dân tộc. Kể từ khi đổi mới đến nay, chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc khá đầy đủ, toàn diện trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc, miền núi.



[1] Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, năm 1946 (Điều 8 in trong cuốn Tuyên ngôn độc lập và các bản Hiến pháp Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012).

[2] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Điều 5,Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2012).

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

 


Ngay sau khi giành chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến công tác dân tộc, chính sách dân tộc và tình cảm với đồng bào các dân tộc, thể hiện tư tưởng chỉ đạo về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số Nam Bộ năm 1946, Người viết “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là an hem ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”[1]. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân tộc, chính sách dân tộc được ghi trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về công tác dân tộc, với 5 quan điểm cơ bản như sau:

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Phát triển toàn diện chính trị,  kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh- quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011,tr.4,tr.294

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ

 


Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau. Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới. Địa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, Chăm sống ở đồng bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cứ trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã  và các bản, mường. Hiện nay, hầu như không có một đơn vị hành chính xã, huyện, tỉnh, nào ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng... Phần lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản, mường có tới 3 đến 4 dân tộc cùng sinh sống. Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hòa hợp giữa các dân tộc anh em.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc

 


Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến 01/4/2019 [1]1, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số cả nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt - Mường (còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc Thái, Hoa, Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán chỉ và Giáy di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư  từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia có dân tộc Kheme v.v... Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam… Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam.



[1] Báo cáo của Tổng cục thống kê năm 2019

Quan điểm về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng ta

 


Nhận thức về tầm quan trọng của tôn giáo đối với sự phát triển của xã thời, Đảng ta ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản, trong đó bình đẳng, đoàn kết tôn giáo; phát huy giá trị, nguồn lực của tôn giáo là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới.

Dân thụ hưởng” không phải là khẩu hiệu suông

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung thêm chủ trương “dân thụ hưởng” vào nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là sự khẳng định nhất quán tư tưởng lấy dân làm gốc, người dân là chủ thể, là mục đích, là trung tâm của mọi quá trình phát triển. Thế nhưng trên một số trang mạng, thế lực thù địch và những kẻ phản động cố tình xuyên tạc rằng, phương châm “dân thụ hưởng”, hay “lấy dân làm gốc” mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra là không thực chất, chỉ là mị dân. Nhưng cho dù kẻ xấu có xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, người dân Việt Nam đã và đang thực sự thụ hưởng thành quả cách mạng... CỐ TÌNH XUYÊN TẠC VỚI MƯU ĐỒ XẤU Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên. Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên... SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN Có thể nói, việc “dân thụ hưởng” thành quả cách mạng tại Việt Nam là sự thật không thể phủ nhận. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; gắn kết giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội; dân chủ ngày càng được mở rộng, mỗi người dân luôn được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Người dân thực sự là người chủ đất nước, bao nhiêu lợi ích, bao nhiêu quyền hành đều ở nhân dân. Chính người dân là người làm chủ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng XHCN, đồng thời người dân cũng trực tiếp thụ hưởng giá trị to lớn của quá trình đó. Chúng ta thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta luôn đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối, với mục đích tối thượng là người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt con số biết nói: Năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Báo cáo hạnh phúc thế giới (World Happiness Report-WHR) năm 2023 công bố ngày 20/3/2023 cho thấy chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65 trong năm 2023. Hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người. Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận mục tiêu này và kêu gọi cách tiếp cận toàn diện, công bằng và cân bằng hơn đối với tăng trưởng kinh tế nhằm thúc đẩy hạnh phúc và phúc lợi của tất cả mọi người. Các tiêu chí được đánh giá gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng. Cùng với đó, Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều và hoàn thành trước 10 năm mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020). Chỉ số giáo dục của Việt Nam là 0,618 vào năm 2016 và 0,640 vào năm 2020. Chỉ số thu nhập là 0,624 vào năm 2016 và 0,664 vào năm 2020. Như vậy có thể thấy, mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp, nhưng các chỉ số cơ bản cho quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân tại Việt Nam đều tăng dần qua từng năm, cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững. Theo tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ), chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể. CEOWORLD đánh giá, Việt Nam có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia vào năm 2021. Thứ hạng chỉ số chất lượng sống được CEOWORLD dựa trên nhiều tiêu chí như: Chi phí sống; sự ổn định kinh tế-chính trị; môi trường làm việc; bình đẳng thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế... ĐỘNG LỰC ĐỂ DÂN TIN ĐẢNG Có thể thấy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người, xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý đất nước, xã hội, mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Vì vậy, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mỗi một người dân Việt Nam đang hằng ngày, hằng giờ được thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả đó. Trong xu thế đi lên của đất nước, ai cũng được tạo cơ hội phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, thiên tai khiến đời sống còn khó khăn thì Đảng, Nhà nước có chính sách an sinh xã hội, toàn xã hội đều chung tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mỗi người dân Việt Nam đều được bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đúng như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Như thế, “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nỗ lực lao động, cống hiến để đất nước ngày càng phát triển thì những giá trị mà mỗi người được thụ hưởng sẽ ngày càng lớn hơn./.

Đấu tranh Phản bác các luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam dù là trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc hay trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Do đó, công tác cán bộ cũng luôn được Đảng xác định là khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã chỉ rõ: Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng. Trải qua 10 năm đổi mới, đến Đại hội VIII, trong Văn kiện Đại hội Đảng xác định chủ trương phải: “Sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới”. Đến Đại hội X, từ thực tiễn xây dựng Đảng qua 20 năm đổi mới, một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng rút ra là: “Đảng phải chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ. Phải tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và chính sách. Đặc biệt coi trọng xây dựng cán bộ chủ chốt”. Tại Đại hội XIII, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ có những bước phát triển lớn khi một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng xác định cần phải thực hiện để đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới là: “Đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ-nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ các cấp nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nhằm tạo bước đột phá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3/11/2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ thay thế cho Quy định số 260-QĐ/TW, ngày 2/10/2009 về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ, một mặt nhằm khắc phục những điểm chưa phù hợp của Quy định số 260-QĐ/TW nhưng mặt khác cũng thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong việc xử lý các cán bộ theo hình thức miễn nhiệm, từ chức, từ đó góp phần bổ sung, hoàn thiện hơn nữa các khâu, các quy trình trong công tác cán bộ. Nhờ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ, công tác cán bộ ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và ngày càng dân chủ hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cũng không tránh khỏi việc còn tồn tại một số các hạn chế, yếu kém. Lợi dụng chính các hạn chế, thiếu sót trong công tác cán bộ, các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc hòng chống phá công tác cán bộ của Đảng. Đặc biệt, thời gian qua, trước việc Đảng ta kiên quyết xử lý kỷ luật một số cán bộ cấp cao vì những sai phạm,những luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng lại càng được lợi dụng triệt để. Trên thực tế, trong công tác cán bộ thời gian vừa qua vẫn còn tồn tại một số hạn chế, thiếu sót. Những sai phạm trong thực hiện quy trình cán bộ liên quan đến việc quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, bố trí, sử dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… vẫn còn xảy ra một số cơ quan, đơn vị gây bức xúc trong dư luận xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”. Những hạn chế này có nguyên nhân là bởi một số khâu trong công tác cán bộ chậm được đổi mới; chính sách cán bộ chưa thật sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; chưa có cơ chế hiệu quả để bảo vệ cán bộ dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm… Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do nhận thức và năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ của người đứng đầu ở nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị còn yếu kém và trong nhiều trường hợp còn chịu sự chi phối bởi lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ dẫn đến sai sót trong việc thực hiện các quy trình của công tác cán bộ. Đặc biệt, đối với những cán bộ, đảng viên sai phạm bị xử lý, kỷ luật là do chính họ không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức dẫn đến những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm tổn hại đến lợi ích của đất nước, nhân dân. Đó tuyệt đối không phải là sai lầm của chủ trương, đường lối trong công tác cán bộ của Đảng, lại càng không phải là biểu hiện mất dân chủ, thiếu minh bạch, “áo gấm đi đêm” vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ… như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, tuyên truyền. Mặc dù ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước thì các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ như Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, trong nhiệm kỳ đã đẩy mạnh thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ hơn. Việc chống chạy chức, chạy quyền được coi trọng, có chuyển biến; công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn… Để đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định cần thiết phải triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể như sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo trực tiếp, hoàn thiện công tác cán bộ đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ; tăng cường kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ đặc biệt là đối với người đứng đầu cấp ủy, chống chạy chức, chạy quyền; hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ, tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ; xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động quyết liệt vì những lợi ích chung; xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật Nhà nước cũng như xử lý bằng pháp luật đối với những cán bộ vi phạm kể cả khi cán bộ đó đã chuyển công tác hoặc đã nghỉ hưu; đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc được giao; thực sự coi trọng và thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ đồng thời kiên quyết phòng, chống các biểu hiện bè phái, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ và việc lợi dụng các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng để xuyên tạc sự thật về công tác cán bộ nhằm mục đích kích động, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ… Cần phải nhận thức rõ một thực tế là: không phải ngẫu nhiên một trong các trọng tâm các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá là công tác cán bộ bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”; Công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Điều này đồng nghĩa với việc nếu sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với công tác cán bộ không được ngăn chặn, phản bác kịp thời và hiệu quả sẽ nguy cơ gây rối loạn chính trị - xã hội, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng là góp phần không nhỏ trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./. TS. HOÀNG THU TRANG (nhandan.vn)

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo

 


Như chúng ta đã biết tôn giáo là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề tôn giáo đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác tôn giáo, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

           Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia. Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo trên thế giới. Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình. Người Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo. Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghị và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp. Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, với trên 24 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; hiện có 6 tôn giáo lớn, trong đó có 2 tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể.

Thế giới đánh giá cao thành quả Việt Nam thời gian qua

 


Với nhưng thành tựu nổi bật trên, Việt Nam đã cơ bản hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ do liên hợp quốc đề ra về quyền con người, trong đó có nhiều mục tiêu như: giảm nghèo, y tế, giáo dục hoàn thành trước thời hạn, được đánh giá là điểm sáng của thế giới. Tổng Bí Thư BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đánh giá: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay…

Qua nhiều bài viết, phỏng vấn, hội thảo, đề tài… của nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế uy tín thế giới (Liên hợp quốc; Cao ủy nhân quyền thế giới; Tổ chức y tế thế giới; Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc; Ngân hàng thế giới; tổ chức thương mại thế giới; các tổ chức phi chính phủ… và nhiều cá nhân, đánh giá, ca ngợi Việt Nam trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với nhiều góc cạnh khác nhau. Xin được khái quát như sau: Việt Nam có chế độ chính trị ổn định, yên bình, vì con người, (không để ai bỏ lại phía sau; sức khỏe, tính mạng của con người là trên hết, trước hết). Con người nhân ái, đôn hậu, thông minh, đoàn kết. Nền kinh tế năng động, bền vững trong tốp đầu thế giới, môi trường kinh doanh tin cậy, có sức thu hút. Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Tín ngưỡng, tôn giáo được tự do, đồng hành cùng dân tộc. Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong phát triển bền vững, trong đấu tranh vì hòa bình thế giới.

 

 

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM “Ở VIỆT NAM KHÔNG CÓ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO” (!)

 


Đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thời gian gần đây, các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền, kích động trên các phương tiện thông tin đại chúng, với nhiều quan điểm sai trái về tôn giáo, trong đó có quan điểm: “Ở Việt Nam không có tự do tín ngưỡng tôn giáo, các tôn giáo bị ngăn cấm, bị o ép”(!). Đây là luận điệu hoàn toàn bịa đặt, vu khống, đi ngược lại truyền thống đạo lý dân tộc và bản chất chế độ ta; hoàn toàn bịa đặt sai sự thật những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo. Thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, luôn coi trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng, mang ý nghĩa lịch sử, các tôn giáo được quan tâm, chăm lo, phát triển, đã phát huy tốt các giá trị tôn giáo. Các tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc.

