Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: MỸ - THIỆU TỰ HÀO KHI "CHIÊU HỒI" ĐƯỢC TÁM HÀ, NHƯNG QUÂN GIẢI PHÓNG THU PHỤC CẢ MỘT TRUNG ĐOÀN!

     Nếu như năm 1968, bộ máy tuyên truyền của Mỹ - Thiệu rầm rộ rải truyền tin mừng rỡ khi "chiêu hồi" được Tám Hà (Trần Văn Đắc) như một thắng lợi biểu tượng, thì đúng 5 năm sau, ngày 2-4-1972 ,một "cơn địa chấn" gấp hàng trăm lần đã đánh sập toàn bộ niềm tự hào ấy!

Không phải là sự đầu hàng của một cá nhân, mà là Trung tá Phạm Văn Đính, vị sĩ quan từng được tuyên dương "Anh hùng quân lực VNCH", người cắm cờ trên Thành nội Huế năm 1968, đã quyết định dẫn toàn bộ Trung đoàn 56 (gồm khoảng 1.800 sĩ quan và binh lính) phản chiến, trở về với Chính nghĩa và Nhân dân!

Đằng sau bước ngoặt lịch sử hiếm có trên thế giới này là một câu chuyện vừa bi hùng, vừa thấm đượm tình đồng bào.

Tháng 4/1972, tại căn cứ Cà Roòng (cao điểm 241, Quảng Trị), Trung đoàn 56 bị Quân Giải Phóng (QGP) bao vây chặt như đổ khuôn. Lương thực cạn kiệt, đạn dược hết sạch, pháo dập liên hồi. Trung tá Đính liên tục phát tín hiệu cầu cứu, nhưng những cấp trên trực tiếp như Chuẩn tướng Vũ Văn Giai hay Trung tướng Hoàng Xuân Lãm đều chối bỏ chi viện.

Sau này, chính Trung tướng VNCH (Ngụy) Ngô Quang Trưởng phải ngậm ngùi thừa nhận: "Sư đoàn đã không yểm trợ cho Trung tá Đính đầy đủ và Quân đoàn đã bỏ quên ông".

Đứng trước sự ghẻ lạnh của cấp trên, nhìn 1.800 sĩ quan, binh lính dưới quyền - những người còn quá trẻ, Trung tá Đính hiểu rằng: Nếu tiếp tục tử thủ, đây không phải là hy sinh cho Tổ quốc, mà là nướng quân vô ích. Ông không cho phép mình bắt hàng ngàn anh em phải "chết oan" vì sự vô trách nhiệm của bộ máy chỉ huy Sài Gòn.
🕊️🕊️🕊️
Ngoài việc bị đẩy vào chân tường, lý do cốt lõi khiến cả Trung đoàn 56 đồng lòng buông súng chính là sự thức tỉnh về mặt lý tưởng và tâm lý chán ghét chiến tranh phi nghĩa.

Sau chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tinh thần binh sĩ VNCH rệu rã đến đỉnh điểm. Trong các thước phim phỏng vấn lịch sử, chính các sĩ quan cấp chỉ huy của Trung đoàn 56 đã bộc bạch chân thành:

"Phần nhiều sĩ quan và binh sĩ tinh thần chiến đấu rất kém, chán nản. Họ chỉ ưa nhàn và thích trở về sống đời sống của người dân mà thôi."

Đặc biệt, sự thật về Bộ đội Giải phóng đã đập tan hoàn toàn những lời tuyên truyền xuyên tạc. Khi bước ra phản chiến, thứ họ nhận được không phải là sự tàn sát, mà là sự đón tiếp chan chứa tình người:

Một sĩ quan chia sẻ: "Khi ra gặp anh em quân đội giải phóng, điều làm chúng tôi cảm xúc nhất là sự đối đãi rất niềm nở. Anh em đã thương yêu chúng tôi như một người bạn đã sống từ lâu."

Một binh sĩ xúc động: "Chúng tôi được đối đãi rất tử tế và chân thành. Dễ thông cảm với nhau đơn giản vì: Chúng ta đều là người Việt Nam cả với nhau!"

Một người lính bộc bạch: "Do bị tuyên truyền xuyên tạc nên từng nghĩ cách mạng tàn ác. Giờ mới thấy chính sách của cách mạng là nhân đạo. Nay đã trở về với nhân dân, chúng tôi nguyện hết sức góp phần cứu nước, mong chóng đến ngày thống nhất để gia đình được sum họp."

Nhìn rõ bản chất cuộc chiến "dùng người Việt giết người Việt" do Mỹ giật dây, Trung tá Phạm Văn Đính cùng cấp phó là Trung tá Vĩnh Phong đã thảo một bức Tâm thư lịch sử. Trước hàng ngàn quân sĩ, ông cất giọng đọc vang:

"Chúng tôi thấy rõ bộ mặt thâm độc của người Mỹ là kéo dài chiến tranh bằng cách dùng người Việt g.i.ế.t người Việt... Để rút ngắn chiến tranh, chóng đem lại hòa bình cho miền Nam, chúng tôi đã quyết định tìm cách liên lạc với Quân Giải Phóng, phản chiến trở về với nhân dân. [...]Các anh em binh sĩ hãy gác bỏ tị hiềm, nhanh chóng rời bỏ hàng ngũ để cùng nhau hòa hợp chống Mỹ, cứu nước, cứu mình!"

Khi Trung tá Đính hỏi: "Anh em thấy có cái gì không hay, hay là anh em đồng ý?", cả một khoảng trời Cà Roòng vang dội tiếng hô "ĐỒNG Ý!" cùng những tràng pháo tay giòn giã. Đó là khoảnh khắc 1.800 con người cùng trút bỏ gánh nặng của cuộc chiến phi nghĩa để trở về trong vòng tay dân tộc.

Cái hay của Trung tá Phạm Văn Đính còn nằm ở bản lĩnh văn minh. Trước khi dẫn quân ra hàng, ông xin phía QGP ngưng pháo 1 giờ để bố trí cho 2 cố vấn Mỹ cùng hơn 30 thương binh và lính tráng từ chối phản chiến được lên trực thăng rút lui an toàn.

Sau sự kiện ấy, cuộc đời vị Trung tá rẽ sang một trang hoàn toàn mới:

Ông sống một thời gian tại ngôi nhà cổ kín cổng cao tường ở làng La Khê (Hà Đông). Bọn trẻ trong làng ngày ấy hay gọi ông là "ông trời đất mây mưa" bí ẩn vì giọng Huế lạ lẫm, mà không biết ông đang miệt mài chắp bút dưới bút danh Thanh Vân. Những cuốn sách lột tả thâm cung bí sử và sự yếu kém chiến thuật của giới tướng tá Sài Gòn do ông viết được báo Quân đội Nhân dân đăng nhiều kỳ và in thành sách.

Ông chính thức trở thành Thượng tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, giữ vai trò Giảng viên tại Trường Sĩ quan Pháo binh (Sơn Tây), đem kiến thức đóng góp cho sự nghiệp đào tạo cán bộ quân sự.

Trải qua bao biến động, sau khi hoàn thành nhiệm vụ và nghỉ hưu, Thượng tá Phạm Văn Đính trở về quê nhà xứ Huế. Tại đây, ông cùng vợ con đã tận hưởng một cuộc sống vô cùng bình yên, êm ấm và hạnh phúc.

Mỹ - Thiệu có thể tự hào khi dùng tiền bạc và truyền thông để "chiêu hồi" được một vài cá nhân như Tám Hà, nhưng chính nghĩa và tình dân tộc của Quân Giải Phóng lại thu phục được cả một Trung đoàn 1.800 con người!

Quyết định của Trung tá Phạm Văn Đính không chỉ cứu sống hàng ngàn gia đình khỏi cảnh tang thương, mà còn là minh chứng đẹp đẽ cho tinh thần Hòa hợp Dân tộc của người Việt Nam!
QV-ST!

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC: "CHÚNG MÀY COI TAO CÓ TỘI THÌ CỨ GIẾT TAO, NHƯNG CON TAO TRONG BỤNG VÔ TỘI, HÃY ĐỂ TAO SINH CON RỒI HÃY GIẾT…"!

     Lời tuyên bố đĩnh đạc và kiên trung ấy vang lên giữa rừng dương rì rào ven biển Nha Trang vào một đêm tháng 9 năm 1948, ngay trước thời khắc giặc Pháp ra lệnh ch.ặt đ.ầu người nữ cán bộ vừa tròn 19 tuổi. Người nữ anh hùng ấy là chị Đặng Thị Kim (tên thường gọi là Đặng Thị Oanh) - cán bộ Hội Phụ nữ cứu quốc, một tấm gương hy sinh oanh liệt đã đi vào lịch sử.

Chị Đặng Thị Kim sinh ngày 19/12/1929 trong một gia đình viên chức nghèo tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Chị cũng chính là cháu họ của cố Tổng Bí thư Trường Chinh. Năm 1945, do hoàn cảnh gia đình, chị vào Nha Trang sống cùng gia đình người cậu ruột - một cơ sở cách mạng nòng cốt. Cuối năm đó, chị gia nhập Đội tuyên truyền xung phong, hoạt động bí mật ngay trong lòng địch.

Đến tháng 7/1946, chị được bầu vào Ban Chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc Nha Trang, trực tiếp tham gia lãnh đạo cuộc biểu tình ngày 30/10/1946 đòi phía Pháp thi hành Hiệp định sơ bộ (6/3) và Tạm ước (14/9). Tháng 12/1946, chị vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam khi mới 17 tuổi và đến đầu năm 1947 được bổ sung vào Ban Chấp hành lâm thời Thị ủy Nha Trang. Đến tháng 8/1948, trên đường vượt biển từ Nha Trang về chiến khu huyện Vĩnh Xương dự hội nghị cùng hai đồng chí, chị không may sa vào tay địch.

Biết chị là vợ của đồng chí Trương An - Phó Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Khánh Hòa, giặc Pháp đã dùng những thủ đoạn tra t.ấn tàn khốc nhất: quay điện, treo ngược người đ.ánh đập, tra nước, "lộn mề gà" cho hộc m.áu, đ.ạp giày đinh lên b.ụng... dù biết chị đang mang thai khoảng 3 tháng. Dù thân thể đớn đau tột cùng, chị Kim vẫn một mực giữ vững khí tiết, quyết không khai báo nửa lời.

Mấy hôm sau, kẻ thù cho một tên lính lê dương bí mật vào xà lim h.ãm hi.ếp chị. Chúng b.óp cổ, nhét giẻ vào miệng, bỏ chị vào bao tải rồi chở ra rừng dương ven biển phía Nam Nha Trang để s.át h.ại. Tại nơi hành hình, mặc cho tên thiếu úy Pháp và tên phiên dịch tra t.ấn, chị Oanh vẫn điềm tĩnh vạch mặt kẻ phản bội, nhổ nước bọt vào mặt hắn và cất lời thản nhiên đòi lại công lý cho đứa con chưa chào đời. Bất chấp tất cả, giặc Pháp đã c.ắt c.ổ, ch.ặt đ.ầu chị một cách dã m.an. Cái ch.ết oanh liệt và khí tiết ngút trời của chị Kim đã khiến viên sĩ quan Pháp khiếp sợ đến mức ngay trong đêm đó phải viết đơn xin về nước.

Ghi nhận công ơn to lớn ấy, năm 1957, liệt sĩ Đặng Thị Kim được Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công 📜. Đến năm 1961, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã truy tặng chị Huân chương Kháng chiến hạng III 🎖️.

Đến tháng 10/2009, trong lúc thi công hệ thống thoát nước tại hẻm 74, đường Trần Phú (Nha Trang), các công nhân đã phát hiện 3 bộ hài cốt, trong đó có một bộ không có hộp s.ọ - trùng khớp với chi tiết chị bị kẻ thù ch.ặt đ.ầu năm xưa. Nhờ sự hỗ trợ của nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bẩy, gia đình chị đã đưa mẫu hài cốt ngôi mộ số 160 đi giám định. Viện Công nghệ sinh học (thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) xác nhận: Mẫu xương lấy từ hài cốt ngôi mộ số 160 có quan hệ huyết thống cùng dòng mẹ với ông Trương Việt Dũng (anh em con dì của liệt sĩ Đặng Thị Kim). Hơn 60 năm đăm đắm đợi chờ, đầu năm 2010, liệt sĩ Đặng Thị Kim đã được đưa về an nghỉ trong lòng đất mẹ Nam Định qua một lễ truy điệu và an táng trọng thể, trọn vẹn nghĩa tình. 🌺 Xin nghiêng mình tri ân anh linh nữ liệt sĩ kiên trung!❤️🇻🇳❤️
QV-ST!

TIN AN NINH TRẬT TỰ: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN XÉT XỬ VỤ ÁN “XÚC PHẠM QUỐC KỲ”!

     Ngày 29/7/2026, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Bùi Thị Măng (trú tại thôn C17, phường Mường Thanh, tỉnh Điện Biên) về tội “Xúc phạm Quốc kỳ” theo quy định tại Điều 351 Bộ luật Hình sự.

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, thực hiện công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân treo cờ Tổ quốc chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, cấp ủy, chính quyền địa phương đã triển khai việc treo cờ đồng bộ trên địa bàn. Đối với các hộ gia đình vắng mặt hoặc chưa có cờ, lực lượng cơ sở đã hỗ trợ, vận động để bảo đảm thực hiện nghiêm túc.

Tuy nhiên, gia đình Bùi Thị Măng không thực hiện việc treo cờ Tổ quốc theo kế hoạch tuyên truyền của địa phương. Khoảng 9 giờ ngày 06/02/2026, Tổ trưởng Tổ an ninh, trật tự cơ sở Đội C17 mang một lá cờ Tổ quốc đến treo tại cột cổng phía trước nhà bị cáo. Ngay sau đó, bị cáo đã tự ý tháo cờ xuống và dùng bật lửa đốt cháy. Quá trình điều tra, cơ quan chức năng đã tiến hành xác minh nhân chứng, thu thập lời khai, vật chứng và các tài liệu liên quan để làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị Măng đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Căn cứ vào lời khai của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên xét xử, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã tuyên bố bị cáo Bùi Thị Măng phạm tội “Xúc phạm Quốc kỳ”.

Áp dụng Điều 351; điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Bùi Thị Măng 01 năm tù giam.

Bản án thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với hành vi xâm phạm sự tôn nghiêm của Quốc kỳ - biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc; đồng thời là lời cảnh tỉnh, nhắc nhở mỗi công dân nâng cao ý thức tôn trọng, giữ gìn các biểu tượng quốc gia, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn./.
Bị cáo Bùi Thị Măng tại phiên tòa.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ỦY BAN QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI NGOẠI THẨM TRA CHÍNH THỨC DỰ ÁN LUẬT PHÒNG, CHỐNG PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HỦY DIỆT HÀNG LOẠT!

     Sáng 31.7, tại Trụ sở các cơ quan của Quốc hội, Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại tổ chức Phiên họp toàn thể lần thứ 2 thẩm tra dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt trước khi trình Quốc hội xem xét, quyết định tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất. Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại, Thượng tướng Lê Tấn Tới chủ trì và điều hành Phiên họp.

Tham dự Phiên họp, về phía cơ quan soạn thảo dự án Luật, có Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Nguyễn Văn Gấu cùng lãnh đạo các cục, vụ liên quan.

Về phía cơ quan thẩm tra, có Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Vũ Hải Hà; các đồng chí trong Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại; các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại; đại diện các Ủy ban của Quốc hội; đại diện Bộ Công an, Bộ Tư pháp cùng các bộ, ngành liên quan.

Phát biểu mở đầu Phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tới nhấn mạnh sự cần thiết ban hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt trong bối cảnh hiện nay. Nhằm chuẩn bị trình Quốc hội xem xét, quyết định tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Lê Tấn Tới mong muốn, với tinh thần khẩn trương, trách nhiệm, các đại biểu dự họp cho ý kiến chi tiết về các nội dung trong Báo cáo của Bộ Quốc phòng để Thường trực Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại hoàn thiện Báo cáo thẩm tra.

Ban hành Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt là yêu cầu cấp thiết nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Trình bày Báo cáo tóm tắt về dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Gấu nêu rõ, việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật là yêu cầu cấp thiết nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; bảo đảm quốc phòng, an ninh; phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất trước yêu cầu phòng ngừa, kiểm soát các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống trong tình hình mới; đồng thời bảo đảm thực hiện các cam kết, nghĩa vụ quốc gia về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt của Việt Nam trong thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Về bố cục và nội dung cơ bản của dự thảo Luật, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Gấu cho biết, dự thảo Luật gồm 04 chương, 37 điều; nội dung được xây dựng trên cơ sở thể chế hóa 03 chính sách đã được Chính phủ thông qua; kế thừa các quy định còn phù hợp của pháp luật hiện hành; khắc phục những bất cập trong công tác phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; đồng thời bổ sung các quy định mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện điều ước quốc tế, nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và chuẩn mực quốc tế có liên quan. Nội dung dự thảo Luật cũng được rà soát, thiết kế bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với pháp luật về quốc phòng, an ninh, phòng, chống khủng bố, phòng, chống rửa tiền, hóa chất, năng lượng nguyên tử, quản lý ngoại thương, hải quan, khoa học và công nghệ, cũng như các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành khác có liên quan.

Theo Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Gấu, dự thảo Luật quy định rõ cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình áp dụng các biện pháp phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; không đặt ra thủ tục hành chính trùng lặp đối với hoạt động nghiên cứu, đầu tư, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu và giao dịch hợp pháp; không thiết lập cơ chế cấp phép, khai báo, báo cáo, kiểm tra, thanh tra, giám sát song song theo Luật này.

Trong quá trình hoàn thiện hồ sơ dự án Luật, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật cho biết, đã nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan, ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, ý kiến của Thành viên Chính phủ và nội dung chỉ đạo của Chính phủ; Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại về dự án Luật. Trên cơ sở đó, dự thảo Luật đã được rà soát, chỉnh lý cả về nội dung, kỹ thuật lập pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật; bảo đảm các quy định chặt chẽ, khả thi, không làm phát sinh thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ không mới đối với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp; đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam trong phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Đề nghị bổ sung, hoàn thiện quy định đối với các hoạt động liên quan đến công nghệ, dữ liệu, dịch vụ và các giao dịch có yếu tố nước ngoài

Trình bày Báo cáo thẩm tra Báo cáo của Bộ Quốc phòng, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại Trịnh Xuân An cho biết, Ủy ban nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật với các căn cứ chính trị, pháp lý và thực tiễn đã nêu trong Báo cáo. Việc xây dựng Luật nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; hoàn thiện cơ sở pháp lý về phòng, chống phổ biến và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (VKHDHL); đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thực hiện các điều ước quốc tế, các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mà Việt Nam là thành viên.

Về quy định chung, Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành với nội dung các quy định chung tại Chương I, đề nghị tiếp tục hoàn thiện phạm vi điều chỉnh, giải thích từ ngữ, nguyên tắc phòng, chống phổ biến VKHDHL, nguyên tắc áp dụng pháp luật và các hành vi bị nghiêm cấm theo hướng rõ ràng, thống nhất với pháp luật chuyên ngành và điều ước quốc tế liên quan; làm rõ một số khái niệm mới như “người sử dụng cuối cùng”, “mục đích sử dụng cuối cùng”, “chủ thể kiểm soát thực tế”, “hàng hóa và công nghệ lưỡng dụng”, “chủ sở hữu hưởng lợi”... nhằm bảo đảm thuận lợi trong áp dụng pháp luật.

Về tiêu chí đánh giá rủi ro quốc gia về phổ biến VKHDHL (Điều 11), Thường trực Ủy ban nhận thấy, việc xây dựng tiêu chí theo cách tiếp cận này là phù hợp với thông lệ quốc tế và nguyên tắc quản lý rủi ro, thể hiện sự toàn diện trong nhận diện, đánh giá rủi ro; tuy nhiên đề nghị nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện Điều này theo hướng cụ thể hóa hơn các tiêu chí đánh giá, bổ sung các chỉ số định lượng hoặc mức đánh giá phù hợp; làm rõ vai trò của doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế trong nhóm tiêu chí mức độ dễ bị tổn thương; quy định rõ nguyên tắc, phương pháp, nguồn thông tin và trách nhiệm của các cơ quan trong quá trình đánh giá, cập nhật tiêu chí đánh giá rủi ro quốc gia.  

Về Cơ sở dữ liệu quốc gia về phòng, chống phổ biến VKHDHL (Điều 29), Thường trực Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát để làm rõ phạm vi thông tin, dữ liệu được thu thập; trách nhiệm cập nhật, khai thác, chia sẻ và quản lý dữ liệu của từng cơ quan có liên quan. Đồng thời, cần nghiên cứu thiết kế theo hướng kế thừa, kết nối và khai thác tối đa các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã được đầu tư, hạn chế xây dựng hệ thống dữ liệu độc lập, tránh trùng lặp trong đầu tư, thu thập và quản lý dữ liệu, bảo đảm đồng bộ với chủ trương phát triển Chính phủ số, dữ liệu số quốc gia và chuyển đổi số.

Về Quản lý nhà nước và bảo đảm thi hành (Chương III), Thường trực Ủy ban nhất trí với việc giao Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống phổ biến VKHDHL; giao Bộ Quốc phòng là Cơ quan đầu mối quốc gia nhằm bảo đảm chỉ đạo thống nhất, điều phối liên ngành và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, đề nghị tiếp tục làm rõ vị trí pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế điều phối liên ngành của Cơ quan đầu mối; phân định rõ chức năng điều phối với chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành của các bộ, ngành; đồng thời rà soát, đánh giá đầy đủ nguồn lực, tổ chức bộ máy, nhân lực, cơ sở dữ liệu và các điều kiện bảo đảm thi hành Luật.

Tại Phiên họp, các đại biểu bày tỏ cơ bản nhất trí với phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của dự thảo Luật. Bên cạnh đó, đề nghị tiếp tục rà soát để xác định rõ ranh giới điều chỉnh giữa Luật này với các luật chuyên ngành; làm rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp có sự giao thoa giữa các lĩnh vực quản lý; bổ sung, hoàn thiện quy định đối với các hoạt động liên quan đến công nghệ, dữ liệu, dịch vụ và các giao dịch có yếu tố nước ngoài…

Chủ nhiệm Ủy ban Lê Tấn Tới nhấn mạnh, cơ quan thẩm tra sẽ tiếp thu các ý kiến góp ý xác đáng của các đại biểu, đồng thời đề nghị đại diện Bộ Quốc phòng tiếp thu đầy đủ ý kiến phát biểu, hoàn thiện Báo cáo để trình cơ quan có thẩm quyền theo đúng luật định./.




QV-ST!

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC: ĐỐI ĐÁP CỰC GẮT CỦA TBT LÊ DUẨN VỚI MAO TRẠCH ĐÔNG!

     Năm 1963, TBT Lê Duẩn sang gặp nhà lãnh đạo tối cao Trung Quốc Mao Trạch Đông, thời điểm mà Trung Quốc đang viện trợ cho Việt Nam rất nhiều. Họ đã có một cuộc đối thoại vô cùng đặc biệt.

Mao Trạch Đông hỏi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?

Tôi (Lê Duẩn) trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.

Ông ta: Dân số của họ bao nhiêu?

Tôi: Khoảng 3 triệu!

Ông ta: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật đấy!

Ông ta lại hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?

Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông. Nhà lãnh đạo Trung Quốc: Có bao nhiêu người?

Tôi: Khoảng 40 triệu!

Ông ta: Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!

Ông ta hỏi: Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?

Tôi trả lời: Đúng.

Ông ta hỏi tiếp: Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?

Tôi trả lời: Đúng.

Ông ta: Và quân Minh nữa, phải không?

Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta mà nói: Đúng, và cả các ông nữa, nếu các ông đem quân sang xâm lược đất nước tôi, các ông có biết điều đó không?
....
QV-ST!