Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

Luận điệu sai trái về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

 

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị...”, đồng thời xác định tầm nhìn, định hướng chiến lược, trong đó “nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến 2045”.

Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng được Đảng ta chỉ đạo khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, tạo cơ sở hiện thực hóa mục tiêu lý tưởng, con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn.

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu nhằm phê phán, bác bỏ, phủ nhận vai trò, tính chất pháp quyền của Nhà nước XHCN Việt Nam. Họ cho rằng, nhà nước pháp quyền là giá trị tiến bộ đã được các nước tư bản vận dụng, xây dựng, thực hiện từ lâu, bây giờ Việt Nam đặt lại vấn đề xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN).

Họ ra sức xuyên tạc Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam chỉ có “đảng trị” chứ không có tính pháp quyền “pháp trị”, xã hội không có tự do, dân chủ, nhân quyền. Cho rằng chỉ có nhà nước pháp quyền tư bản, không có khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đồng thời rêu rao rằng, thoát li vai trò lãnh đạo của Đảng, nhà nước phải xây dựng theo mô hình nhà nước “tam quyền phân lập”, như vậy thì những giá trị tiến bộ về quyền cơ bản của con người mới được thừa nhận, tôn trọng và thực hiện…           

Tung ra các luận điệu sai trái, công kích vào bản chất, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN là một trong những mũi nhọn mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tập trung chống phá trong suốt quá trình cách mạng, xây dựng, hoàn thiện nhà nước XHCN Việt Nam. Vậy bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN có đồng nhất nhà nước pháp quyền TBCN? Mục đích, âm mưu mà các đối tượng hướng tới là gì?

Trước hết có thể thấy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền được các nhà chính trị, pháp lý như J.Locke (1632-1704), C.Montesquieu (1698-1755), J. Rousseau (1712 – 1778) đặt nền móng đầu tiên, sáng lập, phát triển như một thế giới quan pháp lý mới, phát triển các tư tưởng về nhà nước pháp quyền, làm cơ sở lý luận xây dựng nhà nước tư sản cho đến ngày nay. So với nhà nước phong kiến “ngàn năm trung cổ”, đây là những tư tưởng tiến bộ của nhân loại trong hoàn cảnh lịch sử khi đó. Tuy nhiên, tư tưởng này bị hạn chế bởi thế giới quan, bản chất giai cấp nên nhà nước tư sản vẫn là công cụ thuộc về thiểu số là giai cấp tư sản, dân chủ tư sản chưa phải là nền dân chủ của đa số, quảng đại quần chúng nhân dân lao động.

Bản chất nhà nước luôn là vấn đề trung tâm của mỗi chế độ chính trị, quyết định bản chất xã hội, biểu hiện ý chí, nguyện vọng của thiểu số hoặc đa số và tính chất, nội dung của một xã hội tiến bộ, dân chủ. Mặt khác, đây cũng là đề tài luôn được học giả, nhà nghiên cứu, chính trị gia không ngừng nghiên cứu, tranh luận trên cơ sở lập trường tư tưởng, khuynh hướng chính trị khác nhau. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lấy lý do này để tăng cường các hoạt động công kích, xuyên tạc, chống phá.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Toàn bộ quyền lực nhà nước là từ nhân dân, do nhân dân, phụng sự lợi ích của nhân dân. Người quan niệm, pháp luật không phải là để trừng trị con người, mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp quyền đó thấm đượm bản chất nhân văn, chăm lo ấm no, hạnh phúc của nhân dân, lòng nhân ái, nghĩa đồng bào, truyền thống đạo lý quý báu của dân tộc. Đó thật sự là giá trị dân chủ sâu sắc và triệt để của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, đó là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Kể từ đó, tiếp thu, kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, quá trình nhận thức tư duy lý luận của Đảng qua các nhiệm kỳ đại hội, nhất là thời kỳ đổi mới, không ngừng được phát triển và hoàn thiện. Những quan điểm, đường lối đó được Nhà nước cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 (bổ sung năm 2011) hay Hiến pháp (2013), Đảng, Nhà nước ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Cương lĩnh chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam khác nhà nước pháp quyền tư sản ở chỗ, pháp quyền dưới chế độ tư bản về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Trong khi bản chất nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, đó là Nhà nước “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng và đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của các mạng Việt Nam”.

Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ, chưa có tiền lệ, đòi hỏi phải có sự nhận thức lý luận khoa học, cách mạng, giữ vững định hướng XHCN trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, đáp ứng yêu cầu đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới. Do đó việc lãnh đạo, tổ chức nghiên cứu, xây dựng, thực hiện đề án chiến lược này là khách quan, khoa học, vừa kế thừa, phát huy những thành tựu đạt được, vừa phát triển, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới.

Như vậy, không thể lập luận rằng “xây dựng Nhà nước pháp quyền là đi theo con đường TBCN”, không thể xuyên tạc ở Việt Nam “chỉ có đảng trị, không pháp quyền”, rêu rao “pháp trị thì xã hội không thể có tự do, dân chủ, nhân quyền”... Mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” không phải là khuôn mẫu, tiến bộ về tự do, dân chủ nhân quyền. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm. Đưa ra luận điệu này, các đối tượng nhằm cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; ca ngợi, cổ súy, hướng lái, thúc đẩy mô hình nhà nước tam quyền phân lập, những cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây; dẫn dắt, gieo rắc nhận thức lệch lạc, xuyên tạc bản chất, vị trí, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN; chia rẽ khối đại đoàn kết, mối quan hệ, thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Mặt khác, việc tung ra luận điệu trên làm méo mó bản chất, tính ưu việt của chế độ xã hội, làm giảm uy tín, vị thế Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trên trường quốc tế.

Tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin, một âm mưu thâm độc và phi lý

 Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đẩy mạnh công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái cũng là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì thế trong điều kiện tình hình phức tạp hiện nay, nhất là thời điểm "nhạy cảm chính trị" khi chúng ta đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, thì cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp, không chỉ đơn thuần về mặt nhận thức, mà còn mang tính chính trị sâu sắc.

ại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng ta xác định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, và, một trong năm bài học mà Đại hội XII Đảng ta xác định là: "trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh"

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đẩy mạnh công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái cũng là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì thế trong điều kiện tình hình phức tạp hiện nay, nhất là thời điểm "nhạy cảm chính trị" khi chúng ta đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, thì cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp, không chỉ đơn thuần về mặt nhận thức, mà còn mang tính chính trị  sâu sắc.

Đảng ta đã sớm xác định và chỉ đạo kịp thời cuộc đấu tranh này, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thống nhất về tư tưởng và hành động, tiếp tục bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cảnh giác với âm mưu phá hoại của kẻ thù, gần đây nhất ngày 22-10-2018 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Bên cạnh việc kiên định đường lối, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chúng ta cần tăng cường đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái bằng nhiều con đường, phương thức khác nhau. Phải tiến hành đấu tranh chống các quan điểm sai trái ở từng cơ quan, từng ngành, coi đó là phương pháp tự bảo vệ mình, qua đó hình thành một mặt trận chung của nhiều ngành, nhiều cơ quan tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Các cơ quan thông tấn, báo chí cần tìm ra những hình thức tuyên truyền cho phù hợp, sát với từng đối tượng cụ thể, tăng cường công tác thông tin, nhất là thông tin đại chúng như mạng lưới báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh, internet...

Gần đây trên các trang mạng xã hội, với chiêu trò “góp ý” cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, một số phần tử chống phá và những kẻ cơ hội núp bóng “góp ý” đã cho rằng: ở Việt Nam chỉ cần nói tư  tưởng Hồ Chí Minh là đủ, không cần nói chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chúng ta cần chỉ ra những sai trái, mơ hồ và phi lý của luận điểm này. Trước hết, phải khẳng định lại quan điểm của Đảng ta rằng: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống tư tưởng toàn diện về cách mạng Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay bản thân Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, chính xác khi đánh giá vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh viết: “Trước hết phải có đảng cách mệnh...Đảng có vững cách mệnh mới thành công... Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt... Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”

Tháng 7-1969 trong bài trả lời phỏng vấn phóng viên nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... chúng tôi giành được thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”

Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm được con đường để cứu nước giải phóng dân tộc đó là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Người nói: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”

Nguồn gốc lý luận chủ yếu, quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, có thể nói, về bản chất khoa học và cách mạng thì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh “tuy hai mà một, tuy một mà hai”, cho nên ở Việt Nam không thể tách rời mối quan hệ hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, không thể và không được lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin.

Mưu toan của quan điểm trên muốn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là muốn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, và như vậy trước mắt “cái gốc” của tư tưởng Hồ Chí Minh đã bị phủ nhận, thì tương lai họ sẽ tiến đến tìm cách phủ nhận chính tư tưởng Hồ Chí Minh, sâu xa hơn là phủ nhận nền tảng tư tưởng và phương pháp luận của Đảng.

Do vậy, phải luôn luôn quán triệt bài học kinh nghiệm mà Đảng ta nêu ra tại Đại hội XI rằng: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. 

Tóm lại, bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minh trong thực tiễn là một khoa học biện chứng, hiện đại, khoa học của những quy luật khách quan về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, cẩm nang về cách mạng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Mặt khác, chính bản thân Hồ Chí Minh đã nói lên nguyên nhân thắng lợi của cách mạng nước ta là nhờ nguồn gốc tư tưởng lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, thứ ba, Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự cụ thể chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện hoàn cảnh nước ta.

Chính sự chính xác về khoa học, toàn diện và hệ thống, tính biện chứng nhằm mục đích giải phóng nhân loại cần lao, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bất công, giải phóng mọi sự tha hoá, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh thực sự  mà chủ nghĩa Mác - Lênin và ở Việt Nam có thêm tư tưởng Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn là đỉnh cao của trí tuệ loài người, do vậy ở nước ta không được mưu toan tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin.

Nên, việc lên án, chỉ ra "chiêu trò" thâm độc này, đề cao cảnh giác và đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam là việc làm khẩn thiết.

Nhận thức đúng về chủ quyền biển, đảo, đấu tranh với luận điệu sai trái

 

Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.

Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Đại Thắng

Sự mâu thuẫn của một âm mưu thâm độc

 Trong những luận điệu chống phá mà các thế lực thù địch, phản động thực hiện trước thềm Đại hội XIII của Đảng ta, thì luận điệu “Đại hội XIII cần bỏ cụm từ “nền tảng tư tưởng”, cứ lý thuyết nào đúng thì theo”là một ví dụ về âm mưu thâm độc của chúng.

1.  Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, sự đấu tranh, va đập, xung đột giữa các trào lưu tư tưởng, ý thức hệ, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng…luôn xuất hiện và có diễn biến phức tạp, nhất là từ khi chủ nghĩa tư bản (CNTB) ra đời cho đến nay. Tùy theo đặc điểm, mức độ khác nhau, có thể nói, cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội (CNXH) là cuộc đấu tranh dai dẳng, lâu dài, quyết liệt nhất.

Nhìn lại sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự khó khăn của các nước xã hội chủ nghĩa, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, có nguyên nhân quan trọng từ sự chống phá về tư tưởng, ý thức hệ của các thế lực cơ hội, thù địch.

