Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: ĐỌC TRUYỆN TÀU KHI XƯA "PHAN KIM LIÊN - VÕ ĐẠI LANG" VÀ BÀI HỌC NHÂN QUẢ VỚI NHỮNG NGÒI BÚT THA HÓA CỦA VIỆT NAM TA HIỆN NAY!

     Chắc hẳn ai trong chúng ta trải qua tuổi niên thiếu đều ít nhiều biết đến cái tên Phan Kim Liên và Tây Môn Khánh qua cuốn "Kim Bình Mai", "Thủy Hử" hay những bộ phim truyền hình nổi tiếng của TVB những năm 90. Ông nào mà bảo chưa từng nghe qua cái tên này thì có lẽ cũng nên xem lại xem tuổi thơ của mình có bị "thiếu sót" chút gia vị nào không nhá.

Trong mắt số đông công chúng, Phan Kim Liên từ lâu đã bị đóng đinh thành "đệ nhất dâm phụ" của văn chương Trung Hoa, còn Võ Đại Lang là anh chàng bán bánh bao ngây ngô, lùn xủn và tội nghiệp.

Thế nhưng, đằng sau những thước phim và trang sách mà chúng ta xem say sưa đến hao tổn nguyên khí đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Sự thật lịch sử là Võ Đại Lang tên thật là Võ Thực, một vị Huyện lệnh liêm chính, cao đến gần 1m8 chứ chẳng hề lùn xủn. Còn Phan Kim Liên lại là một tiểu thư thiên kim nết na, đàng hoàng, hai người sống với nhau rất hạnh phúc và có tới 4 người con.

Toàn bộ sự thật này chỉ khiến công chúng bật ngửa khi được phát hiện vào năm 1946, thời điểm người ta tiến hành khai quật mộ cổ của Võ Đại Lang ở huyện Thanh Hà, tỉnh Hà Bắc và tìm thấy những văn bia ghi chép rõ ràng. Tất cả sự cay đắng và oan khuất kéo dài hơn sáu trăm năm ấy bắt nguồn từ ngòi bút phóng tác vô căn cứ của Thi Nại Am trong, kết hợp với những lời đồn thổi ác ý đương thời.

Sự việc oan khuất đến độ vào năm 2009, họa sĩ Thi Thắng Thần – hậu duệ dòng đích của Thi Nại Am – đã phải tìm về đền thờ họ Võ để dập đầu tạ tội, đúc lại tượng và dán bài thơ sám hối trước linh vị Võ Đại Lang và Phan Kim Liên.

Câu chuyện ấy gợi mở một thực tế khắc nghiệt: Lịch sử ghi chép sự kiện, nhưng văn học lại kể câu chuyện. Rất nhiều khi, thứ con người nhớ lại không phải là những dòng sử liệu khô khan, mà là những hư cấu giàu cảm xúc. Một nhân vật được khắc họa sinh động trong tiểu thuyết có thể sống lâu hơn cả những ghi chép chính sử.

Đó chính là quyền năng đặc biệt của văn chương, nhưng cũng chính vì có quyền năng ấy mà văn chương chưa bao giờ là trò chơi riêng tư của người cầm bút.

Nhìn từ cái cúi đầu sau 600 năm của hậu duệ họ Thi rồi ngẫm sang cuốn tiểu thuyết "Đức Thánh Trần" gần đây, người ta mới thấy sự bóp méo biểu tượng lịch sử đã chạm đến ngưỡng tàn nhẫn và dung tục đến mức nào. Thi Nại Am dù sao cũng chỉ phóng tác về những nhân vật đời thường trong dân gian, còn Trần Thanh Cảnh thì chĩa trực tiếp ngòi bút vào Công chúa An Tư – một vị liệt nữ, một biểu tượng vĩ đại về sự hy sinh vì giang sơn xã tắc của dân tộc.

Trong "Đại Việt sử ký toàn thư, trang 382 ghi chép lại rằng năm 1285, trước sức ép nghìn cân treo sợi tóc của quân Nguyên Mông, Công chúa An Tư đã tự nguyện dấn thân vào trại giặc Thoát Hoan làm cống vật ngoại giao. Sự kiện này được mô tả chỉ với 2 dòng ngắn gọn.

