Cuối năm 1939, để có ca khúc chính thức cho Câu lạc bộ học sinh Trung học Petrus Ký, nay là trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM, cậu học sinh 18 tuổi Lưu Hữu Phước bèn viết phần nhạc, đưa cho bạn là Mai Văn Bộ vả Huỳnh Văn Tiểng đặt lời tiếng Pháp, lấy tên là La Marche des Étudiants. Rất nhanh chóng, nó văng ra khỏi trường thành bài hát của học sinh, sinh viên Sài Gòn rồi lây lan khắp Nam Kỳ. Câu mở đầu:
Étudiants!
Du sol l’appel tenace
Pressant et fort, retentit dans l’espace...
Năm 1941, để có ca khúc chính thức cho Tổng hội sinh viên Đông Dương, Lưu Hữu Phước viết lời Việt và đặt tên mới: Sinh viên hành khúc. Câu mở đầu:
Này thanh niên ơi!
Tiến lên dưới cờ giải phóng
Đồng lòng cùng đi, đi, đi, sá gì thân sống...
Năm 1945, chính quyền cai trị Nhật Bản ở Nam Bộ lập ra tổ chức Thanh niên Tiền phong làm tay sai, cử bác sĩ Phạm Ngọc Thạch làm thủ lĩnh. Bí thư xứ ủy Trần Văn Giàu bèn xài kế “Gậy ông đập lưng ông”, lấy tổ chức này làm hạt nhân đấu tranh giành độc lập. Thế là Sinh viên hành khúc được sửa lời để thành bài hát chính thức của Thanh niên Tiền phong, và mang tên mới: Tiếng gọi thanh niên hay Thanh niên hành khúc, ghi tác giả là Huỳnh Mai Lưu.
CMT8-1945 bùng nổ, trong khi ở Hà Nội vang lên Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi và Tiến quân ca của Văn Cao thì Tiếng gọi thanh niên là ca khúc cách mạng duy nhất vang lên ở Sài Gòn.
Huỳnh Mai Lưu là sao?
Là ghép họ của Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước. Năm 1954 cả 3 vị tập kết ra Bắc. Ông Phước làm Bộ trưởng Văn hoá Thông tin của CPCM Lâm thời. Ông Bộ làm Đại sứ Việt Nam tại Pháp. Ông Tiểng công tác ở Bộ Văn hóa, chiều 30-4-1975 trở thành giám đốc đầu tiên của Đài phát thanh truyền hình TP.HCM.
Năm 1946 Pháp lập ra chính phủ Nam Kỳ quốc. Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh cho lấy nhạc của Võ Văn Lúa phổ vào Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (bản dịch của Đoàn Thị Điểm) làm quốc ca. Thấy rầu rĩ ủ ê quá thể đáng, bà con chửi bới ì xèo. Năm 1948 thủ tướng Nguyễn Văn Xuân điên tiết, chọn béng Tiếng gọi thanh niên làm quốc ca. Đầu năm 1950 Pháp lập ra chính phủ Quốc gia Việt Nam, quốc trưởng Bảo Đại thừa kế luôn bài đó cho nó... đại tiện. Năm 1954 Mỹ bố trí đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn làm thủ tướng. Năm 1955 Diệm hất cẳng Bảo Đại, tự xưng tổng thống, lập ra Việt Nam Cộng hòa (nguỵ, không chính danh) vẫn xài bài đó.
Năm 1956, để có ca khúc hoành tá tràng phát vào mỗi sáng sớm, Đài phát thanh Sài Gòn loay hoay ứ tìm được bài nào, lấy béng Tiếng gọi thanh niên, sửa lời, đổi tên là Tiếng gọi công dân hay Công dân hành khúc, dựng cho dàn đồng ca. Từ đó dân Sài Gòn sáng sớm mở mắt ra là thấy oang oang trên ra-đi-ô:
Này công dân ơi!
Đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống...
Lâu lâu cứt trâu hóa bùn, người ta hát Tiếng gọi công dân trong những buổi chào cờ, mở đầu mỗi cuộc mít tinh, mỗi suất chiếu bóng… và trở thành quốc ca theo kiểu “bán giời không văn tự”. Mãi đến 31-7-1956, quốc hội VNCH mới chính thức ra “văn tự” công nhận đó là quốc ca.
Thế là, chính thể VNCH không chỉ xoáy quốc kỳ triều Nguyễn do Toà thánh Vatican vẽ từ 1890 làm quốc kỳ mà còn chôm cả bài hát của Việt Minh cộng sản làm quốc ca.
Bỗng dưng trở thành tác giả bất đắc dĩ của quốc ca VNCH, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước mấy phen lên Đài Tiếng nói Việt Nam để phản đối. Chẳng ăn thua quái gì.
Đương nhiên, miền Bắc vẫn lấy Tiếng gọi thanh niên (bản gốc) làm 1 trong những ca khúc truyền thống của Đoàn Thanh niên. Hiện tượng Tiếng gọi thanh niên vang lên ở bờ Bắc sông Bến Hải hôm 20-7-1964 mà tui viết hôm kia là vì thế.
Nói thêm chút xíu:
Năm 1965 nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, lúc này đã trở lại miền Nam, viết ca khúc Giải phóng miền Nam làm bài hát chính thức của Mặt trận Giải phóng:
Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước
Diệt Đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước...
Năm 1969 Chính phủ CM Lâm thời ra đời, lấy bài này làm quốc ca. Tên tác giả ghi Huỳnh Minh Siêng, viết trại của Huỳnh Mai Lưu để giữ bí mật. Tại sao Siêng mà không phải Liêng? Số là, bản nhạc viết tay gửi ra Hà Nội, nét cuối của chữ L viết hoa bị mờ, người ta tưởng là chữ S, khiến Liêng hoá ra Siêng. Hơn nữa, Liêng ứ có nghĩa, còn Siêng là siêng năng. Hợp lý quá còn gì!
Thế là từ 1969 đến 1975, Lưu Hữu Phước là tác giả cả 2 bài quốc ca của 2 phe uýnh nhau chí mạng tại miền Nam.
Chưa hết, ca khúc Hồn tử sĩ của ông với giai điệu ai oán, lời ca não nùng:
Đêm khuya âm u, ai khóc than trong gió đàn...
Sóng cuốn Trưng Nữ Vương, gợi muôn ngàn bên nước tràn… cũng được cả 2 phía đối địch dùng làm nhạc tưởng niệm trong tang lễ chiến sĩ trận vong suốt từ 1950 đến bây giờ./.
Ảnh: Từ trái qua phải: Bộ ba Mai- Lưu- Huỳnh khi mới tập kết ra Bắc, 1955.
#QV-ST!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét