Thứ Năm, 27 tháng 4, 2023

CHIẾN THẮNG 30/4 - ĐỈNH CAO CHÓI LỌI CỦA SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

 

Năm 2023, kỷ niệm 48 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2023), trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tích cực đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống. Năm 2023 cũng được Đảng và Nhà nước xác định là năm bản lề thực hiện các chương trình về kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đây là dịp để chúng ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nhìn lại chặng đường xây dựng và phát triển đất nước từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới và nhận thức sâu sắc hơn những giá trị, những bài học kinh nghiệm được đúc kết từ trong thực tiễn đấu tranh của dân tộc để tiếp thêm sức mạnh, ý chí, quyết tâm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Theo dòng lịch sử, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ có tiềm lực rất mạnh, nổi lên cầm đầu phe đế quốc, hiếu chiến và âm mưu bá chủ thế giới, từng bước khẳng định sự có mặt ở Đông Dương. Sau thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ, chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Vào thời điểm này trên thế giới đã phân chia thành hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đối đầu gay gắt bằng cuộc “Chiến tranh lạnh” và chạy đua vũ trang quyết liệt. Hệ thống chủ nghĩa xã hội, phong trào công nhân ở các nước tư bản, phong trào giải phóng dân tộc ở khắp nơi trên thế giới dâng cao. Ở trong nước, sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng và bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền ngụy Sài Gòn. Đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trở thành nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong thời điểm lịch sử lúc bấy giờ.

Chiến thắng 30/4/1975 mãi mãi đi vào lịch sử, khẳng định tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Nó thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, từ cường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã trải qua hơn 21 năm, là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và nhiều thử thách, cam go, ác liệt nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã đương đầu với tên đế quốc giàu mạnh nhất và hung bạo nhất trong phe đế quốc.

Cuộc kháng chiến đã trải qua nhiều giai đoạn, phải đối phó lần lượt với các kế hoạch chiến lược của đế quốc Mỹ. Đó là 5 giai đoạn: (1) Từ tháng 7/1954 đến hết năm 1960, ta tập trung đấu tranh giữ gìn lực lượng, chuyển dần sang thế tiến công, làm thất bại bước đầu phương thức chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ; (2) Từ đầu năm 1961 đến giữa năm 1965, ta giữ vững và phát triển thế tiến công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ; (3) Từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968, Đảng phát động toàn dân chống Mỹ cứu nước, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ nhất ở miền Bắc; (4) Từ năm 1969 đến 1973, quân và dân ta phát huy sức mạnh chiến đấu của ba nước: Việt Nam - Lào - Campuchia, làm thất bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân lần thứ hai ở miền Bắc, tạo thế mạnh trong đàm phán; (5)Từ cuối năm 1973 đến ngày 30/4/1975 là giai đoạn tạo thế và lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Chiến thắng 30/4 là chiến công oanh liệt của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Phát huy tinh thần cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc ta lại vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn.

Thứ nhất, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu của Đại thắng mùa Xuân 1975, động viên toàn thể dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh và hạnh phúc theo mục tiêu cao cả của Đảng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng được phát huy trên tất cả các lĩnh vực, như: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và an ninh chính trị, lao động sản xuất, nghiên cứu, học tập, xả thân cứu dân trong thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc, tiếp tục phát huy tinh thần tương thân, tương ái, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Thứ hai, phát huy cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Đại thắng mùa Xuân 1975 để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không chịu tụt hậu, từng bước tiến kịp thời đại, đưa đất nước ngày càng phát triển, có vị thế xứng đáng trên thế giới. Khát vọng chính đáng đó của dân tộc, cũng thiêng liêng và mãnh liệt như ý chí giành độc lập, thống nhất Tổ quốc.

Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là động lực chủ yếu, là nhân tố đặc biệt quan trọng bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp đổi mới. Trên tinh thần đó, toàn dân đoàn kết, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, chung sức, đồng lòng xây dựng một nước Việt Nam ngày càng phồn vinh và hạnh phúc.

Thứ tư, phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy nội lực của đất nước với sự giúp đỡ, hợp tác với các nước, tận dụng triệt để các nguồn lực trong và ngoài nước; giải quyết hài hòa các nhiệm vụ đối nội và đối ngoại. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế đất nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Thứ năm, phát huy Đại thắng mùa Xuân 1975 vào sự nghiệp giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặt niềm tin vào thế hệ trẻ sẽ nối tiếp xứng đáng sự nghiệp của các thế hệ đi trước trong điều kiện mới, xung kích tiến công vào khoa học và công nghệ, vươn tới những đỉnh cao của trí tuệ loài người, mà trước hết là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nâng tầm văn hóa trong cuộc sống, năng động, sáng tạo trong học tập, lao động, kinh doanh, trong nghiên cứu khoa học, công nghệ và các hoạt động văn hóa, xã hội, trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh và quốc phòng. Thế hệ thanh niên trước đây đã đảm đương xuất sắc vai trò xung kích trong Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, ngày nay là lực lược xung kích, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ sáu, phát huy tri thức, kinh nghiệm quân sự, công tác tư tưởng trong Đại thắng mùa Xuân 1975 vào bảo vệ Tổ quốc thân yêu của chúng ta hiện nay. Xây dựng nền quốc phòng vững mạnh sẽ góp phần trực tiếp vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, xã hội, bảo đảm và tạo điều kiện quan trọng cho việc thực hiện những mục tiêu cốt lõi và chiến lược của đất nước. Không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục quốc phòng - an ninh, nêu cao ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho mọi công dân nhằm khơi dậy, khích lệ, phát huy những giá trị truyền thống yêu nước của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới.

