VIỆT NAM NGÀY NAY

Diễn đàn Việt Nam ngày nay

  • TRANG CHỦ
  • THỜI SỰ
  • BÀN CHUYỆN NƯỚC
  • CN MÁC-LÊNIN
  • DIỄN BIẾN HÒA BÌNH
  • LỊCH SỬ
  • THƠ - VĂN
  • THƯ GIÃN

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

Tính thống nhất giữa phát triển con người về mặt tự nhiên và xã hội.

 Trong lịch sử tiến hóa lâu dài của con người, sự phát triển về mặt tự nhiên và xã hội trong con người có sự thống nhất chặt chẽ, không tách rời. Hai mặt này làm tiền đề cho nhau, nương tựa vào nhau, giúp con người không ngừng hoàn thiện cả thể chất và tinh thần, góp phần nâng cao khả năng thích nghi với môi trường, thúc đẩy sự phát triển.

Từ thời cổ đại đến nay, con người được không ít nhà tư tưởng đánh giá “như một bí ẩn không thể đạt tới” của tồn tại. Chính vì vậy, vấn đề con người luôn nằm trong trung tâm của sự suy tư, trăn trở, bàn luận, tìm tòi, khám phá của các nhà triết học, các nhà tư tưởng lớn ở cả phương Đông và phương Tây. Một trong số những bí ẩn được bàn đến nhiều là cái gì trong con người là bẩm sinh, do thiên phú; cái gì là do tập nhiễm từ cuộc sống, xã hội mà trong đó con người được sinh ra, được xã hội giáo dục để hành động và trưởng thành.

Điển hình nhất là vào thời cổ đại ở phương Đông, trong các trước tác của mình, Khổng Tử (551 - 479 TCN) đã đề cập đến những nội dung lớn và cơ bản về con người, như nguồn gốc, vai trò, vị trí và nhất là về bản tính của con người trong thế giới nói chung và trong xã hội nói riêng. Coi bản tính của con người là tính thiện, đề cao giáo dục, coi giáo dục có thể giúp con người tránh được cái ác, ông nêu ra quan điểm “học không biết chán, dạy không biết mỏi”; rằng xã hội phải coi trọng giáo dục với hy vọng giáo dục có thể giúp con người tăng thêm tính thiện để từ đó ngăn ngừa cái ác, giảm thiểu tội lỗi, góp phần cải biến xã hội, xây dựng một “xã hội hòa mục”.

Đặc biệt, nhà triết học, nhà tự nhiên học, nhà bách khoa, cha đẻ của nhiều ngành khoa học Hy Lạp nổi tiếng là A-ri-xtốt (Aristotle, 384 - 322 TCN) đã từng coi “con người là một động vật mà do bản tính tự nhiên phải sống trong một nhà nước (con người là một động vật chính trị)” và coi “con người là một sinh vật chính trị, và là một sinh vật chính trị ở mức độ cao hơn loài ong hay các loài thú sống bầy đàn khác”(1). Dựa trên quan điểm quan trọng này, người ta coi A-ri-xtốt là người đầu tiên nêu lên một cách sáng rõ mối quan hệ khăng khít, về tính thống nhất giữa sự phát triển về mặt tự nhiên và mặt xã hội trong con người, trong đó chính mặt xã hội là cái làm nên sự khác biệt căn bản, cái làm nên “mức độ cao hơn” của con người so với tất cả các loài sinh vật khác.

Sau A-ri-xtốt, có rất nhiều nhà tư tưởng và nghiên cứu khoa học từ những lập trường khác nhau cũng đưa ra các quan niệm đáng chú ý về con người, về nhiệm vụ nghiên cứu con người. Nổi bật nhất là vào thế kỷ XVIII, I. Can-tơ (I. Kant, 1724 - 1804), nhà triết học nổi tiếng, người mở đầu nền triết học cổ điển Đức, đã khái quát rất ngắn gọn, nhưng thật sự súc tích mục đích tối hậu của triết học “KHÔNG GÌ KHÁC HƠN LÀ TOÀN BỘ VẬN MỆNH CỦA CON NGƯỜI”(2). Đến thời mình, khi xem xét vấn đề con người, C. Mác và Ph. Ăng-ghen, một mặt, kế thừa những quan điểm của các nhà khoa học và triết học tiền bối; mặt khác, các ông đã vượt họ, đi xa hơn họ rất nhiều. Cụ thể là, cùng với việc thừa nhận nguồn gốc tự nhiên và tổ tiên động vật của con người, các ông đặc biệt nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, coi con người là một thực thể sinh học - xã hội. Các luận điểm hết sức quan trọng này đã được C. Mác và Ph. Ăng-ghen trình bày rõ trong nhiều tác phẩm lớn, như Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Gia đình thần thánh, Luận cương về Phoi-ơ-bắc, Hệ tư tưởng Đức, Tư bản hay Biện chứng của tự nhiên, Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức,... Đối với C. Mác và Ph. Ăng-ghen, sự tiến hóa về mặt tự nhiên và sự phát triển về mặt xã hội của con người có sự thống nhất chặt chẽ, không tách rời nhau, làm tiền đề cho nhau, nương tựa vào nhau, thúc đẩy lẫn nhau trong suốt quá trình hình thành, tiến hóa lâu dài, liên tục biến đổi và hoàn thiện không ngừng của loài người trên trái đất này dưới những tác nhân lợi và hại khác nhau, đôi khi đó là những tác nhân tự nhiên vô cùng mạnh mẽ và nguy hiểm. 

Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, khi nói về mặt tự nhiên, về vai trò của giới tự nhiên đối với cấu tạo, sự hình thành và sự biến đổi của cơ thể con người cũng như của tất cả các loài động vật nói chung, C. Mác đã khẳng định mạnh mẽ rằng, “giới tự nhiên... là thân thể vô cơ của con người... Con người sống bằng giới tự nhiên... con người là một bộ phận của giới tự nhiên”(3). Một năm sau, vào mùa Xuân năm 1845, trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc (Bản thảo năm 1845), khi xem xét mối quan hệ giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội trong con người, C. Mác còn quả quyết mạnh mẽ hơn: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa tất cả các quan hệ xã hội”(4).

Các luận điểm quan trọng trên đây của C. Mác chỉ cho chúng ta thấy rằng, cần phải xem xét nguồn gốc phát sinh loài người và bản chất của con người từ các góc độ khác nhau, cả từ góc độ tự nhiên lẫn góc độ các quan hệ xã hội; bởi vì, đối với C. Mác, con người là một thực thể thống nhất sinh học  - xã hội. Một khi đã thừa nhận như vậy thì đương nhiên phải thừa nhận vai trò quan trọng của môi trường mà trong đó con người sống và hoạt động, cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, cả mặt tự nhiên và mặt xã hội đối với sự hình thành, xuất hiện, sự tiến hóa lâu dài và phát triển của con người với tính cách một loài trên trái đất qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Luận điểm coi con người là một thực thể thống nhất sinh học - xã hội đóng vai trò gợi mở và định hướng quan trọng cho các ngành khoa học nghiên cứu về con người và về việc giáo dục, đào tạo con người.

C. Mác và Ph. Ăng-ghen tại tòa soạn Die Neue Reinische Zeitung _Nguồn: sputnikmediabank.com

Tuy nhiên, vào thời mình, đúng như C. Mác đã khẳng định, các khoa học cụ thể cùng tham gia nghiên cứu con người chưa thể xác định được thật cụ thể và chính xác những chất vô cơ nào, những nguyên tố hóa học nào vốn có trong giới tự nhiên, bằng một cách nào đó, đã kết hợp lại được với nhau để tạo nên các cấu trúc hết sức hợp lý của cơ thể con người nói riêng và của các loài động vật nói chung, nên việc các ông chưa thể bàn luận nhiều và chưa thể luận chứng đủ sâu sắc về vai trò của chúng cũng là điều có thể giải thích được. Có lẽ vì thế mà C. Mác đã phải thẳng thắn thừa nhận rằng, “chúng ta không thể đi sâu nghiên cứu thể chất của bản thân con người”(5).

Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, vấn đề con người ngày càng cuốn hút mạnh mẽ hơn sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau, kể cả khoa học chính trị và các chính trị gia. Tuy rằng phương pháp và mục đích nghiên cứu có thể khác nhau, song đều xoay quanh các vấn đề quan trọng, như nguồn gốc phát sinh con người; bản tính, bản chất, mặt cấu tạo sinh học, mặt xã hội trong con người; ảnh hưởng và vai trò của môi trường sống, cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, đối với sự hình thành, tiến hóa, phát triển, vận mệnh và tương lai của các thế hệ người kế tiếp theo thời gian, nhất là trước những hiểm họa khó lường về nhiều mặt do sự biến động bất thường của điều kiện tự nhiên và những tác động ngày càng rõ nét hơn, mạnh mẽ hơn do chính con người gây ra.

Thành tựu khoa học từ giữa thế kỷ XX đến nay, trước hết là của vật lý học, lý - sinh học, hóa học, hóa - sinh học; các ngành sinh học khác, như cổ sinh vật học, sinh học phân tử, di truyền học phân tử và di truyền học quần thể; khảo cổ học,... đã cung cấp cho chúng ta nhiều bằng chứng khá xác thực về nguồn gốc và nơi phát sinh, về cấu tạo, về sự tiến hóa - cả tiến hóa vĩ mô và tiến hóa vi mô - của loài người. Tất cả tài liệu do các khoa học hiện đại cung cấp đưa chúng ta đến kết luận chắc chắn rằng, con người là một chỉnh thể, một sản phẩm cao nhất trong sự tiến hóa của vật chất, là một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên đã sản sinh ra. Đặc biệt, về mặt thể chất, cơ thể con người, không phân biệt màu da hay chủng tộc, đều được cấu tạo giống nhau chỉ từ những gì vốn có sẵn trong thiên nhiên. Luận điểm này giờ đây đã được các khoa học, trước hết là hóa - sinh học, lý - sinh học và nhất là di truyền học hiện đại xác nhận là hoàn toàn đúng đắn(6). Thành tựu của các khoa học này đã phản bác một cách có căn cứ đối với mọi loại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thượng đẳng và chủng tộc hạ đẳng vốn là cơ sở của chủ nghĩa phát-xít cũ và mới.

Trong quá trình tiến hóa, con người hiện đại vẫn không hoàn toàn tách biệt khỏi những mối liên hệ về nguồn gốc phát sinh với tổ tiên xa xôi của mình. Cụ thể, đó là những yếu tố vật chất, những yếu tố hữu cơ; những yếu tố làm cho con người hình thành và hoạt động như một cá thể, như một hệ thống có cấu trúc vô cùng phức tạp phục tùng các quy luật sinh học; nói tóm lại, đó là toàn bộ các tiền đề sinh học của con người. Các tiền đề sinh học ấy là cơ sở quan trọng thúc đẩy sự hình thành, sự tiến triển, sự biến đổi và sự hoàn thiện của bản tính con người, nhất là của các yếu tố tạo thành mặt xã hội của con người. Có thể nói, những yếu tố xã hội ấy chính là những gì xuất hiện dưới ảnh hưởng của các điều kiện và quy định xã hội khác nhau tạo nên con người với tư cách một cá thể, cá nhân, mà trong nhiều trường hợp nếu thiếu chúng thì rất nhiều phẩm chất, đặc tính, cấu trúc đặc biệt, như ngôn ngữ, khả năng tư duy trừu tượng, quy phạm đạo đức, cung cách và hành vi ứng xử,... của một con người - cá nhân sẽ không thể hình thành được.

Sự phát triển bước ngoặt về mặt xã hội của con người được đánh dấu bằng việc con người bắt đầu biết sử dụng các dụng cụ có sẵn trong tự nhiên, tiến dần đến chỗ chế tạo được các công cụ hoàn toàn mới, tạo ra các tư liệu sinh hoạt hoàn toàn mới phục vụ cuộc sống của mình. Từ thời điểm ấy, con người đã thoát ra khỏi trạng thái động vật để bước vào lịch sử xã hội loài người. Về điều này, trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen đã viết rằng: “Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định”(7). Trải qua thời gian, nhờ có lao động và sự giao tiếp xã hội thường xuyên mà con người hình thành tiếng nói, ngôn ngữ, từ đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình con người thoát khỏi giới động vật để hình thành xã hội loài người. Do vậy, các nhà khoa học thống nhất quan điểm rằng, con người tuy là “một bộ phận của giới tự nhiên”, “sống trong lòng tự nhiên” như C. Mác nói, nhưng nếu không được giao tiếp với cộng đồng người trong xã hội, không được giáo dục thì không thể phát triển bình thường, không thể trở thành con người theo đúng nghĩa. Bởi vậy, đúng như I. Can-tơ đã khái quát rất chính xác: con người chỉ có thể trở thành người thông qua giáo dục. Con người không gì khác hơn là những gì được giáo dục tạo nên. Nói cách khác, một con người với cấu tạo cơ thể và thể chất sinh học, đặc biệt là có một bộ não bình thường, vẫn phải nhờ sự giao tiếp xã hội, giao tiếp với cộng đồng người, nhất là nhờ có giáo dục thì mới có thể phát triển để trở thành con người theo đúng nghĩa. Nói tóm lại, tác động của các yếu tố xã hội đến con người thông qua các cơ quan, tổ chức bình thường của cơ thể, đồng thời cũng thông qua việc học tập và rèn luyện, thông qua quá trình giáo dục và lao động.

Lịch sử từ xa xưa đến nay cho thấy rõ, giáo dục là một hiện tượng đặc trưng, đặc biệt của xã hội loài người, đồng thời cũng là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người trong xã hội, gắn liền với tiến trình vận động, phát triển của xã hội loài người. Giáo dục tồn tại và phát triển không ngừng cùng với sự tồn tại và phát triển không ngừng của xã hội. Ảnh hưởng của giáo dục đối với con người, nhất là đối với thế hệ trẻ, là vô cùng quan trọng. Bởi vậy, tất cả xã hội đều coi trọng giáo dục. Trong một xã hội tiến bộ thì giáo dục là chức năng quan trọng bậc nhất của cả gia đình, xã hội và nhà nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Người nhấn mạnh: “Giáo dục các em là việc CHUNG của gia đình, trường học và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách; trước hết là phải làm gương mẫu cho các em trước mọi việc”(8). Người cũng chỉ rõ các nội dung giáo dục gồm có thể dục để làm cho thân thể khỏe mạnh; giáo dục trí dục, mỹ dục và đức dục để trẻ em lớn lên thành những người công dân tốt.

Nhà triết học giáo dục nổi tiếng người Mỹ Giôn Đi-uy (John Dewey, 1859 - 1952) cũng từng viết: “Tiến trình truyền dạy này diễn ra thông qua việc người lớn tuổi hơn truyền đạt cho người trẻ tuổi những tập quán làm việc, suy nghĩ và bày tỏ tình cảm. Nếu không có việc truyền đạt những lý tưởng, hy vọng, kỳ vọng, tiêu chuẩn, quan điểm từ những người đã từng trải qua cuộc sống cộng đồng cho những người đang bước vào cuộc sống ấy, thì đời sống xã hội sẽ không thể tiếp tục duy trì”(9). Xã hội không thể tồn tại, chứ chưa nói đến phát triển, nếu thiếu sự truyền đạt hay sự truyền dạy này. Cũng chính Giôn Đi-uy đã viết: “Xã hội không chỉ tiếp tục tồn tại nhờ vào tiến trình truyền dạy, nhờ vào sự truyền đạt; mà hoàn toàn có thể nói rằng xã hội quả đang tồn tại trong tiến trình truyền dạy, trong sự truyền đạt”(10). Khi biết được điều kiện xã hội, điều kiện sống tác động ra sao đối với từng lứa tuổi, chúng ta có thể làm cho việc rèn luyện, giáo dục, học tập có kết quả hơn, nhất là giai đoạn con người ở độ tuổi vị thành niên.

Một xã hội tiến bộ và phát triển vì con người thì con người phải luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong các chương trình, kế hoạch xây dựng và phát triển của đất nước, dân tộc, trong đó có chương trình và kế hoạch phát triển giáo dục. Trái lại, một xã hội chậm tiến, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu, không có những điều kiện xã hội thiết yếu phục vụ con người thì con người, nhất là thế hệ trẻ, không thể phát triển cả về thể chất, năng lực trí tuệ và tinh thần. Nói tóm lại, con người không thể sống biệt lập, cũng không thể phát triển ở bên ngoài cộng đồng người, không thể thiếu sự giao tiếp thường xuyên với cộng đồng xã hội. Chính vì vậy mà bản chất con người mang tính xã hội sâu sắc.

Chăm lo con người phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần, nhất là thế hệ trẻ _Ảnh: Tư liệu

Cuộc sống của con người trong thời hiện đại đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất khó lường xuất phát cả từ phía giới tự nhiên lẫn từ phía các quan hệ xã hội. Dưới tác động vô cùng mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của những biến động to lớn do các cuộc cách mạng xã hội tạo nên, thì cả hệ sinh thái tự nhiên và xã hội con người đều không thể tránh được những biến đổi. Điều này đòi hỏi khả năng thích nghi kịp thời và sự đồng tiến hóa của cả mặt tự nhiên và mặt xã hội trong con người. Sự đồng tiến hóa này là nét đặc trưng tiêu biểu nhất diễn ra trong suốt lịch sử loài người, có thể là cùng với sự ra đời của các nền văn minh nhân loại từ xa xưa, nhưng mạnh mẽ nhất là dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại bắt đầu từ những năm giữa thế kỷ XX đến nay. Chính sự đồng tiến hóa này là bằng chứng rõ rệt nhất về tính thống nhất giữa sự phát triển của con người cả về mặt tự nhiên và về mặt xã hội.

Một vấn đề quan trọng được đặt ra ở đây là dù với những cấu tạo, cả vi mô và vĩ mô của bộ máy cơ thể cực kỳ phức tạp, hết sức tinh vi, hoàn chỉnh tuyệt vời như hiện thời, nhưng liệu con người có đủ khả năng để thích nghi với tất cả tác nhân khác nhau, nhất là các tác nhân có hại, như các chất phóng xạ, các hóa chất cực kỳ độc hại đang gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, thực phẩm? Đây là những mối lo mà cả xã hội và từng con người đang phải đối mặt và xã hội không thể không tìm cách giải quyết rốt ráo trước khi quá muộn. Hằng ngày, hằng giờ chúng ta đang chứng kiến việc con người phải chống chịu những tác động hết sức bất lợi do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự tàn phá không thương tiếc các cánh rừng đại ngàn nguyên sinh, dẫn đến nạn hạn hán kéo dài và các trận lũ lụt khủng khiếp, làm biến đổi khí hậu của trái đất, đe dọa cuộc sống bình thường của con người và mọi sinh vật. Thời gian qua, con người đã và đang khai thác tự nhiên quá mức, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo chỉ vì mục tiêu phát triển kinh tế đơn thuần, đặc biệt là việc con người sản sinh ra những tác nhân vô cùng độc hại từ các chất thải công nghiệp; những hóa chất phát ra từ nhiều loại vũ khí được sử dụng trong các cuộc chiến tranh ở nhiều khu vực trên thế giới... đang đẩy chính con người vào thế bị động. Bởi vậy, ngoài việc con người buộc phải biết học cách tự giác thích nghi thì còn buộc các cấu trúc tinh vi của cơ thể, như phân tử, tế bào, mô cho đến cơ quan, hệ thống trong cơ thể phải có những biến đổi mà chính con người không thể sớm tự mình nhận biết. Chắc chắn là con người như một thực thể sinh học - xã hội không thể có những đột biến đủ khả năng để thích nghi kịp thời, ngay lập tức, tuyệt đối và vô điều kiện với tất cả tác nhân có hại ấy.

Trong tình hình đó, hơn lúc nào hết, các ngành khoa học và công nghệ hiện đại cùng với bộ máy quản lý nhà nước cần có những hiểu biết thật sự chính xác, tìm ra những biện pháp xử lý và những phương tiện vật chất đủ khả năng ngăn chặn một cách hiệu quả những tác động có hại, những ảnh hưởng xấu đối với các cấu trúc sinh học vốn rất bền vững, nhưng cũng cực kỳ tinh vi, nhạy cảm của con người, làm sao để con người kịp thời có những thay đổi trong lối sống vừa thuận theo thiên nhiên, vừa chủ động góp phần làm tăng dần từng bước khả năng thích nghi của mình. Bởi vì, như các khoa học sinh học nói chung và ngành di truyền học hiện đại nói riêng đã chứng minh rằng, các đặc tính, những khả năng và phẩm chất của một cá nhân con người không chỉ phụ thuộc vào cấu trúc di truyền được bố mẹ trao truyền lại, mà còn phụ thuộc và chịu những sự tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ khác nhau của cả môi trường xã hội cũng như môi trường vật lý mà trong đó con người đã được sinh ra, tồn tại và phát triển; nghĩa là sự tồn tại và phát triển của con người vừa không cưỡng lại được các quy luật sinh học, các quy luật tự nhiên, vừa bị các yếu tố khác nhau trong môi trường xã hội chi phối. Bởi vậy, ngày nay, con người vừa là đối tượng trực tiếp của khoa học tự nhiên, vừa là đối tượng của liên ngành các khoa học xã hội. Một phức hợp các khoa học nghiên cứu con người cả từ góc độ tự nhiên lẫn góc độ xã hội thực sự đã hình thành và tiên đoán của C. Mác về thời đại mà “khoa học tự nhiên bao hàm trong nó khoa học về con người cũng như khoa học về con người bao hàm trong nó khoa học tự nhiên: đó sẽ là một khoa học”(11) đã trở thành hiện thực. Như vậy, khoa học nhất thiết phải xem xét sự phát triển con người từ góc độ thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội, tránh sự tuyệt đối hóa một trong hai mặt đó. 

Thực tế lịch sử và đòi hỏi ngày càng cao của thời đại đặt ra cho chúng ta hôm nay nhiệm vụ vừa phải chăm lo phát triển mặt thể chất cho con người, nhất là cho thế hệ trẻ, vừa phải chăm lo phát triển giáo dục. Một xã hội phát triển vì con người phải bảo đảm các điều kiện tốt nhất để con người phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần./.