Ở Việt Nam, sự chống phá của các thế lực thù địch diễn ra từ trước khi  Đảng Cộng sản Đông Dương (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam) ra đời, bằng sự đàn áp của chế độ thực dân với các phong trào yêu nước, các cá nhân có tư tưởng tiến bộ. Khát vọng giành độc lập dân tộc, đưa nhân dân, đất nước thoát khỏi ách đô hộ thực dân, thoát khỏi đói nghèo cũng là một trong những nguyên nhân ra đời một chính Đảng kiểu mới - Chính Đảng của giai cấp công nhân, lãnh đạo nhân dân kháng chiến giành độc lập và đi lên CNXH.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết lắm, chỉ có chủ nghĩa Lênin là chắc chắn nhất, cách mạng nhất. Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Việt Nam, không chỉ là cuộc kháng chiến giành độc lập của một dân tộc đánh đuổi đế quốc, thực dân xâm lược mà còn là cuộc đấu tranh về ý thức hệ giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Trong suốt 30 năm từ khi Nhà nước công nông non trẻ đầu tiên ra đời, cho đến khi đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ đánh Pháp, đuổi Nhật và chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và CNTB diễn ra ở Việt Nam lúc này, không chỉ là cuộc đấu tranh trên chiến trường với súng đạn, các phương tiện chiến tranh hủy diệt của kẻ thù xâm lược, sự hy sinh xương máu của hàng triệu người, mà còn là cuộc chiến tranh tổng lực, trên mọi phương diện, trong đó có cả sự chống phá về tư tưởng, ý thức hệ của các thế lực cơ hội, thù địch. Những âm mưu kích động bạo loạn, lật đổ, tâm lý chiến, tuyên truyền, bôi nhọ, phá hoại từ bên trong thường xuyên xảy ra, có sự phối hợp trong - ngoài, trên - dưới với nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc. Phạm vi chống phá cũng rất đa dạng, kết hợp đấu tranh trên chiến trường với sức mạnh vượt trội về phương tiện chiến tranh, tiềm lực quân sự với tâm lý chiến, phá hoại về tư tưởng, chính trị, bao vây, cô lập… Nội dung và lĩnh vực chống phá được thực hiện, hướng vào những vấn đề khó khăn trong nước, khi Việt Nam vừa thực hiện kháng chiến giành độc lập, vừa từng bước xây dựng CNXH trong điều kiện điểm xuất phát thấp, một số lĩnh vực hay bị lợi dụng như dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… Âm mưu, thủ đoạn chống phá cũng linh hoạt, đa dạng, đó là sử dụng sức mạnh trên chiến trường, kết hợp phá hoại sự ổn định bên trong, ly tán về tư tưởng, chính trị… Ở mỗi thời điểm, giai đoạn khác nhau, các thế lực cơ hội, thù địch sử dụng phương thức chống phá tương ứng. Tuy nhiên, sức mạnh của chính nghĩa và sự đoàn kết, đồng lòng của người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, đã làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, Việt Nam đã giành độc lập, thống nhất đất nước.

Từ sau năm 1975, đặc biệt là từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay, Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bước vào giai đoạn mới, với nhiều đặc điểm khác biệt so với trước đây, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến cuộc đấu tranh tư tưởng, ý thức hệ. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, vì nhiều lý do, nhưng chủ yếu là sai lầm chủ quan, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào khó khăn. Khủng hoảng kinh tế - xã hội, quản lý đất nước yếu kém, sự chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ, cùng với cuộc chiến tranh lạnh, sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc gây ra đã làm cho một số nước mất ổn định nghiêm trọng, dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và một loạt nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào đầu những năm 1990.

“Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được nghiêng ngả, dao động” (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (1))

Ở Việt Nam, thời điểm này, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới tiến hành được 5 năm, những khó khăn về kinh tế do điểm xuất phát thấp, bị chiến tranh tàn phá nặng nề trước đây, cùng với 2 cuộc chiến tranh biên giới phía Nam và phía Bắc, đã đẩy đất nước vào khủng hoảng chưa từng có. Bị cấm vận, bao vây cô lập, mất nguồn viện trợ từ bên ngoài làm cho Việt Nam đã khó khăn càng khó khăn hơn, nhiều vùng miền trong cả nước có tình trạng thiếu lương thực, nhu yếu phẩm thiết yếu trở nên trầm trọng… Sự chống phá của các thế lực cơ hội, thù địch giai đoạn này đối với Việt Nam càng quyết liệt hơn bao giờ hết. Điều này không chỉ thể hiện âm mưu xóa bỏ CNXH ở một số nước còn lại, trong điều kiện phong trào cộng sản, công nhân quốc tế đang thoái trào, các thế lực thù địch còn muốn xóa bỏ mô hình chế độ xã hội mới tồn tại hơn nửa thế kỷ.

Trong suốt thời gian từ cuối thế kỷ XX cho đến nay, nội dung chống phá của các thế lực thù địch có thể khái quát ở một số vấn đề cơ bản, như: 1) Tiếp tục chống phá về hệ tư tưởng, ý thức hệ mà trực tiếp là những quan điểm nền tảng, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng đã lỗi thời; đề cao mô hình, thể chế nhà nước tư bản chủ nghĩa, tam quyền phân lập, ca ngợi sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ...; 2) Chống phá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, chia rẽ Đảng với nhân dân, quân đội, công an với nhân dân; phê phán đường lối đối ngoại, trong đó đặc biệt tập trung vào quan hệ Việt Nam - Trung Quốc; 3) Hạ thấp thành tựu, đồng thời khoét sâu, thổi phồng những khó khăn, yếu kém, sai lầm trong quản lý kinh tế - xã hội; 4) Hạ bệ thần tượng, tập trung vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; nhân việc Đảng xử lý cán bộ tham nhũng, tiêu cực, chúng khuếch đại, chia rẽ nội bộ nhân dân, dân tộc, tôn giáo, khối đại đoàn kết, làm nhân dân mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; 5) Thông tin bôi nhọ mô hình, yếu kém của một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại... Từ những nội dung trên, các thế lực thù địch “chế biến” thành nhiều nội dung cụ thể, có vấn đề chống thường xuyên, liên tục, có nội dung khai thác sâu ở từng thời điểm.

Lực lượng chống phá cũng có nhiều thay đổi, bên cạnh một số thế lực chính trước đây ở các nước phương Tây, lực lượng “diều hâu” cực đoan, còn một bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài, “hận thù” dân tộc sau chiến tranh, một số đối tượng bất mãn, cơ hội trong nước, móc nối với bên ngoài, trong đó có cả một số nguyên là cán bộ cao cấp, trí thức, văn nghệ sĩ… Âm mưu, thủ đoạn chống phá linh hoạt hơn, ngoài việc tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”,  “chiến thắng không cần chiến tranh”, tận dụng tối đa các kênh thông tin như đài phát thanh, nhà xuất bản trực tiếp hướng vào Việt Nam như trước đây, hiện nay chúng triệt để khai thác thế mạnh truyền thông, mạng xã hội, Internet với các hình thức đa dạng, tập trung vào thế hệ trẻ, với nhiều hình thức mới, tuyên truyền thông tin sai lạc, xuyên tạc sự thật. Chúng thường tập trung vào những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, khiếu kiện đất đai, biên giới hải đảo, chia rẽ công an, quân đội với dân…, kích động biểu tình, bạo loạn lật đổ, đưa người từ ngoài vào, phối hợp với những phần tử cơ hội, bất mãn trong nước nhằm tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng. Nội dung chống phá cũng linh hoạt, đa dạng và tinh vi hơn, thật giả lẫn lộn, trắng đen thay đổi…, nhất là vào những thời điểm quan trọng, sự kiện chính trị lớn của đất nước như trước và sau Đại hội Đảng các nhiệm kỳ. Trong đó, luận điểm “ Đại hội XIII cần bỏ cụm từ: “nền tảng tư tưởng”, cứ lý thuyết nào đúng thì theo” là một ví dụ!

2.  Nhân dân Việt Nam gắn bó với Đảng Cộng sản Việt Nam, tin yêu và đi theo Đảng, gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”. Do đó, khi nêu “cứ lý thuyết nào đúng thì theo”, điều này nghe qua có vẻ hợp lý, có tính xây dựng, nhưng thực chất là sự mâu thuẫn, đánh tráo khái niệm. Hoặc là, nền tảng tư tưởng của Đảng là đúng, được thực tiễn Việt Nam khẳng định, thì “cứ lý thuyết đúng thì theo” như vậy là đủ, không cần kiên trì nền tảng tư tưởng, dễ bị coi là cứng nhắc, giáo điều. Bên cạnh đó, trong bối cảnh khó khăn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay, các thế lực thù địch thường rêu rao về sự “lạc hậu, lỗi thời” hoặc “chỉ đúng với trước kia, không còn đúng với hiện nay”, điều này cũng đồng nghĩa với việc coi chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp, không còn đúng, và do đó, cứ “lý thuyết nào đúng thì theo” càng có vẻ phù hợp. Điều đó phản ánh âm mưu, thủ đoạn và cho thấy rõ mục đích cuối cùng của các thế lực cơ hội, thù địch là mong muốn Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, điều mấu chốt trong sự mâu thuẫn của luận điểm “cứ lý thuyết nào đúng thì theo!” là ở chỗ: các thế lực cơ hội, thù địch thường lấy mô hình, lý thuyết của CNTB là chân lý, hoặc các lý thuyết theo chúng là đúng, còn khác với quan điểm của chúng là sai. Thậm chí, không ít trường hợp, do “hận thù” dân tộc, do thái độ thù địch, nên những người cộng sản làm bất cứ điều gì có lợi cho đất nước, dân tộc, nhân dân thì chúng đều phê phán.

Dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng trong những năm qua, Việt Nam vẫn nỗ lực đạt được những thành tựu về xóa mù chữ, xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội… được thế giới thừa nhận, nhưng các thế lực cơ hội, thù địch vẫn ra sức phê phán, cố tình phủ nhận. Bởi vậy, cái gọi là “lý thuyết đúng” mà chúng đưa ra chỉ là ảo tưởng, nhằm đánh tráo khái niệm, mập mờ “đánh lận con đen” đối với những người thiếu hiểu biết. Bên cạnh đó, không thể so sánh một lý thuyết đơn thuần với một nền tảng tư tưởng, hệ tư tưởng. Đó là sự so sánh khập khễnh, thiếu tính hệ thống và tính khoa học. Bởi, một lý thuyết chỉ đề cập đến một vấn đề, một lĩnh vực cụ thể, còn hệ tư tưởng, nền tảng tư tưởng bao gồm nhiều lý thuyết, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong một chỉnh thể thống nhất, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn.

Những luận cứ khẳng định tính đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là:

Thứ nhất, luận cứ về giá trị phổ quát của việc lựa chọn tư tưởng, mô hình phát triển của một quốc gia.

Mỗi chế độ xã hội đều dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất định, là cơ sở để xây dựng, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại cho đến nay, dù tiếp cận từ quan điểm chính trị, ý thức hệ như thế nào, mọi người cũng đều phải thừa nhận, loài người đã trải qua các thời kỳ từ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, và sau này, đã có các quốc gia đi lên CNXH. Theo quan điểm phát triển, tương ứng với mỗi một thời kỳ đó là một kiểu chế độ xã hội đặc trưng, thể hiện sự tiến hóa của văn minh nhân loại trên các lĩnh vực, từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mô hình tổ chức nhà nước, xã hội, các giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu...

Nhìn chung, tư tưởng, mô hình tổ chức xã hội tồn tại trên thực tế, xét ở các khía cạnh khác nhau đều là tri thức, lý thuyết, kết tinh trí tuệ, tinh hoa của nhóm/tầng lớp/giai cấp hay của nhân loại trong từng giai đoạn lịch sử. Các đảng phái chính trị, nhất là đảng cầm quyền ở từng quốc gia đều đại diện cho một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định, đều lựa chọn tư tưởng, cương lĩnh ngay từ khi mới ra đời, đặc biệt khi trở thành đảng cầm quyền.

Thứ hai, luận cứ về khái niệm, nội hàm khoa học.

Xét về mặt khoa học, lý thuyết có thể đúng và chưa đúng và dễ bị sử dụng, phụ thuộc vào chủ quan con người, lý thuyết đúng phải được thực tiễn kiểm nghiệm. Đối với nội hàm của tư tưởng, điểm chung nhất là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan vào trí óc con người dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật… biểu hiện những lợi ích của con người, của giai cấp và của xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể. Tư tưởng có một số đặc trưng cơ bản, như: 1) Có tính độc lập tương đối so với thế giới khách quan, tác động trở lại đối với thế giới khách quan và hoạt động thực tiễn của con người; 2) Nội dung phản ánh của tư tưởng là khách quan, nhưng thông qua chủ quan của con người; 3) Luôn gắn bó và thể hiện lợi ích của con người, nhóm người cụ thể; 4) Luôn gắn với chủ thể nhất định và phản ánh lợi ích của chủ thể đó; 5) Có nhiều cấp độ, hình thức khác nhau về sự tiến bộ hay lạc hậu; tính khoa học hay phản khoa học và thể hiện ở các lĩnh vực khác nhau.

Theo đó, xác định nội hàm của hệ tư tưởng được hiểu là hệ thống các tư tưởng của một giai cấp có mối liên hệ biện chứng, thống nhất, tác động qua lại lẫn nhau, cùng hướng tới một mục tiêu thống nhất, là cơ sở để đảng chính trị, đại diện cho giai cấp đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu đã xác định. Chính vì thế, khi đề cập đến nền tảng tư tưởng, đồng nghĩa với việc khẳng định những tư tưởng cốt lõi mang tính nguyên tắc, là cơ sở để định hướng cho việc bổ sung, phát triển tư tưởng mới trên nền tảng nguyên tắc cốt lõi, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của thực tiễn. Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của chính đảng vô sản cách mạng, Đảng kiểu mới - Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Đó là hệ thống các tư tưởng, quan điểm sâu sắc và toàn diện của các nhà kinh điển Mác-xít về chính trị, kinh tế, xã hội, triết học, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo… bao gồm 3 bộ phận cấu thành: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học. Đây là học thuyết mở, bản thân các nhà kinh điển Mác-xít cũng chỉ rõ yêu cầu cần phải bổ sung, phát triển trong điều kiện mới. Hơn một thế kỷ qua, thực tiễn phát triển các quốc gia lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho thấy, nước nào vận dụng đúng, sáng tạo sẽ phát triển, ngược lại giáo điều, dập khuôn, máy móc sẽ thất bại. Thực tiễn thế giới ngày nay chứng minh một thực tế, đi lên CNXH vẫn là xu thế phát triển chung của nhân loại.

Ở Việt Nam, tại Đại hội lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, đã đánh dấu một bước tiến mới về nhận thức và tư duy lý luận của Đảng. Trong đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, không chỉ là học thuyết về giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động, giải phóng con người, mà còn là học thuyết về sự phát triển xã hội, là vũ khí tinh thần để Đảng làm tròn vai trò tiên phong, vai trò lãnh đạo cách mạng, và chính Người từ chủ nghĩa yêu nước, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê nin và truyền bá vào Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải làm theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tầu không có bàn chỉ nam”. Đó cũng là cơ sở để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh sau này.

ư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng, dân tộc và nhân dân ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của đất nước ta đi tới thắng lợi cuối cùng. Từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt từ Đại hội IX đến nay, tư tưởng Hồ Chí Minh được nghiên cứu, làm sáng tỏ trên nhiều vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng và xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đón nhận nồng nhiệt, có nhiều chủ đề học tập theo từng nhiệm kỳ, phù hợp với các đối tượng khác nhau trong xã hội. Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đang tiếp tục được mở rộng về triết học, xã hội học, kinh tế…

Thứ ba, luận cứ về tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng, không chỉ được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, mà còn được khẳng định, ghi trong Hiến pháp. Điều 4, khoản 1, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội".

Trải qua các giai đoạn cách mạng, khi Đảng, Nhà nước Việt Nam tổng kết, đánh giá những thành công, hạn chế trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện, vấn đề kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bài học quan trọng hàng đầu được rút ra. Từ Đại hội VII đến Đại hội XII, khi đề cập đến bài học kinh nghiệm, vấn đề kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được đề cập trong văn kiện Đảng. Tổng kết 30 năm đổi mới, trong 5 bài học được rút ra, bài học đầu tiên là “…trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”. Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, khi đề cập 5 quan điểm chỉ đạo, quan điểm đầu tiên cũng nêu: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Từ những luận cứ khoa học và thực tiễn nêu trên cho thấy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống các quan điểm sâu sắc, toàn diện, kết tinh trí tuệ, tinh hoa của nhân loại, luôn được bổ sung, phát triển cùng thời đại và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bởi vậy, đây không phải là những lý thuyết đúng đắn riêng lẻ, mà quan trọng hơn, là những lý thuyết đúng đắn được gắn kết trong một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất, mang tính cách mạng và khoa học, được thực tiễn Việt Nam kiểm nghiệm và tiếp tục bổ sung đầy đủ, sâu sắc hơn trong mỗi giai đoạn cách mạng.

Thứ tư, luận cứ về giá trị thời đại, cơ sở để đưa cách mạng Việt Nam phát triển.

Sau gần 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Kiên định độc lập dân tộc và CNXH, đặc biệt là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp, lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn, thử thách, biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, tiếp thu tinh hoa của thế giới, đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sau này là cách mạng công nghiệp lần thứ tư... Việt Nam có quan hệ rộng mở với các quốc gia trên thế giới, vị thế ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Điều này càng khẳng định vai trò của nền tảng tư tưởng của Đảng, một nhân tố cực kỳ quan trọng không thể tách rời sự phát triển của đất nước cho đến ngày nay.

Những quan điểm trên là sự đúc kết sâu sắc từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, vì thế không thể có chuyện “từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng” và “cứ lý thuyết nào đúng thì theo” - một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, cơ hội.

Hạn chế tiêu cực bởi xâm lăng văn hóa

 

Gần đây, quá trình toàn cầu hóa càng trở nên mạnh mẽ hơn cùng với sự phát triển của phương tiện truyền thông mới khiến thế giới trở thành một “ngôi làng toàn cầu” và thúc đẩy quá trình tiếp biến, biến đổi văn hóa nhanh hơn: Phương thức giải trí mới tràn đến dồn dập, lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp từ thành thị đến nông thôn.

Cùng với đó là âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, thâm độc, đang từng ngày, từng giờ làm vẩn đục các giá trị văn hóa, đạo đức xã hội, thúc đẩy sự nảy nở các biểu hiện tiêu cực, lệch chuẩn và thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ... 

Năm 2005, UNESCO thông qua Công ước về Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa. UNESCO nhấn mạnh, các quốc gia có quyền chủ quyền về văn hóa. Để bảo vệ văn hóa, các quốc gia phải xây dựng hệ thống chính sách và pháp luật về văn hóa. Tinh thần công ước cho thấy UNESCO đã ý thức được về ảnh hưởng của sự xâm lăng văn hóa đi kèm với quá trình toàn cầu hóa.

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ là kết tinh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần văn hóa quân sự Việt Nam, thể hiện ở sự kính trọng lãnh tụ, sự yêu thương, quan hệ gắn bó giữa quân với dân; đặc trưng bởi các phẩm chất của người quân nhân vì nước quên thân, vì dân phục vụ; phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Truyền thống văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được hình thành từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, được củng cố, phát triển qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; được gìn giữ, phát huy và hoàn thiện trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đã định hình thành một hệ thống giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức tốt đẹp, bền vững, phản ánh bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh, giúp định hướng sự phát triển nhân cách cho bộ đội.

Vì vậy, việc chống lại sự xâm lăng văn hóa, giữ gìn giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, chúng ta cần phải nhận diện hiện tượng xâm lăng văn hóa đối với văn hóa Bộ đội Cụ Hồ ở những phương diện sau:

Thứ nhất, tác động đến nhận thức, tư tưởng.

Cuộc chiến xâm lăng văn hóa rất khác so với cuộc chiến thông thường. Đây là một cuộc chiến tranh tâm lý, ngấm dần dần vào bộ đội, bắt đầu từ sự lung lay, lệch lạc trong nhận thức, tư tưởng. Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong ngày Di sản văn hóa Việt Nam năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (nay là Chủ tịch nước) đã phát biểu: “Đáng sợ hơn mọi sự xâm lăng, đó là xâm lăng văn hóa, là mất gốc”. Thực tế đã xuất hiện tình trạng đáng báo động về việc nhiều người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ, có cả một bộ phận chiến sĩ trẻ có nhận thức lệch lạc, sống thực dụng, buông thả, phai nhạt lý tưởng và đạo đức, có dấu hiệu bị đồng hóa, tôn sùng thần tượng và văn hóa nước ngoài mà quay lưng lại với truyền thống văn hóa tốt đẹp và lịch sử dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và truyền thông mới, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để đưa những tư tưởng, thực hành, lối sống xa lạ, không phù hợp của phương Tây đến với giới trẻ cũng như bộ đội. Việc tôn thờ tiền bạc thái quá, lối sống cá nhân ích kỷ chính là những biểu hiện đi ngược lại truyền thống văn hóa tôn trọng yếu tố tinh thần, đoàn kết cộng đồng của dân tộc. Chúng ta chứng kiến việc chạy theo giá trị đồng tiền, lối sống cá nhân ích kỷ đã tạo ra rất nhiều hệ lụy trong xã hội, cũng như đang manh nha trong chính môi trường quân đội. Đây là những nỗ lực làm cho cán bộ, chiến sĩ có ý chí yếu, dao động, có thể dẫn đến đầu hàng trước sự tấn công của văn hóa nước ngoài và làm lung lay niềm tin vào chủ nghĩa xã hội.

Dưới một hình thức khác, đó là sự lan truyền của các sản phẩm văn hóa nước ngoài, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của bộ đội. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy những sản phẩm văn hóa ngoại lai, không phù hợp, thậm chí đi ngược lại những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông mới. Thậm chí, kể cả những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ sĩ cũng đã có nhiều người “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không giữ được chuẩn mực đạo đức cá nhân, bê bối đời tư, phát ngôn tục tĩu, hành xử kiểu giang hồ. Một số sản phẩm nghệ thuật chạy theo thị hiếu, đề cao yếu tố chiêu trò, đồi trụy... đã vô tình hay cố ý trở thành đối tượng tác động xấu đến nhận thức cho giới trẻ, trong đó có bộ đội.

Thứ hai, tác động đến lối sống, tác phong sinh hoạt.

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được đặc trưng bởi những chuẩn mực trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng. Đó là lý tưởng sống, chiến đấu cao đẹp, chính nghĩa, yêu nước, yêu chế độ, trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, lao động và công tác; tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, tình đoàn kết quân dân như cá với nước; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy phản ánh bản chất cách mạng và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu của Quân đội ta.

Trong khoảng một thập niên vừa qua, chúng ta thấy những biểu hiện xâm lăng văn hóa đối với bộ đội diễn ra đa dạng. Biểu hiện này đến từ những sản phẩm, sự kiện văn hóa-nghệ thuật, đặc biệt là các sản phẩm, sự kiện có yếu tố nước ngoài, được phổ biến trên các phương tiện truyền thông, sau khi tác động đến nhận thức sẽ được cụ thể hóa ở những thực hành lối sống của giới trẻ, trong đó có bộ đội. Sự thực hành các sự kiện du nhập từ nước ngoài như ngày Lễ tình nhân Valentine (14-2), ngày Cá tháng Tư (1-4)... có mặt tích cực là làm phong phú hơn sinh hoạt văn hóa của người dân, góp phần hội nhập quốc tế, nhưng nếu không có bản lĩnh, bộ đội rất dễ bị ảnh hưởng bởi văn hóa đề cao lối sống ích kỷ cá nhân, thực dụng, vật chất, xa lạ với văn hóa dân tộc.

Lối sống, cách sinh hoạt dựa vào các phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là các mạng xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng của bộ đội. Thực tế đã chứng kiến một số quân nhân sử dụng mạng xã hội để đăng thông tin, hình ảnh liên quan đến nội bộ đơn vị, gây ảnh hưởng đến hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, gây nguy cơ mất an toàn thông tin, nhất là nguy cơ lộ, lọt bí mật Nhà nước, bí mật quân sự. Âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội được thực hiện bằng cách lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót, khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân, kích động đòi phi chính trị hóa quân đội, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật-giả, tốt-xấu, khó nhận diện, trở nên nguy hiểm.

Để ứng phó với tác động của xâm lăng văn hóa đối với văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, trước hết, chúng ta cần phải hình thành nhận thức đúng đắn, đầy đủ và bản lĩnh văn hóa, giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trong quân đội. Điều đó phải đến từ việc hiểu rõ về văn hóa dân tộc. Về nhận thức, chúng ta cần xác định rằng văn hóa rất phức tạp, vì thế, hiện tượng xâm lăng văn hóa cũng khó nhận biết rõ ràng. Việc xác định và giữ gìn văn hóa dân tộc cần phải hết sức cụ thể để phù hợp với hoàn cảnh quân đội.

Về hành động thì chúng ta nên chuyển văn hóa, bản sắc văn hóa từ những khái niệm trừu tượng thành những nội hàm cụ thể, tồn tại trong các sản phẩm và dịch vụ văn hóa. Những câu chuyện về lòng yêu nước, giá trị nhân văn, tấm lòng cao cả sẽ được truyền cảm hứng tốt hơn qua những bộ phim, cuốn truyện, bài hát, sự kiện thể thao, nghệ thuật trong quân đội. Các hoạt động văn hóa-nghệ thuật, đặc biệt là hoạt động biểu diễn nghệ thuật, là một kênh quan trọng trong quá trình nâng cao nhận thức, tri thức toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; đồng thời trang bị cho bộ đội những kiến thức cơ bản trong cuộc đấu tranh với các quan điểm văn hóa, văn nghệ lệch lạc, xấu độc, phản động cùng các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của các thế lực thù địch. Kết quả hoạt động văn hóa, văn nghệ là nguồn động lực to lớn cổ vũ, động viên bộ đội trong cuộc sống, chiến đấu, lao động, học tập và công tác; trực tiếp góp phần nuôi dưỡng những phẩm chất cao đẹp của người lính; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và những giá trị văn hóa; giáo dục, rèn luyện nhân cách quân nhân theo chuẩn mực con người mới xã hội chủ nghĩa. Qua các hoạt động văn hóa-nghệ thuật, bộ đội sẽ hiểu rõ hơn, dễ dàng hơn về những giá trị văn hóa dân tộc, từ đó có sức đề kháng đối với văn hóa ngoại lai.

Bên cạnh đó, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác giáo dục đạo đức, lối sống trong quân đội. Đây là công việc cần phải thực hiện thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực của bộ đội, từ đó lan tỏa ra toàn xã hội, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Tiếp theo đó, cần thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình để rèn luyện đạo đức, lối sống của bộ đội. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Nhìn chung, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp lâu dài, cần kiên trì, thận trọng. Xâm lăng văn hóa ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ nhưng cũng là cơ hội để chúng ta nhìn nhận, đánh giá toàn diện hơn về những giá trị văn hóa đặc biệt này, từ đó có những biện pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài để gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trở thành tấm gương tiêu biểu cho đạo đức cách mạng và văn hóa dân tộc Việt Nam.

PGS, TS BÙI HOÀI SƠN, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội

Đừng nhận thức mơ hồ về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trường lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Chủ trương này là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy nhằm tiếp thu những giá trị tích cực của nhân loại trong phát triển kinh tế để phù hợp với những điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay nhiều quan điểm khác biệt, thậm chí là trái ngược, thù địch đã xuất hiện, gây cản trở không nhỏ tới quá trình thực hiện mô hình kinh tế này ở Việt Nam.

Những quan điểm sai trái phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến từ nhiều nguồn khác nhau, tập trung chủ yếu ở các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, nghi ngờ, phủ nhận sự tồn tại của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Sự nghi ngờ, phủ nhận này đã tồn tại ở nhiều nơi nhưng rộ lên khi một số cá nhân có ảnh hưởng phát biểu và được truyền thông trong và ngoài nước truyền tải, được nhiều cá nhân bất đồng chính kiến cổ vũ, tung hô như những tư tưởng “tiến bộ”, “cách tân”. Họ cho rằng chúng ta đang tìm kiếm mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng mãi không tìm ra được bởi vì "làm gì có cái thứ đó mà tìm". Một số cá nhân khác cho rằng chưa thể hình dung ra nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như thế nào do đó chưa thể khẳng định nó là tích cực hay tiêu cực. Quan điểm này về bản chất là sự nghi ngờ và không thừa nhận chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng đối với mô hình kinh tế này.

Trong lịch sử nhân loại, không có mô hình kinh tế nào là có sẵn và loài người cũng không thể nhìn trước được bất kỳ mô hình kinh tế nào. Một mô hình kinh tế dù có hoàn thiện đến mấy đều là kết quả của quá trình hoạt động của con người. Con người vừa tạo ra nó, vừa nhận thức về nó và điều chỉnh nó theo hướng hoàn thiện hơn. Thực tiễn đã chứng minh, một quốc gia với mô hình kinh tế được cho là hoàn thiện đều là kết quả của một quá trình xây dựng lâu dài, thường xuyên điều chỉnh, cập nhật và bổ sung. Trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng thì một nhà kinh tế dù có tài giỏi nhất cũng khó có thể hình dung đầy đủ hình hài của nó khi hoàn thiện.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng vậy. Chúng ta đang trong giai đoạn đầu xây dựng nên hình hài của nó chưa đầy đủ cũng là điều dễ hiểu. Trách nhiệm của mỗi người dân là dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng chung sức xây dựng để hoàn thiện nó, tạo cho nó có một hình hài đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn trong tương lai.

Những quan điểm này viện lý do về sự yếu kém của một số đơn vị kinh tế nhà nước trong thời gian vừa qua nên muốn loại bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Họ cho rằng sự can thiệp của Đảng và Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường là vô nghĩa, làm lệch lạc thị trường, là lực cản của nền kinh tế Việt nam. Một số quan điểm khác thì cho rằng nền kinh tế thị trường ở nước ta là duy nhất trên thế giới khi lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, gia tăng vai trò can thiệp hành chính của Nhà nước, làm kinh tế thị trường bị biến dạng.

Những quan điểm trên đây chưa nhìn thấy hết bản chất sâu xa trong sự vận hành của một nền kinh tế; chưa hiểu hết mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Xét đến cùng, vấn đề kinh tế quyết định tới vấn đề chính trị, nhưng chính trị cũng có tính độc lập tương đối và luôn tìm cách tác động tới kinh tế nhằm đạt được những lợi ích cho những lực lượng chính trị khác nhau. Đó là lợi ích của từng giai cấp, tầng lớp, lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc. Do vậy, khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước thì không có một mô hình kinh tế nào mà không có sự tác động của các lực lượng chính trị. Chính sự can thiệp này cũng đã dẫn đến các cuộc chiến tranh thương mại, chiến tranh tiền tệ, các cuộc bao vây cấm vận kinh tế và cả các cuộc chiến tranh xâm lược ở các quy mô khác nhau giữa các quốc gia nhằm giành giật lợi ích trên thị trường.

Đối với Việt Nam, là quốc gia đi sau nên trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh của các đơn vị kinh tế còn nhiều hạn chế, nền kinh tế thị trường còn nhiều khiếm khuyết. Do vậy, vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường là đặc biệt quan trọng nhằm khắc phục các khuyết tật của thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh, sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo lợi ích của nhân dân và toàn dân tộc.

Trong quản lý nền kinh tế, những hạn chế là không thể tránh khỏi và nó không phải là mong muốn của Đảng và Nhà nước ta. Trái lại, Đảng và Nhà nước luôn biết nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận những hạn chế khi mắc phải đồng thời cầu thị học tập, tiếp thu những giá trị tiến bộ trong mô hình kinh tế thị trường mà nhân loại đã đạt được nhằm xây dựng mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với những giá trị tiến bộ, phù hợp nhất với Việt Nam.

Thứ ba, coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là lực cản cho sự phát triển ở Việt Nam và cần phải “đổi mới lần thứ hai”.

Quan điểm này xuất phát từ sự mơ hồ về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những người có quan điểm này chưa hiểu hết bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Họ đổ lỗi cho những yếu kém, những tiêu cực nảy sinh trong nền kinh tế nước ta trong thời gian qua là do nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây là lực cản cho sự phát triển ở Việt Nam và hô hào cần phải có một cuộc “đổi mới lần thứ hai”, đưa nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển đầy đủ, hiện đại như kinh tế thị trường của các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).

Trước hết, cần phải khẳng định rằng những tiêu cực nảy sinh trong quá trình vận hành của nền kinh tế nước ta thời gian qua là có thực. Tuy nhiên, đây không phải là bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực chất, nó là những khuyết tật mà Đảng và Nhà nước ta muốn loại bỏ nhằm "xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"[1].

Chính vì vậy, không thể đổ lỗi cho những yếu kém, hạn chế hiện nay là do mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trái lại, như Đảng ta đã nhìn nhận: "những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan, đặc biệt là do: Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đủ rõ"[2]. Do vậy, thay vì đổ lỗi cho mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì cần phải khắc phục những sai lầm mang tính chủ quan trong quản lý nền kinh tế, loại bỏ những hạn chế còn tồn tại, tiếp thu những giá trị tích cực từ mô hình kinh tế thị trường của các nước tiên tiến trên thế giới, trong đó có các quốc gia trong OECD.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Việt Nam sẽ xây dựng mô hình kinh tế thị trường giống bất cứ quốc gia nào. Bởi lẽ đặc điểm của nước ta không hoàn toàn giống với họ. Hơn nữa, bản thân mô hình kinh tế ở các quốc gia trong Tổ chức này cũng không hoàn toàn giống nhau. Ngay cả với mô hình kinh tế thị trường tự do nhất như Mỹ thì vẫn luôn có sự thay đổi. Sự khác biệt đó đã chứng minh cho tính đặc thù của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam không phải là ngoại lệ.

Mặc dù đang trong giai đoạn xây dựng và từng bước hoàn thiện, những hạn chế, yếu kém vẫn tồn tại, những giá trị tích cực chưa được thể hiện đầy đủ, nhưng với bản chất cách mạng và khoa học từ đường lối lãnh đạo của Đảng, với quyết tâm chính trị to lớn của toàn Đảng và toàn dân thì những hạn chế sẽ dần được loại bỏ, những giá trị tích cực sẽ được nhân lên, tạo dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa có tính đặc thù của Việt Nam, vừa mang những giá trị tiến bộ của nhân loại, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng một nước Việt Nam phát triển thịnh vượng.

1,2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, 2017.

Cần đấu tranh chống luận điểm sai trái “chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam”

 Kể từ ngày thành lập đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 89 năm hình thành phát triển. Trong suốt quá trình ấy, Đảng luôn gắn bó với dân tộc, phấn đấu hy sinh cho độc lập dân tộc, cho tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Ngày nay, đất nước ta đã vươn lên tầm cao mới, sánh vai với bạn bè quốc tế chính là nhờ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối.

Trong quá trình điên cuồng chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch luôn nhắm đến việc loại bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin bằng nhiều phương thức như: tách biệt mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, ca ngợi Tư tưởng Hồ Chí Minh một cách thần thánh hóa, để loại bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, rồi tiếp theo là loại bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta; kêu gọi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực hiện bạo loạn lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Vì thế có quan điểm sai trái cho rằng: “Việc du nhập chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là nguyên nhân của mọi tai họa, đưa đất nước vào vòng tăm tối, trì trệ”([1]).

Lịch sử đã chứng minh: kể từ ngày thành lập đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua  89 năm hình thành phát triển. Trong suốt quá trình ấy, Đảng luôn gắn bó với dân tộc, phấn đấu hy sinh cho độc lập dân tộc, cho tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Ngày nay, đất nước ta đã vươn lên tầm cao mới, sánh vai với bạn bè quốc tế chính là nhờ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối. Nhờ có chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam soi rọi đường lối cách mạng Việt Nam mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi vĩ đại, làm cho đất nước ta phát triển phát triển không ngừng, đó là lý do mà Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: học chủ nghĩa Mác – Lênin là học ở lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin phải hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu theo lôgic và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phải sáng tạo, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mỗi nước. Chủ nghĩa Mác – Lênin là khoa học mở, đòi hỏi các đảng cộng sản và công nhân quốc tế phải bổ sung, phát triển trong hoạt động thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác – Lênin có lập trường cách mạng triệt để; có quan điểm khoa học, nhân văn, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện ra quy luật và làm theo quy luật; có phương pháp biện chứng. Thực tiễn lịch sử chứng minh: Chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam đã giải quyết được những vấn đề lớn cho cách mạng Việt Nam, chỉ ra con đường cứu nước và giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một nhân tố đưa đến sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1930, chấm dứt 72 năm khủng hoảng về đường lối cứu nước của dân tộc.

Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều có một điểm chung là bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn; sự kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh là sự liên kết tư tưởng không thể tách biệt hay nói khác là nằm trong cùng một lôgic tư tưởng. Chúng ta phải khẳng định: C.Mác, Ph.Ăngghen có công đặt nền móng lý luận chống chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, kế thừa trí tuệ nhân loại, phát hiện ra nhiều quy luật, tính quy luật, đưa ra nhiều dự báo về tương lai tươi đẹp của xã hội loại người, vì mục đích giải phóng toàn diện con người. Đến thời điểm lịch sử của V.I. Lênin, trên cơ sở kế thừa phát triển tư tưởng C.Mác - Ph.Ăngghen, V.I. Lênin đã đưa ra lý luận chống chủ nghĩa đế quốc, đưa chủ nghĩa xã hội từ khoa học trở thành hiện thực với sự thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917; đề xướng cải cải cách chủ nghĩa xã hội trên cơ sở đưa ra chính sách kinh tế mới “NEP”, vì mục tiêu giải phóng con người.

Trên cơ sở kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng sáng tạo vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đưa ra lý luận chống chủ nghĩa thực dân, phát hiện ra quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phương pháp cách mạng dĩ bất biến ứng vạn biến. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy mà Đảng ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, được nhân dân ủng hộ, tin theo.

Như vậy, quan điểm sai trái, thù địch nêu trên cần phải đấu tranh loại bỏ; kiên định lý tưởng cách mạng, kiên trì thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội; quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, chế độ và bảo vệ nhân dân.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Hà Nội, 2016. Tr 28 – 34.

2. Ban Tuyên giáo Trung ương: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, Tr.99.

3. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.   

[1] Ban Tuyên giáo Trung ương: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, Tr.99.