Kỷ niệm 48 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là dịp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc. Đồng thời phát huy tinh thần và hào khí của Đại thắng mùa Xuân 1975 để đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống, xác định năm 2023 là năm bản lề phấn đấu xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, hiện thực hóa những khát vọng cao cả mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, để phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa./.

CẦN TỈNH TÁO KHI SỬ DỤNG, TIẾP CẬN TIKTOK

 

Chúng ta đang sống trong thời đại 4.0, nhiều thành tựu khoa học công nghệ được ứng dụng trong đời sống xã hội, nâng cuộc sống của nhân loại lên một bước vượt bậc, trong tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh. Nhất là, thành tựu khoa học công nghệ được ứng dụng vào mạng xã hội, như: Youtube, Facebook, Zalo, TikTok... mang lại cho con người vô vàn lợi ích.

Dư luận xã hội thời gian gần đây nóng lên về những hình ảnh, nội dung đưa lên TikTok có nội dung, hình ảnh phản cảm cần kịp thời ngăn chặn. Tuy nhiên, chúng ta hãy bình tâm xem xét lại về những nội dung của TikTok để có cách nhìn thấu đáo và ứng xử với TikTok thật công bằng.

Là người thường xuyên tham gia với mạng xã hội, tôi cũng vào xem TikTok, thấy rằng, không phải hoàn toàn nội dung, hình ảnh trên TikTok là dung tục, phản cảm. Nhiều TikTok đưa lên mạng có nội dung rất lành mạnh, như: Một nhà tâm lý học đã đưa lên TikTok về cách ứng xử của con người trong đời sống hàng ngày; nhiều Tiktoker đưa nội dung khuyên con người sống ngay thẳng, lương thiện, quy luật nhân quả ở đời, những điều cần biết cho người cao tuổi; có chủ nhân TikTok còn mạnh dạn phê phán việc tin vào bói toán, dị đoan; có chủ nhân TikTok đưa những đoạn ca khúc hay, những câu chuyện hài hước, dí dỏm, chuyện hài dân gian, quảng cáo những công dụng tiện ích, cách khắc phục sự cố trong đời sống hàng ngày, mặt trái của mua bảo hiểm nhân thọ... Đặc biệt đáng quan tâm là, rất nhiều chủ nhân TikTok đã xây dựng và đưa nội dung khuyên chúng ta về những điều bảo vệ sức khỏe: Uống nước vào buổi sáng khi ngủ dậy để bảo vệ trái tim bạn; những bài thuốc dân gian, gần gũi, dễ kiếm, dễ làm để làm sạch mỡ máu, mỡ gan, bảo vệ lá gan, bảo vệ thận, bài thuốc chữa cao huyết áp, tiểu đường, tim mạch...

Tuy nhiên, bên cạnh những nội dung tích cực là vô số những TikTok có nội dung thiếu lành mạnh như: Cảnh đánh ghen tuông, tranh giành trai gái, gợi cảm loạn luân, ngoại tình, hình ảnh hở hang, những phụ nữ tuổi 40, 50 tìm bạn tình, nhiều TikTok dùng lời lẽ dung tục, hình ảnh phản cảm... Điển hình như cuối tháng 3/2023, đoạn video quay cảnh 4 cô gái mặc áo hồng, quần đen, nhảy múa phản cảm ở nơi an nghỉ của hơn 1.000 tăng ni ở chùa Bổ Đà kiến dư luận xã hội xôn xao với lượt xem đến tới cả triệu lượt, chủ nhân TikTok Trương Hương với video bổ cau đoán mệnh tràn lan cũng cả triệu lượt người xem...

Như vậy, công bằng mà nói, bản chất TikTok là không có lỗi. Đây là một kênh mà mỗi chúng ta có thể tìm thấy những điều hữu ích trong cuộc sống, thời gian thư giãn, giảm căng thẳng trong cuộc sống. Vậy, để nhân lên những lợi ích của TikTok, hạn chế những tiêu cực, phản cảm, chúng ta nên thực hiện tốt một số giải pháp chính dưới đây:

Trước hết, mỗi chúng ta cần nâng cao nhận thức về những lợi ích, giá trị của mạng xã hội, trong đó có TikTok. Điều quan trọng nhất vẫn là con người, bởi con người là chủ thể của mọi phương tiện kỹ thuật, dù có những biện pháp kỹ thuật tối ưu đến đâu, mà con người không làm chủ phương tiện thì dẫn đến hậu quả khôn lường. Vì vậy, mỗi chúng ta nâng cao trách nhiệm của một công dân khi giao diện với mạng xã hội. Bởi mỗi chúng ta vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên, vừa là nhà kỹ thuật viên, chỉ cần một chút bất cẩn, cẩu thả, thiếu tính xây dựng, thì hậu quả đối với xã hội là khôn lường. Thật nghiêm túc khi đưa lên mạng xã hội những gì thật cần thiết cho cuộc sống, những điều dung tục, nhảm nhí nên loại bỏ.

Khi tiếp xúc với mạng xã hội nói chung, mạng TikTok nói riêng, chúng ta cần có cách nhìn thật khách quan, đa chiều, chỉ tiếp cận với những điều cần thiết hữu ích cho cuộc sống, những gì phản cảm, nhảm nhí là kiên quyết không xem, không theo dõi; phân biệt, đối chiếu, ngẫm nghĩ về những điều đúng, loại bỏ những thông tin xấu độc.

Các nhà mạng cần tiếp tục nâng cao đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm trước toàn xã hội, thường xuyên kiểm tra, giám sát, loại bỏ những TikTok có hình ảnh, nội dung phản cảm; phối hợp với các cơ quan chức năng quản lý nhà nước kiên quyết xử lý theo pháp luật đối với những chủ nhân TikTok cố tình đưa những nội dung, hình thức phản cảm. Các cơ quan chức năng quản lý nhà nước tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức khi tiếp cận mạng xã hội, cảnh tỉnh, cảnh báo, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm theo quy định của pháp luật.

NHẬN DIỆN CHỦ NGHĨA DÂN TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Chủ nghĩa dân túy biểu hiện ở Việt Nam

Trên các mạng xã hội ở Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều những biểu hiện bước đầu của phát ngôn, lời nói, hành động mang tính dân túy. Chúng ta dễ dàng nhận thấy những biểu hiện này qua các phát ngôn theo kiểu “nói cho sướng miệng”, không đúng chủ trương, đường lối, nguyên tắc của Đảng, bỏ qua những quy định pháp lý, thiếu tính khả thi, vượt quá hoặc không đúng thẩm quyền của một vài cá nhân được sự tung hô của những tờ báo non nớt về chính trị, của một vài “thủ lĩnh” trên mạng xã hội, thu hút được quan tâm của quần chúng vì “lạ khẩu vị”.

Công bằng mà nói họ cũng là những người có sức thu hút cá nhân, “hoạt ngôn”, tranh thủ được không ít người bằng kiểu hành xử “của người phúc ta” và biết cách “đầu tư” xây dựng các tờ báo, phóng viên “thân hữu”, các cây bút mạng có ảnh hưởng. Họ biết “chọn thời điểm để tỏa sáng, thường là những lúc người dân trong xã hội phải đối mặt với những khó khăn trở ngại trong cuộc sống do suy thoái kinh tế, bất ổn an ninh”

Theo PGS. TS Lê Minh Quân, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh những nhóm biểu hiện chủ yếu và bước đầu của chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay như sau:

Thứ nhất

Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tôn thờ và chạy theo những lợi ích trước mắt, thực dụng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân - những biểu hiện manh nha của chủ nghĩa dân túy.

Thứ hai

Những phát ngôn và hành động của những phần tử cơ hội chính trị, nhất là những phát ngôn, những bài viết mang tính mị dân trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các diễn đàn, các trang mạng xã hội,...

Thứ ba

Xuất hiện những người cơ hội dưới dạng “theo đuôi quần chúng”, “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm nhất định nhân danh “quần chúng” mà bỏ qua các nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ tư

Xuất hiện một số cán bộ, đảng viên có quan điểm, lời nói, hành động không đúng với chủ trương, đường lối, nguyên tắc của Đảng, không đúng quy định pháp lý, thiếu tính khả thi, vượt quá giới hạn thẩm quyền cho phép…

Đấu tranh và ngăn ngừa chủ nghĩa dân túy Việt Nam.

Trong bài viết trên báo điện tử Nhân Dân ngày 14-05-2018, đồng chí Võ Văn Thưởng (khi đó là Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương) đã chỉ ra như sau:

Để có thể phòng ngừa chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam, điều quan trọng nhất là nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những tác hại của chủ nghĩa dân túy, phải hạn chế tối đa “đất sống” của chủ nghĩa dân túy và cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Sự mong muốn thực hành dân chủ trong một bộ phận nhân dân, khi điều kiện thông tin chưa thật sự đầy đủ để có thể phân biệt rõ giữa dân chủ và dân túy, có thể dẫn đến sự nhầm lẫn giữa dân chủ và dân túy.

- Mặt khác, khi những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng tình hình phức tạp để mưu đồ cá nhân, phe nhóm, dẫn đến nguy cơ một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hào hứng đón nhận các phát ngôn, hành động dân túy.

- Trong nhiều trường hợp, người dân không thể phân biệt được đâu là người theo hay không theo chủ nghĩa dân túy, dễ nhầm lẫn giữa người vô nguyên tắc, vô chính phủ với người mạnh mẽ đổi mới.

- Trong khi đó, sự cổ súy từ những cây bút có chủ ý hoặc do non nớt về chính trị của một số tờ báo và một số trang mạng xã hội sẽ đem đến sự nhầm lẫn trong đánh giá.

Do vậy, để đấu tranh có hiệu quả với chủ nghĩa dân túy, điều quan trọng nhất là chúng ta phải đánh giá chính xác được những biểu hiện của nó. Phải chỉ rõ và chứng minh được bằng chứng cứ, lý luận với các trường hợp cụ thể. Tránh trường hợp nhầm lẫn và quy chụp chủ quan dẫn tới đấu tranh sai đối tượng./.

“...CHẬM LẮM LÀ 15 NĂM NỮA, TỔ QUỐC TA NHẤT ĐỊNH SẼ THỐNG NHẤT, BẮC - NAM NHẤT ĐỊNH SUM HỌP MỘT NHÀ”

 Năm 1960, trong Diễn văn lễ mừng Quốc khánh 02/9/1960, có đoạn viết:

"Chúng ta gửi đến đồng bào miền Nam mối tình ruột thịt và hứa với đồng bào rằng: Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc - Nam nhất định sẽ sum họp một nhà".
Bác gạch dưới trong bản thảo các chữ: "CHẬM LẮM LÀ 15 NĂM NỮA".
Đúng 15 năm sau, mùa xuân 1975, với thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước ta đi đến thống nhất như dự báo thiên tài của Người./.
ST


NGƯỜI LÍNH "TỪ NHÂN DÂN MÀ RA, VÌ NHÂN DÂN MÀ CHIẾN ĐẤU"

 Chiến tranh là chính trị được thực hiện bằng bạo lực, nhưng bạo lực mạnh nhất, bạo lực cách mạng, lại luôn là bạo lực của nhân dân. Là Tổng chỉ huy quân đội trong 30 năm chiến tranh, Đại tướng luôn hiểu rõ điều ấy.

Nghĩ về Đại tướng, hình ảnh luôn hiển hiện trong tâm trí tôi là Đại tướng lặng lẽ khóc khi nghe tin bộ đội ta hy sinh. Cũng như Bác, Đại tướng không thấy những chiến công là cao hơn xương máu của quân dân.
Chính lòng bác ái đó khiến Đại tướng là điểm hội tụ sức mạnh của quân-dân Việt Nam. Nhân đây cũng nói, Đại tướng luôn có mối quan tâm dành cho giáo dục. Đại tướng nhấn mạnh việc giáo dục tri thức, giáo dục nhân cách, giáo dục lòng yêu nước, giáo dục kỹ năng.
Sự giáo dục như thế luôn là cần thiết đối với một dân tộc luôn phải đối đầu với tham vọng của những cường quốc thế giới, chỉ bằng giáo dục mà tinh thần và trí tuệ của quân-dân mới luôn đảm bảo cho sức mạnh của dân tộc Việt Nam được phát huy và kế thừa đích đáng qua nhiều thế hệ.
Có lần, theo yêu cầu của Đại tướng, lãnh đạo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cử tôi vào làm việc với Đại tướng, ấn tượng của tôi là Đại tướng rất rành rẽ từ cách hỏi, cách ghi. Tuổi cao nhưng Đại tướng rất tinh anh, đặt câu hỏi và trao đổi ngắn gọn, rõ ràng.
Công lao, vai trò tổng chỉ huy của Đại tướng trong trận Điện Biên Phủ, trong cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 sử sách đã ghi. Vậy mà ở ngoài đời Đại tướng rất bình dị, gần gũi.
Tôi nghĩ, hơn ai hết, Đại tướng xứng đáng là một học trò xuất sắc của Bác Hồ: bao giờ cũng vậy, sự bình dị của những người lãnh đạo chính là dấu chỉ cho thấy mối quan hệ với nhân dân của họ.
Xa hơn điều đó, từ Đại tướng, tôi cho rằng, niềm kiêu hãnh của một quân nhân là sự thừa nhận của nhân dân, và kiêu hãnh rằng mình từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu./.
ST


TÌM HIỂU VỀ 18 ĐỜI VUA HÙNG

 Theo truyền thuyết, các vua Hùng nối nhau trị vì nước Văn Lang trong 18 đời, vậy 18 đời vua Hùng gồm những ai?

Hùng Vương là cách gọi dành cho các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt, triều đại được cho là được lập ra hơn 4.000 năm trước. Câu chuyện các vua Hùng không có trong chính sử mà nằm trong các truyền thuyết dân gian của người Việt được kể lại qua nhiều đời. Với người Việt Nam, các vua Hùng đại diện cho tổ tiên, cho truyền thống dựng nước và là niềm tự hào về nền văn minh đậm đà bản sắc riêng suốt nhiều nghìn năm.
18 đời vua Hùng gồm những vị nào?
Theo Đại Việt sử lược và nhiều tài liệu khác, triều đại Hùng Vương được truyền qua 18 đời, gồm những vị sau.
1. Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tức Lục Dục Vương, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr. TL) lên ngôi năm 41 tuổi, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 trước tây lịch (tr. TL) đến Đinh Hợi (2794 tr. TL).
2. Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 tr. TL), lên ngôi 33 tuổi, ở ngôi tất cả 269 năm, từ năm Mậu Tý (2793 tr. TL) đến năm Bính Thìn (2525 tr. TL).
3. Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr. TL) lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi 272 năm, từ năm Đinh Tỵ (2524 tr. TL) đến 2253 tr. TL.
4. Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr. TL), ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr. TL) đến năm Mậu Thìn (1913 tr. TL).
5. Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 tr. TL), lên ngôi khi năm 59 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr. TL) đến Mậu Tý (1713 tr. TL).
6. Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr. TL), lên ngôi khi 29 tuổi, ở ngôi tất cả 81 năm, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr. TL) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr. TL).
7. Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 tr. TL), lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 tr. TL) đến năm Kỷ Tỵ (1432 tr. TL).
8. Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 tr. TL) lên ngôi khi 39 tuổi, ở ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431 tr. TL) đến năm Kỷ Dậu (1332 tr. TL).
9. Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 tr. TL), lên ngôi khi 45 tuổi, ở ngôi tất cả 80 năm, từ 1331 đến 1252 tr. TL.
10. Hùng Uy Vương, húy Hoàng Long Lang, trị vì 90 năm, từ 1251 đến 1162 tr. TL.
11. Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 tr. TL), lên ngôi khi 51 tuổi, ở ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 tr. TL) đến năm Bính Tuất (1055 tr. TL).
12. Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 tr. TL), lên ngôi khi năm 52 tuổi, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Đinh Hợi (1054 tr. TL) đến năm Nhâm Tuất (969 tr. TL).
13. Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr. TL), lên ngôi khi 23 tuổi, ở ngôi tất cả 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 tr. TL) đến Đinh Mùi (854 tr. TL).
14. Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 tr. TL) lên ngôi khi 42 tuổI, ở ngôi tất cả 99 năm, từ 853 đến 755 tr. TL.
15. Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 tr. TL), lên ngôi khi 35 tuổi, ở ngôi tất cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 tr. TL) đến năm Canh Thân (661 tr. TL).
16. Hùng Tạo Vương, húy Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 tr. TL), ở ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 tr. TL) đến năm Nhâm Thìn (569 tr. TL).
17. Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 tr. TL) lên ngôi khi 9 tuổi, ở ngôi tất cả 160 năm, từ năm Quý Tỵ (568 tr. TL) đến năm Nhâm Thân (409 tr. TL).
18. Hùng Duệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 tr. TL), lên ngôi khi 14 tuổi, ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 tr. TL) đến năm Quý Mão (258 tr. TL).
Giỗ Tổ Hùng Vương là giỗ vị vua nào?
Nếu theo niên đại trong truyền thuyết và huyền sử, 18 đời vua Hùng nối nhau trị vì trong hơn 2.600 năm. Nếu chia trung bình thì mỗi đời vua kéo dài xấp xỉ 150 năm. Giải thích điều này, một số học giả cho rằng thực chất 18 đời vua Hùng không phải là 18 cá nhân cụ thể, mà là 18 chi, mỗi chi này có nhiều vị vua thay phiên nhau trị vì và dùng chung vương hiệu. Ngay cả con số 18 cũng chỉ mang tính tượng trưng, ước lệ cho thấy triều Hùng trải qua nhiều đời, vì 18 là bội số của 9 - con số thiêng đối với người Việt.
Nhiều vua Hùng như vậy, nhưng chỉ có một ngày Giỗ Tổ Hùng Vương; vậy đó là ngày giỗ vị vua nào? Đây là điều rất nhiều người vẫn thắc mắc.
Đầu tiên, phải nói đến nguồn gốc của dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết kể rằng Kinh Dương Vương lấy Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau đó kết duyên cùng Âu Cơ sinh ra Hùng Vương.
Hùng Vương như vậy là cháu đích tôn của Kinh Dương Vương, là niên hiệu được dùng cho hàng chục triều vua tiếp sau đó. Giỗ tổ vì vậy theo logic thì phải là giỗ Tổ Kinh Dương Vương, để tưởng nhớ vị tổ phụ đã khai sinh ra đất nước.
Trên thực tế, theo một số tài liệu lịch sử ghi lại, ngày giỗ tổ đã có từ cách đây 2.000 năm. Dưới thời Thục Phán An Dương Vương, cột đá thề đã được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, ghi rõ: "Nguyện có đất trời lồng lộng chứng giám, nước Nam được trường tồn lưu ở miếu Tổ Hùng Vương, xin đời đời trông nom lăng miếu họ Hùng và gìn giữ giang sơn mà Hùng Vương trao lại; nếu thất hẹn, sai thề sẽ bị gió giăng, búa dập".
Các đời vua khác sau này cũng luôn ghi nhớ, khẳng định vai trò các vua Hùng trong việc xây dựng giang sơn. Chính vì thế mà hàng năm, người Việt dành một ngày để tưởng nhớ những người đã xác lập và xây dựng nên đất nước - các vua Hùng nói chung.
Trước đây, người dân không có tục đi lễ đền Hùng vào ngày 10/3. Họ thường tự chọn ngày tốt theo bản mệnh của từng người và nô nức đến lễ bái các vua Hùng suốt năm, đông nhất là vào mùa xuân, mùa thu chứ không định rõ ngày nào. Lễ cúng Tổ ở địa phương thì được cử hành vào ngày 12/3 âm lịch kết hợp với thờ Thổ kỳ. Thường khi con cháu ở xa về sẽ làm giỗ trước một ngày (11/3) chứ không mở hội lớn với quy mô toàn quốc.
Như vậy, thời gian lễ bái thường kéo dài liên miên, vừa tốn kém tiền của vừa không bày tỏ được rõ lòng thành kính, không tập hợp được lòng dân. Nhận thấy điều này, vào năm 1917 (triều Khải Định), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc làm bản tấu trình lên Bộ Lễ, xin định lệ lấy ngày 10/3 Âm lịch hàng năm làm ngày tế của cả nước. Từ đó về sau, cứ vào ngày 10/3, nhân dân cả nước lại hướng về vùng đất cội nguồn - xã Hy Cương, Lâm Thao, Phú Thọ để tôn vinh công lao của các vị vua Hùng. Ngày 10/3 Âm lịch được gọi là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.
Đến nay, Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn được coi là Quốc giỗ, là ngày lễ quan trọng của đất nước. Người lao động được nghỉ làm việc trong ngày này./.
ST


MỘT KỊCH BẢN GIẢ DỐI


Sự tàn bạo, độc ác của Ngô Đình Diệm thì sử sách Đông - Tây mãi mãi ghi. Ông ta lê máy chém khắp miền Nam để giết hại đồng bào trong chủ trương "tố cộng, diệt cộng", giết nhầm hơn bỏ sót, với việc làm ác ôn đó thì hắn ta đã ngồi cùng hàng với Hít Le của Đức, Hideki Tojo của Nhật, Mussolini của Ý và Pôn Pốt của Campuchia...

Diệm theo Mỹ nhưng bị Mỹ bật đèn xanh cho cấp dưới Ngô Đình Diệm sát hại cả dòng họ y. Chính ngụy Sài Gòn đã khai tử tên đầu sỏ của ngụy Sài Gòn. Thế nhưng bây giờ chính đám 3/ xỏ lá lại tung hô và ca ngợi hắn. Đúng là vở hài kịch xuyên thế kỷ.


Dưới âm tào địa phủ, Ngô Đình Diệm chắc cũng muốn đội mồ sống dậy để kêu rằng: THẾ AI ĐÃ SÁT HẠI ANH EM TA?

TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG GIẢI PHÓNG VŨNG TÀU

 Lúc 13 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, dưới sức tấn công của quân ta, những tên địch cố thủ tại khách sạn Palace đã giơ cờ trắng đầu hàng, Vũng Tàu hoàn toàn giải phóng.

Sau khi giải phóng hoàn toàn địa bàn Bà Rịa, đêm 28/4/1975, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 - Sao Vàng đã áp sát bãi sông phía bắc cầu Cỏ May. Trong đêm các đơn vị bí mật triển khai lực lượng sẵn sàng phối hợp nổ súng tiến công giải phóng Vũng Tàu.
3 giờ sáng 29/4/1975, Tiểu đoàn 3 tổ chức vượt sông, đánh chiếm bàn đạp cho Trung đoàn. Trong lúc trên hướng chính, Tiểu đoàn 3, mũi xung kích của Trung đoàn 2 gặp bất lợi lớn tại cầu Cỏ May thì ở hướng đông nam, Trung đoàn 12 được trên 50 ghe của ngư dân Phước Tỉnh chuyển quân vượt Cửa Lấp rất thuận lợi.
Sư đoàn quyết định chuyển hướng, giao cho Trung đoàn 12 đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu. Tiểu đoàn 6 được lệnh đưa một đại đội đánh vào cụm phòng ngự của địch tại ấp Phước Thành, chi viện cho hướng Cỏ May, cô lập địch ở tuyến phòng thủ Cỏ May - Cây Khế. Bị đánh từ phía sau lưng, toàn bộ địch trên tuyến phòng ngự Cỏ May - Cây Khế hoang mang, nhốn nháo. Từ hướng cầu Cỏ May, Tiểu đoàn 3 mở đợt phản kích quyết liệt, địch tan vỡ từng mảng, tan tác tháo chạy, quăng súng thoát thân.
Xế trưa ngày 29/4/1975, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 - Sao Vàng tiến quân qua cầu Rạch Bà. Phân đội 2 của A.32 đặc công thủy Vũng Tàu đã chốt giữ từ đêm và bảo vệ cây cầu cho đại quân ta tiến vào. Từ cầu Rạch Bà đến ngã tư Giếng Nước, địch hầu như không còn sức chống trả. Đêm 29/4/1975, các lực lượng vũ trang đã vào đến trung tâm Vũng Tàu.
9 giờ sáng ngày 30/4/1975, quân ta đã chiếm Tòa thị chính và hầu hết các công sở. Trận đánh quyết liệt nhất ở trung tâm thành phố đã diễn ra tại khách sạn Palace từ sáng 30/4/1975.
Trưa 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, nhưng trận đánh ở khách sạn Palace vẫn diễn ra ác liệt, mãi tới lúc 13 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, địch mới chịu đầu hàng. Vũng Tàu hoàn toàn giải phóng./.
ST


BẮC NAM SUM HỌP - XUÂN NÀO VUI HƠN!

 Nổi tiếng với nhiều tác phẩm ảnh thời sự thời chiến, Nhiếp ảnh gia Võ An Khánh cũng là người duy nhất đã ghi lại những khoảnh khắc lịch sử về sum họp Nam Bắc.

Nói đến tình cảm gắn bó của nghĩa Bắc tình Nam, không thể không nhớ đến tác phẩm nhiếp ảnh nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở phạm vi quốc tế, đó là bức ảnh đen trắng “Bắc Nam sum họp” được chụp tháng 10 năm 1975.
Hình ảnh hai bà mẹ ôm nhau thắm thiết nghĩa tình lột tả gần như đầy đủ câu: “Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”!
Bà mẹ miền Bắc với chiếc khăn vành dây, còn bà mẹ miền Nam thì quấn trên cổ chiếc khăn rằn đặc trưng của miền Nam, cùng hai nụ cười “như tỏa nắng” đủ toát lên tình cảm yêu thương, gắn bó giữa hai miền!
“Bức ảnh được chụp một cách hết sức tình cờ nhân một chuyến đi thực tế sáng tác ở xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. Lúc đó, có một đoàn người miền Bắc chắc là đi tìm hoặc thăm viếng bà con trong này. Khi nhìn thấy bà mẹ với chiếc khăn mỏ quạ, hàm răng đen huyền đặc trưng miền Bắc, tôi đã nghĩ ngay đến việc chụp một bức ảnh về tình Bắc – Nam sum họp.
Thật may mắn là khi gần đó cũng có một bà mẹ trông “rặt” miền Nam với chiếc áo bà ba và khăn rằn quấn cổ. Vậy là tôi nhờ hai bà mẹ đứng gần nhau cho tôi chụp ảnh.
Thật bất ngờ, khi đứng trước ống kính, hai bà má đã… không nhớ việc tạo dáng mà bất thình lình ôm nhau một cách mừng vui khôn xiết. Và tôi đã chộp được “thời khắc vàng” ghi lại tình cảm đôn hậu, yêu thương hết sức tự nhiên của hai bà mẹ Bắc – Nam”.
Dù là tình cờ, nhưng đây không chỉ là tác phẩm ảnh nghệ thuật nổi tiếng ở Việt Nam mà còn được đăng tải trên nhiều tạp chí quốc tế, trong đó có một tạp chí của Hoa Kỳ đã sử dụng bức ảnh này để đăng vào loạt ảnh mang chủ đề “Kết luận cuối cùng của chiến tranh ở Việt Nam” – Nhiếp ảnh gia Võ An Khánh nhớ lại.
Là một tay máy chiến trường, bước chân của người nghệ sĩ – chiến sĩ Võ An Khánh đã in dấu trên khắp chiến trường miền Nam một thời. Những bức ảnh thời chiến của ông như “Trạm quân y dã chiến”, “Mít-tinh tuần hành ủng hộ Chính phủ ta tại hội nghị Paris năm 1972”, “Nữ du kích và tù binh”… tàn chung của nhiếp ảnh Việt Nam./.
ST


GIỮ MÃI LỜI THỀ

 Bao năm áo lính Trường Sơn

Ba lô súng đạn đã sờn hai vai
Dép giày vẹt gót tuột quai
Gian nan đời lính nào ai sánh bằng
Nhớ khi vượt núi băng rừng
Trèo đèo lội suối không dừng bước chân
Chí trai đâu tiếc tuổi xuân
Mưa bom bão đạn có ngần ngại chi
Lời thề trước lúc ra đi
Chưa tròn nhiệm vụ chưa về quê hương
Bao năm lăn lộn chiến trường
Nay về sống với quê hương đời thường
Vẫn còn nặng nỗi tơ vương
Quên sao gối đất nằm sương chiến hào
Chia nhau từng điếu thuốc lào
Nghĩa tình đồng đội ngọt ngào bên nhau
Bao lần ruột xót quặn đau
Máu đồng đội đổ mãi sau chẳng về
Một thời áo lính xa quê
Một thời mang nặng lời thề nước non
Thời hoa lửa ấy chẳng mòn
Đường Trường Sơn mãi vẫn còn trong tôi!
ST


SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TRONG QUÂN ĐỘI

 

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ là toàn bộ các hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm phòng ngừa, phát hiện và giải quyết các vấn đề chính trị hay nói cách khác là các biểu hiện, hoạt động chống lại quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống lại Cương lĩnh chính trị, đường lối, Điều lệ, nguyên tắc tổ chức của Đảng, bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên,… nhằm xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đảm bảo vai trò người lãnh đạo, người tổ chức thắng lợi mọi nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.

Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ; chúng gia tăng các hoạt động móc nối, cài cắm vào nội bộ, thu thập tình báo trên các lĩnh vực trọng yếu, cơ mật. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới công tác bảo vệ an ninh Quân đội nói chung, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội nói riêng cần tập trung thực hiện tốt những nội dung:

          Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

          Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự quản lý của cán bộ chủ trì các cấp đối với công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

          Thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, kỹ lưỡng công tác rà soát, thẩm định, thẩm tra, xác minh và kết luận tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên,     

Thường xuyên nắm và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nhất là vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên.

          Quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội về công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự; xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn an toàn.

          Xây dựng cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên trách vững mạnh, thực sự là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Đồng thời, phải tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo đảm bí mật, an toàn cho mọi hoạt động, hiệu quả công tác quản lý tình hình chính trị nội bộ của các đơn vị được nâng cao. Công tác thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị, nhất là vấn đề chính trị hiện nay đối với cán bộ, đảng viên được tiến hành chặt chẽ, có chất lượng tốt. Kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm, làm trong sạch nội bộ, để góp phần quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung hết sức quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Với sự quyết tâm cao, công tác bảo vệ chính trị nội bộ sẽ tiếp tục đạt được những kết quả tốt góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

 

Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc. Thực tiễn thời gian vừa qua, các hoạt động biểu tình, gây rối, bạo loạn trên đất nước ta đều có ngòi nổ từ vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo do các thế lực thù địch kích động, được bọn phản động tronng nước hùa theo.Trên lĩnh vực văn hóa thúc đẩy mạnh quá trình “phi chính trị hóa”đưa nhanh các giá trị văn hóa phương Tây vào Việt Nam, làm rối loạn hệ thống giá trị nền văn hóa Việt Nam, làm chệch hướng vai trò tuyên truyền của các phương tiện truyền thông Nhà nước.

Như vậy, kể thù đã lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, sự bùng nổ của thông tin; những bất cập, yếu kém trong cơ chế quản lý, nội dung và phương thức hoạt động trên lĩnh vực văn hóa của ta để vừa khuyến khích, tuyên truyền, kích động, vừa thúc ép Đảng và Nhà nước ta phải đi theo quỹ đạo của chúng; đồng thời tung tin bịa đặt, xuyên tạc, lừa phỉnh những người nhẹ dạ cả tin, nhận thức hạn cho làm xói mòn lòng tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ; tạo ra sự ảo tưởng mơ hồ về một chế độ, xã hội mới, gây mất ổn định chính trị, trật tự trị an, an toàn xã hội làm cơ sở cho việc thúc đẩy bạo loạn lật đổ xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mặt khác, chúng tăng cường các họat động “xâm lăng” về văn hóa, đưa các trào lưu, loại hình văn hóa phương Tây tư xâm nhập Việt Nam, thúc đẩy Việt Nam mở cửa mạnh mẽ ngành văn hóa truyền thông, giáo dục và đào tạo.

Để chống phá, gây được phản ứng tích cực, có hiệu quả lây lan nhanh chóng, hiện nay kẻ thù đang tập trung và chiêu bài “Dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo” làm “ngòi nổ” để đấu tranh với Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là cơ sở củng cố ý thức tự tôn dân tộc và là nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững. Tự là tự mình, tôn là đề cao. Tự tôn là tự mình coi trọng mình. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là nói đến lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc. Một sự thật hiển nhiên, về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo của Việt Nam đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ ràng, chúng ta không bao giờ chấp nhận thứ “Dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo” của bất kỳ thế lực nào, ở đâu đó đem áp đặt vào Việt Nam.

 

SỰ CẦN THIẾT CỦA NÊU GƯƠNG VỚI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta! Người đã đi xa tròn nửa thế kỷ, nhưng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; sự nghiệp cao cả và  vĩ đại của Người để lại cho Đảng ta, đồng bào ta, dân tộc ta, nhân dân ta là vô cùng to lớn, quý giá, mãi mãi trường tồn. Tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh về nêu gương thể hiện rất phong phú, sinh động, rộng lớn, cụ thể, thống nhất trong mọi suy nghĩ, hành động, lời nói, việc làm từ nhỏ đến lớn, kết tinh thành những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Những việc lớn liên quan tới vận mệnh lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh nói là làm, làm bằng được.

Một trong những giá trị tinh thần, sức mạnh vật chất của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm trí và đời sống các thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân ta hiện nay và mai sau là tấm gương sáng về sự nêu gương của Người. Người hy sinh cống hiến trọn cả đời mình cho dân, cho nước, không một chút lo toan, tính toán riêng tư cho cá nhân mình tới tận lúc Người từ biệt thế giới này.