Việt Nam thực hiện tốt quyền con người


Với chế độ chính trị ưu việt như vậy, hơn 35 đổi mới Việt Nam đã đạt được nhiều thành tưu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật: Kinh tế năng động, tăng trưởng khá cao (khoảng 6%/năm). Chính trị xã hội ổn định, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Các lĩnh vực an sinh xã hội, y tế giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam, v.v. có nhiều chuyển biến tích cực, có mặt khá nổi bật (Xin đơn cử một số thành tựu vì con người ở Việt nam như sau: Trên lĩnh vực kinh tế: Với nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, người dân được công hữu về tư liệu sản xuất, được khỏa sức phát triển kinh tế nhiều thành phần. Kinh tế tư nhân phát triển, chiếm 40% thành phần kinh tế, đóng góp 60% DGP cả nước. Trên lĩnh vực chính trị: Đất nước độc lập, hòa bình, con người được tự do, trật tự an ninh, an toàn xã hội tốt. Đất nước không có khủng bố, biểu tình, xung đột dân tộc, sắc tộc. (người nước ngoài, nhất là các nguyên thủ quốc gia đến Việt nam có thể đi bộ ở công viên, đường phố mà không sợ mất an toàn). Trên lĩnh vực xã hội: Với quan điểm: “Không có ai bị bỏ lại phía sau; sức khỏe, tính mạng, niềm hạnh phúc của con người là trước hết, trên hết”, nên phát triển kinh tế luôn gắn với xã hội và là phát triển bền vững. Thời gian qua chỉ số phát triển con người ở Việt Nam ngày càng cao (tuổi thọ trung bình người dân: 73,6 tuổi (năm 2019); trình độ dân trí ngày càng cao (tốp 40 hàng đầu thế giới về giáo dục- đào tạo); DGP 3500 USD/ người/năm (trước năm 1980 có 180USD/người/năm). Bình đẳng giới luôn được trú trọng (đứng tốp 16 thế giới). Hôn nhân lành mạnh, cơ bản 1 vợ, 1 chồng, xây dựng gia đình “no ấm”, “tiến bộ”, “hạnh phú”, “văn minh”. Các dân tộc: Dân tộc kinh- dân tộc đa số, 53 dân tộc- dân tộc thiểu số bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển. Tôn giáo, tín ngưỡng được tự do (Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016: Tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi người). Thực hiện tốt giảm nghèo. Hiện nay tỷ lệ nghèo đa chiều còn dưới 3%. Bảo hiểm y tế được trú trọng: Bảo đảm khám, chữa bệnh, dịch vụ y tế cho 100% đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, người có công với cách mạng, người yếu thế. Bảo hiểm xã hội được trú trọng, nhất là những người neo đơn, không nơi lương tựa. Người dân ngày càng được tiếp cận chất lượng các dịch vụ: điện, đường, trường, trạm, khu vui chơi, nước sạch, thực phẩm an toàn. Nhà ở xã hội (người có thu nhập thấp) được trú trọng, phấn đấu đến năm 2030 về cơ bản giải quyết xong nhà ở xã hội. Chống dịch luôn được trú trọng (Với đại dịch Covid-19: Chống dịch như chống giặc, đã kịp thời khống chế, cơ bản kiểm soát, ngăn chặn được sự lây lan của đại dịch Covid-19 trong cộng đồng- là điểm sang của thế giới trong chống dịch Covid-19). Thực hiện tốt chính sách người có công với cách mạng: 100% các bà mẹ Việt Nam anh hung được các tập thể, cá nhân phụng dưỡng; 90 % người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân nơi cư trú; 98,5% xã , phường làm tốt công tác thương binh liệt sỹ. Trên lĩnh vực văn hóa: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh: người dân được cống hiến trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được bảo vệ tính mạng, tài sản theo hiến pháp, pháp luật. 

NẮM VỮNG CHỦ NGHĨA MÁC- LEENIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

 


Thời gian gần đây, các thế lực thù địch thường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng là: “ở Việt nam không có chính sách dân tộc”. Đây là luận điệu hoàn toàn bịa đặt, vu khống, đi ngược lại truyền thống đạo lý dân tộc và bản chất chế độ ta; hoàn toàn bịa đặt sai sự thật những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về dân tộc, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Như chúng ta đã biết dân tộc là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, với các chính sách dân tộc thiết thức, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế làm mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự.  Vì vậy, công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chỉ có thể thành công trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, đồng thời phải xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước và gắn với đặc điểm của thời đại hiện nay. Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, trước hết đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, nhìn nhận và đánh giá đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn, trong đó có vấn đề dân tộc đang và sẽ có nhiều biểu hiện mới, đa dạng, phức tạp, cần giải quyết đúng đắn.

Ở Việt Nam có thiết chế chính trị ưu việt

 


Tương ứng với nền tảng chính trị, tư tưởng trên, ở Việt Nam duy nhất có Đảng Cộng sản Việt Nam- đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam- Người lãnh đạo và là đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng có đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng”  vừa “chuyên”, thay mặt nhân dân xây dựng và thực hiện công tác quản lý xã hội theo chức năng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa- nhà nước của dân do dân và vì dân.

Từ thể chế và thiết chế chính trị ưu việt, nên ở Việt Nam có chế độ chính trị rất tốt đẹp, với một nền dân chủ ưu việt: mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[1], với mục tiêu cách mạng là vì sự nghiệp giải phóng con người, tất cả vì con người. “Lấy con người là trung tâm và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân”[2]



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQGST, H.2021.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, Nxb CTQGST, H.2021.

 

 

Ở Việt Nam có thể chế chính trị ưu việt

 


Một xã hội, một quốc gia dân tộc có môi trường sống (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng- an ninh) tốt hay không phải dựa vào đường lối chính trị của xã hội, quốc gia, dân tộc đó (đường lối đó phục vụ cho ai, giai cấp nào, lực lượng nào cho xã hội). Đường lối chính trị phụ thuộc vào 2 yếu tố: Thể chế chính trị và thiết chế xã hội. Thể chế chính trị ở Việt Nam được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin (học thuyết khoa học, tiến bộ, vì sự giảỉ phóng loài người thoát cảnh bị bóc lột, bất công, cùng cực trở thành những người chủ của đất nước, xã hội); dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa thế giới, với những tư tưởng được vận dụng sáng tạo học thuyết Mác- Lênin, kinh nghiệm truyền thống cha ông, tinh hoa văn hóa thế giới; dựa trên bài học kinh nghiệm quý báu trong quản trị đất nước của các nước trên thế giới.

 


MỆNH LỆNH LỊCH SỬ CHO NGÀY TOÀN THẮNG

Cách đây 48 năm, 9 giờ 30 sáng 7/4/1975, tại Tổng hành dinh Sở Chỉ huy chiến dịch - Nhà D67, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tự tay thảo bức điện 157/ĐK gửi các cánh quân:

"1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.

2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sỹ."

Bức điện lập tức được giao ban cơ yếu mã hóa. Đồng chí Nguyễn Bá Líu - chiến sỹ báo vụ Lữ đoàn 25 là người trực tiếp được truyền tải bức điện đó tới chỉ huy các cánh quân tham gia giải phóng miền Nam.

Chỉ với 40 từ, vô cùng ngắn gọn nhưng Bản Mệnh lệnh đã xác định rõ mục tiêu phải đạt được, đồng thời chỉ rõ phương châm hành động để đạt được mục tiêu đó: Đã thần tốc rồi, cần thần tốc hơn nữa! Đã táo bạo rồi cần táo bạn hơn!

Mật lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa là mệnh lệnh, vừa là lời hịch cổ vũ tinh thần đối với cán bộ, chiến sỹ trên chiến trường vào thời điểm vô cùng quan trọng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. 

 

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ VU CÁO ĐÀN ÁP TÔN GIÁO, ĐÀN ÁP ĐỒNG BÀO DTTS TÂY NGUYÊN

Ngày 08/4/2023 vừa qua, Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định khởi tố vụ án “Phá hoại chính sách đoàn kết” (xảy ra tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, khởi tố bị can đối với đối tượng Aga - đối tượng phản động FULRO lưu vong và khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với đối tượng Y Krếc Byă (thường gọi là Ama Guôn, SN 1978, ở buôn K’nia 2, xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk).

Đây là những đối tượng có âm mưu, hoạt động phá hoại chính sách đoàn kết; tổ chức hàng trăm buổi hội họp tập huấn trực tuyến để chỉ đạo thu thập các thông tin, tài liệu xuyên tạc, gây chia rẽ giữa người dân với chính quyền và lực lượng vũ trang; gây chia rẽ giữa người dân theo các tôn giáo khác nhau trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng và các tỉnh Tây Nguyên nói chung.

Việc đối tượng Y Krếc Byă (từng bị xử phạt 8 năm tù về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết”) nhưng nay lại “ngựa quen đường cũ” đến nay bị bắt và khởi tố bị can là hoàn toàn đúng quy định pháp luật, là điều đã được dự báo từ trước về những hoạt động núp bóng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chố.ng ph.á đất nước dưới vỏ bọc “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” để hình thành một tín ngưỡng, tôn giáo riêng cho đồng bào DTTS Tây Nguyên nhằm hoạt động FULRO ch.ống phá chính quyền như mà cách trước đây họ đã từng làm như “Tin lành Đề ga”.

Vậy nhưng, lợi dụng vụ việc trên một số trang mạng “Việt Tân”, RFA, “Người Thượng vì Công lý”, “Hmong Human Rights Coalition”… đồng loạt đăng tải các bài viết để tuyên truyền, xuyên tạc cho rằng “Nhà cầm quyền tỉnh Đắk Lắk vừa bắt giam và câu lưu một nhóm người Thượng theo đạo Tin Lành!…”. Thậm chí, lợi dụng vụ việc này Việt Tân còn tuyên truyền, vu cáo cho rằng đây là minh chứng cho việc Bộ Ngọai giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần theo dõi đặc biệt về tôn giáo - SWL. Đây là chiêu trò quen thuộc của những kẻ thiếu thiện chí đang muốn lợi dụng các vụ việc phức tạp liên quan đến tôn giáo, dân tộc để nhằm chố.ng ph.á chính quyền mà thôi./.

 

 

 

“DÂN CHỦ KIỂU MỸ” QUA LĂNG KÍNH DONALD TRUMP

Trong các đời Tổng thống Mỹ từ khi nước Mỹ được thành lập cho đến nay thì có lẽ ông Donald Trump là vị Tổng thống Mỹ gặp phải nhiều “biến cố” và trớ trêu nhất. Là Tổng thống của đất nước “dân chủ nhất thế giới”, đất nước luôn tung hộ “tự do và nhân quyền” nhưng lại bị 02 mạng xã hội lớn nhất ở Mỹ, do người Mỹ điều hành (Facebook và Twitter) “khóa miệng”, khóa trang cá nhân và phải lập trang mới xã hội mới cho riêng mình (Truth Social). Về phương diện nào đó thì Mỹ đúng là tự do dân chủ “nhất thế giới” bởi vì đã bịt miệng cả Tổng thống, bịt miệng người đứng đầu Chính phủ.

Đến khi chuẩn bị ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo (nhiều nhà phân tích đánh giá có khả năng thắng cử cao) thì lại bị Tòa án khởi tố, đưa ra xét xử. Đúng thật là trớ trêu.

Mặc dù phiên tòa được thông báo là xét xử công khai nhưng người thân, bạn bè của ông Donald Trump lại không hề được tham dự; phóng viên báo chí được lựa chọn 5 người nhưng hoàn toàn là người của tòa án chỉ định, và họ cũng chỉ được tham gia vài phút trước khi phiên tòa bắt đầu. Vậy đó là phiên tỏa “kín” hay “hở”, mong các nhà zận chủ Việt trả lời giúp câu hỏi này.

Đồng thời, được biết lực lượng cảnh sát dựng rất nhiều hàng rào chắn trước phiên tòa, các thiết bị phá sóng cũng đã được kích hoạt, người ta cấm tuyệt đối việc ghi âm, chụp ảnh trong suốt quá trình xét hỏi ông Donald Trump. Đất nước “dân chủ, tự do” mà sao tôi cảm thấy chưa được tự do, dân chủ như những gì người ta hô hào.

Vậy nên, cũng dễ hiểu có những vị Tổng thống, lãnh tụ của các quốc gia không làm Mỹ hài lòng đã bị “lật đổ”, thay thế bởi người khác (như Gaddafi, Saddam Husen..). Vì thế, đừng nên nghe những gì Mỹ hô hào mà hãy nhìn những gì họ làm bởi sự thật thường không thể hiện qua lời nói.