Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta, lợi dụng internet và mạng xã hội, thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức phản động đã “mượn gió bẻ măng”, lộng ngôn xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Những ý kiến xuyên tạc lạc lõng, ác ý

Những năm gần đây, bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, diễn biến phức tạp như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt hơn; chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa đơn phương, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết quốc gia hơn hai năm qua.

Sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine cũng tác động nhiều mặt đến đời sống chính trị và an ninh quốc tế. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông của một số quốc gia Đông Nam Á tiếp tục diễn biến phức tạp.

Lợi dụng bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Thời gian qua, trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”...

Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Description: Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Ảnh minh họa: dangcongsan.vn 

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc.

Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.

Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).

Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.

Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...

Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta.

 

Nhận diện và xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, cần nhận diện rõ bối cảnh mới, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó đề ra định hướng, giải pháp phù hợp.

Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu. 

Đặc biệt, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra. Đó là minh chứng hết sức sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta; càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi, để xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta tiếp tục đi lên, dân tộc ta phát triển cường thịnh, trường tồn.

Tuy nhiên, đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học tìm mọi cách để chống phá. Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, trước đây chưa từng có, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá chúng ta.

Chúng thay đổi phương thức, thủ đoạn chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng một cách tinh vi và xảo quyệt hơn. Hoạt động của chúng có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, trắng trợn; thường tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm.

Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn này ở chỗ, chúng tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi, hoang mang, dao động, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo tâm lý bức xúc, chống đối trong xã hội. Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, luôn toan tính tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta, với âm mưu cơ bản, lâu dài và rất thâm độc là xoay chuyển quỹ đạo phát triển của đất nước ta đi chệch hướng XHCN.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội (Zalo, Facebook, TikTok…), các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”. Chúng tận dụng tối đa hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài, các kênh facebook, youtube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Chúng dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống như của Đài Truyền hình Việt Nam, Truyền hình Thông tấn và một số báo, đài chính thống để đưa tin. Mánh lới của chúng là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người.

Trong thời điểm tiến hành Đại hội đảng các cấp (năm 2020, 2021), các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị càng tăng cường, ra sức nhào nặn, bóp méo thông tin, xuyên tạc, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tập trung công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội, xuyên tạc rằng các văn kiện lần này vẫn là “bổn cũ viết lại”, “sao chép theo lối mòn”, không có gì mới, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại; các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đưa ra trong dự thảo văn kiện là “bất khả thi”, “không có cơ sở để thực hiện”... Cùng với đó, chúng tấn công vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược; liên tục tung tin giả về thân thế, sự nghiệp, tài sản, “sai phạm” của lãnh đạo cấp cao; xuyên tạc công tác nhân sự của Trung ương, công tác phòng, chống tham nhũng,... hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

NHÌN LẠI NỬA NHIỆM KỲ, CHÚNG TA VỮNG TIN, ĐI TỚI ĐÍCH

 

 1. Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII (Hội nghị giữa nhiệm kỳ) của Đảng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là dịp để Đảng ta nhìn lại, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, cụ thể và thực tiễn những kết quả, thành tựu đã đạt được từ đầu nhiệm kỳ đến nay. Qua đó, chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại; nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; dự báo bối cảnh tình hình mới với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
Trên cơ sở đó, đề ra những chủ trương, quyết sách lớn để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra trong nửa cuối nhiệm kỳ khóa XIII. Sau 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đã thành công tốt đẹp, hoàn thành Chương trình làm việc toàn khóa của Trung ương; góp phần quan trọng vào việc củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Thế nhưng, những người có quan điểm đối lập với Đảng ta, các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị “đã sôi lên như đỉa phải vôi”, tìm mọi cách xuyên tạc, kết quả, sự thành công của Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa XIII; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Một trong những tiêu điểm họ tập trung chống phá là mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Tại sao họ lại chĩa mũi nhọn vào vấn đề này? Tại sao họ lại lu loa rằng, “ở Việt Nam không thể có độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”, vì “nó không phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại, đi ngược con đường lịch sử”, “Việt Nam phải đi theo con đường khác để tránh lặp lại vết xe đổ của Liên Xô, Đông Âu”? Theo họ, “con đường khác” là gì? Phải chăng là “quỹ đạo tư bản chủ nghĩa”, theo gương các nước G-7.
Lý lẽ của họ là, Hội nghị Trung ương Đảng giữa nhiệm kỳ khóa XIII vừa kết thúc vẫn “không có gì mới”, “Đảng vẫn bảo thủ, trì trệ”, “vì Đảng khư khư bám giữ mục tiêu độc lâp dân tộc gắn liền với CNXH”. Điều đó chứng minh “Đảng hết bài vở”, “tư duy cạn, rơi vào lối mòn”, “rập khuôn, máy móc”. Vì thế, họ ra sức chống Đảng, phủ nhận “mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”; coi đó là “sai lầm nghiêm trọng” của Việt Nam.
 Nhai lại chiêu trò cũ, họ đồng thanh la ó rằng, CNXH hiện thực đã sụp đổ, thế giới ngày nay đã hoàn toàn khác xưa; nhân loại đã bước vào thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Điều đó đòi hỏi Đảng phải nhường ghế cho lực lượng cấp tiến lãnh đạo; Việt Nam phải đi theo mô thức, con đường mà chủ nghĩa tư bản (CNTB) đang đi mới dúng quy luật; Việt Nam phải học CNTB... 
Từ luận đề sai lầm này, họ ra yêu sách “phải thay thế bộ máy lãnh đạo của Đảng” thì “Việt Nam mới cất cánh được”. Vào hùa với một số đối tượng quá khích, có người còn cho rằng, “ngày nào ở Việt Nam còn chịu sự thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thì chừng ấy Việt Nam còn tụt hậu, dân còn khổ cực”. Từ đó, họ đòi từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy ý thức hệ tư sản làm nền tảng để Việt Nam phát triển... 
2. Tại sao sau Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng, những người có quan điểm đối lập với Đảng ta lại ra công kích, bài xích, phủ nhận những vấn đề lý luận cơ bản về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta? Vì sao họ lại ra sức xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn? Thực hư quan điểm này như thế nào?
Bản chất, chiều sâu của vấn đề là họ muốn lái nước ta đi theo con đường TBCN, có lợi cho họ. Muốn thực hiện mục tiêu đó buộc họ phải chống phá Đảng, gây áp lực lên Đảng; cho rẳng, Đảng là nguyên nhân sinh ra tai họa, nỗi khổ, đe dọa cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta. Quan điểm sai trái, ngang ngược, hết sức phản động của họ đã và đang tác động tiêu cực đến một một bộ phận người dân nhẹ dạ, cả tin; gây tâm lý bất bình, tâm trạng tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần - xã hội ta; làm vẩn đục bầu không khí trong lành của xã hội Việt Nam.
Sự thật là, hơn 93 năm qua, trước sau như một, Đảng ta đều nhất quán khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn, đã trở thành mục tiêu, lẽ sống của nhân dân ta. Hơn ai hết, nhân dân ta ý thức sâu sắc rằng: độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở chắc chắn nhất để bảo đảm cho độc lập dân tộc. Đây là điều căn cốt nhất, bản chất nhất của hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Nó đã ăn sâu vào trí não, tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam yêu nước, yêu CNXH, trở thành lẽ sống cao đẹp, nguyên tắc bất di bất dịch và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt con đường cách mạng Việt Nam; đã được kiểm chứng bởi chính lịch sử chống giặc ngoại xâm, nội xâm của nhân dân ta. Bằng xương máu và ý chí quyết tâm, bằng sự đoàn kết và lòng dũng cảm, bằng danh dự và phẩm giá, nhân dân ta đã khẳng định điều ấy.
3. Rõ ràng, lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Đó là một tất yếu khách quan, không thể đảo ngược. Nó xuất phát từ mơ ước, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Đó là một giá trị cơ bản, quyết định sự phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam. 
Sự lựa chọn này đã khắc phục được những hạn chế, bất cập của ý thức hệ phong kiến và tư sản trong nhận thức và giải quyết vấn đề độc lập dân tộc. Đây là cơ sở vững chắc nhất để xóa bỏ tình trạng người bóc lột người do chế độ cũ sinh ra như các nhà kinh điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đã xác định. Vì thế, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trở thành hệ giá trị phát triển của Việt Nam dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của Đảng. Nhờ đó, nhân dân ta mới giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; mới có cơ ngơi, tiền đồ tốt đẹp và tương lai tươi sáng.
 Sự thật ấy bác bỏ mọi quan điểm sai trái, thù địch, phản động; xuyên tạc đường lối đổi mới của Đảng, chê bai, nói xấu Hội nghị Trung ương 7 khóa XIII và các quyết sách mà Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII đã đề ra. 
Những người cố tình xuyên tạc bản chất tốt đẹp của CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam vì họ đã rơi vào chủ nghĩa cá nhân, là làm trái với chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, là đi ngược lại lợi ích của người dân và dân tộc Việt Nam. Muốn chữa “căn bệnh” này, chỉ có một thứ thuốc đặc hiệu là từ bỏ chủ nghĩa cá nhân, rũ bỏ những thành kiến, những ác cảm bởi những nhận thức sai lầm về chủ nghĩa Mác - Lênin, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta; tiếp tục xây dựng, củng cố niềm tin tất thắng của nhân dân vào đường lối xây dựng CNXH ở nước ta. 
Đó là lời kêu gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống. Đó cũng là minh chứng đầy thuyết phục để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh, bác bỏ mọi quan điểm sai trái, thù địch về xuyên tạc các quyết sách mà Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đã đề ra./.

“Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ của cách mạng, của dân tộc”

.

Câu nói trên trích trong bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại hội chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất được tổ chức từ ngày 31 tháng 5 đến ngày 05 tháng 6 năm 1956, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 354 đại biểu là chiến sĩ thi đua và đại diện cho các đơn vị tiên tiến thuộc ngành thương nghiệp cả nước.
Lời của Bác, khẳng định lợi ích của dân tộc phải được đặt lên trước lợi ích của cá nhân. Thực tiễn đã chứng minh, nước độc lập thì ai cũng được tự do; nếu mất nước thì ai cũng làm nô lệ. Cách mạng giải phóng dân tộc giành được thắng lợi, không chỉ dân tộc được giải phóng mà các giai cấp, tầng lớp trong xã hội cũng được giải phóng. Quan điểm đó đã góp phần khơi dậy, phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân và cả cộng đồng đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Quan điểm trên của Người, tiếp tục được Đảng ta vận dụng vào đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam; toàn bộ hoạt động của Đảng đều xuất phát và phục vụ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, phai nhạt lý tưởng cách mạng, quá coi trọng đến lợi ích cá nhân, đã và đang làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, thì việc nắm vững những quan điểm của Người về đặt lợi ích chung của dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân có giá trị thực tiễn sâu sắc; là nội dung, phương hướng rèn luyện đạo đức của mỗi người theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.
Quân đội ta là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn thấm nhuần lời dạy của Bác về việc phải biết đặt lợi ích của đất nước lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân, kiên định với mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng và Bác đã lựa chọn; quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nêu cao ý chí, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; luôn chủ động tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến  bình" của các thế lực thù địch; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 

Ngày 05/6/1951:
“Tình báo là tai mắt. Tai phải tỏ, mắt phải sáng, thì đầu óc định kế hoạch mới đúng. Đầu óc định đúng, thì chân tay hành động mới kịp thời. Ta tai mắt sáng tỏ, kế hoạch đúng sát, hành động kịp thời, thì ta nhất định thắng địch”.
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư gửi Hội nghị tình báo, ngày 05 tháng 6 năm 1951.
Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vô cùng gian khổ và khốc liệt, mặc dù bận trăm công, nghìn việc, song Bác Hồ vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt với lực lượng tình báo quốc phòng. Ngoài những lần gặp gỡ, trò chuyện thân ái với cán bộ, chiến sĩ, Bác còn chu đáo gửi thư mỗi dịp lực lượng tổ chức hội nghị. Lời dạy trên của Bác có ý nghĩa rất lớn, không chỉ thể hiện sự quan tâm, động viên đối với quân đội nói chung, ngành tình báo quốc phòng nói riêng mà còn thể hiện sâu sắc tư tưởng, phương châm chỉ đạo hoạt động đối với lực lượng tình báo quốc phòng. Đồng thời, nhắc nhở mỗi cán bộ, chiến sĩ thực thi nhiệm vụ tình báo phải luôn tinh thông về mọi mặt, giữ vững định hướng chính trị, mưu trí, sáng tạo, hành động mau lẹ, kịp thời, bảo đảm bí mật, bất ngờ thì ắt thắng lợi. Thực hiện lời dạy của Bác, lực lượng tình báo quốc phòng đã lập nhiều chiến công quan trọng, cung cấp những thông tin có giá trị để Đảng, quân đội xây dựng và hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, góp phần trực tiếp vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới lời dạy của Bác vẫn có giá trị sâu sắc, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn quan tâm xây dựng, phát triển ngành tình báo của nước nhà; đồng thời cũng là yêu cầu đối với ngành tình báo phải không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới.
Thấm nhuần sâu sắc lời Bác dạy, Quân đội ta nói chung và lực lượng tình báo quân đội nói riêng phải thường xuyên làm tốt công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tuyệt đối không để địch mua chuộc, lôi kéo, hoặc để lộ, lọt các tài liệu mật, tích cực học tập, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng không để bị động bất ngờ, nắm chắc, dự báo chính xác, kịp thời những diễn biến của tình hình thế giới, khu vực, thủ đoạn chiến lược "diễn biến hòa bình", “bạo loạn lật đổ”, ‘‘phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; tham mưu có hiệu quả cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội hoạch định đường lối, chính sách thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

CUỘC HÀNH TRÌNH VĨ ĐẠI VÌ ĐỘC LẬP DÂN TỘC, VÌ TỰ DO CHO NHÂN DÂN!


“Hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc hành trình vĩ đại để tìm đường, mở đường và dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Mỗi bước đi của Người trong hành trình ấy đều gắn liền với những quyết định trọng đại, những mốc son lịch sử của cách mạng Việt Nam…”.


“Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi”!


Nước mất, nhà tan. Nhân dân chịu hai tầng áp bức, bóc lột. Những cuộc nổi dậy, các trào lưu yêu nước, các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục nhưng đều thất bại, hoặc chìm trong biển máu hoặc dần đi đến thoái trào… Tất cả hiện trạng ấy đã đặt ra cho lịch sử một câu hỏi lớn về con đường đấu tranh đúng đắn nhất, phù hợp nhất với dân tộc, với bối cảnh Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Sinh ra trong tình cảnh ấy, cũng thấm thía hơn ai hết cái tình cảnh trớ trêu ấy; hơn nữa, lại mang trong mình trái tim yêu nước, thương nòi thiết tha bậc nhất, người thanh niên Nguyễn Tất Thành chưa khi nào thôi trăn trở, thôi nung nấu ý định tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Vậy nên, với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ và đặc biệt là với mong ước tột cùng là “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành dưới tên gọi Văn Ba, làm phụ bếp trên con tàu của Pháp Latouche - Tréville, đã rời bến cảng Sài Gòn bắt đầu cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước. Ngày 6-7-1911, con tàu cập cảng Marseille, Pháp, từ đây mở ra chương khởi đầu trên hành trình tìm kiếm con đường đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi họa ngoại xâm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.


Khi đánh giá về sự kiện lịch sử này, có người cho rằng đây là “một sự đổi mới đầy dũng cảm”. Còn các nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Thị Hồng Nhung thì cho rằng: Chỉ có lòng yêu nước mãnh liệt, ý chí kiên định về giải phóng dân tộc, giải phóng Nhân dân khỏi cảnh áp bức, lầm than và lòng quả cảm mới đưa Nguyễn Tất Thành tới một lựa chọn dứt khoát, khác biệt mọi người. Chuyến đi là một quyết định mang tính lịch sử, một sự kiện mới rất đặc biệt chưa từng xảy ra. Điểm đặc biệt của chuyến đi lịch sử này, trước hết nằm ở “định hướng đi”: trước những cách thức cũ, hướng đi cũ, sang phương Đông hay lên phía Bắc mà các bậc cha anh đã chọn đều không mang lại kết quả hay thắng lợi cuối cùng; thì việc lựa chọn sang phương Tây mà trực tiếp là sang Pháp đã “phản ánh một tư duy vượt trội, rõ ràng, mạnh bạo, dám đi tới tận nơi phát sinh của vấn đề để tìm cách giải quyết vấn đề. Đó là sự khác biệt sâu sắc trong định hướng ra đi của Nguyễn Tất Thành với các thế hệ cha anh đi trước”.


Cùng với chọn “hướng đi” là xác định “mục đích đi”. Cũng theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Thị Hồng Nhung, bỏ qua những ý kiến mang tính suy diễn, không phản ánh đúng thực chất mục đích chuyến đi, thì hầu hết các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều thống nhất cho rằng, Nguyễn Tất Thành xuất dương là nhằm đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc. Điều này xuất phát từ lòng yêu nước được trao truyền, hun đúc trong dòng máu gia đình, quê hương, cũng như xuất phát từ ý thức dân tộc và đặc biệt là từ hoài bão “phải có danh gì với núi sông” của tuổi trẻ. Bản thân Người cũng đã nhiều lần nói rõ mục đích chuyến đi của mình khi trả lời báo chí. Chẳng hạn, năm 1919, khi phóng viên báo Y Chê Pao (xuất bản ở Thiên Tân, Trung Quốc ngày 20-9-1919) hỏi về mục đích đến Pháp để làm gì, Người đã trả lời: để đòi những quyền tự do mà Việt Nam phải được hưởng, với phương châm là luôn luôn tiến lên phía trước tùy theo sức mạnh của mình. Hay năm 1923, khi trả lời tạp chí “Ngọn lửa nhỏ” tại Matxcơva, Người giải thích: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái... tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”… Nói tóm lại, mục đích cuối cùng và cao cả nhất không gì khác là tìm ra con đường cứu nước thoát khỏi họa ngoại xâm, cứu dân thoát khỏi cảnh áp bức lầm than.


Song, nói thì dễ nhưng để có bước chân đầu tiên trên hành trình ấy lại cần một quyết tâm rất lớn, với một trái tim kiên nghị và quả cảm, một tinh thần dám dấn thân và sẵn sàng hy sinh, một lòng nồng nàn yêu nước, luôn đau đáu vì nước, vì dân… Quyết định bước chân lên con tàu Latouche - Tréville của con người nhỏ bé ngày ấy và lần đầu xa Tổ quốc, một mình đối diện với đại dương mênh mông, mịt mờ của thời cuộc khi ấy, ít ai ngờ lại trở thành bước đi của lịch sử. Đó là hành trình đầy gian khổ, hiểm nguy và gắn với vô số các sự kiện, các mốc lịch sử nổi bật trong hành trình giải phóng dân tộc của Người.


Dù “Tổ quốc đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi”. Đó là đòi hỏi tất yếu của lịch sử đối với con người sẽ làm nên lịch sử - làm thay đổi vận mệnh đất nước, thậm chí là làm ảnh hưởng mạnh mẽ tới thế giới sau này - với tư cách là Người viết lại “lịch sử chế độ thực dân” trong thế kỷ XX, như chính người Pháp đã thừa nhận “Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này có thể là người sẽ đặt chữ thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương” (dự cảm của Paul Arnoux - một mật thám Pháp chuyên theo dõi Nguyễn Ái Quốc kể từ sau sự kiện bản “Yêu sách của Nhân dân An Nam” và khi nghe Nguyễn Ái Quốc nói chuyện ở hội trường Hooctiquyntơ, Pari)


“Người đi tìm hình của nước”


“Cuộc hành trình đời người” kéo dài suốt 3 thập kỷ (1911-1941) đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc qua nhiều quốc gia, để vừa lao động kiếm sống, vừa không ngừng quan sát, tìm hiểu, chiêm nghiệm và nhận thức thực tiễn. Ví như, Người từng cảm khái khi đứng dưới chân tượng Nữ thần Tự do tại New York, Mỹ vào một ngày cuối tháng 12-1912: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự do thì người da đen đang bị chà đạp... Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc?”. Đồng thời, Người tích cực tìm hiểu các phong trào đấu tranh của Nhân dân lao động ở nhiều nước tư bản và thuộc địa, từ đó, không ngừng học hỏi, đánh giá và tìm kiếm con đường đấu tranh đúng đắn, khoa học để giải phóng dân tộc ta.


Trong suốt 30 năm bôn ba, đã có nhiều dấu mốc quan trọng, tác động đến cuộc đời hoạt động của Người. Sau khi sang Pháp, Nguyễn Tất Thành vừa làm vừa học và sau này gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Đến giữa năm 1919, chính giới Pháp Pari và chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương, Việt Nam, bắt đầu xôn xao về một nhân vật có tên là Nguyễn Ái Quốc - người đại diện cho “Hội những người yêu nước An Nam tại Pháp”, ký tên dưới “Bản yêu sách của Nhân dân An Nam” gửi đến đại biểu các nước thắng trận Chiến tranh thế giới thứ nhất tham dự hội nghị hòa bình họp tại lâu đài Versailles, ngoại ô thủ đô Pari. “Bản Yêu sách của nhân dân An Nam” yêu cầu Chính phủ Pháp: (1) Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; (2) Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong Nhân dân An Nam; (3) Tự do báo chí và tự do ngôn luận; (4) Tự do lập hội và hội họp; (5) Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; (6) Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; (7) Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; (8) Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ…


Từ sự kiện này, Bộ Nội vụ Pháp đã xác định: “Cuộc điều tra về phong trào tuyên truyền chống Chính phủ trong các giới Việt Nam ở Pari để ủng hộ “Bản Yêu sách của Nhân dân An Nam” cho phép rút ra kết luận rằng, hiện nay linh hồn của phong trào đó chính là Nguyễn Ái Quốc, Tổng thư ký Hội những người Việt Nam yêu nước”. Đồng thời, có nhận định cho rằng, “lần đầu tiên trong lịch sử, có một người Việt Nam tuyên bố trước toàn thế giới chủ trương giành độc lập cho dân tộc mình; lần đầu tiên trong lịch sử, có một người Việt Nam dám bóc trần những tội ác của bọn thực dân Pháp ngay ở Paris”. Cũng từ đó mà “Chính cái tên Nguyễn Ái Quốc bản thân nó có sức hấp dẫn lạ kỳ”!