Nói đến sự nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đều có thể nhận thức, học tập ở Người qua những câu chuyện kể về Hồ Chí Minh; qua tìm hiểu lịch sử và quá trình hoạt động của Người; qua nghiên cứu sâu sắc giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người được nâng lên ở tầm cao, chiều sâu tư tưởng, lý luận, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. Song tấm gương nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể khái quát ở những điểm chính sau:

Tấm gương tiền phong gương mẫu, nhận trách nhiệm về mình bất kể mọi gian khổ, nguy nan. Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành 21 tuổi chứng kiến cảnh dân tộc, những người đồng bào mình bị bọn thực dân phong kiến áp bức vô cùng tàn bạo, sống quằn quại, đau thương của kiếp người nô lệ, đã tự đặt trách nhiệm cho mình phải ra đi tìm đường cứu nước, mang lại “tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc”.

Trong bối cảnh đất nước đắm chìm đau thương trong vòng nô lệ, với hai bàn tay trắng, người thanh niên ấy tự nhận trách nhiệm về mình, chấp nhận cuộc dấn thân lao vào vòng xoáy bão dông của chủ nghĩa đế quốc đang hoành hành thế giới để tìm đường cứu nước, cứu dân.

Một quyết định lịch sử dám chấp nhận muôn vàn thử thách, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành chỉ có một khát khao, một niềm tin sắt đá rằng dân tộc mình, Tổ quốc mình nhất định phải được sống độc lập, tự do, hạnh phúc như các dân tộc khác trên thế giới. Có niềm tin, có khát vọng, nhưng Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh đã là kết tinh ý chí, khí phách, phẩm giá, nhân cách, truyền thống của các dân tộc dám đứng lên, tìm đường, dẫn dắt cả dân tộc tự giải phóng mình.

Suốt hành trình mấy chục năm bôn ba khắp thế giới tìm đường cứu nước và cả cuộc đời hoạt động lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tấm gương nêu gương của Hồ Chí Minh đã giúp Người vượt qua muôn vàn thử thách, tù đày, đánh bại những kẻ thù gian ác, hiểm độc, tàn bạo nhất hành tinh. Thực tế sinh động tấm gương nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học sâu sắc, bài học đầu tiên Người dạy cán bộ, đảng viên, nhân dân ta phải chủ động, tự giác, tiên phong, gương mẫu không ngại khó khăn, gian khổ, dám hy sinh vì sự nghiệp cao cả của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cán bộ, đảng viên phải nêu gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn. Người thường nhắc nhở, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Sự nêu gương đi đầu dám nghĩ, dám làm, dám lao vào nơi gian khổ để quần chúng nhân dân tin, noi theo là phẩm chất, nhân cách, khí phách của người cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải gạt bỏ chủ nghĩa cá nhân, không toan tính, thu vén lợi ích riêng tư, luôn đặt lợi ích chung của nhân dân, đất nước, dân tộc lên trước hết, trên hết. Đó là cơ sở, là điểm xuất phát cho nhận thức dám hy sinh phấn đấu, tính tiền phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên ở bất cứ thời điểm nào.

 

MỘT CHUYỆN KHÓ TIN

 

Dưới sự thao túng của các thế lực, thể thao thế giới đang ngày càng mất đi tính trung lập, phi chính trị, điều này càng thể hiện rõ hơn sau sự kiện 24/2/2022.  Các vận động viên Nga bị từ chối không được tham gia các giải đấu quốc tế, hoặc được tham gia nhưng phải dưới vai trò ”trung lập”, không được đại diện chính thức cho quốc gia.


Nhưng, gần đây chuyện không dừng lại đó. Một số Hiệp hội, Ban tổ chức các giải đã áp đặt quan điểm chính trị lên các vận động viên Nga, dù họ tham gia với vai trò cá nhân “trung lập”. 


Đầu tháng Ba vừa qua, Hội đồng đua xe thể thao thế giới FIA đã vi phạm quy chế “trung lập”, đứng ngoài chính trị của các vdv Nga và Belarus tại giải đua xe Abu Dhabi, khi yêu cầu họ phải ký vào một tờ giấy, trong phần đầu FIA tuyên bố không ủng hộ hành động xâm lược của Nga, v.v. Phần sau, có mục ghi rõ: "Tôi cam kết ủng hộ quan điểm của FIA trong việc này."…Các vdv Nga đã từ chối ký tên vào tờ giấy có nội dung đi ngược lại quy chế trung lập về chính trị này.


Cứ tưởng chuyện này chỉ xảy ra ở đâu đó.


Giải bơi biển Quốc tế The Arena Oceanman Cam Ranh Việt Nam 2023 diễn ra từ ngày 14 đến 16/4/2023. Theo như công bố với các nhà báo, Oceanman là hệ thống giải bơi biển quốc tế lớn nhất thế giới, khởi nguồn từ năm 2015, đến nay tổ chức 27 giải thi đấu tại 23 quốc gia. Năm nay, lần đầu tiên hệ thống giải bơi biển quốc tế được tổ chức tại Việt Nam và sẽ có hàng trăm vdv quốc tế tham gia.


Điều kỳ lạ đã xảy ra. Trong tay mình đã có một văn bản được cho là cam kết do BTC Giải bơi biển Quốc tế The Arena Oceanman Cam Ranh Việt Nam 2023 gửi tới các vdv Nga và Belarus in bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Văn bản đó có nội dung “tôi phẫn nộ” và “lên án” hành động của chính phủ ”nước chúng tôi” thực hiện liên quan đến Ukraina…Nếu không tuân thủ cam kết “theo ý kiến của BTC” thì sẽ mất quyền thi đấu và chịu các thiệt hại về tài chính…Văn bản còn quy định các vdv không được sử dụng quốc kỳ, màu sắc, biểu tượng quốc gia…


Khó có thể tin rằng, một Giải thể thao quốc tế có nguồn gốc nước ngoài khi tổ chức tại VN mà những người tổ chức vẫn muốn nó nhuốm màu sắc chính trị, đi ngược lại những giá trị chân chính của thể thao. 


Vậy thì, “thể thao phi chính trị” là một thông điệp hành động cao cả, hay chỉ là một khẩu hiệu.