-------------------------

(1) A-ri-xtốt: Chính trị luận, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2013, tr. 47
(2) I. Can-tơ: Phê phán lý tính thuần túy, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2004, tr. 1176
(3), (4) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 42, tr. 135, 372
(5) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 29
(6) Xem: Nguyễn Trọng Chuẩn: Một số vấn đề về triết học - con người - xã hội, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002
(7) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 29
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 175
(9), (10) Giôn Đi-uy: Dân chủ và giáo dục - Một dẫn nhập vào triết lý giáo dục (Phạm Anh Tuấn dịch), Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2008, tr. 19, 20
(11) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 42, tr. 179

Người đăng: Vì dân vào lúc 19:27 1 nhận xét:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Tăng cường công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địchTăng cường công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 Gieo rắc hoài nghi, xét lại lịch sử hòng dẫn tới dao động, mất niềm tin vào hiện tại, gây hoang mang về sự phát triển trong tương lai là ý đồ thâm độc mà các thế lực phản động, thù địch, bằng những chiêu trò, thủ đoạn khác nhau, ra sức tấn công trên mặt trận tư tưởng. Do đó, công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng càng có vị trí rất quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Nhận diện một số thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo lịch sử Đảng

Lịch sử càng lùi xa, các chứng nhân lịch sử dần không còn; với ngày càng nhiều những sự kiện quan trọng xảy ra trong thực tiễn, ký ức, nhận thức, tư tưởng con người có thể bị phai mờ về một số nội dung, sự kiện lịch sử. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động thường ra sức cắt xén, thêm bớt, đánh tráo khái niệm, xét lại lịch sử, “đổi trắng thay đen”, bôi nhọ lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trong bối cảnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, cùng với những thuận lợi cơ bản, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, đất nước ta cũng phải đối diện với những khó khăn và trở lực không nhỏ. Các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” hòng gây bạo loạn, lật đổ, chống phá cách mạng Việt Nam. Một trong những thủ đoạn thâm độc, tinh vi của chúng là tấn công vào nền tảng lịch sử của Đảng, hòng xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam.

Thông qua các bài viết, nhân danh cái gọi là các “công trình khoa học”, các diễn đàn, hội thảo,... viện lý do nghiên cứu làm rõ lịch sử, các thế lực thù địch, phản động ra sức tấn công vào lịch sử Đảng. Chúng xoáy vào một số sự kiện lịch sử, một số thời đoạn của lịch sử, với những đánh giá sai lệch, hoặc thổi phồng sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, bịa đặt, bôi nhọ các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử,... hòng phủ nhận những thành quả cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Các thế lực thù địch, phản động ra rả mấy luận điệu mang tính chủ quan, khiên cưỡng, như Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên nền tảng tư tưởng “du nhập”, “vay mượn” từ bên ngoài; Việt Nam đã “độc lập từ tháng 3-1945”, những người cộng sản Việt Nam và Việt Minh “cướp công” trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; thổi phồng những sai lầm của Đảng trong cải cách ruộng đất; đánh giá sai lệch về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968; phê phán Việt Nam đưa quân sang “xâm lược Cam-pu-chia” năm 1979 (!?),...

Bám vào sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch, phản động rêu rao rằng: chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai(?!); chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”(!?),...

Bên cạnh đó, cũng xuất hiện một số cách nhìn, nghiên cứu sai trái, thiển cận, cả những dấu hiệu của căn bệnh lười học tập, nghiên cứu lý luận, điển hình như biện luận rằng dân tộc Việt Nam không cần thiết tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để giành nền độc lập trọn vẹn, tiến tới thống nhất đất nước, mà Việt Nam vẫn có thể thực hiện được sự thống nhất đất nước theo mô hình của Đức ở châu Âu...; có hiện tượng đáng ngại là xuất hiện những ý kiến “đánh giá lại lịch sử”; ngại viết, ngại nói về lịch sử Đảng, cho rằng viết về Đảng là “không khách quan”, “không khoa học”; đòi xem xét, đánh giá lại những vấn đề lịch sử, thậm chí còn hàm hồ cho rằng những nhân vật phản diện cũng là những “người yêu nước”(!?)... Những luận điệu xuyên tạc, những nhận định lệch lạc, sai lầm, ấu trĩ về lịch sử Đảng, lịch sử đấu tranh cách mạng, lịch sử dân tộc diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại, kéo dài với nhiều hình thức, nhiều biểu hiện, vừa ráo riết, vừa âm thầm; đáng quan ngại nhất là được che đậy dưới chiêu bài “khách quan”, “khoa học”.

Hiện nay, tận dụng lợi thế của các phương tiện truyền thông xã hội có hiệu ứng rất lớn, rất nhanh; sự kiểm duyệt thông tin khó khăn; có thể thực hiện từ xa, ít bị định chế bởi các biên giới cứng, các thế lực phản động, thù địch, phần tử định kiến triệt để lợi dụng kênh thông tin này để phát tán, tuyên truyền sai sự thật nhiều vấn đề lịch sử hòng gây hoang mang, dao động, hoài nghi, ngả nghiêng trong nhận thức, tư tưởng; kích động sự hận thù giữa nhóm người này với nhóm người kia, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hơn ai hết, các thế lực thù địch, phản động thừa biết rằng, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen lịch sử Đảng chính là đánh phá trực tiếp vào cơ sở thực tiễn, cơ sở chính trị, vào nền tảng lịch sử của Đảng. Lịch sử thuộc về những gì đã qua, ngày càng ít người biết đến, nên việc bịa đặt, dàn dựng, đưa ra các “thuyết âm mưu”,... dễ dàng hơn rất nhiều so với tấn công vào các vấn đề hiện tại - những vấn đề mà tự kết quả, hiệu quả, các con số thống kê có thể lập tức phản bác những ý đồ, âm mưu đen tối. Do đó, các thế lực thù địch, phản động coi lịch sử là một địa hạt, mặt trận quan trọng để tấn công trực tiếp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài học từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cho thấy, việc nhận thức không đúng về lịch sử, hoài nghi về lịch sử, xem xét lại lịch sử có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

Nhận thức sâu sắc những vấn đề đó, trong giai đoạn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam kịp thời đề ra đường lối, chủ trương và có sự chỉ đạo hành động đúng đắn, quyết liệt, là “kim chỉ nam” cho công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng. Quan điểm của Đảng khẳng định rõ, việc củng cố, tăng cường nhận thức về lịch sử Đảng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân luôn là đòi hỏi thường xuyên, cấp bách, tất yếu trong công tác tư tưởng của Đảng; đồng thời, có vị trí rất quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 28-8-2002 của Ban Bí thư, “Về tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, khẳng định: Nghiên cứu sâu sắc lịch sử Đảng là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm làm rõ các chặng đường lịch sử và hoạt động đấu tranh của Đảng, tổng kết thực tiễn lịch sử dân tộc. Nghiên cứu lịch sử Đảng không chỉ nêu bật những thắng lợi, những thành tựu của cách mạng, mà còn phải chỉ ra, không tránh né, cả những sai lầm, khuyết điểm, làm sáng tỏ những bài học, những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam, giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng, bồi dưỡng tình cảm yêu nước, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương và toàn thể đảng viên nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng. Nghiên cứu, tổng kết lịch sử Đảng làm cho mọi cán bộ, đảng viên và toàn dân hiểu về Đảng, là giáo dục về Đảng; là tổng kết thực tiễn lịch sử, làm rõ lý luận về con đường cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm rõ bài học và lý luận về xây dựng Đảng là góp phần quan trọng vào công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, lịch sử các đảng bộ địa phương và một số ngành và đoàn thể ở Trung ương do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ban thường vụ các cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt.

Trước tình hình mới, nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và bối cảnh cuộc đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử ngày càng quyết liệt, công tác nghiên cứu, tuyên truyền lịch sử Đảng đứng trước những yêu cầu, thử thách mới. Ngày 18-1-2018, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW, “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng” với những yêu cầu mạnh mẽ, đặc biệt nhấn mạnh phải đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức, trước hết là của người đứng đầu, về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng; chủ động đấu tranh phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử Đảng.

Công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng, góp phần đấu tranh chống xuyên tạc lịch sử, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Sau 15 năm thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW, các bộ, ban, ngành, các tỉnh, thành phố đã nghiên cứu, biên soạn, xuất bản 10.325 công trình khoa học lịch sử Đảng; trong đó có 865 công trình cấp tỉnh, 1.336 công trình cấp huyện; 6.385 công trình cấp xã; 1.371 công trình của các sở, ban, ngành, đoàn thể và 365 công trình do Viện Lịch sử Đảng biên soạn và xuất bản(1). Cùng với các công trình lịch sử Đảng bộ, các công trình lịch sử với nhiều thể loại, như lịch sử truyền thống cách mạng của các ban, ngành, đoàn thể, lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang, lực lượng công an,... được xuất bản. Đặc biệt, trong số 365 công trình của Viện Lịch sử Đảng, có những công trình tiêu biểu: Lịch sử Xứ ủy - Trung ương Cục miền Nam (1954 - 1975); Lịch sử công tác dân vận của Đảng (1930 - 2010); Lịch sử Chính phủ Việt Nam (1976 - 2005); Lịch sử phong trào Nông dân và Hội Nông dân Việt Nam (1930 - 2015); Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam (1986 - 2010)... Đảng ta khẳng định: “Sau 15 năm thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW của Ban Bí thư khóa IX, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng đã đạt được kết quả quan trọng, góp phần tổng kết thực tiễn lịch sử cách mạng qua các thời kỳ, rút ra kinh nghiệm, bài học, quy luật của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo; giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp tinh thần yêu nước và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”(2).

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương và các đại biểu tham quan Tủ sách “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” tại Phố sách Hà Nội _Nguồn: zing.vn

Thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW, Viện Lịch sử Đảng đã tích cực tổ chức triển khai công tác nghiên cứu, biên soạn và hoàn thành, xuất bản nhiều công trình khoa học lịch sử(3). Bên cạnh đó, nhằm tiếp tục tăng cường nghiên cứu và tổng kết lịch sử Đảng, đúc kết những bài học kinh nghiệm từ lịch sử góp phần vào công tác chính trị, tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chỉ đạo Viện Lịch sử Đảng hoàn thành nhiều đề tài cấp bộ trọng điểm: Nghiên cứu, bổ sung, nâng cao chất lượng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập II (1954 - 1975), Nghiên cứu, bổ sung, nâng cao chất lượng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III (1975 - 2006), viết mới giai đoạn 2006 - 2011, Đấu tranh chống những quan điểm sai trái xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch; tiểu sử của các đồng chí Võ Văn Ngân, đồng chí Nguyễn Duy Trinh; Đề án sưu tầm, khai thác và xác minh tư liệu về đồng chí Phạm Hữu Lầu... Ngoài ra, đội ngũ cán bộ của Viện Lịch sử Đảng đã tham gia nghiên cứu, biên soạn trên 70 cuốn sách chuyên khảo, gần 500 bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo khoa học.

Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương; lịch sử ban, ngành, đoàn thể có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng. Trong 3 năm (2018 - 2020), cả nước có 2.461 công trình đã hoàn thành và xuất bản; trong đó, có 122 công trình lịch sử cấp tỉnh; 358 công trình lịch sử ban, ngành, đoàn thể; 265 công trình cấp huyện; 1.716 công trình cấp xã. Có 7 tỉnh đã biên soạn lịch sử đảng bộ tỉnh đến năm 2020; 8 tỉnh biên soạn lịch sử đảng bộ tỉnh đến năm 2015(4). Một số tỉnh, thành phố đã chủ động biên soạn và xuất bản Văn kiện Đảng bộ tỉnh; Biên niên sự kiện Lịch sử Đảng bộ tỉnh, thành phố, như Lào Cai, Hà Giang, Ninh Bình, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nam. Bên cạnh kết quả về số lượng, chất lượng biên soạn, xuất bản lịch sử đảng bộ các cấp được nâng lên một bước.

Kết quả công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng đã góp phần quan trọng vào việc giáo dục truyền thống, bồi dưỡng tình cảm cách mạng, làm cho lịch sử Đảng và lịch sử truyền thống thấm sâu trong tâm trí mỗi cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân, giúp bạn bè quốc tế hiểu ngày càng đầy đủ, chân thực, sâu sắc hơn về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng góp phần đấu tranh chống các luận điệu sai trái và âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động hòng xuyên tạc lịch sử Đảng và lịch sử dân tộc, phủ nhận sự thật lịch sử và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các công trình nghiên cứu còn tổng kết những kinh nghiệm phong phú của Đảng, góp phần phát triển lý luận, làm sáng tỏ và bổ sung đường lối, chính sách của Đảng.

Những công trình nghiên cứu của Viện Lịch sử Đảng nói riêng và các địa phương nói chung đã làm sáng tỏ quá trình ra đời và lãnh đạo của Đảng, luận giải nhiều vấn đề về lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng những sử liệu tin cậy và các luận cứ khoa học, ngành lịch sử Đảng khẳng định quá trình ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của chính lịch sử, là sự kết hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, bao gồm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một đột phá về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc và phát triển đất nước, vừa tuân thủ những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chắt lọc những giá trị phổ quát của văn minh nhân loại, vừa kết tinh và nhân lên tinh hoa về tư tưởng, về văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hiện thực lịch sử cho thấy, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng trên cấp độ toàn Đảng cũng như ở mỗi địa phương đã làm rõ và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên các chặng đường đấu tranh giành độc lập, tự do, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiến hành 30 năm chiến tranh cách mạng, đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ độc lập, chủ quyền, khôi phục sự thống nhất đất nước, tiến hành xây dựng và bảo vệ đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng...

Các công trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng là lợi khí sắc bén đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc các sự kiện lịch sử. Ví dụ như, với những tư liệu lịch sử đáng tin cậy và phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại, lịch sử Đảng đã phản bác những luận điệu phản động, những ý kiến sai lệch về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khẳng định rằng: Cách mạng Tháng Tám là kết quả đấu tranh cách mạng lâu dài của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc cách mạng đó đã được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng thông qua các phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: 1930 - 1931; 1936 - 1939 và đặc biệt là cao trào 1939 - 1945. Đó là kết quả của sự thay đổi tư duy, phát triển lý luận về giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ của Đảng, là nghệ thuật kết hợp xây dựng, chuẩn bị thực lực với chớp thời cơ, nghệ thuật phát động và lãnh đạo nhân dân nổi dậy... Thực tiễn lịch sử đó đã bác bỏ một cách đanh thép những luận điệu xuyên tạc rằng Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng “ăn may”.

Đối với sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, bằng các dữ kiện lịch sử, các công trình khoa học lịch sử Đảng, các cuộc hội thảo kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 được tổ chức ở nhiều địa phương trên cả nước đã làm rõ: cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 là thắng lợi mang tính quyết định, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược đối với Việt Nam, phải hạn chế và tiến tới chấm dứt hoàn toàn việc ném bom phá hoại miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiến tới rút dần quân Mỹ tham chiến ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành lại nền độc lập dân tộc, tiến tới thống nhất đất nước trong những năm 1954 - 1975, các nhà khoa học lịch sử Đảng đã chỉ rõ rằng đây là thắng lợi vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm dưới sự lãnh đạo của Đảng, là thắng lợi của sự sáng tạo lý luận và luận điểm khoa học, cách mạng, đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, nhất quán một quyết tâm: để đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ chế độ do Mỹ dựng lên, ngoài con đường bạo lực cách mạng, nhân dân miền Nam không còn con đường lựa chọn nào khác. Khoa học lịch sử Đảng qua đó bác bỏ những luận điểm sai lạc cho rằng, còn có con đường thống nhất đất nước theo mô hình của Đức để giải phóng miền Nam.

Trên cơ sở nghiên cứu, các công trình Lịch sử Đảng đã tổng kết sâu sắc bài học kinh nghiệm trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, khái quát thành những vấn đề lý luận, mang tính quy luật, đúc kết những truyền thống quý báu của Đảng, những tấm gương cộng sản kiên trung, bất khuất, xả thân, cống hiến cho Đảng, cho dân tộc... Các công trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng được xã hội hóa, đưa vào sử dụng trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống giáo dục quốc dân... đã góp phần quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin, lòng tự hào của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào truyền thống quý báu, nâng cao ý thức trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân.

Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Công binh 550 tìm hiểu và đọc sách tại thư viện đơn vị hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2023 _Ảnh: TTXVN

Cùng với việc phản bác những luận điệu xuyên tạc, những nhận định sai lạc, các công trình nghiên cứu lịch sử Đảng với cách tiếp cận khách quan, khoa học đã góp phần làm cho nhân dân hiểu đúng, hiểu đủ về những sự kiện lịch sử Đảng, dẹp tan sự hoài nghi, những nhận thức mơ hồ về lịch sử, góp phần quan trọng vào việc tô thắm truyền thống lịch sử tốt đẹp của dân tộc, chống những âm mưu và hành động xuyên tạc lịch sử nhằm làm giảm uy tín của Đảng, hòng làm cơ sở để tiến tới đòi gạt bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam...

Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “giữ chủ nghĩa cho vững”(5), góp phần đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khoa học lịch sử Đảng là một binh chủng trong đội quân lý luận, tư tưởng của Đảng. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng cần khắc phục những hạn chế mà Ban Bí thư đã chỉ ra: “Chất lượng nghiên cứu, biên soạn một số công trình lịch sử Đảng chưa cao; công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ chưa được chú trọng đúng tầm”(6). Công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền lịch sử Đảng cần phải tập trung bổ sung, hoàn thiện, nâng cao chất lượng, tính khách quan, khoa học của các công trình lịch sử Đảng ở các cấp; sưu tầm, khai thác bổ sung tư liệu lịch sử Đảng; đổi mới phương pháp nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng theo hướng gắn liền với nghiên cứu, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nghiên cứu lịch sử dân tộc; làm rõ những vấn đề tồn đọng, trên cơ sở đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm cho toàn Đảng, toàn dân hiểu biết rõ ràng và sâu sắc tất cả vấn đề lịch sử./.

----------------------------

(1) Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 28-8-2002, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” (2002 - 2017), Hà Nội, 2018
(2) Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 18-1-2018, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng”
(3) Như: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I (1930 - 1954), quyển I, quyển II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018; Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - 70 năm xây dựng và trưởng thành, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2019; Đảng Cộng sản Việt Nam - Trí tuệ, bản lĩnh, đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020; 90 năm Xô Viết Nghệ - Tĩnh, Sức mạnh quần chúng làm nên lịch sử (1930 - 2020), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, Biên niên sự kiện Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam gồm 7 tập, xuất bản năm 2022...
(4) Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng”, Hà Nội, 2020
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 280
(6) Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 18-1-2018, của Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng”

Người đăng: Vì dân vào lúc 19:26 1 nhận xét:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Nguy hại từ căn bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” của cán bộ, đảng viên hiện nay


“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trước những bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân là một trong các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; “căn bệnh” nguy hại tác động sâu sắc đến niềm tin của Nhân dân với Đảng và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Vì thế, cần sớm phát hiện, điều trị triệt để “căn bệnh” này để xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân”. Trong đó, vẫn còn tình trạng thờ ơ, vô cảm, chưa nêu cao ý thức, trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân. “Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” của một số cán bộ, đảng viên thực sự là một “căn bệnh” rất nguy hại, có biểu hiện đa dạng trên các lĩnh vực đời sống xã hội, như: suy nghĩ hẹp hòi, thái độ dửng dưng, làm ngơ, không quan tâm đến những sự kiện, sự việc diễn ra của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như trước khó khăn, bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; sống ích kỷ, vun vén cá nhân, kèn cựa, đố kỵ, có những hành vi trái đạo đức, lương tâm của con người; tranh công, đổ lỗi, không trung thực, không hoàn thành nhiệm vụ được giao, làm việc thì “được chăng hay chớ”, “dân có cần, nhưng quan không vội”, “khó người dễ ta”, hoặc rơi vào tham nhũng, lãng phí, tư duy nhiệm kỳ.

Mối nguy hại của căn bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là rất lớn, nhất là khi nó “chui” vào chính trị để hình thành sự “vô cảm về chính trị”. Bởi lẽ, cán bộ, đảng viên là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là người truyền đạt và tổ chức cho nhân dân thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, nắm bắt và phản hồi thông tin từ Nhân dân để Đảng, Nhà nước có căn cứ hoạch định, điều chỉnh, bổ sung và đưa ra những quyết sách bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi cán bộ, đảng viên thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc, đòi hỏi chính đáng của nhân dân thì vô hình trung đã tự chặt đứt sợi dây gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và giữa Đảng với Nhân dân.

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” còn là căn nguyên gây mất đoàn kết, mâu thuẫn, nghi kỵ lẫn nhau trong nội bộ cơ quan, đơn vị, địa phương dẫn đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ thấp, gây hại cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chính thái độ này dẫn đến thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, kèn cựa địa vị, quan liêu, bao biện, phô trương, lãng phí, tự tư, tự lợi, tham ô, hủ hóa, không quan tâm đến công việc được giao; thậm chí bỏ mặc, né tránh khi được giao nhiệm vụ mới, khó khăn; hoang mang dao động trước những khó khăn, thách thức tác động đến cơ quan, đơn vị, địa phương mình, v.v. Nhưng khi có thành tích lại cố vơ về mình, không tận tâm, tận lực, đồng lòng, đồng sức, thống nhất để tìm ra giải pháp hữu hiệu đưa cơ quan, đơn vị, địa phương mình vượt qua thách thức, khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Điều này gây nguy hại rất lớn đến xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong các tổ chức, nếu để kéo dài, không khắc phục kịp thời sẽ làm chuyển hóa từ bên trong nội bộ từng tổ chức.

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, hiệu quả điều hành của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đây còn là căn bệnh “quái ác” làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”. Do đó, nếu cán bộ, đảng viên mà có thái độ “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” với nhân dân sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc và Đảng ta.

Có thể nói, “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” là căn bệnh còn tồn tại khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay và rất nguy hại, giống như sâu mọt đục khoét làm cho “cây mất gốc”, sớm muộn gì cũng sẽ đổ. Nguyên nhân sâu xa của “căn bệnh” này là do cán bộ, đảng viên không quan tâm đến chính trị, lười học lý luận chính trị, nhất là nghị quyết của Đảng, có lối sống thực dụng, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, thờ ơ với thời cuộc và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, đơn vị, địa phương, chỉ chăm lo thu vén cá nhân; ngại va chạm, giữ tâm thế trung dung với tư tưởng “dĩ hòa vi quý”; không tích cực tham gia đấu tranh với những vi phạm, biểu hiện xấu, nhận thức, hành vi lệch lạc ở xung quanh để xây dựng đơn vị, địa phương đoàn kết, vững mạnh, phát triển.

Chính vì vậy, chữa trị triệt để “căn bệnh” này là vấn đề cấp bách, đòi hỏi kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp, trước hết, cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp phải tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, tư tưởng, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là tư tưởng: “lấy dân làm gốc”, tinh thần trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân, chia sẻ với dân, giúp đỡ dân,… làm “điểm mấu chốt” để khắc phục bệnh “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị trên thực. Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành, đơn vị, địa phương cần tăng cường rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên về phẩm chất, năng lực, đạo đức cách mạng. Đổi mới và nâng cao chất lượng nhận xét, đánh giá, phân loại cán bộ, đảng viên một cách công khai, minh bạch; kiên quyết sàng lọc, đưa những cán bộ, đảng viên không còn đủ tư cách, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước công việc ra khỏi Đảng, cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Nếu cảm thấy mình không đủ năng lực, trách nhiệm thì dẹp sang một bên để người khác làm”. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện, bồi đắp và nâng cao ý chí để làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao, làm tấm gương sáng để quần chúng học tập, làm theo. Thực tế cho thấy, ở bất cứ cơ quan, đơn vị, địa phương nào mà cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, có năng lực công tác và hết lòng vì dân thì được nhân dân tôn trọng, yêu mến, nể phục, tin tưởng và noi theo.

 

Người đăng: Chung một con đường vào lúc 19:21 1 nhận xét:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Hội chứng chỉ trích, chê bai trên mạng xã hội

Chỉ trích, chê bai mà thiếu căn cứ tìm hiểu, thậm chí với cả những người, sự việc chưa từng gặp, tham gia rất gần với thóa mạ, xúc phạm, trong một số trường hợp còn có thể bị coi là vi phạm pháp luật. Đó không đơn thuần là hành động, thói quen xấu, mà ở mức độ nhất định còn phản ánh một tư duy, lối sống tiêu cực, thiếu văn minh trong đời sống.

Bởi khi xuất hiện quá nhiều sự chê bai, chỉ trích như vậy sẽ khiến cho xã hội mất đi nguồn năng lượng tích cực, ảnh hưởng tiêu cực tới động lực làm việc, sáng tạo, cũng như khiến giảm sút niềm tin vào cuộc sống. Do đó trước thói quen thích chê bai của không ít người thậm chí có chiều hướng lây lan, gia tăng như hiện nay, nhất là trên mạng xã hội rất cần có những giải pháp chấn chỉnh, điều chỉnh kịp thời.

Không ai có thể phủ nhận tính hữu dụng của mạng xã hội nếu người sử dụng biết khai thác để phục vụ cho nhu cầu học hỏi, kết nối, lan tỏa những giá trị tốt đẹp. Tuy nhiên thực tế đang có một bộ phận không nhỏ người Việt sử dụng mạng xã hội chỉ để thể hiện những khía cạnh thiếu văn minh, thiếu hiểu biết, làm cho môi trường mạng trở nên tiêu cực, xấu xí, gây tổn thương cho người khác. Đáng lo ngại là tình trạng thích chỉ trích, chê bai đang nguy cơ trở thành một thói quen phổ biến trong các hội nhóm mạng xã hội và ngày càng có khả năng lan rộng, trầm trọng hơn về mức độ và quy mô. Mới đây nhất có thể kể đến câu chuyện chê bai show diễn của một nam nghệ sĩ tại Ninh Bình. Việc một số khán giả chuyển nhượng lại vé đã mua nhưng hiện không còn nhu cầu của show diễn vốn là bình thường theo quy luật thị trường nhưng lại bị một số hội nhóm trên mạng đẩy lên thành cao trào, đưa ra những nghi vấn về khâu tổ chức, về chất lượng đêm diễn. Đáng buồn thay không chỉ các hội nhóm trên mạng mà thậm chí có một vài trang báo mạng cũng "hùa" theo chê bai, nghi vấn, cho đăng tải các bài viết với dụng ý nghi hoặc, soi mói bất lợi cho show diễn của nghệ sĩ. Trong khi thực tế đêm diễn đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của khán giả, và được nhiều người đánh giá cao.

Tham gia mạng xã hội, chúng ta không khó để tìm ra nhiều thí dụ liên quan đến việc "cư dân mạng" mặc sức chê bai, mắng mỏ, xâm phạm đời tư của ai đó khi họ có phát ngôn, hành động trái với ý kiến của một nhóm người. Trước việc một ca sĩ trên livestreams sử dụng tiếng Anh, thay vì góp ý, động viên, khuyến khích thì đông đảo anti-fan tràn vào chê nghệ sĩ phát âm tiếng Anh "dở ẹc". Hoặc một lãnh đạo doanh nghiệp trao đổi với đối tác trong hội thảo bằng tiếng Anh mà clip vô tình được đưa lên mạng cũng lập tức bị đám đông cũng hùa vào chê bai. Đến nỗi có người bất bình viết bình luận, xin đám đông đừng thiếu lịch sự như vậy, một người để nói được ngoại ngữ ở trình độ đó thì họ đã phải chăm chỉ học rất lâu, cũng liền bị đám đông mắng chửi lại. Một giáo sư sau khi chứng kiến câu chuyện phải thốt lên: "Tôi dám chắc các bạn ngồi cào bàn phím chê bai người khác đều không thể nói được một câu tiếng Anh cho ra hồn, vì nếu để tâm học hỏi các bạn sẽ hiểu được sự vất vả của việc học và không thể có thời giờ lên mạng chê trách người khác".

Bất kỳ ai sử dụng mạng xã hội đều không lạ lẫm khi bắt gặp các hội nhóm "Anti" (chống lại, phản đối) xuất hiện nhan nhản trên mạng. Có thể thấy bản chất của không ít các hội nhóm như vậy là để bóc phốt, nói xấu, khui những chuyện đời tư của một tổ chức hay cá nhân. Đôi khi đối tượng bị chê bai còn là các nhãn hàng, hoặc sản phẩm văn hóa (như bộ phim, cuốn sách, chương trình nghệ thuật...) đang được dư luận quan tâm. Tuy nhiên thay vì đưa ra những nhận xét, đánh giá thấu đáo, công tâm, một số hội nhóm "Anti" thực chất là nơi để các "anh hùng bàn phím" trút vào đó những điều không ưng ý, không hài lòng về một đối tượng mà họ thấy... ghét.

Những "cuộc chiến chê bai" trên mạng ảo đã gây không ít hệ lụy trong đời thực. Như trong lĩnh vực điện ảnh, thời gian vừa qua có hiện tượng phim Việt bị "chết" ngay sau khi ra rạp, ngoài lý do chủ quan và khách quan như chất lượng chưa đồng đều, suất chiếu không phù hợp, còn một lý do không kém phần quan trọng đến từ việc trước đó bị khán giả dập vùi chê bai không thương tiếc. Cụ thể, một số khán giả thiếu thiện chí khi xem phim, bắt lỗi những điểm không hài lòng, thay vì góp ý mang tính xây dựng, họ dùng từ ngữ nặng nề "kết án" bộ phim trên mạng xã hội, rồi những người khác dù chưa xem phim cũng hùa theo, tạo thành một hội chứng đám đông, mặc nhiên phủ nhận công sức sáng tạo của các nghệ sĩ, nhà sản xuất. Những yếu tố đó cộng lại khiến cho một vài bộ phim phải tức tưởi chịu cảnh rời rạp chiếu sớm, chấp nhận thua lỗ.

Chứng kiến những sự việc đáng buồn ấy, nhiều người không khỏi lo lắng bởi, dường như ý thức, tinh thần trân trọng, cổ vũ các sáng tạo, cái mới để qua đó khích lệ, nâng niu khuyến khích, sử dụng các giá trị lao động của các cá nhân trong xã hội đang nguy cơ giảm sút trong lối sống, cách suy nghĩ ở không ít người Việt trẻ đang ngày đêm lướt bàn phím thể hiện "quyền lực" của mình. Đặc biệt, ở lĩnh vực văn hóa, trong khi Nhà nước ta đang cố gắng tạo mọi điều kiện để bảo vệ, phát huy, khuếch trương các sản phẩm văn hóa nội địa, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa Việt ở trong nước cũng như trên trường quốc tế thì thói quen thích chỉ trích, chê bai này đang nguy cơ gây ra những ảnh hưởng không nhỏ. Thành công trong phát triển công nghiệp văn hóa, tại một số quốc gia đã chỉ ra rằng, bên cạnh sự nỗ lực của đội ngũ sáng tạo giá trị văn hóa, cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý thuận lợi thì còn có vai trò rất lớn đó là sự động viên, khích lệ của công chúng trong nước, những người luôn sẵn sàng tiêu thụ, cổ vũ, trân trọng các sản phẩm của văn hóa dân tộc mình.

Đáng buồn là trong một số vụ việc xảy ra thời gian qua, người sử dụng mạng xã hội đã đi quá xa, để lại những hậu quả hết sức nặng nề. Thói quen hùa nhau chỉ trích, chê bai mà không cần suy xét, không cần chứng cứ là một tính xấu thể hiện sự kém văn minh của người sử dụng mạng. Tiện ích của mạng xã hội đã được chứng minh, nhưng cũng chính mạng xã hội đang là mảnh đất phơi bày nhiều lỗ hổng trong văn hóa của một bộ phận không nhỏ người sử dụng. Đã đến lúc cần quyết liệt phê phán, thậm chí có hình thức xử lý nghiêm việc một số bạn trẻ lên mạng xã hội tham gia vào các nhóm "Anti", cho mình quyền được chửi bới, thóa mạ bất cứ điều gì mình "chướng tai gai mắt" thay vì chỉ góp ý, nhắc nhở rồi cho qua. Mạng xã hội cũng như ngoài đời, khi những lời chê bai, nói xấu xuất hiện thường xuyên sẽ làm cho môi trường sống bị vẩn đục, ảm đạm, tiêu cực, ảnh hưởng đến tâm trạng và lối sống của những người chung quanh.

Cũng không nên đánh đồng việc chê bai, thóa mạ với việc "đánh giá" hay "phê bình" để rồi xuề xòa cho đó là chuyện nhỏ, là bình thường. Vì đánh giá hay phê bình đều phải dựa trên những cơ sở mang tính khách quan, khoa học, thông qua việc sử dụng ngôn ngữ chừng mực, thuyết phục, giúp cho đối tượng nhận diện vấn đề rõ ràng hơn. Người ta sử dụng cụm từ "văn hóa phê bình" là vì vậy. Còn chê bai, thóa mạ, công kích, là hành vi phản văn hóa, bởi nó không dựa trên tính khách quan khoa học, tệ hơn nữa, nó còn ẩn dưới đó những dụng ý xấu, và cái tâm không trong sáng của người phát ngôn. Trong một số trường hợp nó thậm chí trở thành "thuốc độc", có thể lấy đi danh dự, thậm chí mạng sống của người bị chê bai. Đó là loại vũ khí vô hình nhưng mang tính sát thương cao, không hề có tác dụng xây dựng cho môi trường đời sống trở nên tốt đẹp, có ích hơn. Theo số liệu khảo sát của Microsoft mới nhất, Việt Nam đứng tốp 5/25 quốc gia có hành vi ứng xử không văn minh trên môi trường internet. Con số đáng buồn này rất đáng để những người có trách nhiệm và những "cư dân mạng" suy ngẫm để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời.

Trong thời đại số, đời sống của thế hệ trẻ gắn bó ngày càng chặt chẽ với môi trường internet. Đang dần hình thành những thế hệ lớn lên, trưởng thành từ mạng xã hội. Những tiếp xúc của một người mỗi ngày trong đời thường đôi khi còn ít hơn cả tiếp xúc trên mạng xã hội. Ở chiều ngược lại, cách sống, cách cư xử của một người trong đời thường đang chịu tác động mạnh mẽ từ môi trường mạng. Do vậy, rất cần đặt vấn đề nghiêm túc và sâu sắc về việc xây dựng văn hóa ứng xử trên mạng xã hội cho người sử dụng, đặc biệt là lớp trẻ. Vấn đề này không thể tách rời vấn đề xây dựng văn hóa con người trong thời đại mới. Bởi một lớp người trẻ biết ứng xử có văn hóa trên mạng có thể giúp ích rất nhiều trong lan tỏa các giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc mình, biết trân trọng những sáng tạo của người khác, biết lắng nghe và chia sẻ. Khi tham gia các diễn đàn sẽ biết phân định đúng sai, biết dùng kiến thức và khả năng phân tích để đánh giá con người, sự việc, không bị cuốn theo đám đông, không hùa vào nói xấu, lăng mạ một ai đó khi chưa có cơ sở thuyết phục. Lớp người trẻ có văn hóa sử dụng mạng xã hội sẽ tạo ra những nguồn năng lượng tích cực, giúp cho bạn bè thế giới yêu mến Việt Nam hơn, và góp phần hiệu quả để mang văn hóa Việt ra thế giới.

Việc chê bai, chửi bới, thóa mạ đến mức vi phạm pháp luật chắc chắn sẽ bị xử lý theo quy định. Nhưng xét đến cùng, mọi quy định mang tính bắt buộc chỉ là công cụ cảnh báo hoặc răn đe, quan trọng nhất vẫn là ý thức cá nhân của mỗi người khi tham gia sử dụng mạng xã hội. Gia đình và nhà trường cần phải không ngừng giáo dục thế hệ trẻ trong việc ứng xử văn hóa khi là một "công dân mạng". Theo đó, chính người lớn phải là tấm gương trong việc nhận xét, bình phẩm, đánh giá một ai đó, và có thái độ rõ ràng với con em mình khi tham gia vào các hội nhóm trên mạng. Mỗi một người phải tự nhận thức về sự nguy hại của hội chứng đám đông, nhân danh đám đông để ném đá, bôi xấu, hạ nhục, làm tổn hại dù đó là một cá nhân hay một tổ chức. Phải khách quan, trung thực, đặt mình vào vị trí của người khác trước khi phát ngôn, bình luận. Đó là cách giúp mỗi cá nhân tự nâng cao tinh thần trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội, góp phần làm cho môi trường sống ngày càng trở nên lành mạnh, văn minh hơn./.

Người đăng: Chung một con đường vào lúc 19:12 1 nhận xét:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Cảnh giác trước những trào lưu độc hại trên mạng xã hội TikTok

Ở Việt Nam, số người sử dụng mạng xã hội TikTok cũng tăng nhanh. Với đặc điểm là những video được đăng tải có nội dung ngắn gọn, dễ xem, dễ nhớ, TikTok trở thành một công cụ hiệu quả để lan tỏa những thông điệp tích cực đến cộng đồng, đặc biệt là trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, TikTok cũng đã và đang bộc lộ nhiều tiêu cực. Dạo một vòng TikTok, không khó để bắt gặp những trào lưu phản cảm, độc hại như: Sex jokes (trò đùa tình dục); nhảy múa khoe thân; quảng cáo phim 18+, thuốc kích dục; giả vờ nghiện ma túy; kỳ thị vùng miền,… gây ra làn sóng tranh cãi gay gắt trong dư luận.

Ðặc biệt, gần đây, trào lưu "săn mây" trên máy bay của một TikToker có đông người theo dõi đã mở màn cho hàng loạt trào lưu gây mất an ninh, an toàn hàng không. Cụ thể, một TikToker với gần 10 triệu người theo dõi, đã cố tình đặt chiếc điện thoại di động trên cửa sổ, bên tấm bảo vệ, rồi kéo tấm chắn che cửa sổ khi máy bay đang cất cánh để ghi lại khung cảnh bên ngoài trong suốt hành trình. Clip của TikToker này đã thu hút hơn 2 triệu lượt xem, và hàng trăm người bắt chước, khiến Cục Hàng không phải lên tiếng cảnh báo, vì hành động này gây ảnh hưởng đến an toàn chuyến bay và tính mạng của hành khách.

Sự việc chưa lắng lại thì chỉ một vài ngày sau, trên TikTok lại xuất hiện trào lưu "nhảy múa trên đường băng". Khởi đầu trào lưu là việc một TikToker đăng tải video mình uốn éo trên đường băng khi máy bay đang di chuyển. Nối tiếp trào lưu đó, một nữ hành khách khác lại "gây bão" mạng xã hội khi thản nhiên ngồi xổm lên băng chuyền hành lý tại sân bay Tân Sơn Nhất khiến dư luận bất bình. Thậm chí, nhiều trào lưu trên TikTok còn đặt người tham gia vào nguy hiểm khi bày ra những thử thách chết người. Thí dụ như thử thách "Blackout", là việc nín thở hoặc tự gây nghẹt thở cho chính mình càng lâu càng tốt, cho đến khi đạt được trạng thái choáng váng. Hành động này nguy hiểm đến mức nó có thể gây tổn thương não hoặc tử vong. Ðây là một vài trào lưu nổi bật trên TikTok, song qua đó khiến chúng ta không khỏi lo ngại đến những hệ lụy xấu có thể gây ra cho xã hội.

Câu hỏi đặt ra là tại sao thời gian gần đây, nhiều trào lưu độc hại trên TikTok lại nở rộ và phát triển mạnh mẽ trong giới trẻ, thậm chí là vượt qua cả Youtube và Facebook?

Ðiều này có thể lý giải bằng cơ chế hoạt động của TikTok. Khác với hai "đàn anh" là Youtube hay Facebook, TikTok cung cấp cho người dùng một chế độ xem tự do và đơn giản hơn, tư duy lý trí của người dùng không còn cần thiết khi các yếu tố kích thích như âm thanh, hình ảnh xuất hiện liên tục. Người dùng chỉ cần bật TikTok là có nội dung xem tức thì, mà không cần suy nghĩ lựa chọn. Nếu người dùng không thích nội dung đang phát, phần tiếp theo video đã sẵn sàng để xuất hiện.

Ngay cả việc lựa chọn nội dung xem của người dùng cũng là một quá trình được hình thành dựa vào đề xuất của thuật toán. Ðể hiểu nhu cầu của người dùng, TikTok thống kê chính xác xem người dùng có tích cực phản hồi về các video được hệ thống đề xuất hay không? Ðiều đó thể hiện qua thời gian xem, lượt tương tác, từ đó hệ thống sẽ dần dần làm rõ sở thích của người dùng, và hình thành một phong cách thống nhất. Người dùng sẽ tin tưởng chắc chắn vào các ý kiến, quan điểm đã được xác lập và thậm chí trở nên thỏa mãn, và mất đi khả năng suy nghĩ, phân tích, sàng lọc thông tin, mất đi cả quyền lựa chọn độc lập và tư duy lý trí trong quá trình tham gia TikTok.

Có thể thấy đối tượng sử dụng mạng xã hội TikTok đa phần là những người trẻ, thanh thiếu niên đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhận thức, dễ bị thu hút bởi những nội dung mới, "lạ", "độc", thậm chí là quái gở, phản cảm, trái với thuần phong mỹ tục, chuẩn mực đạo đức. Với cơ chế hoạt động của TikTok, clip càng thu hút nhiều người xem, những nội dung này lại càng được đề xuất, lên xu hướng, rồi nghiễm nhiên trở thành trào lưu.

Từ đây, giới trẻ lại tiếp thu và làm theo, đu theo xu hướng một cách mù quáng khiến cho những trào lưu vô thưởng vô phạt, thậm chí độc hại có cơ hội phổ biến nhiều hơn. Hậu quả là có không ít trẻ em là nạn nhân "nhiễm độc" thụ động từ chính những trào lưu nguy hiểm trên TikTok. Trong số các trường hợp này có thể kể đến trường hợp bốn học sinh Trường trung học cơ sở ở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã bắt chước video trên TikTok rồi rủ nhau lên đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai ném đá vào xe ô-tô đang lưu thông; hay bé trai 10 tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh phải nhập viện trong tình trạng vẹo cổ, đầu nghiêng sang một bên sau khi bắt chước một trò chơi nguy hiểm trên mạng xã hội.

Những năm qua, để ngăn chặn những nội dung xấu độc tràn lan trên mạng xã hội, các cơ quan chức năng đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm kiểm soát, hạn chế những thông tin xấu, độc hại trên mạng xã hội, và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Cụ thể, ngày 28/5/2021, căn cứ trên tình hình thực tế, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Công văn số 1800/BTTTT-PTTH&TTÐT "Về việc tăng cường công tác quản lý, xử lý thông tin vi phạm trên mạng xã hội" nhấn mạnh sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội những năm gần đây, đặc biệt là hai mạng xã hội Facebook và Youtube với "những tác động cả tiêu cực và tích cực đối với đời sống xã hội", đồng thời khẳng định việc tăng cường công tác quản lý để hạn chế những tác động tiêu cực của mạng xã hội, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm của người sử dụng; yêu cầu Google đóng nhiều kênh Youtube khác của người dùng trong nước có nội dung vi phạm pháp luật.

Tuy nhiên, Công văn chưa đề cập đến mạng xã hội TikTok, một mạng xã hội có cơ chế hoạt động khác biệt so với Youtube và Facebook, đã có từ năm 2016. Ðáng nói hơn, hiện nay chính Facebook và Youtube dường như cũng đã nhanh chóng học hỏi cơ chế hoạt động của TikTok, với sự ra đời của Facebook Stories và Youtube Shorts? Thực tế này đòi hỏi các cơ quan quản lý cần tiếp tục bám sát sự dịch chuyển của xu thế mạng xã hội, để có những biện pháp xử lý, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả.

Nhiều ý kiến cho rằng, với mức xử phạt các hành vi vi phạm trên môi trường mạng xã hội hiện còn quá nhẹ, người vi phạm chủ yếu chỉ bị xử phạt hành chính với mức phạt vài triệu đồng là chưa đủ sức răn đe. So với món lợi "khổng lồ" từ quảng cáo, truyền thông trong một clip viral (phổ biến), thì mức phạt này chỉ là quá nhỏ.

Chính bởi hình phạt chưa thích đáng cho hành vi vi phạm cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng "ngập tràn rác" trên không gian mạng. Mà với TikTok, những rác mạng ấy chính là miếng mồi béo để các TikToker câu like, câu view, tăng tương tác. Do đó các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, rà soát, cân nhắc mức xử phạt các hành vi vi phạm trên môi trường mạng xã hội để đủ sức răn đe, ngăn chặn, đặc biệt, phải có chế tài đặc thù xử phạt đối với những hành vi vi phạm đã bị xử lý nhiều lần.

Về phía TikTok, trước phản ứng của dư luận, nền tảng xã hội này đã cố gắng xây dựng và cập nhật thường xuyên bộ Tiêu chuẩn cộng đồng, để từ đó thực hiện công tác kiểm duyệt nội dung, bảo đảm sức khỏe thể chất và tinh thần cho người sử dụng. Như từ tháng 3/2019, TikTok đã nâng cấp chế độ và dịch vụ dành riêng cho thanh thiếu niên. Người dùng có thể sử dụng ứng dụng để bật chế độ dành cho thanh thiếu niên theo yêu cầu, cho phép họ xem các video đã được sàng lọc để phù hợp với lứa tuổi.

Tuy nhiên, thực tế TikTok đang cho thấy có nhiều lỗ hổng trong cách thức kiểm duyệt nội dung dựa trên "Tiêu chuẩn cộng đồng", cũng như cách vận hành các chế độ dành cho thanh thiếu niên không thật sự bám sát đối tượng. Chính vì vậy, TikTok cần phải siết chặt hơn trong khâu kiểm duyệt với những nội dung độc hại, nỗ lực tìm ra biện pháp cải thiện công nghệ thuật toán của mình để có khả năng phán đoán tốt hơn cho các nội dung kiểm duyệt, góp phần xây dựng một nền tảng mạng xã hội với những video giải trí sạch và chất lượng.

Và trên hết, người dùng TikTok cần phải cẩn trọng, có ý thức tự bảo vệ mình khi sử dụng mạng xã hội, thông qua việc tự tạo một "bộ lọc" phù hợp cho bản thân. Hiện nay, mạng xã hội TikTok đã có cơ chế ngăn chặn và báo cáo các nội dung phản cảm, vô bổ, thậm chí gây hại cho cộng đồng.

Do đó, để bảo vệ mình, người dùng cần sử dụng hiệu quả các tính năng này. Với những người sáng tạo nội dung trên TikTok cần phải lưu ý xây dựng những nội dung tuân thủ theo pháp luật, phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức và thuần phong mỹ tục của Việt Nam.

Riêng với đối tượng trẻ em, thanh thiếu niên, gia đình và nhà trường cần phối hợp giáo dục nâng cao nhận thức của các em khi sử dụng mạng xã hội. Ðứng trước "ma trận" những trào lưu trên nền tảng TikTok, nếu không được trang bị những kiến thức cần thiết và các biện pháp sử dụng nền tảng một cách an toàn, đối tượng thanh thiếu niên rất dễ bị đầu độc bởi những nội dung xấu và thậm chí vô tình trở thành nạn nhân của những trào lưu độc hại./.

Người đăng: Chung một con đường vào lúc 19:11 1 nhận xét:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Công nhân phải giảm giờ làm vì nhà máy thiếu đơn hàng

 

Sau 6 tháng phục hồi mạnh mẽ, nửa cuối năm nhiều nhà máy bị thiếu đơn hàng, nguyên liệu phải giảm thời gian sản xuất, dừng tuyển dụng, giảm lao động.

Hơn tháng qua, chị Nguyễn Thị Thuỳ Dung, 32 tuổi, công nhân nhà máy Datalogic Việt Nam ở Khu công nghệ cao (TP Thủ Đức) chỉ làm đủ 48 giờ mỗi tuần, không còn tăng ca như trước. Công ty sản xuất theo chế độ hai ca ngày, đêm, thời gian 12 tiếng nên chị chỉ đi làm 4 ngày, sau đó nghỉ ba ngày.

"Không còn làm thêm nên thu nhập giảm hơn 30%", chị Dung nói. Do một mình nuôi con, chị phải tính lại các khoản chi tiêu để phù hợp khoản lương mới. Tuy nhiên, nữ công vẫn cảm thấy may mắn vì công ty duy trì nhiều khoản hỗ trợ. Sau 11 năm đi làm liên tục, chị tự động viên đây là thời gian bản thân nghỉ ngơi, dành thời gian cho con trai 13 tuổi.

Không may mắn như chị Dung, chị Nguyễn Thúy Vân, 23 tuổi, làm việc tại một công ty sản xuất các sản phẩm điện tử tiêu dùng cũng thuộc Khu công nghệ cao, vừa bị đưa vào danh sách cắt giảm lao động do công ty không bán được hàng, sản phẩm tồn kho nhiều.

"Công ty có chính sách phúc lợi tốt, tôi muốn gắn bó lâu dài nên khi nghe tin rất sốc", chị Vân nói. Những công nhân thuộc diện cắt giảm chỉ còn đi giờ hành chính 8 tiếng, không được tăng ca. Nhiều người phải lên ngồi ở phòng chờ, đợi xưởng nào cần việc thì đến hỗ trợ. Một số người nản nên chủ động nộp đơn nghỉ để kiếm việc khác.

"Tháng lương vừa rồi của tôi chỉ được 6 triệu đồng, giảm gần ba triệu đồng so với trước", chị Vân nói. Từ khi nghe tin bị đưa vào danh sách cắt giảm, nữ công nhân đã đi tìm việc mới nhưng chưa được nên cố gắng bám trụ đến ngày thương lượng chấm dứt hợp đồng, hy vọng được một khoản bồi thường.

Lý giải về việc phải giảm giờ sản xuất, ông Đặng Văn Chung, Tổng giám đốc Công ty Datalogic Việt Nam, nói rằng sau dịch đơn đặt hàng thiết bị đọc mã vạch, cảm biến của doanh nghiệp rất nhiều nhưng nhà máy thiếu linh kiện để làm hàng. "Đây là tình trạng chung của hầu hết doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm điện tử do cung linh kiện không đủ cầu", ông Chung nói.

Để xoay xở, nhà máy Datalogic Việt Nam chấp nhận trả giá cao tìm được nguồn cung để đảm bảo tiến độ các đơn hàng. Nguồn ở đây có thể là những đơn vị trữ hàng từ trước dịch và bán với giá "chợ đen". Nếu trước giá cao gấp ba lần, giờ đây doanh nghiệp có thể phải chấp nhận tăng lên vài chục lần, hàng nhỏ giọt.

Theo ông Chung, linh kiện ít nên công ty phải điều tiết sản xuất đảm bảo mỗi công nhân đều được đi làm, ít nhất đủ 48 tiếng mỗi tuần để có thu nhập căn bản. Nhà máy sẽ không cắt giảm lao động và duy trì nhiều chính sách hỗ trợ để giữ người, chờ thị trường phục hồi.

Không chỉ ngành điện tử gặp khó, nửa cuối năm cũng là giai đoạn khó khăn của lao động dệt may khi doanh nghiệp giảm đơn hàng. Một số nhà máy phải sắp xếp cho công nhân nghỉ luân phiên. Bà Trần Thị Tuyết Mai, Phó tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), nói đầu năm, các doanh nghiệp nhận nhiều đơn hàng nhưng thiếu lao động. Nhiều nhà máy phải tìm chỗ gia công bớt.

Sang quý 2, chiến sự Nga – Ukraine nổ ra, giá dầu tăng, dịch bệnh... đã tác động thói quen tiêu dùng của con người trên toàn cầu. Sức mua các sản phẩm áo quần thời trang giảm mạnh, hàng tồn không bán được. Các nhãn hàng không ký đơn hàng mới. Một số nhà máy không có đơn hàng để làm buộc phải tính toán lại phương án lao động phù hợp như cho nghỉ thứ 7, sắp xếp công nhân nghỉ phép.

Ông Nguyễn Hữu Tuấn, Giám đốc nhân sự Công ty cổ phần dệt may - đầu tư - thương mại Thành Công ở Khu công nghiệp Tân Bình (quận Tân Phú), nói hiện nhà máy vẫn hoạt động bình thường nhưng đến tháng 9-10 sẽ thiếu đơn hàng. Theo kế hoạch, doanh nghiệp sẽ bố trí cho công nhân nghỉ phép đồng loạt, kết hợp với lễ Quốc khánh, nhà máy sẽ đóng cửa, dừng sản xuất 8 ngày. Sau đó, tùy thuộc vào tình hình, công ty bố trí công nhân nghỉ thứ 7 và giảm giờ tăng ca. Dự kiến, thu nhập của người lao động giảm 10-20%.

Với kinh nghiệm hơn 30 năm làm việc trong ngành dệt may, ông Tuấn cho rằng nửa cuối năm nay sẽ là thời gian "thanh lọc" ngành. Những doanh nghiệp tài chính yếu kết hợp đơn hàng không có, chi phí tăng quá cao sẽ khó lòng trụ nổi buộc phải thu hẹp sản xuất hoặc đóng cửa. Công nhân thiếu, mất việc làm là điều dễ thấy.

Tại Thành Công, doanh nghiệp, người lao động và cổ đông phải cùng chia sẻ khó khăn, chấp nhận giảm phần lợi của mình. Tuy nhiên, nhà máy vẫn duy trì nhiều chính sách hỗ trợ để giữ người chờ phục hồi. Đầu tháng 7, công ty tăng lương đồng loạt 6%, tiền xăng được nâng từ 10.000 đồng lên 15.000 đồng mỗi ngày, giá suất ăn cũng điều chỉnh cao hơn 12%...

Ông Trần Việt Anh, Phó chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP HCM (HUBA), nói rằng không chỉ điện tử, dệt may mà ngành gỗ, sản xuất thép... cũng gặp nhiều khó khăn do sức mua các thị trường chính như Mỹ, châu Âu giảm. Thông thường, từ tháng 6 bắt đầu mùa làm hàng cho trung thu, năm học mới, giáng sinh... nhưng năm nay tình hình khá trầm lắng.

"Nhiều nhà máy hàng tồn kho nhiều, giảm giá xả hàng nhưng không có người mua", ông Việt Anh nói và cho rằng khó khăn của đại dịch, chiến sự trên thế giới, lạm phát... đang thấm dần. Nhiều doanh nghiệp phải sắp xếp lại hoạt động sản xuất, giảm thời gian làm việc. Nguyên liệu sản xuất của một số ngành bắt đầu hạ nhiệt, nhiều đơn vị mạnh tài chính sẽ mua dự trữ, chờ phục hồi. Thị trường ở nhóm này có vẻ ấm nhưng cũng không tạo ra việc làm mới.

Theo lãnh đạo HUBA, nếu xét về quy mô sản xuất, nhiều doanh nghiệp vẫn thiếu lao động nhưng lại dừng tuyển dụng. Hiện, các nhà máy chủ yếu giảm tăng ca, cho nghỉ phép năm. Tuy nhiên, thời gian tới việc làm sẽ không đủ cho một tuần với 8 tiếng làm việc mỗi ngày. Trong khi đó, công nhân muốn làm nhiều, tăng ca để có tiền bù đắp chi phí sau dịch, giá cả tăng, con cái vào năm học mới...

"Tình hình đặt ra bài toán giữ người hóc búa cho các doanh nghiệp", ông Việt Anh nói. Thu nhập giảm, công nhân sẽ chuyển việc đến khi thị trường phục hồi nhà máy sẽ không có người làm, lại rơi vào khó khăn, tranh giành nhân lực.

Người đăng: tamnhinvietnam vào lúc 19:04 1 nhận xét:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: THOISU24
Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đăng ký: Nhận xét (Atom)

https://vietnamtodaynew.blogspot.com/search/label/THUGIAN

  • BANCHUYENNUOC
  • CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
  • DIỄN BIẾN HÒA BÌNH
  • LỊCH SỬ
  • THOISU24
  • THOVAN
  • THUGIAN

Nhãn

  • BANCHUYENNUOC (8899)
  • BIẾN HÒA BÌNH BANCHUYENNUOC (106)
  • CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN (1330)
  • DIỄN BIẾN HÒA BÌN (174)
  • DIỄN BIẾN HÒA BÌNH (4808)
  • DIỄN BIẾN HÒA BÌNH BANCHUYENNUOC (2587)
  • HÒA BÌNH (93)
  • LỊCH SỬ (720)
  • THOISU24 (4114)
  • THOVAN (352)
  • THUGIAN (432)

Tìm kiếm Blog này

Tổng số lượt xem trang

Lưu trữ Blog

  • ▼  2026 (151)
    • ▼  tháng 2 (12)
      • ĐỌC GIÙM BẠN THÔI: TỔNG THỐNG TRUMP VẪN LÀ MỘT GÌ ...
      • CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NGA KIÊN QUYẾT PHẢN ĐỐI MỸ CẤM...
      • VIỆT NAM QUAN NGẠI VỀ VIỆC MỸ ÁP THUẾ BỔ SUNG VỚI ...
      • VIỆT NAM - THẾ GIỚI: HỘI TỤ CHIẾN LƯỢC TẠI “ĐIỂM Đ...
      • TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHÁNH THÀNH CÔNG TRÌNH TRỤ SỞ L...
      • VIỆT NAM LÀ BẠN, LÀ ĐỐI TÁC TIN CẬY CỦA CÁC NƯỚC: ...
      • TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỨC ẢNH QUÝ CHỤP NGUYỄN ÁI QUỐC...
      • TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VỮNG BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG!
      • KHÔNG THỂ ĐÁNH TRÁO BẢN CHẤT, XUYÊN TẠC VỊ TRÍ, VA...
      • VỮNG BƯỚC DƯỚI NGỌN CỜ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ...
      • TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - 96 NĂM...
      • TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐƯA SĨ QUAN QUÂN ĐỘI CHÍNH QUY ...
    • ►  tháng 1 (139)
  • ►  2025 (11613)
    • ►  tháng 12 (135)
    • ►  tháng 11 (149)
    • ►  tháng 10 (163)
    • ►  tháng 9 (207)
    • ►  tháng 8 (195)
    • ►  tháng 7 (278)
    • ►  tháng 6 (382)
    • ►  tháng 5 (494)
    • ►  tháng 4 (838)
    • ►  tháng 3 (3121)
    • ►  tháng 2 (3102)
    • ►  tháng 1 (2549)
  • ►  2024 (28851)
    • ►  tháng 12 (3177)
    • ►  tháng 11 (2798)
    • ►  tháng 10 (2646)
    • ►  tháng 9 (2721)
    • ►  tháng 8 (1957)
    • ►  tháng 7 (2818)
    • ►  tháng 6 (2882)
    • ►  tháng 5 (2474)
    • ►  tháng 4 (1842)
    • ►  tháng 3 (2038)
    • ►  tháng 2 (1440)
    • ►  tháng 1 (2058)
  • ►  2023 (23070)
    • ►  tháng 12 (2055)
    • ►  tháng 11 (1760)
    • ►  tháng 10 (1806)
    • ►  tháng 9 (1872)
    • ►  tháng 8 (951)
    • ►  tháng 7 (2002)
    • ►  tháng 6 (2222)
    • ►  tháng 5 (2309)
    • ►  tháng 4 (2254)
    • ►  tháng 3 (2291)
    • ►  tháng 2 (2101)
    • ►  tháng 1 (1447)
  • ►  2022 (22578)
    • ►  tháng 12 (1749)
    • ►  tháng 11 (2073)
    • ►  tháng 10 (1857)
    • ►  tháng 9 (1737)
    • ►  tháng 8 (1739)
    • ►  tháng 7 (2118)
    • ►  tháng 6 (2191)
    • ►  tháng 5 (2187)
    • ►  tháng 4 (2026)
    • ►  tháng 3 (2195)
    • ►  tháng 2 (1299)
    • ►  tháng 1 (1407)
  • ►  2021 (15315)
    • ►  tháng 12 (1390)
    • ►  tháng 11 (1186)
    • ►  tháng 10 (1185)
    • ►  tháng 9 (1183)
    • ►  tháng 8 (1194)
    • ►  tháng 7 (1641)
    • ►  tháng 6 (2242)
    • ►  tháng 5 (2133)
    • ►  tháng 4 (1182)
    • ►  tháng 3 (840)
    • ►  tháng 2 (437)
    • ►  tháng 1 (702)
  • ►  2020 (5198)
    • ►  tháng 12 (621)
    • ►  tháng 11 (660)
    • ►  tháng 10 (662)
    • ►  tháng 9 (484)
    • ►  tháng 8 (424)
    • ►  tháng 7 (548)
    • ►  tháng 6 (487)
    • ►  tháng 5 (335)
    • ►  tháng 4 (329)
    • ►  tháng 3 (303)
    • ►  tháng 2 (219)
    • ►  tháng 1 (126)
  • ►  2019 (1081)
    • ►  tháng 12 (85)
    • ►  tháng 11 (120)
    • ►  tháng 10 (189)
    • ►  tháng 9 (105)
    • ►  tháng 8 (30)
    • ►  tháng 7 (107)
    • ►  tháng 6 (77)
    • ►  tháng 5 (169)
    • ►  tháng 4 (80)
    • ►  tháng 3 (68)
    • ►  tháng 2 (29)
    • ►  tháng 1 (22)
  • ►  2018 (174)
    • ►  tháng 12 (15)
    • ►  tháng 11 (33)
    • ►  tháng 10 (20)
    • ►  tháng 9 (13)
    • ►  tháng 8 (7)
    • ►  tháng 7 (8)
    • ►  tháng 6 (23)
    • ►  tháng 5 (18)
    • ►  tháng 4 (12)
    • ►  tháng 3 (10)
    • ►  tháng 2 (8)
    • ►  tháng 1 (7)
  • ►  2017 (115)
    • ►  tháng 12 (11)
    • ►  tháng 11 (7)
    • ►  tháng 10 (8)
    • ►  tháng 9 (8)
    • ►  tháng 8 (9)
    • ►  tháng 7 (5)
    • ►  tháng 6 (12)
    • ►  tháng 5 (15)
    • ►  tháng 4 (2)
    • ►  tháng 3 (25)
    • ►  tháng 2 (8)
    • ►  tháng 1 (5)
  • ►  2016 (76)
    • ►  tháng 12 (7)
    • ►  tháng 11 (20)
    • ►  tháng 10 (15)
    • ►  tháng 9 (14)
    • ►  tháng 7 (15)
    • ►  tháng 6 (2)
    • ►  tháng 5 (3)
  • ►  2015 (9)
    • ►  tháng 12 (9)

Người đóng góp cho blog

  • An nhiên
  • Anh Đức
  • Ankhe
  • Bảo Minh
  • Bố già
  • Bút Chì
  • C M Hoa
  • Công dân Việt Nam
  • Chỉ một tình yêu
  • Chân lý
  • Chung một con đường
  • Do Quoc Hoa
  • Duoicodang
  • Em bé Hà Nội
  • HOA PHƯỢNG ĐỎ
  • Hướng về Hà Nội
  • HẠNH PHÚC
  • HẬU PHƯƠNG
  • HẬU PHƯƠNG
  • Hà Nội Ngày Nay
  • Hào khí Đông Đô
  • Hanhphuc
  • Hoa bên súng
  • Hoa cỏ may
  • Langtu
  • Mặt trời chân lý
  • Mặt trời chân lý
  • Mùa xuân
  • Người Hà Nội
  • Ngược Nắng
  • Ngòi Bút Chì
  • Nghe An
  • Nguyễn Long
  • Ninh Đỗ
  • QUÊ HƯƠNG
  • Quang Vinh
  • Sức sống
  • SÓNG BIỂN ĐÔNG
  • Tổ quốc tôi
  • Tôi yêu Việt Nam
  • Tôi yêu quê tôi
  • Tanphong
  • Taybac
  • Thế trận lòng dân
  • Trưng Vương ML
  • Trẻ
  • Trực diện
  • Trà Giang
  • Tre Việt Nam
  • Unknown
  • Unknown
  • Vì dân
  • Vì dân
  • Voi Tây Nguyên.
  • Xứ Đoài
  • YÊU VIỆT NAM
  • ĐỘT KÍCH
  • Đa làng
  • đại gia chân đất Việt
  • bọnghonggai
  • cả nước đánh giặc
  • chính kiến
  • diendantoquoc
  • hauphuongxungkich
  • khát vọng việt nam
  • khthcct4n
  • kientruong
  • lòng dân
  • nguoivietnamhqt
  • nhuhoaanh15986
  • nvnhvqp
  • phụ cả thiên hạ
  • quehuong
  • quyetthanghd1970
  • taihahoacomay
  • tamnhinvietnam
  • taptrungdongdao
  • thamtulungdanh403
  • tiengchuong
  • vietnamtoi

Bài đăng nổi bật

Trung Quốc và tham vọng độc chiếm Biển Đông

Căng thẳng ở Biển Đông phát xuất từ những tuyên bố chủ quyền vô căn cứ cũng như việc Bắc Kinh bồi lấp các bãi đá với tốc độ rất lớn, tạ...

Bản quyền của diễn đàn Tổ Quốc. Chủ đề Đơn giản. Hình ảnh chủ đề của tjasam. Được tạo bởi Blogger.