Đó là một bi kịch của đất nước trong họa binh đao khói lửa, một sự hy sinh thầm lặng chìm vào bóng tối để đổi lấy thời gian chiến lược cho quân dân Đại Việt phản công. Lịch sử nhìn nhận bà bằng sự tôn kính và đau xót.

Thế nhưng, mở những trang sách kéo dài từ trang 159 (khi Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông hỏi Hưng Đạo Vương về cách chống giặc) cho đến trang 180 (khi Thoát Hoan nghe tin An Tư mang thai rồi sai bộ hạ thân tín bí mật đưa nàng về phương Bắc) trong cuốn tiểu thuyết của Trần Thanh Cảnh (hắn dùng hơn 20 trang tiểu thuyết để viết về trường đoạn này), người đọc không khỏi bàng hoàng. 

Hắn đã biến sự hy sinh thiêng liêng ấy thành một cuộc hội hè xác thịt thô lậu, miêu tả An Tư như một người phụ nữ chìm đắm trong nhu cầu phái tính, sở hữu thứ gọi là "lạch suối thần không bao giờ cạn nước", rồi dùng "những chiêu tuyệt kỹ từ con bướm thần" để làm mê đắm Thoát Hoan. Ngòi bút bẩn thỉu ấy thản nhiên dựng nên những trường đoạn tả thực dung tục, biến vị công chúa mang nỗi đau cứu quốc thành một kẻ chìm đắm trong khoái lạc phòng the, thậm chí nảy sinh tình cảm ái ân mê muội và mang thai với chính kẻ thù xâm lược giang sơn mình.

Đó không còn là sáng tạo nghệ thuật hay bổ sung khoảng trống lịch sử nữa. Đó là hành vi kéo một biểu tượng anh hùng xuống bình diện bản năng xác thịt, tước đoạt danh tiết của tiền nhân và xúc phạm sâu sắc đến niềm tôn kính của cả một dân tộc. 

Như tôi đã khẳng định rất nhiều lần: Không ai phủ nhận quyền hư cấu của tiểu thuyết lịch sử. Nhưng quyền hư cấu không đồng nghĩa với việc mọi cách diễn giải đều đứng ngoài sự phản biện của xã hội. Lịch sử không phải tài sản riêng của tác giả, nó là nền tảng bản sắc và là ký ức chung của cộng đồng.

Đây chính là hồi chuông cảnh báo đanh thép gửi tới giới văn nghệ sĩ hôm nay. Những phóng tác tùy tiện nhân danh "tự do sáng tạo", hay những nhãn quan thẩm mỹ tầm thường, trụy lạc có thể mang lại thứ cảm giác thỏa mãn cái tôi ích kỷ trong chốc lát. Nhưng người cầm bút cần nhớ rằng: Tự do chưa bao giờ đồng nghĩa với miễn trừ trách nhiệm.

"Đời cha ăn mặn, đời con khát nước" – cái dập đầu sám hối muộn mằn của họa sĩ Thi Thắng Thần sau 600 năm chính là bản án nghiêm khắc nhất dành cho sự cẩu thả của tiền nhân. 

Một cuốn sách có thể khép lại sau vài trăm trang giấy, nhưng một con chữ trệch chuẩn một khi đã bước vào ký ức cộng đồng, đôi khi phải mất hàng chục, hàng trăm năm sau người ta mới đo hết hậu quả của nó. Con cháu, dòng họ và hậu thế của những người cầm bút hoàn toàn không có lỗi để phải gánh vác cái nghiệp báo nặng nề cùng nỗi ô nhục mà ngòi bút dung tục gieo xuống hôm nay.

Sáng tạo nghệ thuật luôn đòi hỏi sự tự do, nhưng tự do chân chính bao giờ cũng phải song hành với sự khiêm nhường trước lịch sử và trách nhiệm với tương lai. Đừng để đến một ngày, chính con cháu của mình phải dập đầu tạ tội trước linh vị tiền nhân chỉ vì những dòng văn tha hóa ngày hôm nay!
QV-ST!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét