Thứ Hai, 17 tháng 4, 2023

PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA”


Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác tuyên giáo năm 2022, triển khai nhiệm vụ năm 2023, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã yêu cầu ngành tuyên giáo không được để xảy ra "vùng trắng" về công tác tư tưởng.

"Vùng trắng" công tác tư tưởng của Đảng trên Facebook được hiểu là những quan điểm, ý kiến sai trái, thù địch, không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng nhưng vẫn công khai và lan truyền thiếu sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. Hiện nay, tại Việt Nam, các thế lực phản động, thù địch đã và đang ra sức tạo dựng những “vùng trắng” công tác tư tưởng trên Facebook, nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tế đó đòi hỏi hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong các đơn vị Quân đội phải có biện pháp phòng, chống hữu hiệu. 


 🌾Hệ lụy khôn lường từ những "vùng trắng"


 Cho đến nay, Facebook trở thành một trong những mạng xã hội có lượng người tải và sử dụng đứng đầu trên thế giới. Tại Việt Nam, theo thống kê đến tháng 2-2022, số người dùng Facebook khoảng 70,4 triệu người. Đây là con số cho thấy mức độ phổ biến sâu rộng của mạng xã hội này tại Việt Nam. Bên cạnh những lợi ích mang lại cho người dùng, Facebook gây nhiều tác động tiêu cực, đặc biệt, các thế lực thù địch đã và đang ra sức tạo dựng những “vùng trắng” công tác tư tưởng của Đảng để thực hiện âm mưu chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. 


Biểu hiện rõ nhất các "vùng trắng" công tác tư tưởng của Đảng trên Facebook là những sản phẩm chứa nguồn thông tin bịa đặt, vu cáo, biến trắng thành đen, vàng thau lẫn lộn. Lợi dụng tính năng lan truyền thông tin nhanh chóng của mạng xã hội theo cấp số nhân, những người mang ý đồ xấu đăng tải, tán phát ồ ạt các tin, bài, video clip với những tiêu đề “gây sốc”, “giật gân” về các vấn đề dư luận quan tâm. Loại thông tin này hoàn toàn không có thật, hoặc pha trộn giữa thật và giả. Tuy nhiên, với những ngôn từ “ma mị”, nguồn thông tin này vẫn thu hút được sự quan tâm, theo dõi, tìm đọc của một bộ phận người dân. Nhiều bài viết, video clip đăng tải có hàng nghìn, hàng triệu người xem, hàng trăm lượt thích, chia sẻ, bình luận. Thực tiễn cho thấy, các tin, bài kiểu như: "Trùm cuối Việt Á", "Nóng rực cuộc đua “Tổng bí thư” bắt đầu", "Nóng: Lộ diện đầu mối 4 tiếp viên hàng không"... đang ngày càng phổ biến và lan truyền nhanh chóng. Thủ đoạn của kẻ xấu là thành lập các trang như: Sự thật 24h, Tin nóng Việt, Tin nóng 24h, Người Việt 5 châu, Tin tức mới nhất 2023, Nhật ký bí ẩn, Đại Việt 24h... sau đó lựa chọn kết nối những người có học hàm, học vị nhưng có tư tưởng chống đối, cực đoan để viết bài, tạo lập video clip xuyên tạc, chống phá. Điều đáng lo ngại là khi người dùng truy cập vào các trang này, Facebook sẽ tự động phân tích, lưu trữ; sử dụng các thuật toán để đưa ra đề xuất tiếp theo cho người dùng về những nội dung mà họ quan tâm, chẳng hạn như các bài viết, nhóm hoặc trang mới để theo dõi. Các thế lực phản động, thù địch tận dụng tối đa tính năng tự động cập nhật và cung cấp thông tin của Facebook, lần lượt tung ra các video, bài viết mới hòng hướng lái dư luận. Nguy hiểm hơn là các tin, bài mới này có sự gắn kết với các thông tin mà họ đưa ra trước đó.


Ảnh minh họa: TTXVN 

Ảnh minh họa: TTXVN 

 


Những nguồn thông tin tiêu cực này ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức của một bộ phận người dùng mạng xã hội, làm cho họ có cách nhìn sai lầm, lệch chuẩn. Thậm chí, khi được chia sẻ rộng rãi, nó có thể gây tư tưởng hoang mang, dao động, bất mãn, xói mòn niềm tin của nhân dân và một số cán bộ, đảng viên vào đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì sẽ dẫn tới nguy cơ “mưa dầm thấm đất”, các loại thông tin xấu độc, phản động sẽ ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trong cộng đồng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đáng chú ý, hiện nay, các nguồn thông tin xấu độc trên mạng xã hội Facebook luôn đi trước các thông tin trên báo chí và phương tiện truyền thông chính thống, tạo ra sự hoài nghi trong dư luận xã hội.


Không chỉ thực hiện âm mưu đánh vào tư tưởng, nhận thức của người dân mà nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch, phản động đang tận dụng tối đa các "vùng trắng" về công tác tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội Facebook để tiêm nhiễm những tư tưởng tiêu cực vào đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội, hòng thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa Quân đội”. Đây là âm mưu hết sức thâm độc, bởi cán bộ, đảng viên trong Quân đội là những người trực tiếp tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy các cấp triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; trực tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân.


 🍇Cách làm ở Sư đoàn 315


Thời gian qua, để hạn chế, ngăn chặn ảnh hưởng của “vùng trắng” công tác tư tưởng đến nhận thức, thái độ, tinh thần, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 315 đã phát huy tốt vai trò của Ban chỉ đạo 35 (BCĐ 35) trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tập trung vào các nội dung sau: 


Một là, phát huy tốt vai trò tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo của từng thành viên BCĐ 35 gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao; chú trọng thực hiện tốt công tác nắm bắt tình hình tư tưởng dư luận, giáo dục chính trị tư tưởng, xem đây là biện pháp “đi trước mở đường”, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có nhận thức đúng, khả năng “miễn dịch” trước các luồng thông tin phản động, tiêu cực trên mạng xã hội. Đặc biệt, đối với những thông tin nhạy cảm, phức tạp, BCĐ 35 đã kịp thời tham mưu cho lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn tổ chức sinh hoạt chính trị tư tưởng, định hướng cho cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng đắn về từng vấn đề theo quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng. Từ năm 2022 đến nay, BCĐ 35 đã tham mưu cho Đảng ủy Sư đoàn tổ chức 6 đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng, nội dung tập trung thông tin về hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; phân tích, làm rõ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch đồng thời khẳng định tính đúng đắn, nhân văn, cách mạng trong đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng, nhất là trong công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; công tác cán bộ; công tác đối ngoại.


Hai là, thường xuyên cung cấp cho cán bộ, đảng viên và quần chúng những thông tin chính thống trên các phương tiện thông tin đại chúng. Để hình thành mạng lưới thông tin tích cực, BCĐ 35 đã xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện tốt Chuyên mục “Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống” trên chương trình phát thanh nội bộ hằng ngày ở cấp tiểu đoàn, trung đoàn và tương đương; duy trì thực hiện tốt chế độ đọc báo, nghe tin, xem thời sự và các hoạt động công tác tuyên truyền miệng (sinh hoạt đơn vị, sinh hoạt các tổ chức, thông báo chính trị-thời sự tuần, tháng). Thông qua đó đã kịp thời lan tỏa sâu rộng đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị mà trước hết là nâng cao nhận thức, tâm huyết, trách nhiệm, tình cảm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất cao, hành động đúng. Nhờ đó, khi tiếp cận các nguồn thông tin xấu độc do các thế lực phản động, thù địch tán phát, cán bộ, đảng viên luôn có nhận thức đúng đắn, tinh thần cảnh giác cao, phân biệt được đúng, sai, thật, giả, phải, trái, không hoang mang, dao động.


Ba là, hình thành các trang, nhóm học tập, tuyên truyền trên mạng xã hội Facebook, những nội dung được đăng tải luôn mang tính tuyên truyền, giáo dục cao, được thẩm định và kiểm duyệt chặt chẽ trước khi lan tỏa đến cán bộ, chiến sĩ và cộng đồng mạng. Đến nay, nhóm “Lời Bác Hồ dạy”, “Mỗi tuần một điều luật” trên Facebook có hàng trăm thành viên là cán bộ, đảng viên trong đơn vị tham gia học tập; trang fanpage “Dũng sĩ Núi Thành” có hơn 14.000 người theo dõi và truy cập, trở thành địa chỉ uy tín cung cấp thông tin chính thống đến với người dùng mạng xã hội Facebook. Với tinh thần “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy thông tin chính thống khắc chế thông tin sai lệch”, Ban biên tập thuộc BCĐ 35 đã đăng tải hàng trăm tin, bài, video clip về các vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chia sẻ về các việc làm, hành động tốt đẹp của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, những tấm gương người tốt-việc tốt trong xã hội thu hút được sự quan tâm, theo dõi, tìm đọc của cộng đồng mạng.


Bốn là, phát huy tốt hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội trên không gian mạng trong Quân đội. Tổ chức điều hành theo quy chế, cơ chế tập trung, thống nhất về lãnh đạo, chỉ đạo, nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động; thường xuyên lựa chọn và kiện toàn lực lượng có đủ số lượng, chất lượng; chú trọng bồi dưỡng trình độ, kỹ năng, phương pháp đấu tranh; thành lập nhóm để hiệp đồng đấu tranh, chia sẻ thông tin, phân công rõ trách nhiệm cho từng thành viên để theo dõi, kịp thời xử lý, định hướng thông tin liên quan đến các vấn đề mang tính thời sự, những luận điệu xuyên tạc hoặc những tin đồn tiêu cực mà cán bộ, chiến sĩ và người dùng mạng xã hội quan tâm; chỉ đạo thực hiện các biện pháp đấu tranh theo phương châm “kiên quyết, kiên trì, liên tục, triệt để và có sức thuyết phục” để định hướng, phản bác kịp thời với các nguồn thông tin xấu độc; ngăn chặn sự xâm nhập, thẩm lậu của các luồng tư tưởng tiêu cực, phản văn hóa vào đơn vị.


Ngăn chặn “vùng trắng” công tác tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội Facebook nói riêng và trên các trang mạng xã hội khác nói chung là việc làm khó khăn và phức tạp. Vì vậy, ngoài sự vào cuộc của các cơ quan chức năng trong việc quản lý thông tin, cần phát huy tốt hơn nữa hiệu quả hoạt động của BCĐ 35 các cấp, tinh thần, trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và đông đảo người dùng mạng xã hội. Thiết nghĩ, nếu mỗi người dùng mạng xã hội đều có cách nhìn nhận đúng đắn theo quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng và lợi ích quốc gia, dân tộc thì sẽ hạn chế được ảnh hưởng của các “vùng trắng” công tác tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội, xây dựng môi trường văn hóa mạng trong sạch, lành mạnh; góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

TIẾC CHO MỘT NHÂN TÀI!

         Ông Nguyễn Quang Tuấn (Tuấn “tim”) giám đốc bệnh viện Bạch Mai trong phiên tòa sáng nay. Chân đi đôi dép tổ ong, mái tóc bạc phờ phạc, rất khó để người ta nhận ra ông Tuấn "tim" - một nickname như sự thừa nhận một đôi tay vàng trong làng phẫu thuật tim.
     Ông Tuấn từng là một bác sĩ giỏi, rất giỏi không chỉ của bệnh viện Tim mà còn ở trong khu vực. Từng giành giải nhất Nhân tài đất Việt lĩnh vực y tế với đề tài “Can thiệp động mạch vành qua đường ống thông (đặt stent)”, biến viện Tim là cơ sở tầm cỡ của châu lục và thế giới.
     Đáng nhẽ, ông chỉ nên dừng ở góc độ một chuyên gia, chứ đừng trở thành "nhà quản lí". Bởi vì là một bác sĩ giỏi sẽ rất khác một giám đốc giỏi. Bác sĩ, anh chỉ cần đối mặt với vấn đề chuyên môn, còn giám đốc - anh phải đối mặt với vô vàn thứ, từ chuyên môn đến đấu thầu, quản lý nhân sự đến quản lý tài sản công,...
     Chẳng ai, từ công an đến ngành y tế có thể vui mừng khi một bác sĩ giỏi phải sống nốt những tháng ngày trong đời ở trong tù. Nếu ở bên ngoài trại giam, anh ta đã có thể cứu được hàng trăm người bệnh nhân nữa. Nhưng pháp luật là nghiêm minh, mọi sai lầm phải trả giá, dù anh có bàn tay vàng, là bác sĩ đầu ngành, công dân ưu tú Thủ đô.
     Tài và đức, nó phải đi cùng với nhau, không thể khác được./.
Môi trường (Yn) ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: GỬI NHỮNG NGƯỜI HUYỄN HOẶC BẢN THÂN!

     Đã là cái giống người thì chắc chắn ai cũng muốn mình được khen, được tâng bốc. Tất nhiên là nếu bạn làm đúng, làm tốt thì bạn rất xứng đáng với lời khen, nếu bạn làm chưa tốt thì chắc hẳn sẽ đối diện với những lời chê bai. Ngày xưa khi trị quân, các tướng soái giỏi thường đưa ra các tiêu chí để thưởng, phạt thật phân minh. Có công được thưởng, có tội phải phạt. Thế mới bảo đảm được việc duy trì quân kỷ nghiêm minh, khích lệ tướng sĩ, đồng thời đặt ra những chuẩn mực để không ai dám vi phạm quân lệnh.

Khen, chê, thưởng phạt đúng mực, đó cũng là cái trí của kẻ cầm cân nảy mực. Nước Việt thời Trần, huy hoàng khi 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông. Hào khí Đông A ngút trời Á Đông, vì Hưng Đạo Vương biết khích lệ binh sĩ, thưởng phạt phân minh. Cả nước đồng lòng nhất trí để "SÁT THÁT".  

Cổ nhân dạy “thần thiêng nhờ bộ hạ” hay nhất tướng công thành vạn cốt khô. Có nghĩa là tướng soái hay lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ hay không phần lớn phải dựa vào cấp dưới. Càng làm lớn càng phải khiêm tốn, đó là cơ trí của bậc nhân giả. Cơ quan, đơn vị chỉ khen mỗi lãnh đạo mà bỏ quên cấp dưới, những người đã tận tâm tận lực hỗ trợ, tham mưu, giúp việc cho mình thì cần xem lại. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là đại danh tướng, cổ kim hiếm gặp, lãnh đạo quân dân nhà Trần ba lần chiến thắng Nguyên Mông nhưng chắc chắn một mình Đức Thánh Trần thì dù tài giỏi nhưng cũng không thể một mình bạt sơn lấp biển. Hưng Đạo Vương có ngũ đại hổ tướng là Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô, Cao Mang, Đại Hành và quân dân nhà Trần giúp sức thì mới chiến thắng giặc.

Hưng Đạo Vương nói với các tướng rằng: "Chim hồng hộc muốn bay cao tất phải nhờ ở 6 trụ xương cánh. Nếu không có 6 trụ xương cánh ấy thì cũng chỉ như chim thường mà thôi". Câu này ý muốn so sánh Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô, Cao Mang, Đại Hành với những cánh chim hồng hộc. Mặc dù xuất phát với thân phận gia nô nhưng tận trung vì đại nghĩa cứu nước, ai dám bảo Yết Kiêu và Dã Tượng không thể sánh ngang hàng với các bậc hào kiệt khác, không xứng được tôn vinh. Có thể nói sở dĩ có được các bậc anh hùng cái thế như chính Trần Quốc Tuấn, tất trước phải có sự trợ thủ đắc lực của những người như Dã Tượng, Yết Kiêu…

Nếu muốn cơ quan, đơn vị vững mạnh, đất nước này có thể “bay cao, bay xa” như chim Hồng Hộc thì cần thiết phải có “sáu cái trụ xương cánh”, “sáu cái trụ xương cánh” ấy hiểu theo nghĩa rộng thì chính là hơn 96 triệu dân Việt Nam và gần 5 triệu đồng bào ở hải ngoại phải vì đại cục chung của đất nước; nghĩa hẹp nghĩa là các chuyên viên, người lao động, phóng viên, nhân viên…Trưởng khen phó rồi phó khen trưởng mà quên mất những cái trụ xương cánh thì đáng chê chứ chẳng có gì đáng khen cả. Cụ Hồ Chí Minh trên ngực áo không một tấm huân chương nhưng vĩ đại như biển rộng, như núi cao. Trong lòng sản sinh kiêu ngạo, giống như dây leo sinh trưởng trong bóng tối, lặng lẽ nuốt chửng con tim chính trực, che lấp ánh mắt thông suốt khi nhìn nhận bản thân và ánh mắt khiêm tốn khi nhìn nhận thế giới. Đáng chê ./.
Yêu nước ST.

“VIỆT NAM NÊN DÙNG VŨ LỰC VÀ LIÊN MINH QUÂN SỰ VỚI MỸ ĐỂ BẢO VỆ VÀ ĐÒI LẠI CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO”. ĐÓ LÀ LUẬN ĐIỆU CỦA KẺ BẤT TRÍ, PHẢN QUỐC!

         Nhân ngày 14/3 vừa qua, ngày Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm đảo Gạc Ma của chúng ta; các thế lực thù địch dùng truyền thông, báo chí, các trang mạng xã hội cho rằng “Cộng Sản Việt Nam hèn nhát, không dám đánh Trung Quốc để đòi lại các đảo đã mất”. Từ đó họ cho rằng, muốn lấy lại biển đảo thì cách duy nhất là liên minh quân sự với Hoa Kỳ. Nhân chuyện này, có nhiều tổ chức cá nhân ở hải ngoại và trong nước "bày tỏ" cố tình chống phá chính sách của Đảng và nhà nước dưới vỏ bọc "nhân sĩ trí thức yêu nước"... Xin có đôi lời như sau:
     Ngày 14/3/1988, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta. 64 chiến sĩ đã chiến đấu và hy sinh anh dũng, nắm tay nhau tạo thành vòng tròn bất tử giữa trùng khơi sóng gió. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn những người con anh dũng của tổ quốc, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ chủ quyền biển, đảo quê hương! Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, đó là chân lý không thể thay đổi. Tuy nhiên hiện nay Hoàng Sa trong thực tế do Trung Quốc chiếm đoạt trong tay ngụy Sài Gòn từ 1956 và năm 1974; một số đảo ở Trường Sa do Trung quốc chiếm và kiểm soát từ 1988 đến nay. 
      Không quốc gia nào trên thế giới công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc vì rõ ràng là nó thuộc về Việt Nam kể từ thời Lê Thánh Tông (Hồng Đức bản đồ năm 1490 đã xác lập chủ quyền). Chúng ta luôn đấu tranh từng ngày để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải; trong đó có vấn đề Trường Sa và Hoàng Sa bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hiệp quốc về luật Biển năm 1982… Cần khẳng định rằng, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của người Việt Nam phải do chính người Việt Nam tự bảo vệ. Bác Hồ dạy “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Tự lực cánh sinh, tranh thủ ủng hộ quốc tế là bài học giữ nước từ ngàn xưa.
     Từ cổ chí kim, từ đông sang tây xưa nay bất cứ quôc gia nào trong lịch sử nhân loại được coi là hùng cường, khi và chỉ khi quốc gia đó tự đứng vững trên đôi chân của mình, khẳng định được sức mạnh thật sự bằng nội lực, chứ không thể trông chờ nước khác đến bảo vệ mình:
     Muốn bàn về vấn đề của người Trung Quốc, hãy ngược dòng lịch sử của chính người Trung Quốc để hiểu họ! Binh thư có câu “biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”. Thời Tam quốc bên tàu, Lưu Chương ở Ích châu và Trương Lỗ ở Hán Trung là hàng xóm, láng giềng của nhau. Trương Lỗ có thực lực mạnh hơn thường hay mang quân xâm phạm Ích châu của Lưu Chương. Thay vì trấn an lòng dân, tập trung huấn luyện binh lực để đối phó với Trương Lỗ thì Lưu Chương lại chọn cách mời Lưu Bị mang quân từ Kinh Châu vào Xuyên Thục để giúp mình đánh Trương Lỗ, dù cho mưu sĩ khuyên can, Lưu Chương vẫn không nghe. Lưu Bị vui mừng nhận lời vì Lưu Chương trúng kế (kế của Bàng Thống và Trương Tùng, Pháp Chính là muốn Lưu Bị lấy đất Xuyên Thục để cùng với đất Kinh Châu tạo thành một thế lực đủ sức đối trọng với Tào Tháo và Tôn Quyền). 
     Mượn cớ Lưu Chương không cung cấp đủ lương thảo cho mình để đánh Trương Lỗ… Lưu Bị mạng binh quay lại đánh chiếm và đoạt được Ích Châu của Lưu Chương. Lưu Chương mất cả Xuyên Thục trong tay người anh em cùng dòng dõi Hán thất của mình, đau đớn tột độ, ngửa mặt lên trời mà than khóc nhưng mọi sự đã quá muộn mạng. Đó chính là chưa đuổi được beo cửa trước đã rước sói vào cửa sau. Họa mất nước đến từ quyết định sai lầm của Lưu Chương, kẻ bất trí vì đã rước giặc vào nhà. Vậy nên nếu chúng ta dựa vào Mỹ để chống Trung Quốc thì không chắc đảo có giữ được hay không nhưng chắc chắn là chúng ta sẽ phải làm chư hầu của Hoa Kỳ, có khi đất nước ta lại chẳng rơi vào tay người Mỹ đó chăng. Hàn Quốc và Nhật Bản hiện nay dù kinh tế phát triển hùng mạnh nhưng không tự bảo vệ được mình; Hàn phải trả 5 tỷ USD, Nhật trả 8 tỷ USD mỗi năm để được quân đội Mỹ bảo vệ. Nếu làm đồng minh của Mỹ để chống Trung Quốc thì đó sẽ là món quà lớn đối với Trung Quốc, họ có cớ để tấn công chúng ta trên tất cả các lĩnh vực. Bài học Ukraine trước mắt vẫn rất nóng hổi. Việt Nam - Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông. Đó là điều bất biến, vật có thể đổi, sao có thể dời nhưng chắc chắn Việt - Trung mãi mãi là láng giềng; chung sống hòa bình vẫn sẽ là lựa chọn khôn ngoan nhất, tối ưu nhất! 
     Chính sách "Bốn không" mà Việt Nam lực chọn đó là: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực đối với nước khác. Đây là chính sách thể hiện sự cơ trí và hợp thời thế của chúng ta. Việt Nam muốn bảo vệ độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ đồng thời giữ môi trường hòa bình, thân thiện với tất cả các nước trên thế giới. Vừa bảo vệ được chủ quyền vừa tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế, đó có thể xem là thượng sách để giữ nước vậy! Chúng ta không theo tàu để chống Mỹ, không theo Mỹ để chống tàu. Việt Nam viễn giao, cận giao vì hơn ai hết người Việt hiểu rõ và trân quý nhất giá trị của hòa bình, độc lập, chúng ta đã chịu quá nhiều mất mát, khổ đau do chiến tranh gây ra. 
     Trong bối cảnh toàn cầu hóa, muốn bảo vệ chủ quyền biển, đảo, chúng ta phải phát huy tinh thần tự lực, tự cường và phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao tính chính nghĩa, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế, “kiên quyết, kiên trì đấu tranh”, tăng cường hợp tác quốc tế, “tạo sự đan xen lợi ích”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Và cũng cần xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, không thể nóng vội, kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, không làm phức tạp thêm tình hình, bảo vệ lợi ích chính đáng của ta, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.
     Vấn đề chủ quyền biển, đảo; Việt Nam đã thể hiện sự khôn khéo khi đấu tranh bằng biện pháp ngoại giao, hòa bình trên tinh thần luật pháp quốc tế. Vận dụng linh hoạt bằng tổng hợp các giải pháp phi chiến tranh, bước đầu đem lại hiệu quả rất cao. Cộng đồng quốc tế đã bác bỏ yêu sách về chỉ quyền phi lý của Trung Quốc trên biển Đông, họ càng hung hăng thì càng bị thế giới cô lập; đó là không dùng chiến tranh mà vẫn giữ vững được chủ quyền, không đánh mà thắng, là thượng sách, là giải pháp tối ưu. Vấn đề biển đông,đặc biệt là Hoàng Sa (mất năm 1974 trong tay ngụy Sài Gòn) và một số đảo bị mất vào tay Trung Quốc ở Trường Sa. Chúng ta nhất định phải kiên trì và hi vọng vào sự quật khởi trong tương lai khi mà quốc lực vững mạnh, thời thế thích hợp để lấy lại chứ không thể nôn nóng đòi kích động chiến tranh với Trung Quốc. 
     Hiện nay, sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thế và lực của ta trên các vùng biển, đảo đã tăng lên nhiều. Hải quân nhân dân Việt Nam được Đảng, Nhà nước ưu tiên đầu tư tiến thẳng lên hiện đại, có sự trưởng thành, lớn mạnh vượt bậc, đủ sức làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Bộ đội Hải quân cùng các lực lượng thực thi pháp luật khác trên biển (cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư…) không quản ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy; kiên cường bám trụ nơi “đầu sóng, ngọn gió”; đêm ngày tuần tra, kiểm soát, khẳng định, bảo vệ chủ quyền, giữ bình yên biển, đảo. Thực sự là điểm tựa tin cậy cho nhân dân yên tâm vươn khơi bám biển, phát triển kinh tế. Đặc biệt, mỗi khi phải đối mặt với tình huống phức tạp, căng thẳng, các lực lượng trên biển luôn nêu cao ý chí quyết tâm “còn người, còn biển, đảo”, “một tấc không đi, một li không rời”; thực hiện đúng đối sách, phương châm, tư tưởng chỉ đạo; khôn khéo, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia, an ninh, trật tự trên biển; không để xảy ra xung đột; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước. 
     Từ những luận điểm trên, có thể thấy luận dùng vũ lực để lấy lại biển đảo hay dựa vào Mỹ để bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lấy lại Hoàng Sa là luận điệu của những kẻ bất trí; nó chẳng khác nào chuyện Lưu Chương mời Lưu Bị mang quân vào Xuyên, Thục để đánh Trương Lỗ hay như chuyện Mỹ - Trung thoả hiệp trên lưng ngụy Sài Gòn để tàu cướp Hoàng Sa 1974, bài học này thì người Việt đã thuộc lòng. Mỹ hay tàu thì lợi ích quốc gia của họ là tối thượng, theo Mỹ hay theo tàu đều là bất trí. /.


Yêu nước ST.

QUỐC TẾ CA VANG LÊN KHẮP NƯỚC PHÁP!

     Người dân Pháp đang biểu tình khắp đất nước. Cuộc biểu tình nhanh chóng thành các cuộc bạo loạn, đốt phá. Người biểu tình phản đối luật tăng độ tuổi nghỉ hưu lên thành 67 tuổi do Tổng thống Marcron ban hành mà không thông qua Quốc hội. Hàng vạn công chức, công dân, người lao động đồng loạt hát vang bài Quốc tế ca. Quốc tế ca là bài ca chính thức của giai cấp vô sản trên thế giới, ra đời từ phong trào công nhân của chính nước Pháp cuối thế kỷ 19. “Quốc tế ca” nguyên là một bài thơ được phổ thành nhạc. Lần đầu tiên, bài hát được giới thiệu tới công chúng là ngày 23/6/1888, khi Ban đồng ca công nhân của thành phố Lille (Pháp) biểu diễn bài hát này trong Ngày hội công nhân của thành phố. 

Nước Pháp luôn tự hào là cái nôi của "tự do, bình đẳng, bác ái" và đi "khai sáng văn minh" cho các dân tộc khác, thực chất là xâm lược và khai thác thuộc địa. Những nước từng có "diễm phúc" hưởng cái văn minh khai sáng ấy từng sống trong cảnh đêm trường nô lệ, không lối thoát, trong đó có Việt Nam ta. Một nước luôn xem là tự do, dân chủ nhưng không quan tâm tới ý dân, Tổng thống tự ra quyết định. Vậy thì đâu mới là quốc gia độc tài, toàn trị và bóc lột?

Trong Kinh tế - Chính trị, Các Mác nói: "Sự chiếm đoạt giá trị thặng dư mà giới chủ tư bản thường xuyên thực hiện đối với những người sản sinh ra giá trị thặng dư được gọi là sự bóc lột. Đó chính là sự bóc lột mà giai cấp tư sản thực hiện đối với giai cấp công nhân làm thuê trong chế độ tư bản chủ nghĩa.". Với việc dân số già hoá ở các nước Tây Âu, lực lượng lao động chính quốc ngày càng khan hiếm, phải dựa vào lao động gốc Phi, Á và nguồn nhập cư thì cách duy nhất mà Marcon làm là bóc lột sức lao động, tăng tuổi hưu. Chủ thuyết của các nhà Kinh điển CNXH vẫn luôn đúng, với tư cách là chủ thuyết khách quan, khoa học, biện chứng. Và thực tiễn ở nước Pháp và các nước châu Âu đã minh chứng rõ cho điều này. Vùng lên làm cuộc Công xã Paris 4.0 nào, hỡi những người cực khổ, bần hàn! Giai cấp vô sản ở nước Pháp hãy đoàn kết lại./.


Yêu nước ST.

TIẾN VỀ THÀNH ĐÔ

 “48 năm đã qua, những cán bộ chỉ huy cấp sư đoàn của Sư đoàn 325 (Quân đoàn 2) chúng tôi giờ chỉ còn Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, 93 tuổi, là khỏe mạnh và minh mẫn.

Đó là một con người rất đặc biệt, tham gia nhiều trận đánh, chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ biên giới phía Bắc. Chúng tôi tự hào vì có những ngày chung chiến hào với anh”-Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Nuôi, nguyên Cục trưởng Cục Quân huấn, nguyên Phó chánh thanh tra Bộ Quốc phòng, nguyên Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 101, Sư đoàn 325 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, cho biết.
Mở “cánh cửa thép” phía Đông
Ngày ấy, trên cương vị Phó tư lệnh Sư đoàn 325, Trung tá Nguyễn Đức Huy được giao phụ trách sở chỉ huy nhẹ của Sư đoàn, còn sở chỉ huy cơ bản đóng ở Đông Bình Sơn. Ông cho biết: “Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 2 đảm nhiệm tiến công trên hướng Đông Nam của Sài Gòn. Sư đoàn 325 chúng tôi phụ trách cánh trái-hướng tiến công thứ yếu của Quân đoàn, đồng thời là hướng vu hồi của chiến dịch.
Nhiệm vụ trước mắt là tiến công tiêu diệt địch trên khu vực tả ngạn sông Đồng Nai, đánh chiếm Chi khu quân sự Long Thành, Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ; đồng thời mở đường đưa pháo tầm xa của Quân đoàn vào Nhơn Trạch, bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất, khống chế các hoạt động đường không của địch. Tiếp theo, Sư đoàn tổ chức vượt sông đánh chiếm căn cứ hải quân Cát Lái và phát triển tiến công vào nội đô Sài Gòn”.
Khi Đảng ủy Bộ tư lệnh Sư đoàn 325 họp ra quyết tâm chiến đấu, đồng chí Nguyễn Đức Huy đã đề xuất nhiều phương án quan trọng, trong đó có việc sử dụng Trung đoàn 101 phụ trách hướng chủ yếu. Theo lời kể của ông, khu vực tác chiến của Sư đoàn 325 có địa hình phức tạp. Trong khi đó, lực lượng phòng thủ ở khu vực này gồm Lữ đoàn 468 thủy quân lục chiến mới thành lập, 7 tiểu đoàn lính bảo an, một số đơn vị pháo binh và xe tăng cùng đội tàu xuồng chiến đấu của quân ngụy...
Phương án tác chiến được Bộ tư lệnh Sư đoàn thông qua là sử dụng một tiểu đoàn của Trung đoàn 18 đánh chiếm hành lang cho Trung đoàn 101 cơ động vào vị trí triển khai tiến công quận lỵ Long Thành. Trung đoàn 46 đánh chiếm và chốt giữ Đường 15, chia cắt Biên Hòa, Long Thành, Đồng Nai với Bà Rịa-Vũng Tàu, cơ động vào vị trí sẵn sàng luồn sâu tiến công ở Chi khu Nhơn Trạch để phối hợp với Trung đoàn 101, sau đó làm lực lượng dự bị cho Sư đoàn tiến công vào Sài Gòn.
Trận tiến công tiêu diệt cụm quân địch đã diễn ra quyết liệt. Nhất là khi đánh vào quận lỵ Long Thành sáng 27-4-1975 đã có tình huống ngoài dự kiến xảy ra. “Sau khi đánh chiếm một số điểm tựa phòng ngự ngoan cố của địch, trời mù sương, rất khó quan sát, ở cả hai hướng, xe tăng dẫn dắt bộ binh tiến công của ta đều đi lạc đường, cách xa bộ binh khoảng 2km. Một số xe tăng và xe thiết giáp của ta bị địch bắn cháy và hư hỏng; nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh, trong đó có Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 101 Nguyễn Ánh Dương. Kế hoạch giải phóng Long Thành trong ngày 27-4 của Trung đoàn không hoàn thành.
Sáng 28-4, chúng tôi tổ chức bộ phận đi trinh sát thì phát hiện ổ súng máy 14,5mm của địch đặt trên tháp nước quận lỵ Long Thành. Trong khi đó, tên quận trưởng mặc dù đã bị thương nhưng vẫn nằm ở sở chỉ huy, ngoan cố kháng cự. Chúng tôi nhanh chóng tổ chức lại đội hình tiến công, gọi 3 xe tăng đang tạm dừng ở hướng Bà Rịa-Vũng Tàu quay trở lại theo trục Đường 15. 12 giờ trưa, xe tới ngã ba Phước Thiềng, hiệp đồng cùng bộ binh tiến công quận lỵ Long Thành. Một xe tăng xử lý xong vật cản trên tháp pháo phối hợp cùng Tiểu đoàn 2 dẫn dắt chi viện trực tiếp cho bộ binh tiến công. Đồng thời qua điện đàm, chúng tôi đề nghị Sư đoàn tăng cường hỏa lực pháo binh bắn tập trung áp chế vào sở chỉ huy của tên quận trưởng...”-Anh hùng Nguyễn Văn Nuôi kể.
Theo Anh hùng Nguyễn Văn Nuôi, cấp trên đã hoàn toàn chính xác khi giao cho đồng chí Nguyễn Đức Huy chỉ huy Trung đoàn 46 (của Quân khu 3 vào thay Trung đoàn 95 đi Chiến dịch Tây Nguyên), một đơn vị chưa có nhiều kinh nghiệm tác chiến trên chiến trường mới. Khi thủ trưởng Quân đoàn lệnh cho đơn vị phải giải quyết Nhơn Trạch, Long Thành trong ngày 28-4, đồng chí Nguyễn Đức Huy điều ngay 1 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 46 lên, trực tiếp tham gia chiến đấu cùng lực lượng tăng cường. Pháo bắn chuẩn bị-áp chế 15 phút, sau đó chuyển làn bắn vào các mục tiêu sâu bên trong quận lỵ Long Thành. Trong khoảng hai giờ đồng hồ, Trung đoàn 101 cùng các đơn vị tăng cường phối thuộc của
Sư đoàn và LLVT địa phương đã hoàn thành nhiệm vụ, giải phóng hoàn toàn quận lỵ Long Thành. 18 giờ cùng ngày, pháo tầm xa của Quân đoàn 2 đã chiếm lĩnh trận địa ở Nhơn Trạch. Sau đó ta đánh tiếp vào thành Tuy Hạ. Đến 14 giờ ngày 29-4, ta giải quyết xong tổng kho vũ khí hỏa lực lớn của địch ở đây, thu được nhiều chiến lợi phẩm.
Vượt sông bằng sức mạnh
“Cánh cửa thép” phía Đông Sài Gòn đã được mở, Sư đoàn 325 nhanh chóng phát triển xuống khu bờ bắc phà Cát Lái. Bến phà này nằm ở hạ lưu sông Đồng Nai, một bên là Bà Rịa, Long Khánh, một bên là thành phố Sài Gòn, khoảng cách giữa hai bờ là gần 1.000m. Ngoài các cầu lớn trên xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn, bến phà Cát Lái được ngụy quân Sài Gòn chọn làm nơi cố thủ. Chúng lợi dụng vật cản thiên nhiên như sông rộng, nước sâu, hai bên bờ trống trải, bố trí lực lượng và vũ khí, trang bị để ngăn chặn một mũi tiến công của ta.
Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy nhớ lại: “Các tổ trinh sát vượt sông Ðồng Nai trên chiếc xuồng nhỏ của dân chài địa phương để nắm tình hình địch, trở về báo cáo, kế hoạch vượt sông được Đảng ủy, chỉ huy và cơ quan tham mưu Sư đoàn xác định nhanh chóng, tổ chức triển khai thực hiện ngay. 12 giờ đêm 29-4-1975, các lực lượng của Quân đoàn 2 được lệnh bí mật vượt sông bằng sức mạnh hiệp đồng quân binh chủng”.
Theo lệnh của chỉ huy Sư đoàn 325, lực lượng pháo mặt đất nhanh chóng chiếm lĩnh, bố trí trận địa ngắm bắn trực tiếp ngay trên bờ sông. Xe tăng T54 cơ động vào hai bên bến vượt chuẩn bị phần tử bắn. Các phân đội pháo cao xạ triển khai trận địa bảo vệ sở chỉ huy và các lực lượng tập kết vượt sông trước khi trời sáng. Rạng sáng 30-4-1975, các khí tài của Tiểu đoàn 5 (Lữ đoàn 219 công binh)-có nhiệm vụ bảo đảm cho Sư đoàn 325 vượt sông-được lệnh hạ thủy dưới tầm hỏa lực của địch từ bờ Nam bắn sang khống chế. Ta chủ trương dùng xe PAV lội nước tiến sang bờ Nam thăm dò phản ứng của địch. Phát hiện xe ta trên mặt sông, tàu địch liền tập trung bắn xối xả. Xe lội nước của ta tăng tốc độ, vượt lên nhả đạn đánh trả tàu địch.
“Cuộc chiến đấu trên mặt sông diễn ra rất ác liệt. Trên xe PAV, các chiến sĩ trinh sát đã hết đạn, đồng chí mũi trưởng trinh sát hy sinh, một số đồng chí bị thương. Tình thế vô cùng gay go. Trên bờ, chúng tôi quyết định vào nhà dân mượn xuồng máy để chi viện cho tổ trinh sát, đồng thời hiệp đồng với hỏa lực của các trận địa bố trí ở bờ Bắc bến phà, kịp thời phát huy hỏa lực bắn tàu địch. Địch vẫn điên cuồng chống trả, nhưng các trận địa hỏa lực của ta sau khi đã xác định chính xác mục tiêu, đồng loạt nhả đạn dồn dập sang bờ Nam. Căn cứ Cát Lái chìm trong khói lửa. Đoàn tàu địch bị trúng đạn, khiến lính thủy địch tranh nhau nhảy ào xuống nước, những chiếc còn lại vội vã quay đầu tháo chạy”, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy kể.
Trong trí nhớ của Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, khi đó, bộ phận hỏa lực mới sang đến bờ Nam, còn phần lớn lực lượng của Sư đoàn vẫn chưa vượt sông do không có phương tiện vận chuyển. Vì vậy, ngay khi đã tiếp cận được bờ Nam, ta cử người tìm thêm phương tiện vượt sông. Tại đây, khoang phà nhiều, nhưng thuyền máy, ca nô không có. Do đó, ta phải mượn tàu của dân để sử dụng.
Đồng chí Nguyễn Mạnh Thắng-chiến sĩ lái ca nô cùng đồng đội có sáng kiến dùng ngay những khoang thuyền 100 tấn ghép chặt vào các khoang phà để chuyển về bờ Bắc. Được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và ngư dân Cát Lái, đơn vị đã kịp thời tổ chức thiết kế bến vượt nhẹ bằng các loại phương tiện tàu xuồng, bè mảng, nhanh chóng chở các chiến sĩ Trung đoàn 101 tiến sang bờ Nam, đánh thẳng vào căn cứ hải quân Cát Lái, đánh chiếm bàn đạp bến vượt, bảo đảm cho lực lượng kỹ thuật, bộ binh tiếp tục vượt sông truy kích địch.
“Ngay trong đêm, địa phương đã huy động hàng trăm tàu thuyền đưa lực lượng của ta vượt sông an toàn. Để đi đến Chiến thắng 30-4-1975, nếu không có sự đồng lòng giúp đỡ của nhân dân, chúng ta không thể làm được”-cả hai vị tướng trận mạc cùng khẳng định.
Cuộc vượt sông bằng sức mạnh của Sư đoàn 325, nòng cốt là Trung đoàn 101 được thực hiện, thành công hơn mong đợi. Cũng chính lúc này, lệnh tổng tiến công giải phóng Sài Gòn được các cánh quân nhất loạt thi hành. Trung đoàn 101 và Trung đoàn 18 đã tiến vào nội đô Sài Gòn chiếm giữ quận 9, quận 4, hợp điểm cùng cánh quân Sư đoàn 304, Lữ đoàn Xe tăng 203 trên hướng chủ yếu của Quân đoàn tại Dinh Độc Lập trong giờ phút lịch sử của dân tộc./.
ST


NHỮNG KHÁCH "ĐẶC BIỆT" CỦA BÁC HỒ

 Vào một buổi sáng mùa thu tháng tám năm 1990, trong đoàn người kéo dài vô tận vào thăm nhà sàn, nơi Bác Hồ kính yêu đã từng sống và làm việc, có hai cha con người Pháp. Người phụ nữ ngoài 50 tuổi, gương mặt sáng, nụ cười tươi tắn, dáng người mảnh mai, đi bên người cha có gương mặt đôn hậu, chất phác. Đó là hai cha con ông Ôbrắc, một gia đình người Pháp có nhiều kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ. Người phụ nữ mảnh mai kia là Êlidabét, người con gái đỡ đầu của Bác Hồ. Đi cùng với dòng người ngắm nhìn vườn cây ao cá, dừng chân hồi lâu bên nhà sàn, ông Ôbrắc bảo với con gái của mình:

- Đây là toàn bộ gia tài của người cha đỡ đầu của con đó, con có hiểu không con?
Những giọt lệ lăn trên má chị. Chẳng lẽ Bác Hồ - người cha đỡ đầu của chị không có một cái gì khác ngoài căn nhà sàn đã đi vào huyền thoại về lối số trong sáng, giản dị, vườn cây, ao cá và thiên nhiên xanh ngắt quanh mình! Điều khó tin nhưng có thật. Mới đó mà đã 54 năm. Biết bao kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu không bao giờ phai mờ, nhạt nhòa trong ký ức của mỗi thành viên trong gì đình chị. Nhìn những em bé như bầy chim non vào Lăng viếng Người, chị càng hiểu sâu sắc câu nói không chỉ ở Và Nam, mà ở khắp mọi nơi trên trái đất, nơi Bác Hồ đã từng đến, ai ai cũng thuộc: "Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh".
Ngày ấy, khi chị mới ra đời trong một nhà hộ sinh ở một làng thuộc ngoại ô Pari. Lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang có mặt trên đất Pháp với tư cách là một thượng khách của Chính phủ Pháp. Báo chí xuất bản ở Thủ đô Pari hoa lệ đều trang trọng in trên đầu trang nhất bức chân dung của Bác Hồ với những hàng tít lớn trang trọng.
Hội nghị Phôngtennơblô đang họp, Bác Hồ là thượng khách, tâm trí Người luôn hướng tới việc giành lại nền hoà bình, độc lập cho dân tộc, vấn đề Nam Bộ "là máu thịt của Việt Nam". Ở trong toà lâu đài sang trọng, Bác Hồ cảm thấy không thoải mái vì không có vườn cây, thiếu hoa lá, thiên nhiên. Khi ông Ôbrắc đề nghị Bác đến ở tại ngôi nhà cổ kính của ông ở ngoại vi Pari, Bác Hồ đã nhận lời dọn đến ở 6 tuần lễ.
Nơi đây, cứ chiều chiều sau giờ hội đàm, gặp gỡ với các chính khách, Bác Hồ thường dắt cháu Giăng Pie, 7 tuổi, con trai đầu lòng của ông bà Ôbrắc chủ nhà, đi dạo chơi khắp làng, thăm hỏi đời sống của bà con lao động, nói chuyện với ông lão trồng hoa, vui đùa với các em bé vùng ngoại ô. Có buổi trưa, ông Ôbrắc còn thấy Bác Hồ đang cùng con trai ông, Giăng Pie, nghỉ trưa thanh thản trên bãi cỏ trong vườn.
Chính trong dịp này, vào ngày 15-8- 1946, gia đình ông Ôbrắc đón một tin vui mới: cô con gái út vừa chào đời. Được tin này, Bác Hồ ngồi trên xe có hộ tống đến tận nhà hộ sinh chúc mừng bà Ôbrắc và cháu bé mới sinh. Bác Hồ đặt tên cho cháu bé là Babét và nhận cháu làm con gái đỡ đầu của Người.
Từ ngày xa Pari, xa vùng ngoại vi Pari trở về nước, dù bận trăm công ngàn việc lãnh đạo nhân dân Việt Nam trong công cuộc trường kỳ kháng chiến và những năm hoà bình ở miền Bắc cũng như cuộc đấu tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Bác Hồ vẫn luôn dành tình cảm của mình cho con gái đỡ đầu Babét. Tháng 6-1967, ông Ôbrắc được Hội đồng các nhà bác học thế giới họp ở Pari nhờ chuyển đến Chủ tịch Hồ Chí Minh một bức thông điệp. Gặp lại ông Ôbrắc giữa những ngày Hà Nội đang chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, Bác Hồ rất vui và không quên hỏi thăm về người con gái đỡ đầu Babét của mình. Ông Ôbrắc chuyển cho Người món quà mà chị Babét nhờ gửi đến cha đỡ đầu: một chiếc hộp vuông bên trong đựng một quả trứng được làm từ thứ đá quý. Theo chị cho biết thì "quả trứng đó là biểu hiện của sự sống, tương lai và hoàn hảo. Cha đỡ đầu của chị là hiện thân của những điều đó". Khi chia tay, Bác Hồ gửi một tấm lụa nhờ ông Ôbrắc chuyển cho "cô con gái đỡ đầu của tôi để cháu may áo cưới".
Hàng năm chị Babét vẫn gửi thư đều cho Bác Hồ. Ngày Bác qua đời, cũng như toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, cả gia đình ông Ôbrắc vô cùng thương tiếc Người. Bao nhiêu kỷ niệm, những món quà Bác gửi cho chị Babét vẫn còn đó: bức ảnh nhỏ của Người, các con vật dễ thương bằng ngà, bằng sứ, tấm lụa Bác gửi để chị may áo cưới... vẫn còn đây. Và lần này, chị được sang thăm đất nước, thăm nơi ở, nơi làm việc của người cha "đỡ đầu về tinh thần" của mình...
Khi nghe chị thuyết minh nói rằng hai hàng ghế đá và bể cá vàng là nơi Bác Hồ thường dùng để tiếp các khách tí hon, "khách đặc biệt" của mình, chị Babét nước mắt tuôn trào. Chị lặng lẽ ngồi xuống tấm ghế đá mát lạnh, mắt nhìn những con cá vàng tung tăng bơi lội trong bể, thả lòng mình trong những hoài niệm không bao giờ quên về Người. Tình thương bao la của Bác vẫn dành cho tất mọi người, đặc biệt nhất vẫn là các em nhỏ "như búp trên cành". Chị Babét cũng là một trong những "cháu bé" ngày nào đã được sưởi ấm bằng "muôn vàn tình thương yêu của Bác"./.
ST


KỲ TÍCH HÀNH QUÂN BẰNG XE TĂNG

 “Tôi không thể nào quên những năm tháng hành quân bằng xe tăng từ Bắc vào Nam với chặng đường gần 2.000km để đến vị trí tập kết an toàn”-Đại tá Đặng Tuyên, nguyên Chánh thanh tra quốc phòng Quân khu 2, bồi hồi nhớ lại cuộc hành quân lịch sử “có một không hai” cách đây hơn nửa thế kỷ.

Theo giới thiệu của các đồng chí trong cơ quan chính trị, Bộ CHQS tỉnh Phú Thọ, chúng tôi tới phường Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ để gặp Đại tá Đặng Tuyên, một trong những người lính tăng kỳ cựu của Quân khu 2. Ở tuổi 80 nhưng giọng nói vẫn sang sảng, Đại tá Đặng Tuyên kể cho chúng tôi nghe về cuộc hành quân đưa xe tăng vào chiến trường miền Nam đầy sáng tạo của bộ đội ta những năm 70 của thế kỷ trước.
Ông kể: “Đầu năm 1970, nhằm tăng cường cán bộ, chiến sĩ cho các mặt trận ở miền Nam, nhất là hỏa lực mạnh, Tiểu đoàn 171 thuộc Trung đoàn 203 (nay là Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2) được thành lập và huấn luyện để đi B. Cuối năm 1970, trên cương vị Đại đội trưởng Đại đội 6, tôi chỉ huy các anh em đưa 11 xe tăng lên tàu hỏa, xuất phát từ ga Hà Nội đến ga Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An). Do địch bắn phá ác liệt nên tháng 9-1971, đoàn xe tăng mới tiếp tục hành quân. Xe tăng được đưa lên tàu thủy, đi từ cảng Bến Thủy (tỉnh Nghệ An) vượt biển đến bến phà Long Đại (tỉnh Quảng Bình). Sau đó, đội hình xe tăng hành quân bằng xích theo tuyến đường 559, qua Hạ Lào, Trung Lào, Campuchia... đến vị trí tập kết cuối cùng tại tỉnh Bình Long (nay là tỉnh Bình Phước) với quãng đường gần 2.000km”.
Ngày ấy, theo chỉ tiêu cấp trên giao, các đơn vị bảo đảm vận chuyển, hành quân tới vị trí tập kết được khoảng 60-70% số xe tăng. Thế nhưng, ông Tuyên và các đồng đội đã vượt chỉ tiêu khi đưa đội hình 11 xe tăng vượt qua các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy, đến vị trí tập kết trước thời gian quy định. Trong quá trình hành quân, đội hình đã nhiều lần gặp nguy hiểm, trong đó có lần xe tăng bị lật ngửa vì lăn xuống vực. “Đó là vào đêm 8-2-1972, xe tăng mang số hiệu 357 do tôi chỉ huy đi đầu đoàn hành quân theo đường K (đường kín). Trời tối, đường khúc khuỷu, lại nhiều hố bom nên xe tăng bị nghiêng, lăn xuống vực sâu gần 100m và... phơi bụng. Trước tình huống bất ngờ, chúng tôi nhanh chóng liên hệ với các lực lượng cứu hộ của Binh trạm 32 (Bộ tư lệnh Trường Sơn) và đơn vị để cứu kéo. Mất gần hai ngày đêm, chúng tôi mới kéo xe tăng lên khỏi vực. Rất may là cả kíp xe không ai bị thương, xe tăng vẫn nổ máy chạy bình thường”, ông Tuyên nhớ lại.
Đại tá Đặng Tuyên cho biết, quá trình hành quân bằng xe tăng có nhiều nỗi lo, lo nhất là thiếu nhiên liệu, xe bị hỏng; lo máy bay và các thiết bị quan sát của địch phát hiện. “Cuối tháng 2-1972, khi đội hình xe tăng đi qua địa phận nước bạn Lào, nước sông Sekong ở Hạ Lào lên cao. Chúng tôi chờ đợi gần một tuần mà vẫn không thể sang sông. Trong khi đó, máy bay C-130 của địch tưởng xe tăng là ô tô nên bắn đạn như mưa xuống đội hình hành quân. Trong cái khó ló... sáng kiến, để hạn chế máy bay địch ném bom trúng đội hình xe tăng, đồng chí Sơn, quê ở Thái Bình, Trung đội trưởng của đơn vị, đã nghĩ ra phương án tẩm dầu mazut vào bao tải rồi đốt, ngụy trang thành xe bị cháy để đánh lừa địch. Nhờ đó, đoàn xe đã hành tiến an toàn...”, Đại tá Đặng Tuyên xúc động kể.
Nhắc tới những ngày tháng 4 lịch sử năm 1975, Đại tá Đặng Tuyên như chạm vào miền ký ức. Giọng ông sôi nổi hẳn lên: “Đêm 29, rạng sáng 30-4-1975, tiểu đoàn chúng tôi dẫn đầu đội hình Quân đoàn 4, trực tiếp chở cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 2, Sư đoàn 341 hành tiến từ Dĩ An về Cầu Mới (Biên Hòa). Để chặn đà tiến công của ta, đêm 29-4, Lê Minh Đảo, Tư lệnh Sư đoàn 18 ngụy đã cho nổ bom đánh sập Cầu Mới. Do đó, đội hình Quân đoàn 4 chuyển hướng tiến công theo trục xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn. Do chạy đường vòng, khoảng 13 giờ ngày 30-4, đội hình mới có mặt tại Dinh Độc Lập trong niềm vui vỡ òa, hạnh phúc. Ngay sau đó, cấp trên giao nhiệm vụ cho đội hình xe tăng nhanh chóng chiếm đóng Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Hải quân ngụy ở bến Bạch Đằng (nay là cảng Ba Son) và chiếm kho xăng Nhà Bè...”.
Hơn nửa thế kỷ đã qua nhưng cuộc hành quân lịch sử bằng xe tăng với Đại tá Đặng Tuyên mãi là ký ức không phai mờ.
ST



CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH! CON NGƯỜI VĨ ĐẠI TỪ NHỮNG ĐIỀU GIẢN DỊ NHẤT

 Bác vẫn đi kia… giữa cánh đồng

Thǎm từng ruộng lúa, hỏi từng bông
Ghé từng hợp tác, qua thôn xóm
Xem mấy trường tươi, mấy giếng trong…
Bác vẫn về kia… Những sớm trưa
Hỏi lò than, xưởng máy, giàn tơ
Hỏi anh hỏi chị công nhân ấy
Vàng ngọc thi đua được mấy giờ?
Ơi anh bộ đội trên mâm pháo
Mắt lượn trời cao, dõi bóng mây
Có thấy, bốn mùa, quên nắng bão
Bên ta, Bác vẫn thức đêm ngày?
Biết chǎng, hỡi mẹ rất anh hùng
Con mấy lần đi lập chiến công
Hỡi chị hằng trông ngày thắng trận
Bác khuyên thương nhớ vững bền lòng.
Và các em, có hiểu vì sao
Lòng Bác mênh mông vẫn dạt dào
Yêu nụ mầm non, yêu tuổi trẻ?
Biển thường yêu vậy sóng xôn xao…
Vì sao? Trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh
Như một niềm tin, như dũng khí
Như lòng nhân nghĩa, đức hy sinh.
Đâu chẳng vang lời Bác thiết tha?
Đời vui tiếng Bác ấm muôn nhà
Bác đi… Đâu cũng nghe chân bước
Như gió xuân về, đất nở hoa…
Nếu có hôm nào ta vắng Bác
Chắc là Người bận chuyến đi xa…
Ơi đàn em nhỏ quên ca hát
Hãy lớn ngoan như Bác có nhà!”
st

NGÀY LỄ LỚN CỦA DÂN TỘC 30/4

 Ngày 30/4 là ngày lễ lớn của dân tộc Việt Nam, còn được gọi là ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Tên gọi này xuất phát từ sự kiện lịch sử hào hùng diễn ra vào ngày 30/4/1975.

Cách đây 45 năm, trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã giành thắng lợi hoàn toàn. Ghi dấu một mốc son chói lọi, hào hùng trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Lúc 17h ngày 26/4, quân ta nổ tiếng súng đầu tiên bắt đầu chiến dịch, tiến vào trung tâm Sài Gòn. 10h45 phút ngày 30/4, xe tăng và bộ tinh ta áp sát Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ Nội các của Sài Gòn, Dương Văn Minh vừa lên chức tổng thống ngày 28/4 đã phải tuyên bố đầu hàng quân ta không điều kiện.
Cuộc chiến diễn ra nhanh gọn, đúng 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng tung bay trên Dinh Độc Lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Sài Gòn sau đó được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên của cố Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh. Sự kiện 30 tháng 4 diễn ra sau khi tất cả công dân và lính Mỹ cùng với hàng ngàn người Việt ở miền Nam Việt Nam di tản khỏi Sài Gòn.
ST


Tỉnh táo nhận diện và đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước ra sức tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc những thành quả cách mạng của Việt Nam. Một trong những vấn đề được các thế lực thù địch tập trung chống phá, xuyên tạc nhiều nhất trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhất là mạng xã hội về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta. Tỉnh táo nhận diện những luận điệu xuyên tạc vô căn cứ Những nhiệm kỳ gần đây, khi Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị thì các phần tử phản động, cơ hội, các thế lực thù địch đã xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh này bằng những luận điệu phản động như: “Tham nhũng là sản phẩm của chế độ độc Đảng ở Việt Nam”, nên “không được tham nhũng, thì hệ thống đảng sẽ tự rệu rã, tự giải tán”. Việt Nam “càng chống tham nhũng thì tham nhũng ngày càng gia tăng vì không có dân chủ”. Việt Nam “không thể chống tham nhũng thành công vì đó là do các phe cánh trong Đảng đấu đá nhau”. Ở Việt Nam, “đấu tranh chống tham nhũng chỉ là cái cớ, thực chất là sự phân chia quyền lực” và chống tham nhũng là “các trận đấu giữa băng này với nhóm kia trong hệ thống chính trị, trong hệ thống công quyền”… Những luận điệu xuyên tạc vô căn cứ của các thế lực thù địch Các phần tử cơ hội, phản động, suy thoái như Trân Văn, Trần Văn Chánh, Tâm Chánh, Phạm Trần, JB Nguyễn Hữu Vinh… nhân danh dân chủ và đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, theo đuôi các thế lực thù địch, bẻ cong sự thật những ý kiến phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; suy diễn, cắt cúp theo chủ ý mình những bài viết đăng trên các trang Tuyengiao.vn; Quân đội nhân dân; Xây dựng Đảng… để xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và phủ nhận những kết quả đạt được trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam nói riêng. Ngay sau khi Hội nghị Trung ương 5 thông qua chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, các đối tượng xấu, phần tử phản động đã đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin tiêu cực, sai trái, xuyên tạc, suy diễn chủ trương của Đảng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, gây phân tâm trong xã hội. Luận điệu mà các đối tượng này đưa ra đó là: “Tham nhũng tại Việt Nam như một con virus ăn sâu vào tế bào của Đảng Cộng sản, từ trên xuống dưới”; việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chứng tỏ công tác chống tham nhũng ở Việt Nam “không hiệu quả”, “không có chuyển biến”; “Việt Nam chống tham nhũng loay hoay như con kiến đa cành”… Một số đối tượng thì đặt ra những câu hỏi theo kiểu “lập lờ đánh lận con đen” như: “thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh/thành có giúp xóa được tham nhũng?”, “việc trao quyền cho Bí thư tỉnh làm Trưởng Ban Chỉ đạo cấp tỉnh phải chăng là sai lầm khi tập trung quyền lực quá nhiều cho Bí thư tỉnh?”… Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng thực sự chỉ để “làm khổ người dân”. Đây rõ ràng là những luận điệu suy diễn, xuyên tạc vô căn cứ nhằm bôi nhọ Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc chủ trương, quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta. Từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Tinh vi hơn, với chiêu bài “tung hô thần tượng”, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy tấm gương đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để so sánh với tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó chỉ trích Đảng đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng.[1] Những luận điệu xuyên tạc của chúng hòng gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động, mất niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; gây mất đoàn kết nội bộ, kích động xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng, có tâm lý bất mãn. Do đó, cần tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đấu tranh chống tham nhũng được thực hiện quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ Quan điểm chỉ đạo của Đảng là đấu tranh chống tham nhũng phải luôn tuân thủ quy định của pháp luật; đấu tranh chống tham nhũng phải quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Để phòng và đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc phải “khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng. Thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ có hiệu quả về kê khai, kiểm soát, kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp”[2]; đồng thời, “triển khai đồng bộ có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt nghiêm minh có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”[3]. Thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống; đồng thời, nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, phòng và chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, ngày 16-9-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ký ban hành Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”; trong đó, nêu rõ việc gắn công tác phòng, chống tham nhũng đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Tiếp đó, ngày 25-10-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về “Những điều đảng viên không được làm” thay thế cho Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 về “Những điều đảng viên không được làm”. Ngày 06/4/2022, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Thông báo Kết luận số 12-KL/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Kết luận 12). Trong đó, những yêu cầu được nêu trong Kết luận 12 là phải khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết liệt, đi đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Đi liền cùng đó là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Thanh tra, Luật Thực hành dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật Tiếp công dân và các dự án luật khác liên quan trực tiếp đến phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực… để tiếp tục đẩy mạnh, tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở; để xử lý nghiêm những trường hợp nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Ngày 02/6/2022 Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đã ký Quy định số 67-QĐ/TW của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Thực tế cho thấy, vấn đề tham nhũng, tiêu cực không phải chỉ ở cấp Trung ương mà xảy ra từ cấp xã đến huyện, tỉnh. Do đó, việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ để khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” mà còn được xem như là “cánh tay nối dài của Trung ương” nhằm giải quyết một cách kịp thời những vấn đề còn bức xúc trong dân, những vấn đề còn tồn đọng, tiêu cực, tham nhũng ở địa phương. Đồng thời, giúp cho công tác đấu tranh chống tham nhũng liền mạch, chặt chẽ, thống nhất theo hệ thống từ Trung ương đến địa phương. Việc Trung ương quyết định thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh mà Bí thư tỉnh ủy, thành ủy làm Trưởng Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng cấp tỉnh là một minh chứng cho thấy, chưa bao giờ công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực lại được chỉ đạo mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả như hiện nay. Thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, vừa có tác dụng cảnh báo, răn đe; vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế đánh giá cao. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xử lý kỷ luật nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. (Ảnh: VTV) Đặc biệt, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng cũng được chỉ đạo quyết liệt; tạo nên những bước chuyển biến rõ rệt trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng. Trong nhiệm kỳ vừa qua, “Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu”.[4] Chưa bao giờ, những chủ trương đúng đắn, những chỉ đạo sát sao và những dấu ấn nổi bật trong công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam lại tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội; lại góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước như hiện nay./.

Thổi phồng hiện tượng tiêu cực, hạn chế trong giáo dục, đào tạo-Âm mưu chống phá nguy hiểm của các thế lực thù địch

Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Do đó, đây cũng là lĩnh vực các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách tác động theo mục đích của “diễn biến hòa bình”. Thời gian qua, các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng các chiêu trò chống phá “hèn hạ” của mình, để thổi phồng một số hiện tượng tiêu cực, hạn chế trong ngành giáo dục, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào giáo dục nước nhà, cũng là giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đáng chú ý, việc lên án này không được quy chụp cho cả hệ thống giáo dục, không được xuyên tạc từ một vài hiện tượng cá biệt mà bị bóp méo, quy chụp đi đến kết luận về bản chất một cách thiếu khách quan. Có thể thấy, các đối tượng chống phá đang ra sức lợi dụng một số vụ việc đơn lẻ xảy ra trong ngành giáo dục từ đó đưa ra cái phiến diện nhằm phủ nhận những thành tựu của ngành giáo dục. Và âm mưu sâu xa của chúng là sử dụng những điều thiếu sót trong ngành giáo dục để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bọn chúng làm mọi cách, sử dụng mọi lý lẽ xuyên tạc để người dân hiểu sai vấn đề, mâu thuẫn với ngành giáo dục và chính quyền. Lo ngại hơn, một số người dân do không hiểu mức độ nguy hại của việc đưa những thông tin sai, xấu, độc nhằm câu like, a dua cho thêm vài tình tiết,... làm tăng thêm vẻ hiếu kỳ, vô tình “góp dầu” thổi bùng lên ngọn lửa tuyên truyền không công cho địch, gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của quốc gia, dân tộc. Ảnh: Tổ chức khủng bố “Việt Tân” xuyên tạc ngành giáo dục. Đánh giá một cách khách quan, chúng ta không thể phủ nhận rằng những hiện tượng tiêu cực trong giáo dục có ở mọi quốc gia, mọi nền giáo dục, ngay ở nước Mỹ cũng không tránh được những hiện tượng này. Tại Việt Nam, thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức xử lý một số tiêu cực kéo dài, gây bức xúc xã hội như: Loại bỏ các tiêu chuẩn, tiêu chí có chứa đựng bệnh thành tích; có chế tài xử lý nghiêm những vi phạm về “bệnh thành tích” trong giáo dục; việc khen thưởng đúng đối tượng, đúng người, đúng việc, thành tích tới đâu khen thưởng tới đó để tạo được hiệu ứng tốt; khắc phục tình trạng dạy thêm, học thêm sai quy định; tình trạng lạm thu trong các trường phổ thông; tình trạng xuống cấp về đạo đức của một bộ phận học sinh, giáo viên trong các nhà trường... Hay để chấm dứt hiện tượng bạo lực học đường, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách, các quy định tăng cường quản lý, giáo dục toàn diện học sinh sinh viên, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường. Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành văn bản chỉ đạo các cơ sở giáo dục, đào tạo triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm kiểm soát và giảm thiểu các vụ việc học sinh đánh nhau trong các nhà trường. Đồng thời, chỉ đạo thực hiện nghiêm nền nếp, kỷ cương, dân chủ trường học; phát huy trách nhiệm thủ trưởng cơ sở giáo dục, vai trò nêu gương của cán bộ - nhà giáo trong Chỉ thị năm học và các hướng dẫn nhiệm vụ năm học của các đơn vị thuộc Bộ. Sau hơn 3 thập kỷ đổi mới, Giáo dục và đào tạo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đã hình thành được một hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo. Theo số liệu từ Niên giám thống kê 2019, Việt Nam có trên 15,4 nghìn cơ sở giáo dục mầm non, 27,7 nghìn cơ sở giáo dục phổ thông (bao gồm tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, phổ thông cơ sở, trung học), 237 trường đại học chính quy và trên 3 nghìn cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Trong năm học 2019-2020, quy mô học sinh, sinh viên cả nước có trên 5,3 triệu trẻ học giáo dục mầm non, 17 triệu học sinh tham gia học giáo dục phổ thông, trên 1,5 triệu sinh viên theo học ở các trường đại học chính quy và khoảng 2,2 nghìn học sinh sinh viên tốt nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Trong đó chưa bao gồm các trường trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng do Bộ giáo dục và Đào tạo quản lý cùng số học sinh, sinh viên theo học tại các trường này và hệ thống các trung tâm giáo dục, trung tâm ngoại ngữ trên cả nước. Trong thời gian xảy ra dịch bệnh Covid-19, ngành giáo dục nước ta đã có bước chuyển ngoạn mục trong tổ chức dạy học online, kịp thời ban hành các văn bản về thời gian cho học sinh, sinh viên, học viên nghỉ học và đi học lại để phòng chống dịch bệnh; quán triệt thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của các cấp về phòng, chống dịch;… Đồng thời, hướng dẫn giáo viên, phụ huynh, học sinh sử dụng các phần mềm hỗ trợ học tập để tự ôn tập, làm bài tập trong thời gian nghỉ học. Có thể nói đó là quãng thời gian khó khăn của ngành giáo dục nhưng với những chỉ đạo kịp thời của Bộ trưởng, ngành Giáo dục vẫn cơ bản đảm bảo được chương trình dạy học và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông an toàn, thành công trong tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh của nền kinh tế mở cửa tại Việt Nam, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu đã tạo cơ hội thuận lợi để ngành này tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển. Đồng thời, bối cảnh cũng đặt ra những yêu cầu cấp bách cho ngành Giáo dục và đào tạo về nguồn nhân lực chất lượng, đặc biệt là việc tận dụng thời cơ phát triển nguồn lực con người trong giai đoạn dân số vàng. Không giống như các lĩnh vực khác, nguồn lợi từ đầu tư giáo dục bao gồm cả các giá trị kinh tế và phi kinh tế; có nguồn lợi có thể thu được ngay nhưng cũng có những nguồn lợi có thể thu được sau một khoảng thời gian dài về sau. Vấn đề chú trọng đầu tư cho giáo dục không chỉ là quan tâm đến một ngành mà còn là đầu tư cho phát triển đất nước, điều này thường được nhấn mạnh trong các chính sách phát triển giáo dục và đào tạo của Việt Nam. Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm lớn cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đặc biệt là các chính sách đầu tư, đảm bảo tỷ lệ chi cho giáo dục từ 20% trở lên trong tổng ngân sách nhà nước. Cùng với sự tăng trưởng không ngừng của kinh tế xã hội, đầu tư cho giáo dục từ nguồn ngân sách nhà nước năm sau luôn cao hơn năm trước. Trong giai đoạn 2016-2020, ngân sách nhà nước chi thường xuyên cho giáo dục đã tăng trên 32,2%. Năm 2016, ngân sách nhà nước được phân bổ chi cho giáo dục đào tạo và dạy nghề là 195,6 nghìn tỷ đồng (trong đó 34,6 nghìn tỷ lấy từ nguồn ngân sách Trung ương và 161 nghìn tỷ từ nguồn ngân sách địa phương). Đến năm 2020, con số dự toán chi cho giáo dục đào tạo và dạy nghề là 258,7 nghìn tỷ đồng (trong đó 30,2 nghìn tỷ lấy từ nguồn ngân sách Trung ương và 228,5 nghìn tỷ từ nguồn ngân sách địa phương). Thậm chí, chi tiêu công cho giáo dục/GDP của Việt Nam đang ở mức cao so với nhiều nước trên thế giới (4% năm 2019), kể cả so với một số nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn trong khu vực (Singapore 3,2% năm 2010, Thái Lan 3,8%). Đặc biệt, đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách… Nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành và triển khai thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào các dân tộc và bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục. Trong đó, các trường phổ thông dân tộc nội trú thực hiện mục tiêu tạo nguồn cán bộ và nhân lực có trình độ để đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng và cả nước nói chung… Có thể khẳng định rằng, nhờ có một nền giáo dục phát triển mà đất nước ta đổi mới thành công và đang từng bước khẳng định vị thế trong quá trình hội nhập với thế giới. Tuy nhiên thời gian tới, để khắc phục những hạn chế, thiếu sót còn tồn tại, ngành giáo dục nước ta cần nâng cao chú trọng về chất lượng giảng dạy, công tác tuyển sinh, thu phí người học; hoàn thành quy hoạch mạng lưới, cơ cấu ngành nghề đào tạo, giáo dục đại học, dạy nghề. Khắc phục tình trạng thiếu giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị đối với giáo dục phổ thông; nhìn nhận thẳng thắn những điểm yếu còn hạn chế không để những phần tử phản động có cơ hội lợi dụng, lên án hay quy chụp cho cả hệ thống giáo dục. Bên cạnh đó, mỗi người dân Việt Nam cần thật sự tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội, không để những thông tin xấu, độc lợi, thừa nước đục thả câu để thực hiện âm mưu chống phá Việt Nam.

Không thể xuyên tạc chính sách đối với người có công

Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta cũng không ngừng quan tâm chăm lo các gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công và đẩy mạnh phong trào "Ðền ơn đáp nghĩa" với nhiều hoạt động thiết thực nhằm thể hiện tình cảm, trách nhiệm sâu sắc đối với những người đã chiến đấu, hy sinh tính mạng và một phần xương máu của mình vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc. Thế nhưng, bằng mọi thủ đoạn, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đã không ngừng xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người có công nhằm kích động chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc... XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG – MỘT THỦ ĐOẠN BỈ ỔI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm và dành những tình cảm, trách nhiệm sâu sắc để chăm sóc Thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. Thế nhưng, thay vì đồng lòng, ủng hộ các hoạt động thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc những năm gần đây đâu đó vẫn có tiếng nói lạc lõng, xuyên tạc về chính sách Thương binh-Liệt sĩ, phủ nhận sự hi sinh đóng góp của họ. Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiện vì cách mạng với người ngả xuống trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân đế quốc, phản bội Tổ quốc; đồng thời, gây ra những hành động cụ thể để hạ thấp, phủ nhận sự hy sinh, cống hiến của người có công; cho rằng đất nước được giải phóng là do công sức của toàn dân tộc chứ không riêng gì thương binh, liệt sĩ. Lợi dụng những vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công ở một số địa phương, chúng viết bài, đưa thông tin, hình ảnh… trên mạng xã hội trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng, thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách ưu đãi đối với người có công, đổ điều cho rằng, kinh kế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho thương binh, liệt sĩ. Mục đích kích động chống phá Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Bất chấp đạo lý, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, phản động luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để xuyên tạc, chống phá. Họ hạ thấp sự hy sinh của các anh hùng liệt sỹ, thương binh trong quá trình giải phóng dân tộc, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công nhằm kích động, chống phá chế độ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA LUÔN QUAN TÂM NGƯỜI CÓ CÔNG, GIA ĐÌNH CHÍNH SÁCH Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL ban hành chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ, đồng thời đồng ý với đề xuất chọn ngày 27-7 hằng năm là Ngày Thương binh toàn quốc, là dịp tôn vinh công ơn các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và những người có công với cách mạng. Trước lúc đi xa, Người cũng không quên căn dặn trong Di chúc thiêng liêng rằng: “Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Từ năm 1947 đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chế định thành các văn bản, như Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cùng nhiều chính sách ưu đãi khác; đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân. Đoàn thanh niên Công an tỉnh Kon Tum cùng Đoàn thanh niên các sở, ban, ngành trên địa bàn tham gia hoạt động thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ. Ảnh: HB Có thể khẳng định rằng, việc chăm lo sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần với người có công luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt và là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Chính sách về người có công luôn được hoàn thiện; nguồn lực được ưu tiên bố trí quan tâm đến người có công. Gần đây nhất, năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV đã thông qua Pháp lệnh số 02 ngày 9-12-2020 về việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, chế độ với người có công với cách mạng.. Cho đến nay, hệ thống các chính sách ưu đãi người có công ngày càng được hoàn thiện và được cả hệ thống chính trị triển khai đồng bộ, toàn diện, công tác chăm sóc người có công đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, tạo phong trào đền ơn đáp nghĩa sâu rộng, xuyên suốt từ Trung ương đến các làng, bản, thôn xóm; chế độ, chính sách đối với người có công được mở rộng về đối tượng thụ hưởng với mức trợ cấp được nâng lên hằng năm theo điều kiện kinh tế của đất nước, đặc biệt là vấn đề giải quyết hồ sơ tồn đọng đề nghị xác nhận thương binh, liệt sĩ tại các địa phương, cơ quan công an, quân đội đã được giải quyết căn bản trong năm 2020. Trong giai đoạn cách mạng mới, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định: “Thực hiện tốt chính sách người có công; đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công; bảo đảm chế độ ưu đãi người và gia đình người có công phù hợp với xu hướng tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội”. Phong trào đền ơn đáp nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của các cấp chính quyền, sự đồng hành của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội đã lan tỏa rộng khắp cả nước với nhiều chương trình thiết thực và ý nghĩa. Trong những năm qua, các cấp, các ngành và địa phương trên cả nước luôn phấn đấu thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người có công với cách mạng, quan tâm chăm lo đời sống cho các đối tượng và đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công. Trên cơ sở các quy định, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội các địa phương đã hướng dẫn đối tượng chính sách lập hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ theo đúng mẫu biểu quy định. Từ đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét giải quyết chế độ chính sách cho đối tượng, đảm bảo đúng quy trình, tiêu chuẩn chế độ, đúng đối tượng theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi Người có công theo quy định. Đồng thời, triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ trợ cấp hàng tháng, chế độ điều dưỡng, trợ cấp một lần, mai táng phí, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo, chế độ bảo hiểm y tế... đối với người có công và thân nhân của người có công. Công tác chăm sóc đời sống thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng được chú trọng. Nhất là vào các dịp lễ, Tết, ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7), các địa phương, đơn vị đều tổ chức các đoàn đại biểu đến thăm hỏi, tặng quà, động viên các gia đình chính sách tiêu biểu trên địa bàn. Đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 có những diễn biến phức tạp, thực hiện Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Chính phủ quy định việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, các địa phương trong cả nước đã thực hiện triển khai chi trả hỗ trợ kịp thời, đầy đủ cho 994.626 đối tượng thuộc lĩnh vực người có công với kinh phí khoảng 1.483 tỷ đồng. Những kết quả đó là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không bao giờ quên ơn các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng. Đồng thời, đó là cơ sở thực tiễn quan trọng nhất bác bỏ hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về công tác “Đền ơn đáp nghĩa” của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Dẫu biết rằng, những thủ đoạn trên tuy không phải chiêu trò mới mà các thế lực thù địch thực hiện trong chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sỹ, thương binh, người có công là thủ đoạn thể hiện sự tột cùng của bản chất bất nhân, vô ơn, bạc nghĩa để phục vụ mục tiêu chống phá, tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phủ nhận sự hy sinh to lớn của các Anh hùng liệt sỹ, khoét sâu vào mất mát, nỗi đau chiến tranh, tổn thương thân nhân gia đình liệt sỹ, thương binh, người có công với cách mạng. Trước những dã tâm đen tối, thủ đoạn đê hèn, tàn độc của số cá nhân cực đoan, những tổ chức phản động; là công dân Việt Nam, mỗi chúng ta cần thẳng thắn lên án, vạch trần, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước ta trong tình hình hiện nay. Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc cho thế hệ trẻ, giúp họ hiểu, biết ơn và trân trọng những đóng góp hy sinh xương máu của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện sai trái, xuyên tạc về chính sách người có công với cách mạng

NGƯỜI DÂN SẼ TIÊU DIỆT NHỮNG TÊN BÁN NƯỚC CHO DÙ NÓ LÀ AI KHÔNG VÙNG CẤM!

     Con hư tại mẹ tại cha hay cha mẹ và con hư vì đô la của m/ỹ. Gia đình họ lâ. .n.môt bước lên lên voi một bước xuống ch. Ó vì đô la mà dám bán cả xương máu của những người đã hy sinh vì hòa bình dân tộc.
     Ông cứ nghĩ ông gia đình danh giá lừa được dân sao? Người dân họ coi gia đình danh giá khi ông có ích cho quốc gia cho chế độ XHCN Việt Nam còn giờ đây gia đình họ lâ.n không khác một gia đình bán chế độ để làm giàu cho bán thân cho gia đình. Dân đã nhìn được rồi đừng s/ủa nữa mà coi chừng dân lại đến nhà như thằng con của nhà ông.
     Dân họ kính trọng những người vì chế độ chứ họ không nể những tên bán nước nước cho dù người đó là ai không vùng cấm./.

Yêu nước ST.