Có thể nói, Hồ Chí Minh là con người của hành động. Theo nhiều nhà nghiên cứu, triết lý hành động Hồ Chí Minh, trước hết xuất phát từ trong tư tưởng, truyền thống văn hóa Việt Nam. Trong đó, điều nhân lõi nhất của triết lý nhân sinh truyền thống Việt Nam đã trở thành nền tảng cho mọi quan điểm và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là triết lý về ở đời và làm người. Đồng thời, triết lý hành động của Người cũng chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng lớn của dân tộc, như Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” gắn với triết lý “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; hay Lý Thường Kiệt với “Nam quốc sơn hà” đã khảng khái khẳng định chủ quyền quốc gia dân tộc… Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chiêm nghiệm: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề... là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”! Cũng bởi xuất phát từ yêu nước, thương dân, đau đáu trước cảnh nước mất, nhà tan nên chàng trai trẻ Nguyễn Tất Thành mới quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Bởi vậy, hành trình ra đi tìm đường cứu nước suốt 30 năm là minh chứng sống động về con người hành động hay triết lý hành động Hồ Chí Minh. Đó là chủ nghĩa yêu nước, là tinh thần dân tộc, là khát khao độc lập cho dân tộc, tự do cho Nhân dân… Tất cả, đã dẫn dắt Người đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học và đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Có thể khẳng định, “hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc hành trình vĩ đại để tìm đường, mở đường và dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Mỗi bước đi của Người trong hành trình ấy đều gắn liền với những quyết định trọng đại, những mốc son lịch sử của cách mạng Việt Nam”. Đó là hành trình tìm lại “hình” của nước, hay tìm lại “sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai” - tìm lại truyền thống lịch sử - văn hóa hào hùng để làm điểm tựa cho một tương lai rạng rỡ Việt Nam; cũng đồng thời là khẳng định quyền tự quyết dân tộc để vẽ lại hình chữ S tươi mới trên bản đồ nhân loại. Đó cũng chính là “thế đi đứng”, là “cách vin hoa” mà mỗi người Việt Nam hôm nay luôn tự hào, vốn được đặt nền móng từ cách đây 112 năm, khi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời bước chân đầu tiên từ bến Nhà Rồng.

VTN-ST

(Bài viết có sử dụng một số tư liệu trong cuốn “Hồ Chí Minh - Hành trình vì độc lập dân tộc (1911-1945). NXB Chính trị quốc gia Sự Thật - 2022)

ĐẢNG VIÊN Ở ĐÂU TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG?

     Mạng xã hội ở nước ta phát triển rất nhanh và ngày càng lan rộng, thu hút nhiều thành phần, đối tượng tham gia.

Trong đó, tỷ lệ cán bộ, đảng viên sử dụng facebook hiện nay chiếm khá cao. Hầu như ai cũng có tài khoản cá nhân facebook, thậm chí có người sở hữu 2, 3 tài khoản.

Tuy nhiên, bên cạnh một số ít cán bộ đảng viên mạnh dạn đăng tải hoặc chia sẻ các thông tin, hình ảnh từ các trang chính thống thể hiện quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về một vấn đề nào đó thì vẫn còn đại đa số người còn thờ ơ, phớt lờ những vấn đề xã hội đang quan tâm.

Vậy thì vai trò của họ ở đâu trên không gian mạng này?

Cái tư duy thấy đúng cũng không bảo vệ, thấy sai cũng không lên án, phê phán đã và đang tồn tại ở nhiều cơ quan, đơn vị. Và chính tư duy cá nhân ấy cũng được nhiều người áp dụng khi tham gia mạng xã hội.

Họ lẳng lặng vào mạng, dò đọc, rồi lẳng lặng, âm thầm trở ra như chiếc bóng. Đối với những bài viết hay, tích cực, nguồn dẫn chính thống đàng hoàng, báo đài rầm rộ đưa tin nhưng cũng không thấy họ tham gia chia sẻ, bình luận, like bài.

Hay đối với những thông tin tiêu cực, bức xúc, xã hội đang quan tâm cũng chẳng thấy họ biểu thị cảm xúc gì. Tốt cũng được, chẳng khen động viên, mà xấu cũng mặc kệ, chẳng thèm phê phán, phản ứng.

Ôi, một thái độ dửng dưng, vô cảm đến lạ lùng!

Tôi nghĩ thế này, đã là cán bộ, đảng viên thì ít ra cũng phải nhận thức được thông tin nào đúng, sai, tích cực, tiêu cực chứ.

Khi tiếp xúc với một bài đăng mà bản thân thấy hay, đúng, nguồn đăng rõ ràng thì cũng nên thể hiện cảm xúc của mình, đó có thể là “thích”, “thả tim”, "thương thương"…

Hay hơn nữa là thêm những bình luận động viên, khen ngợi để cổ vũ nhau.

Còn nếu bạn nhận thấy rằng thông tin sai, lệch lạc hoặc còn nghi ngờ độ chính xác thì ít ra cũng nên bày tỏ thái độ bằng icon cảm xúc “ngạc nhiên”, “buồn” hoặc “phẫn nộ”.

Xem, đọc xong mà vô cảm đến mức lặng lẽ cho qua, thế thì khác nào bạn đã đồng tình, ủng hộ thông tin xấu đó rồi.

Bởi trong một số trường hợp được mặc nhiên rằng “im lặng là đồng ý”.

Nhiều người rất thích truy cập internet để coi và cập nhật thông tin, nhưng lại rất mù mờ và không phân biệt được đâu là thông tin chính thống, đâu là thông tin giả làm mất ổn định và định hướng, dẫn dắt dư luận xã hội của các thế lực thù địch.

Hãy để cái tốt đẹp được lan tỏa, đồng thời cũng phải đẩy lùi những cái xấu, tiêu cực, đó không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng mạng nói chung mà đó còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên khi tham gia mạng xã hội facebook đó các bạn à!

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đất nước. Là cán bộ, đảng viên trước hết phải có lập trường, tư tưởng, quan điểm rõ ràng ở mọi lúc, mọi nơi.

Trên không gian mạng lại rất cần thể hiện vai trò đó. Hãy là những nhân tố mang tính nòng cốt, tích cực trong xây dựng mặt trận đoàn kết toàn dân./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 07 THÁNG 6 NĂM 1960!

     “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”!
     Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội), ngày 07/6/1960. Đây là thời kỳ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã đạt được những thành tựu quan trọng. Cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam gặp nhiều khó khăn, thử thách và rất khốc liệt. Trước tình hình đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tập hợp được đông đảo lực lượng cách mạng phục vụ cho sự nghiệp kiến thiết nước nhà và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai lợi ích của Đảng ta trước quốc dân đồng bào, thể hiện sâu sắc giá trị lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng; vừa thể hiện một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, là tư tưởng chỉ đạo để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên hành động đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng, làm cho Đảng ta thực sự là đội tiên phong, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Thấm nhuần lời dạy của Bác, lớp lớp cán bộ, đảng viên của Đảng đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu ngày càng cao lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này, đến thắng lợi khác.
     Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, điện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời khẳng định trên của Bác đã trở thành một trong những nội dung cơ bản về công tác xây dựng Đảng, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để Đảng ta tự đổi mới, tự chỉnh đốn làm trong sạch chính mình, có đủ năng lực đảm đương vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
     Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng bộ Quân đội và toàn quân luôn mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ đoàn kết thống nhất cao, có chuyển biến quan trọng về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”./.
Môi trường ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: "EM TRÓT BẮN MẤT RỒI, CÁC THỦ TRƯỞNG Ạ"!

     Để đề phòng quân đội VNCH liều lĩnh thực hiện âm mưu "Bắc tiến", Bộ Tổng tham mưu QĐND VNDCCH quyết định điều động một đơn vị xe tăng vào ém quân tại phía bắc khu phi quân sự để sẵn sàng đánh địch liều lĩnh vượt sông Bến Hải ra miền Bắc, còn khi có thời cơ sẽ nhanh chóng đột nhập chiến trường miền Nam chiến đấu. Đồng thời cũng thí điểm tổ chức hành quân đường dài và trú quân bí mật... để rút kinh nghiệm cho nhiệm vụ đưa xe tăng vào chiến trường sau này.

Do điều kiện đường sá cơ động rất khó khăn, các cầu lớn qua sông hầu hết đã bị đánh sập... nên binh chủng Tăng Thiết giáp xin được thành lập mới 1 tiểu đoàn trang bị xe tăng bơi PT-76 với phiên hiệu 177 để đi làm nhiệm vụ này.

Đề nghị đó đã được Bộ đồng ý và Tiểu đoàn xe tăng 177 được thành lập do đồng chí Lê Ngọ làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Bùi Văn Tùng làm chính trị viên.

Ngày 22.8.1968, tiểu đoàn xuất phát bắt đầu cuộc hành quân vào tuyến lửa. Sau 10 ngày đêm hành quân liên tục, đơn vị đã vượt qua chặng đường hơn 700 km dưới sự truy cản quyết liệt của không quân Mỹ để có mặt tại vị trí quy định ở bắc Vĩnh Linh, đảm bảo an toàn 100% người và các loại trang bị kỹ thuật.

Với nhiệm vụ đặc biệt như trên, vấn đề đầu tiên được đặt ra với Ban chỉ huy Tiểu đoàn 177 là phải tuyệt đối giữ bí mật vị trí trú quân và tất cả mọi hoạt động của đơn vị để bảo toàn lực lượng. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc vì nếu để lộ ra chắc chắn không quân địch sẽ tập trung lực lượng oanh tạc ngày đêm ngay.

Vì vậy để giữ bí mật và cũng để đảm bảo an toàn cho người và xe, đơn vị đã cho đào hầm xe rồi lợp tranh lên trông như nhà dân, dưới bụng xe đào thêm một hầm sinh hoạt cho kíp xe, bộ đội thì ăn mặc giống như bà con nhân dân bản địa và hết sức chú trọng đến công tác ngụy trang, phòng gian bảo mật...

Ngoài ra đơn vị cũng xây dựng một số nhà hầm phục vụ sinh hoạt, học tập và một bãi tập thực hành cách đó vài km. Nhờ vậy, suốt trong thời gian đóng quân ở ngay vùng chiến tranh phá hoại cường độ cao song chưa có lần nào địch phát hiện ra và đánh vào đơn vị.

Ngày 5.10.1968, đúng ngày kỷ niệm 9 năm thành lập binh chủng Tiểu đoàn tổ chức sinh hoạt chính trị ôn lại truyền thống quân đội và Binh chủng Tăng Thiết giáp. Bỗng nhiên, một chiếc máy bay phản lực bay rất thấp vụt qua vị trí đóng quân của đơn vị, tiếng gầm rú và sóng xung kích do nó tạo ra làm tốc lên một đám bụi mờ.

Vốn quen với hoạt động của đủ loại máy bay Mỹ rồi nên đơn vị vẫn sinh hoạt bình thường. Vài phút sau, chiếc máy bay vòng lại theo đúng đường bay cũ. Đột nhiên 2 loạt đạn ngắn từ ngọn đồi phía tây vị trí đóng quân của Tiểu đoàn vang lên rồi xung quanh dậy lên tiếng reo: "Máy bay cháy rồi! Máy bay rơi rồi!".

Cả đơn vị đổ ra ngoài quan sát. Phía đông, một chiếc F-100 kéo theo một cái đuôi khói dài đen đặc đang lặc lè cố lết ra biển nhưng không kịp nữa rồi. Nó loạng choạng rồi lao thẳng xuống. Mọi người cùng vỗ tay reo mừng phấn khởi. Không khí hân hoan trong tiểu đoàn bỗng ắng hẳn đi như bị dội một gáo nước lạnh khi tiểu đoàn trưởng hô lớn:

- Tất cả về vị trí chiến đấu, sẵn sàng đánh trả máy bay địch!

Nói rồi anh gọi trợ lý tham mưu tiểu đoàn : Đồng chí đi xác minh ngay ai, đơn vị nào vừa bắn rồi về báo cáo tôi.

Và rồi cũng không khó khăn gì lắm đồng chí trợ lý tham mưu đã xác định được người đã bắn hai loạt đạn trên không phải ai xa lạ mà chính là pháo thủ Đỗ Văn Hường, chiến sĩ của Trung đội 3, Đại đội 1 khi cậu ta đang lễ mễ bê khẩu 12 ly 7 cùng một hòm đạn từ trên đồi về xe.

Pháo thủ Hường được đưa ngay lên nhà chỉ huy tiểu đoàn. Khi nhìn thấy gương mặt nghiêm nghị của các thủ trưởng và không khí căng thẳng trong toàn đơn vị, Hường hiểu được tính chất nghiêm trọng của việc mình làm nên run run lúng búng: "Em trót bắn mất rồi, các thủ trưởng ạ!".

Hường được lệnh ngồi tại đó viết bản tường trình và kiểm điểm về hành động của mình.

Ngay sau khi ra lệnh cho Hường làm tường trình, các cán bộ của tiểu đoàn rời khỏi nhà chỉ huy đi nắm tình hình sẵn sàng chiến đấu của đơn vị, chỉ để lại một trợ lý tham mưu trực điện thoại tại đó. Lúc này, tất cả 12 ly 7 của các xe đã được lắp lên giá, các hộp đạn cũng đã sắp xếp gọn gàng, sẵn sàng cho trận đánh "một mất, một còn" nếu địch phát hiện ra vị trí của tiểu đoàn.

Ngồi một mình trước trang giấy trắng trong nhà chỉ huy, Hường cắn bút chẳng viết được câu gì. Đồng chí trợ lý tham mưu thấy thương thương nên gợi ý: "Hôm nay tiểu đoàn học chính trị cơ mà! Làm sao cậu lại lẻn ra mà bắn máy bay được ?".

Như được gãi trúng chỗ ngứa, Hường kể một mạch: "Hôm nay em được phân công ở nhà nấu cơm. Cơm gần cạn thì nó (chiếc máy bay tiêm kích F-100) vọt qua. Nó bay thấp lắm tạt cả bui vào nồi cơm. Em tức quá ra đứng nhìn, thấy nó bay ra biển rồi vòng lại. Đoán thế nào nó cũng sẽ bay thấp qua đây như lúc nãy, em xách luôn khẩu súng với hòm đạn lên chỗ trận địa phòng không bỏ hoang trên đồi. Ở đó vẫn còn một bộ giá ba chân nên em lắp luôn súng vào đấy. Đúng lúc đó nó quay lại thấp y như lần trước.

Em nghĩ nó sẽ ném bom đơn vị mình nên ngắm luôn vào đầu nó. Đến khi nó choán hết vòng kính ngắm thì em kéo cò điểm xạ một loạt rồi bồi thêm một loạt ngắn nữa. Thế là nó phụt khói đen ra cuồn cuộn rồi cố lao ra biển nhưng không kịp. Sự việc chỉ có thê thôi ạ!"

Đồng chí trợ lý tham mưu hỏi thêm: "Đồng chí có biết mình đã bắn bao nhiêu viên đạn không?". 

Hường lúc lắc đầu rồi lại gật:

"Lúc ấy em cũng chẳng biết đã bắn bao nhiêu viên nhưng xong rồi đếm lại đạn trong hòm còn 39 viên. Vị chi là em bắn 2 loạt hết 11 viên".

Suốt chiều hôm đó, ngoài chiếc L19 vẫn lượn lờ do thám tít trên cao và những toán máy bay bay qua thì không có dấu hiệu gì chứng tỏ khu vực trú quân của Tiểu đoàn 177 đã bị lộ.

Lệnh báo động sẵn sàng chiến đấu được hạ cấp lúc 6 giờ chiều. Đúng lúc đó, điện từ Bộ Tư lệnh quân khu 4 và Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 cùng dội về công nhận Tiểu đoàn 177 đã bắn rơi một máy bay tiêm kích F-100 bằng súng 12 ly 7. Với chiến công này, tiểu đoàn được tặng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba.

Như trút được gánh nặng, hôm sau pháo thủ Đỗ Văn Hường rụt dè hỏi chính trị viên Bùi Văn Tùng: "Thủ trưởng ơi! Thế em có bị kỷ luật không?". 

Ctv tiểu đoàn cười cởi mở: "Không! Không đâu. Mà trái lại, tớ đã ký giấy khen tặng cậu rồi đấy! Hôm tới đây chào cờ sẽ trao"./.
Ảnh minh họa.
Yêu nước ST.

Cần chủ động nhận diện, đấu tranh hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa hiện nay

Thời gian qua, các thế lực thù địch đã tiến hành nhiều hoạt động trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và ra sức chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước trên mọi phương diện, bằng các luận điệu xuyên tạc, công kích rất đa dạng. Do đó, cần thiết phải nhận thức rõ các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, để chủ động đấu tranh chống các phương thức, thủ đoạn đó một cách có hiệu quả nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Chủ nghĩa Mác, từ khi ra đời cho đến nay luôn luôn là mục tiêu tấn công của các thế lực thù địch. Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn thích hợp với thời đại ngày nay. Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam do bế tắc về lý luận mới nêu ra tư tưởng Hồ Chí Minh, chứ thực tế làm gì có tư tưởng Hồ Chí Minh. Lập luận thâm hiểm đó nhằm vào ba đích: Phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng dễ bề lừa gạt, lôi kéo những người mơ hồ, nhẹ dạ cả tin, bất mãn theo chúng chống lại Đảng ta. Từ phạm vi một bộ phận người, các thế lực thù địch hi vọng dần dần xoá bỏ ý thức hệ, nền tảng tư tưởng của toàn xã hội, hòng tước bỏ vũ khí tư tưởng sắc bén trong cuộc đấu tranh cách mạng của Đảng ta. Mục tiêu cuối cùng của các thế lực thù địch nhằm bác bỏ Chủ nghĩa Mác - Lênin, đánh vào những nguyên lý cụ thể của chủ nghĩa Mác, phủ nhận lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp, phủ nhận lý luận về cách mạng xã hội, phủ nhận quy luật phát triển của Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản, từ đó xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là mũi nhọn để các thế lực thù địch xâm nhập vào tận sâu lòng Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chủ trương “phá vỡ thế đồng nhất một khối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Âm mưu thay đổi đường lối chính trị ở Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục tấn công, đưa ra các quan điểm, luận điệu xuyên tạc nhằm chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta trên mọi phương diện, nhằm phủ nhận giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin; làm phai nhạt niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân lao động cả nước vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với mục đích cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi đời sống chính trị - tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Các thế lực thù địch đưa ra quan điểm về con đường thứ ba: Con đường trí tuệ do sinh viên, trí thức đảm nhận trước lịch sử. Trước thềm Đại hội XIII của Đảng các thế lực thù địch ra luận điệu cho rằng, hiện nay “Trí thức là đội ngũ lãnh đạo xã hội”. Điều này đã gây không ít sự ngộ nhận trong các tầng lớp nhân dân, sự mơ hồ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn sử dụng chiêu bài “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để chia rẽ khối đại đoàn kết. Việt Nam có 54 dân tộc anh em đoàn kết, bình đẳng, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong chiến tranh cũng như trong thời bình. Tuy nhiên, trên thực tế vùng đồng bào dân tộc ít người của nước ta đời sống còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa được cao. Lợi dụng những khó khăn của đồng bào, kẻ địch đã tiến hành mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo, xúi giục một số đồng bào chống chính quyền. Điển hình cho những hành động ấy là sự kiện Tây Nguyên năm 2004. Chúng rêu rao việc thành lập “nhà nước Đề Ga tự trị” nhằm tách Tây Nguyên khỏi Việt Nam thống nhất, chia rẽ khối đại đoàn kết vốn có của dân tộc. Không chỉ ở Tây Nguyên mà ở vùng miền núi phía Bắc, chúng cũng rêu rao luận điệu “đòi bình đẳng cho các dân tộc”, đòi thành lập “xứ Mèo tự trị”, “xứ Mường tự trị”… Sở dĩ chúng tiến hành được những hoạt động này là do quá trình truyền đạo trái phép. Các thế lực thù địch đã tuyên truyền những tư tưởng xấu đến đồng bào, nói xấu Đảng, nhà nước, mua chuộc bằng lợi ích kinh tế... Việc truyền đạo trái pháp luật đã làm xáo trộn và xâm hại đến truyền thống, bản sắc văn hóa, tín ngưỡng truyền thống của các dân tộc ở địa phương; làm nảy sinh yếu tố mất đoàn kết nội bộ (giữa người theo đạo và người không theo đạo); làm đình trệ sản xuất ảnh hưởng phát triển kinh tế, trật tự xã hội ở địa phương. Song song cùng chiêu bài “dân tộc”, chúng sử dụng “tôn giáo” để lấy cớ can thiệp vào Việt Nam. Các thế lực thù địch ra sức mua chuộc một số linh mục, nhà sư như Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ… xúi giục tín đồ, nói xấu Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam... Cùng với “dân tộc” và “tôn giáo”, chúng cũng sử dụng chiêu bài “nhân quyền” và “dân chủ” để chống phá ta. Trong suốt những năm từ 2001 đến nay, hạ viện Mỹ liên tiếp đưa ra những cái gọi là “dự thảo luật nhân quyền Việt Nam”, “luật nhân quyền Việt Nam”... Tất cả những “luật” này đều nhấn mạnh đến tình trạng “mất nhân quyền, dân chủ” ở Việt Nam, đều hướng tới và đặt khái niệm “nhân quyền” lên trên “chủ quyền. Các thế lực thù địch cũng đã lợi dụng và đưa các vấn đề này lên các diễn đàn quốc tế để chống lại nước ta, nhằm kích động dư luận thế giới chống lại Việt Nam. Để thực hiện có hiệu quả chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đã sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, phát thanh, mạng Internet, sách, tạp chí… để tuyên truyền, kích động chống phá Đảng và nhà nước Việt Nam. Theo số liệu thống kê, hiện nay ở bên ngoài có 52 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, mạng internet, 429 tờ báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản tập trung tuyên truyền chống phá ta. Hàng năm có hơn 3 nghìn tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng, 28 nghìn thư ân xá quốc tế xâm nhập, tán phát qua con đường bưu điện quốc tế dưới dạng quà cáp, và gần 11 nghìn ấn phẩm được đưa vào bằng nhiều con đường khác. Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, chúng cũng truyền bá văn hóa lối sống phương Tây vào nước ta. Ảnh hưởng của văn hóa phương Tây vào các nước xã hội chủ nghĩa có nguy cơ làm biến đổi dần dần hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và làm nhạt dần chủ nghĩa Mác - Lênin. Nguy cơ biến đổi hệ tư tưởng đi liền với nguy cơ biến đổi về đạo đức, lối sống. Như vậy, “thực đơn diễn biến hòa bình” qua các phương tiện thông tin đại chúng của các thế lực thù địch ngày càng đa dạng, nhiều mầu sắc, luôn được “cải thiện”, lắm ngón nghề. Các thế lực thù địch không chỉ nói đến chính trị, mà còn nói đủ cả khoa học, văn chương, nghệ thuật, hàng hoá và cả những “sưu tầm” chuyện lạ để câu khách. Để chủ động nhận diện về các thủ đoạn chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, qua đó, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thời gian tới. Trước tiên cần tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chủ động cung cấp thông tin định hướng nhận thức tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Thường xuyên làm tốt công tác dân vận, vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, thường xuyên tìm hiểu tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời. Cần khẳng định rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trước các thế lực phản động, thù địch khi và chỉ khi chúng ta biết dựa vào dân, phát huy sức mạnh to lớn của quần chúng Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn tộc.

TẠO “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” VỮNG CHẮC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng là một đòi hỏi tất yếu, vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.

Xây dựng “thế trận lòng dân” là bài học quý trong quá trình dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, bài học đó vẫn còn nguyên giá trị. Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo nên không gian mạng rộng khắp, mà ở đó con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian, thời gian. Chính vì vậy, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian này vừa là vấn đề cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong những năm qua, “thế trận lòng dân” ở từng địa bàn có lúc còn chưa vững chắc; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước có thời điểm giảm sút… Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá ta; kích động biểu tình, bạo loạn. Thống kê gần đây cho thấy, bình quân hằng tháng các thế lực thù địch phát tán hơn 130.000 bài viết, video, clip xuyên tạc trên mạng xã hội. Chúng tận dụng tính năng phát trực tuyến của mạng xã hội làm công cụ phát tán thông tin xấu, độc. Chúng tung tin giả, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội hòng gây mất ổn định chính trị và ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội. 

Chúng ta không thể phủ nhận, không gian mạng đem lại cho con người rất nhiều tiện ích, nhất là khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố trở thành xu hướng tất yếu của nhân loại. Việc sử dụng mạng xã hội là nhu cầu chính đáng của mỗi tổ chức, cá nhân.

Để không gian mạng hoạt động theo chiều hướng tích cực, trước hết chúng ta phải nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và mỗi công dân về vị trí, vai trò của mạng xã hội và tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian này. 

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý, nhằm tạo ra một không gian mạng lành mạnh, hữu ích, góp phần quan trọng vào sự phát triển đất nước. Đồng thời phải có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, răn đe những hành vi, thủ đoạn lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; sử dụng  không gian mạng kích động, lôi kéo, xuyên tạc sự thật; phá hoại an ninh quốc gia - trật tự an toàn xã hội, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và quân đội. 

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và Ban Chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong xây dựng “thế trận lòng dân”. Phát huy tốt vai trò cơ quan tuyên giáo, các cơ quan thông tấn báo chí trong việc cung cấp thông tin, kịp thời định hướng dư luận trước những sự kiện lớn, các vấn đề được xã hội quan tâm. 

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ có đủ sức “đề kháng”, “miễn dịch” trước các thông tin xấu, độc, xuyên tạc sự thật, các vấn đề tiêu cực trên mạng xã hội. Khuyến khích, động viên để các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp và mỗi công dân tham gia mạng xã hội tuân thủ đúng pháp luật, có tri thức, văn hóa. Cần có cơ chế để nhân dân tham gia giám sát, đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, những vấn đề tiêu cực trên  không gian mạng và cổ vũ cái tốt, cái tích cực, theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”.

Có thể khẳng định, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, đồng thời vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo./.


THANH SANG

Ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài đến xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay

Những yếu tố văn hóa nước ngoài đã làm phong phú, đa dạng thêm văn hóa nước nhà, đồng thời góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại. Tuy nhiên, có rất nhiều thách thức đặt ra đối với nền văn hóa Việt Nam trong quá trình tiếp thu, chịu ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài giai đoạn hiện nay. Lịch sử văn hóa Việt Nam đã trải qua 3 lần tiếp biến. Lần thứ nhất là thời kỳ tiếp nhận văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc... trong thời cổ, trung đại để làm giàu thêm văn hóa bản địa. Những yếu tố văn hóa nước ngoài thời kỳ này có ảnh hưởng khá sâu sắc, toàn diện theo 2 con đường: cưỡng bức và hòa bình. Dù theo con đường nào, chúng ta vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa ngoại nhập làm giàu có và phong phú thêm văn hóa dân tộc. Lần thứ hai là từ nửa sau thế kỷ XIX đến năm 1945, chủ yếu là ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Đây là cuộc “ép duyên” văn hóa Đông - Tây, song cũng là một tất yếu lịch sử của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa. Sau khi cơ bản bình định xong các phong trào yêu nước, chính quyền thực dân Pháp ồ ạt du nhập văn hóa chính quốc vào thuộc địa với những ý đồ có lợi cho chủ nghĩa thực dân. Sự du nhập này, lập tức bị nền văn hóa bản địa phản kháng mạnh mẽ như một lẽ tự nhiên. Song, cũng có không ít tinh hoa của văn hóa phương Tây đã được chúng ta tiếp thu. Lần thứ ba là từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay. Luồng văn hóa từ phương Tây vào Việt Nam góp phần làm thay đổi diện mạo văn hóa nước nhà. Những năm gần đây, văn hóa nước ngoài đã và đang xâm nhập một cách ồ ạt vào Việt Nam. Chủ thể đón nhận những làn sóng văn hóa ngoại nhập một cách hồ hởi nhất chủ yếu là tầng lớp trẻ - thế hệ tương lai của đất nước. Việc tiếp thu văn hóa nước ngoài một cách thụ động, thiếu chọn lọc, thiếu “gạn đục khơi trong” đang để lại những hậu quả khó lường. Bản chất của văn hóa là hướng tới chân - thiện - mỹ, ngày càng toàn diện và có tính quốc tế hơn. Song trong quá trình lịch sử của mình, văn hóa còn có những “bước lùi”, mà một trong những “bước lùi” đó chính là mặt trái của quá trình tiếp nhận văn hóa nước ngoài, là nhận thức và thái độ chưa đúng của giới trẻ đối với văn hóa truyền thống. Trên mặt trận tư tưởng, điều tai hại nhất là những thế lực thù địch sử dụng các tác nhân văn hóa, văn nghệ có nội dung xấu với âm mưu, thủ đoạn bôi nhọ chế độ, phá hoại cách mạng… thông qua hệ thống in-tơ-nét và các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại, khiến một số người do thiếu bản lĩnh, thiếu trình độ nên chịu ảnh hưởng không nhỏ của những tư tưởng độc hại. An ninh chính trị, an ninh văn hóa đang đặt ra những vấn đề cấp bách. Nhiều quan điểm sai trái, phản động, trong đó có quan điểm sai trái trong văn học - nghệ thuật, trong đời sống chính trị sẽ dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại. Trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, xu hướng tách văn học nghệ thuật khỏi xã hội, xa rời cuộc sống, xa rời chính trị là biểu hiện biến thái mới của quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” lỗi thời. Xu hướng “tự cởi trói”, tự do trong lựa chọn khuynh hướng, trường phái sáng tác từ lâu đã trở nên quen thuộc ở phương Tây. Khi vào Việt Nam, một mặt, nó cho phép nhiều năng khiếu trở thành tài năng, thỏa mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng nghệ thuật; mặt khác lại hạ thấp những thành tựu văn nghệ cách mạng, làm rạn vỡ và thu hẹp đội ngũ công chúng, hình thành một thị hiếu, một lối sống, một hệ tư tưởng chối bỏ dân tộc, sùng ngoại, chạy theo những giá trị tiêu cực trong văn hóa ngoại lai. Chịu ảnh hưởng của những tư tưởng phản động nước ngoài, nhiều nhà văn đã nói và viết không đúng sự thật, không đúng bản chất của hiện thực, thậm chí xuyên tạc hình ảnh của Đảng, bản chất cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc ta hoặc ngợi ca, đề cao những tác phẩm đi ngược lại với những chuẩn mực, giá trị văn hóa chân chính của dân tộc... Trong lối sống của nhiều bạn trẻ ngày nay thể hiện rất rõ những vấn đề tiêu cực trong quá trình tiếp thu văn hóa nước ngoài. Đối với hôn nhân, truyền thống tốt đẹp của dân tộc là đề cao trinh tiết của người phụ nữ, cái tình đi đôi với cái nghĩa, tình có thể hết nhưng nghĩa thì bền chặt... Còn bây giờ, giới trẻ đang dậy lên những trào lưu như “sống thử”, “sống gấp”... Bên cạnh đó, thói quen tiêu xài hoang phí và theo đuổi những lợi ích vật chất, lối sống thực dụng là nét không đặc trưng cho con người Việt Nam cần, kiệm. Nhiều bạn trẻ lười học tập, lười lao động lại muốn mau chóng nổi tiếng nên tự tạo “xì-căng-đan” cho mình. Tiêu chuẩn về vẻ đẹp của người phụ nữ phương Đông truyền thống là “công, dung, ngôn, hạnh” bị biến dạng, nhường chỗ cho sự táo bạo, phô trương, thậm chí thác loạn... Có ý kiến cho rằng, một số thanh, thiếu niên không nhận thức đầy đủ về văn hóa thẩm mỹ của dân tộc, dẫn đến thị hiếu sai lệch, lệch chuẩn về giá trị đạo đức. Trong lĩnh vực giải trí, giới trẻ đang bị cuốn hút và mải mê chạy theo những trào lưu du nhập từ nước ngoài, thậm chí vấn đề đã lên đến mức báo động. Sức trẻ cộng với tâm lý thích khám phá những điều mới lạ, bắt kịp các trào lưu đang thịnh hành trên thế giới, như: manga (truyện tranh Nhật Bản), anime (phim hoạt hình Nhật Bản), thời trang Kawaii (Nhật Bản), thời trang Hàn Quốc... Nhiều bạn trẻ không ngại ngần chạy theo cả những trào lưu độc dị khiến chúng ta không khỏi giật mình, như hát cùng dao kéo, chụp ảnh quái đản, “hot boy” giả gái, nuôi thú độc... Trong lĩnh vực thương mại, hàng hóa nước ngoài tràn ngập thị trường Việt Nam, từ bánh kẹo, sữa, rượu, thuốc lá, thuốc tây cho đến hàng gia dụng, điện tử, ô tô, xe máy,... lấn át thị trường hàng nội và lại được người dân ưa chuộng với tâm lý sùng ngoại. Nó góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi bộ mặt văn hóa trong mỗi gia đình Việt trên tất cả các phương diện. Tuy nhiên, không phải thứ hàng ngoại nào cũng tốt. Nhiều thứ chứa “độc tố” đang xâm hại sức khỏe nhân dân ta theo đúng nghĩa đen, đồng thời cũng làm tổn hại “sức khỏe tinh thần” của mọi người. Một thực trạng nữa, đó là sự mai một các giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình hội nhập, mở cửa giao lưu với văn hóa nước ngoài. Nét đẹp ru con bằng những câu ca dao đã thưa vắng dần. Ca dao, tục ngữ... vốn là kho tàng quý báu của quần chúng nhân dân, là những bài học về đối nhân xử thế, bài học làm người nuôi dưỡng tâm hồn từ thơ bé, hướng con người tới chân - thiện - mỹ đã và đang mai một dần trong đời sống tinh thần. Nghề truyền thống dệt thổ cẩm ở một số nơi, một số dân tộc thiểu số đang mất dần. Văn hóa trang phục hiện nay ở nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng bị mai một, nhất là trong giới trẻ. Họ chỉ thích mặc âu phục, quần bò, áo phông hơn là mặc trang phục truyền thống tự dệt, tự may. Trong âm nhạc cũng vậy, ở Tây Nguyên, số người biết chơi, biết chỉnh cồng, chiêng chủ yếu là các cụ già. Nhiều dân tộc khác thì những câu hát then, hát xẩm, ca trù, cải lương, chèo, tuồng,... không được ưa chuộng bằng nhạc trẻ. Để góp phần hạn chế tiêu cực, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - Thứ nhất, chủ thể tiếp nhận các giá trị văn hóa phải bản lĩnh, một trình độ nhận thức nhất định, được vun trồng, nuôi dưỡng từ phía gia đình, nhà trường, xã hội. Bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu được các giá trị văn hóa nhân loại; tích cực tuyên truyền, giáo dục cho chủ thể văn hóa Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, giúp họ hiểu được những giá trị của văn hóa truyền thống, có niềm tự hào, tự tôn dân tộc và nhận thức được các mặt tốt xấu, tích cực, tiêu cực của các luồng văn hóa ngoại lai. - Thứ hai, phải làm cho văn hóa nội sinh trở thành một “thành trì” vững chắc, trong đó quan trọng là quán triệt sâu sắc tư tưởng, đường lối văn hóa của Đảng và Nhà nước về văn hóa, tiêu biểu là Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và nhiều văn kiện, tài liệu khác. Xây dựng và phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, xây dựng môi trường văn hóa, phát triển sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ... - Thứ ba, tích cực đấu tranh, bài trừ các sản phẩm văn hóa độc hại, phản động, đồi trụy, đồng thời hạn chế hoặc gạt bỏ những hủ tục gây tốn kém lãng phí, vừa làm mất mỹ quan,… để tạo đời sống tinh thần lành mạnh hơn. - Thứ tư, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống Việt Nam với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa mới phải đi đôi với khắc phục thái độ xem nhẹ vai trò văn hóa và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tiếp thu văn hóa nước ngoài là điều cần thiết, song chúng ta phải chủ động hội nhập, chắt lọc tinh hoa văn hóa bên ngoài để làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc. Trong khi bảo tồn văn hóa nước nhà, tiếp thu văn hóa nước ngoài thì phải đồng thời chống cả hai xu hướng cực đoan là sùng ngoại lẫn sùng cổ. - Thứ năm, đẩy mạnh và thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa, nghệ thuật với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” là một giải pháp tích cực. Lực lượng chủ yếu trong công tác này là các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và nhân dân (đóng góp sức người, sức của), đội ngũ văn nghệ sĩ (lao động và sáng tạo để có nhiều tác phẩm, công trình có chất lượng tốt, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội, có tầm vóc thời đại)... - Thứ sáu, tuyên truyền, giáo dục người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ biết yêu văn hóa dân tộc, tăng sức hấp dẫn của văn hóa truyền thống. Các cơ quan quản lý văn hóa, truyền thông cần tích cực hơn trong việc gìn giữ và quảng bá văn hóa truyền thống; Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về văn hóa truyền thống, tích cực giao lưu văn hóa để giới trẻ thêm tự hào và có lòng tự tôn dân tộc; Có tinh thần, thái độ phê phán, đấu tranh mạnh mẽ với lối sống chạy theo ngoại lai một cách mù quáng, chống lại những âm mưu đồng hóa văn hóa của các thế lực thù địch... Văn hóa là vốn quý của quốc gia, là tài sản vô giá, là động lực của sự phát triển. Văn hóa - kinh tế - chính trị là “kiềng ba chân”, là rường cột của quốc gia, chỉ cần một trong ba yếu tố đó yếu kém thì cả “công trình” sụp đổ. Bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống và học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đấu tranh mạnh mẽ với những ảnh hưởng tiêu cực từ nước ngoài chính là góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh./.