Chủ Nhật, 9 tháng 7, 2023

Chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan - hai biểu hiện trái ngược trong quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế

 


Chủ nghĩa dân tộc (nationalism) không phải là một khái niệm mới. Trong lịch sử loài người, chủ nghĩa dân tộc đã manh nha hình thành từ khi các “dân tộc” ra đời. Chủ nghĩa dân tộc có thể được xem xét ở nhiều khía cạnh, như một loại tình cảm dân tộc, một loại hình tư tưởng, một quá trình xây dựng dân tộc, một hành động tập thể…

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là tình cảm dân tộc, là tình cảm trung thành, tình yêu, sự gắn bó với dân tộc mình. Tình cảm này được hình thành nhờ những yếu tố chung như nguồn gốc và đặc điểm nhân chủng, lịch sử chung, cùng khu vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo… Đó là những yếu tố khiến các cá nhân cảm thấy giống nhau, gắn bó với nhau trong cộng đồng. Tình cảm dân tộc có thể được nhận thấy thông qua quá trình cố kết dân tộc và quốc gia thành những cộng đồng khác nhau, thông qua những mối quan hệ khác nhau giữa người cùng dân tộc với người khác dân tộc và thông qua bản sắc dân tộc.

Chủ nghĩa dân tộc với tư cách là một loại hình tư tưởng (một hệ tư tưởng hay ý thức hệ), đó là những tư tưởng về quyền tự quyết, quyền tự trị, quyền bảo vệ bản sắc và các giá trị riêng của mỗi dân tộc. Trên phương diện quan hệ quốc tế, tư tưởng dân tộc được phản ánh trong tư tưởng lập quốc hay khẳng định chủ quyền quốc gia, trong sự bảo đảm và phát triển lợi ích quốc gia. Theo Từ điển Bách khoa của Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là “hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm lý đòi hỏi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc”.

Chủ nghĩa dân tộc với biểu hiện là một phong trào chính trị: John Breuilly - giáo sư về chủ nghĩa dân tộc và dân tộc tại Trường Kinh tế London (Anh) - cho rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là phong trào chính trị nhằm hướng đến hoặc thực hiện quyền lực nhà nước và biện minh cho các hành động như vậy với các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa”. Theo ông, các lý lẽ mang tính dân tộc chủ nghĩa là học thuyết chính trị dựa trên ba khẳng định cơ bản: Một là, sự tồn tại của dân tộc với đặc điểm rõ ràng và đặc biệt; hai là, các quyền lợi và giá trị của dân tộc này được ưu tiên so với các quyền lợi và giá trị khác; ba là, dân tộc phải độc lập, điều này đòi hỏi ít nhất phải đạt được chủ quyền về chính trị.

Theo nghĩa này, chủ nghĩa dân tộc còn là quá trình xây dựng hoặc tham gia các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó có thể là quá trình thống nhất quốc gia gắn liền với tên tuổi của các nhân vật lịch sử; hoặc quá trình tái thống nhất đất nước sau chiến tranh; hay các phong trào giành độc lập của các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.

Chủ nghĩa dân tộc với đặc điểm là một hiện tượng văn hóa - xã hội, là sự tích hợp của những thần thoại và biểu tượng truyền thống. Dưới góc nhìn văn hóa, Anthony D. Smith - nhà xã hội học lịch sử người Anh - nhận xét, chủ nghĩa dân tộc là loại hình của văn hóa, gồm tư tưởng, ngôn ngữ, huyền thoại, biểu tượng, ý thức trong sự tương liên với toàn cầu. Ở khía cạnh này, S. Kramer khẳng định, mặc dù chủ nghĩa dân tộc có nguồn gốc từ các cuộc cách mạng chính trị nhưng nền tảng cơ bản vẫn là văn hóa. Ông lập luận rằng, chủ nghĩa dân tộc với ý tưởng là các quốc gia nên đại diện cho các dân tộc thống nhất về văn hóa; và chủ nghĩa dân tộc là một lực lượng văn hóa nói lên khát vọng sâu sắc của con người nhằm kết nối với bên ngoài.

Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa của các học giả trong nước và quốc tế về chủ nghĩa dân tộc, có thể nhận định, chủ nghĩa dân tộc (nationalism) là một thứ tình cảm, một loại hình tư tưởng, một phong trào thực tiễn hay một hiện tượng văn hóa liên quan đến sự sinh tồn, phát triển và quyền lợi của dân tộc, được tạo ra trên cơ sở tình yêu, lòng trung thành và sự quan tâm sâu sắc của các thành viên đối với lợi ích dân tộc mình.

Một khái niệm liên quan đến chủ nghĩa dân tộc là Chủ nghĩa quốc tế (internationalism). Khái niệm này để chỉ mối quan hệ giữa các quốc gia - dân tộc. Chủ nghĩa quốc tế ra đời khi chủ nghĩa tư bản hình thành, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao theo xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Chính nền sản xuất đại công nghiệp đã tạo ra một nền sản xuất, trao đổi và tiêu dùng mang tính quy mô toàn cầu. Điều này phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia, tạo nên một thị trường thế giới thống nhất, khiến các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy sự liên kết. Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các quốc gia còn xuất phát từ những vấn đề mà từng quốc gia, dân tộc riêng lẻ không thể tự giải quyết được, đòi hỏi sự chung tay của cộng đồng quốc tế, như bảo vệ môi trường, xóa đói, giảm nghèo, chống bất bình đẳng giới…

Biểu hiện cho mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế được thể hiện qua hai dạng thức của chủ nghĩa dân tộc, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Chủ nghĩa dân tộc chân chính xuất phát từ tình cảm, lòng trung thành đối với đất nước nhưng không vì thế mà xem dân tộc mình ưu việt hơn dân tộc khác, do đó chủ nghĩa dân tộc chân chính biểu hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc chân chính là nền tảng, động lực cho tự do, độc lập, quyền tự quyết và phẩm giá của các dân tộc trước những áp bức, thống trị và bất công; là cơ sở để xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc.  

Trong khi đó, chủ nghĩa dân tộc cực đoan “là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thống giá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân tộc mình cao hơn tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác”. Chính vì thế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan dễ dẫn đến xu hướng biệt lập, cục bộ, vị kỷ, chống lại xu hướng hợp tác, liên kết và hội nhập quốc tế, thậm chí có thể thúc đẩy xu hướng chiến tranh, xâm lược. Do đó, nó làm cản trở sự giao thoa và hợp tác quốc tế, làm suy giảm lòng tin chiến lược giữa các quốc gia.

HAIVAN

Một số giải pháp phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam

 


Thứ nhất, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong nhận thức về sự cần thiết phải xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thực sự coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn; lòng tự tôn, tự cường dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù sáng tạo trong lao động; là đức hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; là sự tế nhị trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống. Các giá trị này cần được thể hiện trong văn học, nghệ thuật; trong văn hóa ứng xử, giao tiếp; trong văn hóa ngoại giao..., thu hút sự quan tâm, tạo nên sức hấp dẫn đối với đông đảo bạn bè trên thế giới. Bên cạnh đó, “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”, “Chú trọng nâng cao giá trị tư tưởng, nghệ thuật, đồng thời bảo đảm tự do, dân chủ trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; khuyến khích những tìm tòi mới làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường”.

Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa có đủ phẩm chất, năng lực và tăng cường nguồn lực cho phát triển văn hóa. Chủ thể của văn hóa là con người, văn hóa là sản phẩm của con người, do con người và vì con người. Do đó, muốn xây dựng và phát triển văn hóa nhất định phải có con người làm (hoạt động) văn hóa, trong đó đội ngũ lãnh đạo, quản lý văn hóa đóng vai trò hết sức quan trọng. Các giá trị tốt đẹp, bền vững trong văn hóa Việt Nam có được giữ gìn, phát huy và quảng bá rộng rãi trên thế giới hay không, có tạo được sự hấp dẫn, thán phục với đông đảo người thụ hưởng văn hóa hay không... phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ những người làm công tác văn hóa, văn nghệ, đặc biệt là những cán bộ chủ chốt - với tư cách là chủ thể văn hóa. Do đó, trong thời gian tới, tập trung: “Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, nhất là cán bộ chủ chốt thực sự am hiểu về văn hóa, có phẩm chất, bản lĩnh, năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ”. Trước mắt, cần “Rà soát toàn bộ hệ thống các trường đào tạo văn hóa, văn nghệ, đổi mới và hiện đại hóa quy trình, nội dung, phương thức đào tạo để trong 5 - 10 năm tới khắc phục về cơ bản sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa”. Đồng thời, “Tăng cường đầu tư, khai thác và phát huy tối đa các nguồn lực văn hóa đi đôi với đổi mới nội dung, phương thức quản lý, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm hiệu quả đầu tư cao trong lĩnh vực văn hóa”.

Thứ ba, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa. Đây là xu thế của thời đại, toàn cầu hóa và hội nhập thế giới đang thu hút nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia, trong đó có Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế. Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại; từng bước đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới”. Theo đó, đẩy mạnh việc quảng bá, giao lưu, phổ biến văn hóa Việt Nam ra thế giới, nhất là yếu tố “mềm” của văn hóa (hệ giá trị, chuẩn mực, niềm tin...); xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật; chủ động mở rộng và tích cực hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực.

Cùng với việc tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của văn hóa các nước trên thế giới, cần khắc phục những tác động xấu, tiêu cực len lỏi vào văn hóa Việt Nam, nhất là tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài có tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân. “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Thứ tư, trong điều kiện công nghệ số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần “phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa..., vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”; gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch và dịch vụ văn hóa, đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, tạo thế đan xen lợi ích và độ tin cậy để văn hóa Việt Nam ngày càng lan tỏa sâu, rộng hơn ra thị trường văn hóa thế giới; để thế giới biết nhiều hơn, chính xác hơn về đất nước, con người Việt Nam tươi đẹp, giàu bản sắc.

HAIVAN

Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam

 


Có thể hiểu, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam là khả năng đạt được những gì mà dân tộc, nhân dân Việt Nam mong muốn thông qua việc gây dựng ảnh hưởng, tạo sự hấp dẫn bởi giá trị văn hóa Việt Nam, hệ giá trị chính trị - xã hội và mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chính sách đối nội và đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Như nhiều quốc gia - dân tộc khác, Việt Nam cũng có nền văn hóa của riêng mình. Đó là “thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm  hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”. Văn hóa Việt Nam - như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhấn mạnh - là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc Việt Nam, làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh, viết nên những trang sử lạ lùng bởi tính kiên cường trong hoạn nạn, bởi khí phách hào hùng trong giữ nước và dựng nước; “chất văn hóa... là tinh hoa của dân tộc, của quý nhất mà ngày nay mọi người Việt Nam chúng ta tự hào là người thừa kế và phát triển.

Trải qua biết bao biến cố và thăng trầm của lịch sử, chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau, nhưng văn hóa Việt Nam không bị đồng hóa, mà vẫn giữ vững bản sắc và thể hiện sức sống mãnh liệt của mình trong khả năng tiếp biến linh hoạt và đầy sáng tạo. Khả năng “Việt hóa” hay sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo là những minh chứng cho sự tiếp biến đầy sáng tạo và sức sống mãnh liệt của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhất là sau khi công bố Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943) và triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trọng. “Nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn. Các lĩnh vực, loại hình, sản phẩm văn hóa phát triển ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu mới, nhiều mặt của đời sống xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy”, góp phần quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè thế giới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, văn hóa Việt Nam càng có nhiều cơ hội để lan tỏa ra thế giới. Cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ, trong âm nhạc, trong các loại hình nghệ thuật Việt Nam hay tính nhân văn trong văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp... của người Việt Nam không chỉ là sức mạnh nội sinh đối với sự phát triển bền vững của đất nước, mà còn có sức lan tỏa đến nhiều nền văn hóa, nhiều quốc gia, thu hút hàng triệu trái tim, khối óc của người dân đến từ nhiều quốc gia - dân tộc khác nhau trên thế giới. Không ít đoàn nghệ thuật của Việt Nam đi công diễn ở nước ngoài được đón nhận một cách nồng nhiệt; không ít tác phẩm văn học của các tác giả Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng, như thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du hay Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài...

Đến nay, Việt Nam có hàng chục di sản văn hóa được UNESCO vinh danh. Trong đó, không ít loại hình nghệ thuật, nhất là nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam, được UNESCO vinh danh là kiệt tác truyền khẩu, là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, như: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận năm 2005; Nhã nhạc cung đình Huế được công nhận năm 2008; Dân ca Quan họ, Ca trù được công nhận năm 2009; Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội được công nhận năm 2010; di sản Thực hành hát Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được công nhận năm 2019. Các di sản văn hóa này có sức lan tỏa và hấp dẫn lớn đối với người dân nhiều nước trên thế giới, góp phần làm phong phú thêm văn hóa, văn minh nhân loại, đúng như C. Mác và Ph. Ăng-ghen từng viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản rằng: “Những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc... và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở ra một nền văn học toàn thế giới”.

Từ chỗ chưa có tên trên bản đồ thế giới, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc các châu lục khác nhau. Tham gia và tham gia ngày càng tích cực vào nhiều tổ chức và diễn đàn khu vực và toàn cầu, trong đó có Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), ASEAN, Đại hội đồng Liên nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AIPA),  Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)... Tổ chức thành công nhiều hội nghị, đàm phán tầm quốc tế, như Hội nghị cấp cao ASEM; đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà của APEC năm 2006 và 2017; Hội nghị Cấp cao ASEAN năm 2010; hay cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên năm 2019... Qua kênh ngoại giao văn hóa và nhiều kênh khác, thế giới biết nhiều hơn về một Việt Nam giàu đẹp, hiếu khách, kiên cường, hòa hiếu, thủy chung với hàng nghìn năm văn hiến; uy tín và ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng tăng; dấu ấn Việt Nam ngày càng sâu đậm; sức mạnh mềm của Việt Nam nói chung, của văn hóa Việt Nam nói riêng ngày càng được nhân lên gấp bội, trở thành một trong những động lực thúc đẩy kinh tế, xã hội Việt Nam ngày càng phát triển. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Có thể khẳng định, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, bao vây cấm vận hay hội nhập, sức sống Việt Nam nói chung, văn hóa Việt Nam nói riêng không ngừng phát triển và lớn mạnh, luôn luôn trỗi dậy với một sức mạnh phi thường. Với lợi thế của mình, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam đã góp phần làm sâu sắc thêm giá trị nhân văn, hun đúc nên tâm hồn, cốt cách, khí phách, bản lĩnh con người Việt Nam, tô thắm lịch sử vẻ vang của dân tộc.

Tuy nhiên, so với những thành tựu mà chúng ta đạt được trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại..., thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng. “Văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước”. Mức đầu tư cho văn hóa mới chỉ bảo đảm duy trì hoạt động “ổn định”, chứ chưa thực sự có sự đột phá ưu tiên. So với tổng chi thường xuyên của ngân sách Trung ương, chi cho văn hóa (trong cả giai đoạn 2010 - 2017) cũng chỉ chiếm trung bình 1,16% và bằng khoảng 0,1% GDP, tức là bằng khoảng 1/5 - 1/6 mức chi cho sự nghiệp kinh tế và bảo vệ môi trường. Một số cơ chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho văn hóa còn thiếu cụ thể, chưa rõ ràng. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa nhìn chung còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp. Đặc biệt, chúng ta vẫn còn có ít tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; chưa có nhiều tác phẩm có sức lan tỏa lớn ra cộng đồng thế giới.

HAIVAN

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp tư duy trong học tập và nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

 


Qua hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực, chính trị luôn ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện đáng kể. Theo đó, tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có những đổi mới nhất định (về trình độ cũng như phương pháp tư duy). Tuy nhiên, sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện thế giới có nhiều thay đổi khó lường, đặc biệt là sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo, còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Trong khi đó, trình độ hiểu biết về lý luận, thực tiễn của nhiều cán bộ, đảng viên hiện nay còn nhiều hạn chế. Phong cách tư duy của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện của lối tư duy giáo điều, bảo thủ, trì trệ, khuôn sáo, máy móc. Đó là những suy nghĩ chủ quan, duy ý chí, chưa thật sự dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Lối tư duy nôn nóng, giản đơn, đại khái, yếu về logic, thiếu hệ thống, luôn chạy theo mong muốn chủ quan của cá nhân vẫn còn tồn tại; đặc biệt, một số cán bộ, đảng viên có những biểu hiện của sự tách rời giữa tình cảm, đạo đức cách mạng và lý trí khoa học.

Do đó, yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay là phải xây dựng phương pháp tư duy khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cụ thể như sau:

Một là, chú trọng nâng cao tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sau khi thấm nhuần phương pháp tư duy Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải có khả năng dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, không lệ thuộc, rập khuôn, bắt chước người khác; có năng lực và bản lĩnh bảo vệ được quan điểm, chính kiến của mình; tự mình làm chủ mọi suy nghĩ, hành động, không bị a dua theo người khác; tự giác tìm tòi để sáng tạo, sẵn sàng tiếp thu cái mới, từ bỏ cái đã lỗi thời. Từ đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Hai là, khắc phục những thành kiến trong tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực chất vấn đề này là, chống chủ nghĩa giáo điều - giáo điều sách vở, giáo điều trong việc học tập kinh nghiệm của người khác; qua đó, giúp họ vượt lên trên những thành kiến, không lệ thuộc vào tập quán cũ, lạc hậu, biết giữ gìn và phát triển những tư tưởng truyền thống còn phù hợp, tiếp thu một cách có chọn lọc những tư tưởng mới, chủ động đề xuất những sáng kiến, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Ba là, nâng cao nhận thức, giáo dục, giúp cán bộ, đảng viên biết kết hợp giữa lý trí với tình cảm trong sáng, làm điều gì cũng luôn đặt lợi ích của tập thể, lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Biết yêu thương con người, luôn sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ người khác, coi niềm vui, hạnh phúc của người khác cũng là niềm vui và hạnh phúc của mình. Lịch sử đã chứng minh rằng, những cá nhân nặng về lý trí mà thiếu tình cảm thì sớm hay muộn họ cũng sẽ rời bỏ con đường mà mình đã chọn. Không ít người vì thiếu một tình yêu trong sáng và mãnh liệt, không biết yêu thương, nghĩ đến người khác nên họ đã bị những cám dỗ ích kỷ, tầm thường trong cuộc sống cá nhân, dễ dẫn đến thoái hóa, biến chất, hư hỏng, trở thành những kẻ cơ hội, hại nước, hại dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc.

Bốn là, trang bị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phương pháp tư duy thúc đẩy tính tự giác cao, phát huy tối đa năng lực chủ quan và coi trọng điều kiện khách quan, có khả năng kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, góp phần bổ sung phát triển lý luận trên cơ sở hoạt động thực tiễn và phù hợp với điều kiện thực tiễn để hoàn thành tốt mọi công việc được giao. Khi nắm vững phương pháp tư duy Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ luôn có tính tự giác cao và biết vận dụng, thường chủ động xây dựng các kế hoạch, đề ra biện pháp cụ thể để triển khai công việc của mình một cách khoa học, hiệu quả.

Năm là, tăng cường tổng kết, đúc kết những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo; phát hiện những gương điển hình tiên tiến để giáo dục, nêu gương cho đảng viên và quần chúng noi theo; xem xét kinh nghiệm, cách làm hay của cán bộ, đảng viên và cá nhân khác để áp dụng cho phù hợp với bản thân mình. Bên cạnh đó, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh cũng giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên có khả năng tìm tòi, suy nghĩ, chủ động tiếp thu tri thức mới để bổ sung vào kinh nghiệm đã tích lũy, từ đó có phương pháp phù hợp để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra.

Hiện nay, đứng trước những nhiệm vụ cách mạng mới, để giải quyết những vấn đề phong phú, sinh động, phức tạp mà cuộc sống đặt ra, không có con đường nào khác ngoài con đường nâng cao phương pháp tư duy, nhất là tư duy lý luận. Trong đó, phương pháp tư duy Hồ Chí Minh là một mẫu mực, vẫn còn giữ nguyên giá trị và lợi ích thiết thực. Do vậy, việc nghiên cứu, học tập, vận dụng phương pháp tư duy Hồ Chí Minh để nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là một yêu cầu bức thiết, cần được triển khai một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống.

HAIVAN

MẸ CŨNG ĐÃ TỪNG LÀ CON GÁI ĐẤY THÔI...

   Thiên hạ nói rằng không đẻ được con trai .

   Đến khi chết không có "thằng chống gậy" .

  Nhưng quá nữa cuộc đời mẹ lại thấy .

  Trăm "cục vàng" tử tế được bao nhiêu ?

  Hay chỉ chăm chăm chia chác ít nhiều ?

  Mấy ai nghĩ đến nỗi niềm của mẹ .

  Lúc ốm đau thì phân chia : Nặng , Nhẹ .

  Ai đã tự mình đón mẹ để mà nuôi .

  Tuổi thanh niên là giữa những cuộc chơi .

  Mẹ lại toát mồ hôi đi trả nợ .

  Lúc đến tuổi cập kê rồi lấy vợ .

  Cổ cưới mấy ai góp mẹ nổi một đồng .

  Rồi một ngày kia khi tiễn mẹ "qua sông".

   Kẻ chống gậy có còn quan trọng nữa ?

  Gái hay trai chỉ cốt lòng nhân nghĩa .

  Xuôi tay rồi nhắm mắt biết về đâu ?

  Nấm mồ hay lăng mộ khác chi nhau .

  Cũng chỉ để mẹ nằm yên dưới đất .

  Hết một kiếp người bao buồn vui được mất .

  Hỏi gái , trai ai khiến mẹ yên lòng ?

  Mẹ vẫn dạy rằng trai gái cũng là con .

  Chưa từng nghĩ con trai là quý hóa !

  Đời chỉ sống một lần nên tử tế .

  Bởi mẹ cũng từng là con gái đấy thôi .


(thơ Hoàng Lâm)

                  o0o


KIÊN QUYẾT KHẮC PHỤC CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM, GIÁO ĐIỀU

 


Để khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là tuân thủ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức và hành động với các yêu cầu cơ bản đó là: Phải nhận thức đúng vai trò của lý luận, nắm bắt hệ thống lý luận khoa học, đặc biệt là tinh thần và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm chắc lý luận của các khoa học cơ bản và khoa học chuyên ngành. Phải vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách sáng tạo. Khi thực tiễn thay đổi thì lý luận cũng phải thay đổi theo. Phải tích cực tu dưỡng, rèn luyện để có đủ các điều kiện về phẩm chất và năng lực để thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Phải có quan điểm thực tiễn đúng đắn, tích cực hoạt động thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, tích cực sơ, tổng kết thực tiễn để rút kinh nghiệm, phát triển lý luận.

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng đã thu được những thành tựu rất quan trọng. Song, tính chất khó khăn và phức tạp của sự nghiệp đổi mới đang đặt ra rất nhiều vấn đề lý luận, đòi hỏi phải được giải quyết. Muốn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đi đến thành công, Đảng ta cần phải tự đổi mới và tự chỉnh đốn, trước hết phải nâng cao trình độ trí tuệ, trình độ lý luận của Đảng, kiên quyết khắc phục bệnh kinh nghiệm, giáo điều.

Khắc phục, ngăn ngừa bệnh kinh nghiệm, giáo điều ở cán bộ nước ta nói riêng và trong xã hội nói chung là nhiệm vụ tất yếu, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Để từng bước khắc phục, ngăn ngừa có hiệu quả chúng ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó quán triệt sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao năng lực tư duy lý luận khoa học cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, xây dựng nền dân chủ XHCN có ý nghĩa cơ bản, trực tiếp quyết định để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

 

GIÁ TRỊ CỦA TRÁCH NHIÊM NÊU GƯƠNG


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu tất cả cán bộ, đảng viên phải nêu gương. Bởi vì rằng: “Một tấm gương sống có giá trị hơn cả trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Trong khi đó, cán bộ, đảng viên là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, sự nêu gương của cán bộ, đảng viên có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những biện pháp để đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình chính là làm gương, nêu gương trong mọi lúc, mọi nơi cho cấp dưới và cho quần chúng nhân dân. Có thể khẳng định, thực hiện tốt biện pháp này sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, đồng thời thực hiện có hiệu quả việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Việc nêu gương của cán bộ, đảng viên đã được đề cập từ lâu, đề cập nhiều lần trong các văn bản, nghị quyết, quy định của Đảng. Nhưng đây là lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương ban hành một quy định, trong đó đề cập cụ thể trách nhiệm nêu gương của các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng - Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, cho thấy tính công khai, minh bạch, dân chủ trong Đảng ngày càng được phát huy. Sự ra đời của Quy định 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao; một lần nữa khẳng định việc nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và đạo lý của người cán bộ.

Vì vậy, nghiên cứu về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ chiến dịch, chiến lược trong tình hình hiện nay là yêu cầu khách quan và là biện pháp quan trọng để cán bộ chiến dịch, chiến lược trong Quân đội nâng cao uy tín, vị thế của mình trước tập thể, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí hiện nay

 


Tham nhũng là quá trình tha hóa của những người được bắt đầu từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ góp phần giảm thiểu, ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Văn kiện Đại XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”.

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là một trong những nguyên nhân dẫn đến tham nhũng. Vì vậy, đấu tranh chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống được xem là giải pháp trọng yếu ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng tham nhũng ở nước ta hiện nay. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cần phải tăng cường công tác lý luận và giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng theo định hướng Đại hội XIII của Đảng đặt ra. Tích cực đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ. Tăng  cường vai trò quản lý của Nhà nước cùng với thực hiện dân chủ XHCN. Coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra trong Đảng và Nhà nước, xử lý nghiêm minh, kịp thời những vi phạm. Kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch.  Gắn chặt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền gắn với đấu tranh chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược./.

 

 

 

 

XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM NGÀY CÀNG TIÊN TIẾN…

 


Văn hóa Việt Nam là toàn bộ văn hóa các dân tộc Việt Nam cư trú trên mảnh đất Việt Nam.Văn hóa được coi là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Ngay sau khi giành được độc lập dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng vai trò của văn hóa, đặt văn hóa vào vị trí quan trọng ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng vai trò của văn hóa và xác định rõ tầm quan trọng của văn hóa đối với xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước. Chính vì vậy, Đảng đã đưa ra nhiều chủ trương, quyết sách quan trọng nhằm phát triển văn hóa, coi đây là nhiệm vụ quan trọng ngang hang với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội.

Với tư tưởng: “lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đường lối, chủ trương, chính sách về văn hóa của Đảng ta được thể hiện thông qua các chỉ thị, nghị quyết, nhất là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”… góp phần bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống, nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Với nhận thức đúng đắn và quyết tâm chính trị cao, quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa sẽ được quán triệt, thực hiện nghiêm túc, vận dụng sáng tạo; qua đó, góp phần xây dựng Quân đội Nhân dân vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

 

CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN PHẢI LÀM TỐT TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH


Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là phương pháp để giáo dục, rèn luyện đảng viên, là vũ khí sắc bén để chống tả khuynh và hữu khuynh; uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức; ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; khắc phục tư tưởng ngại khó, ngại khổ; tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc quan trọng góp phần xây dựng chỉnh đốn đảng.

Hiện nay các cấp ủy chi bộ, đảng bộ đang chuẩn bị tiến hành tự phê bình và phê bình để kiểm điểm trước đại hội nhiệm kỳ mới . Do đó, cần làm tốt công tác chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên để thấy được mục đích, ý nghĩa, tác dụng của tự phê bình và phê bình chính là để giúp nhau cùng tiến bộ, từ đó có giải pháp để thực hiện tự phê bình và phê bình đạt kết quả tốt, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiếu đấu của tổ chức đảng, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng và củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng.

Là người cán bộ cao cấp của Đảng trong quân đội hơn lúc nào hết chúng ta phải nhận thức đầy đủ và gương mẫu thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình trong đảng, góp phần xây dựng chỉnh đốn đảng trong tình hình mới.

VAI TRÒ CỦA CẤP ỦY CƠ SỞ TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

 


Các cấp ủy, tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần phải thường xuyên nâng cao cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch. Đồng thời, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tổ chức thực hiện tốt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020; chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2017 - 2020; Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số rất ít người giai đoạn 2016 - 2025 và các chính sách khác đang còn hiệu lực, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc giải quyết các khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số rất ít người; bảo đảm mức sống của các dân tộc này tương đương với các dân tộc khác trong vùng theo mục tiêu Đề án đề ra đến năm 2025.

Đồng thời, tập trung chỉ đạo, giải quyết những khó khăn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hiện nay như: tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt để đồng bào ổn định cuộc sống; tập trung chỉ đạo các địa phương thực hiện các giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế ổn định cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số, miền núi như: Hỗ trợ trồng rừng, bảo vệ rừng; hỗ trợ phát triển sản xuất, xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi chủ lực để sản xuất hàng hóa tập trung, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao; kết nối tiêu thụ hàng hóa giữa vùng dân tộc thiểu số, miền núi với thị trường trong nước và quốc tế; đồng thời chú trọng xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần cho đồng bào.

Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, lãnh đạo các cấp, các ngành và đồng bào dân tộc thiểu số về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tác giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi; đổi mới hơn nữa nội dung thông tin, tuyên truyền, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, để đồng bào hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và tin tưởng thực hiện chính sách giảm nghèo; nhân rộng điển hình tiên tiến, đồng thời khơi dậy truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vươn lên thoát nghèo. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch./.

MỘT SỐ THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA KẺ ĐỊCH Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

 


Kẻ địch tập trung mũi nhọn xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trực tiếp nhất là quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta hiện nay, đặc biệt là những nội dung liên quan đến phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh ở miền núi, đến chính sách dân tộc; thổi phồng những thiếu sót của ta trong quá trình thực hiện các chính sách đó ở địa phương... nhằm vô hiệu hóa sự lãnh đạo của tổ chức đảng, của chính quyền địa phương để chúng dễ bề lôi kéo, khống chế nhân dân.

Cùng với tuyên truyền xuyên tạc, chúng ra sức kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tư tưởng ly khai dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự đoàn kết thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Đó là các hoạt động cụ thể như nhen nhóm, khuấy động, thổi bùng cái gọi là “quyền tự trị” của các dân tộc, yêu sách thành lập “Vương quốc riêng” của người Mông, người Chăm, người Khơ Me Nam Bộ, v.v... tung các tin thất thiệt về đời sống tâm linh và hiện thực ở các vùng đồng bào dân tộc để tạo nên hàng loạt các hoạt động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào luôn luôn không ổn định.

THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG KHÓ KHĂN VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA KẺ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG

 


          Vùng dân tộc ở nước ta hiện nay còn có những khó khăn, thách thức. Lợi dụng những hạn chế trên, các tổ chức phản động trong và ngoài nước tìm mọi cách lợi dụng những khó khăn phức tạp trong vùng dân tộc thiểu số để kích động, tập hợp lực lượng gây bất ổn về an ninh chính trị, trật tự xã hội...Thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường dựa vào là các chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do”, nhất là tự do tín ngưỡng, tôn giáo; những vấn đề do lịch sử để lại; những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc; hay thiếu sót trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi, trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở các địa phương để chống phá cách mạng Việt Nam về vấn đề dân tộc.

 

KẾT QUẢ CỦA SỰ ĐỔI MỚI VỚI VẤN ĐỀ DÂN TỘC

 


           Những năm đổi mới, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trong tất cả lĩnh vực đời sống xã hội. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc đã được thực hiện đầy đủ; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố. Kinh tế vùng dân tộc và miền núi có bước phát triển đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao (trung bình 8% năm). Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả to lớn. Đời sống của đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể. Việc khám chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ngày càng được quan tâm với nhiều chính sách ưu tiên. Hệ thống chính trị vùng dân tộc và miền núi được tăng cường và củng cố, nhất là ở cấp cơ sở. Tình hình chính trị, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi cơ bản ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững.

MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

 


          Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc anh em. Theo số liệu Tổng cục Thống kê ngày 01/4/2019, người Kinh chiếm 85,3% dân số, 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số. Đảng và Nhà nước ta xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách; là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của hệ thống chính trị. Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng liên quan đến vấn đề dân tộc và công tác dân tộc như Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX). Ngày 30/10/2019, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 65-KL/TW về “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc trong tình hình mới”.

Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

Từ đầu tháng 6 đến nay, cử tri trong tỉnh cũng tích cực tham gia vào hoạt động tiếp xúc cử tri chuẩn bị cho kỳ họp giữa năm của HĐND các cấp. Tại các cuộc tiếp xúc này, hàng trăm ý kiến đóng góp của cử tri đã được các đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp tiếp thu, giải trình. Trân trọng tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân chính là một trong những cách làm thiết thực, hiệu quả để phát huy vai trò của Nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực tế thời gian qua cho thấy, thông qua các hình thức như công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở, thông qua các hội nghị, sinh hoạt chi bộ; tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng với Nhân dân; tiếp xúc cử tri, các cấp ủy, tổ chức đảng đã thông báo công khai và khuyến khích Nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, giám sát. Các nội dung để Nhân dân đóng góp ý kiến, giám sát là 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa”; những điều đảng viên không được làm; cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Đặc biệt là việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu; nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của Nhân dân; quy trình, thủ tục giải quyết công việc… Những ý kiến, góp ý của Nhân dân được các tổ chức, cá nhân có liên quan tiếp thu nghiêm túc và giải quyết kịp thời, đúng quy định. Qua đó khuyến khích Nhân dân tích cực tham gia góp ý, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Thông qua các hình thức, các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp đã tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân biết, bàn, tham gia góp ý và giám sát nhiều nội dung theo quy định, nhất là hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền. Công khai, minh bạch, khách quan những nội dung theo quy định để Nhân dân được biết, góp ý và tham gia giám sát, nhất là những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống Nhân dân như: kế hoạch phát triển KT-XH; phương án đền bù, hỗ trợ, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hương ước, quy ước; kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức… Qua đó, Nhân dân đã phát huy quyền làm chủ của mình, tích cực tham gia đóng góp ý kiến, giám sát, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” trong nội bộ. Công tác tiếp dân, đối thoại với Nhân dân đi vào nền nếp, đảm bảo thực chất, có hiệu quả. Hoạt động tiếp dân, đối thoại với Nhân dân được thực hiện công khai, dân chủ, tôn trọng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và giải quyết kịp thời, đúng quy định pháp luật những phản ánh, kiến nghị của Nhân dân, nhất là những phản ánh về biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống, thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Các cơ quan, đơn vị, sở, ban, ngành đã thực hiện việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp giải quyết công việc và kiên quyết xử lý đối với những tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tiêu cực, thiếu tôn trọng quyền làm chủ của Nhân dân, có chỉ số hài lòng thấp. Để siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao chất lượng công vụ gắn với thực hiện văn hóa công sở, ngày 04/5/2023, UBND tỉnh có Công văn số 608/UBND-NVK về việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao chất lượng công vụ và thực hiện văn hóa công sở. Từ năm 2016 -2022, Chỉ số CCHC của tỉnh luôn tăng về điểm số. Điểm số năm sau luôn cao hơn năm trước. Đến năm 2022, tỉnh được xếp ở vị trí cao nhất, đạt 86,30%, tăng 2 bậc so với năm 2021; tăng 30 bậc so với năm 2020, xếp thứ 23/63 tỉnh, thành phố.

Miễn dịch” trước các thông tin xấu độc, chống phá

Trong bối cảnh truyền thông mới, thời đại 4.0 và internet, mạng xã hội bùng nổ, tạo ra sự "ngập lụt” thông tin. Trong đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị triệt để lợi dụng không gian mạng để tấn công, chống phá. Chúng thiết lập hàng loạt trang web, blog, tài khoản facebook, fanpage… để tổ chức các chiến dịch tuyên truyền, phát tán các tin, bài, ảnh, clip nội dung xấu, độc, thù địch với tần suất và số lượng lớn. Đặc biệt là khi đất nước diễn ra các sự kiện lớn như Đại hội Đảng, bầu cử, lễ kỷ niệm… hay khi xảy ra vấn đề ở địa phương, cơ sở. Các thế lực thù địch thường lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, đất đai để chống phá. Đơn cử, sau vụ việc nhóm đối tượng dùng súng tấn công trụ sở UBND xã Ea Tiêu, Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk rạng sáng 11/6, làm thương vong một số chiến sĩ công an xã, cán bộ, người dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, trên mạng xã hội và những trang báo tiếng Việt máy chủ từ nước ngoài xuất hiện ngay những thông tin xuyên tạc, cố tình bóp méo, suy diễn. Chúng lèo lái, rêu rao vấn đề sắc tộc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết. Mạng xã hội cũng xuất hiện những tin giả, nhiều thông tin, video không đúng sự thật được chỉnh sửa, cắt ghép. Những luồng thông tin xấu độc như những đợt tấn công tàn ác, đánh vào nhận thức, hiểu biết, làm người dân hoang mang, lo lắng, băn khoăn, hoài nghi. Đó cũng chính là mục đích của thế lực thù địch, phản động nhằm tạo diễn biến, chuyển hóa trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, Nhân dân. Sự thật thì trái ngược những gì chúng ra sức lợi dụng vụ việc để tuyên truyền chống phá. Thực tế đó cho thấy, công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên môi trường mạng là cuộc chiến đấu không khói súng nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp. Đòi hỏi sự quan tâm, vào cuộc kịp thời, nhạy bén, trách nhiệm, bền bỉ của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trước hết là vai trò của lực lượng nòng cốt và cán bộ, đảng viên. Những năm qua, lực lượng chức năng cũng đã phát hiện một số tài khoản mạng xã hội của cá nhân đang sinh sống và làm việc trên địa bàn tỉnh tham gia bày tỏ quan điểm trái chiều, bình luận với nội dung tiêu cực. Thậm chí viết bài, chia sẻ những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, tác động đến tư tưởng, dư luận xã hội. Đã có những đối tượng bị đưa ra xét xử, kết án vì tội "làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Hòa Bình là tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số, một số tôn giáo và đang, sẽ triển khai nhiều dự án phát triển KT-XH cần giải phóng mặt bằng. Tỉnh cũng nghiêm túc thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đây là những vấn đề dễ bị lợi dụng để nói xấu, xuyên tạc. Để tránh tác động trước các thông tin xấu độc, xuyên tạc, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình "hệ miễn dịch”. Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững bản lĩnh chính trị. Khi có nhận thức đúng, bản lĩnh vững vàng cần có thái độ rõ ràng và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chế độ, nền tảng tư tưởng của Đảng. Hình thành thói quen thận trọng, kiểm chứng thông tin; tiếp nhận, chia sẻ thông tin từ các cơ quan Đảng, Nhà nước, báo chí chính thống. Từ đó, lan tỏa tích cực, đúng đắn đến quần chúng Nhân dân. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng về Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng cần đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phù hợp với tình hình mới. Công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân cần sáng tạo, thích hợp với đặc thù từng giai tầng; trí vận, phụ vận ra sao... Các cơ quan chức năng, báo chí chính thống cũng có vai trò quan trọng trong cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin, định hướng dư luận xã hội, làm chủ "trận địa” thông tin.

"Ngoại giao cây tre" vì độc lập, tự cường và hữu nghị

Dựa trên tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, kết hợp với truyền thống văn hóa đặc sắc và chính sách ngoại giao hòa bình của dân tộc, trường phái "ngoại giao cây tre" của Việt Nam không chỉ phù hợp với điều kiện Việt Nam và đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, mà còn phù hợp với mọi thời đại. Ðó là nhận định của nhà báo Khamvisan Keosouphan, nguyên Trợ lý Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Ðảng Nhân dân Cách mạng Lào khi chia sẻ với phóng viên TTXVN. Là một nhà báo thường xuyên theo dõi về Việt Nam, ông Khamvisan có ấn tượng mạnh khi đọc bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chủ trương xây dựng trường phái "ngoại giao cây tre" của Việt Nam. Theo ông, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ bản chất và đường lối ngoại giao Việt Nam, đó là nền ngoại giao được đúc kết trong suốt quá trình hàng nghìn năm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước của dân tộc Việt Nam, dựa trên nguyên tắc bất biến và tư tưởng xuyên suốt là độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia. Ðó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước, văn hóa dân tộc, truyền thống Việt Nam với tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm ngoại giao thế giới. Trong đó, luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị; dùng ngoại giao để ngăn chặn, đẩy lùi xung đột; gắn với thực tiễn của thế giới, đưa Việt Nam hòa nhập dòng chảy của thời đại... Trong khi đó, Giáo sư Go Ito, thuộc Ðại học Meiji (Nhật Bản) nhận định, cách gọi "ngoại giao cây tre" là một phép ẩn dụ thú vị. Theo ông, những nét chính của đường lối ngoại giao này là khả năng phục hồi, tính linh hoạt và sự khiêm tốn. Giáo sư nhấn mạnh, sự linh hoạt tồn tại trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, trong việc duy trì mối quan hệ với các nước. Chuyên gia Nhật Bản cho rằng, Việt Nam đang trong một môi trường thuận lợi để đạt được vị thế quan trọng trong ASEAN, đồng thời có sự gắn kết về chính trị và kinh tế với các nước trong khu vực, như Nhật Bản và Hàn Quốc. Theo Giáo sư Go Ito, Việt Nam là quốc gia Ðông Nam Á gần Nhật Bản nhất, đồng thời kết nối với bán đảo Ðông Dương, đây là một yếu tố quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Nhật Bản. Chủ tịch Hội Hữu nghị Israel-Việt Nam, cựu Ðại sứ Israel tại Việt Nam Amikam Levy cho rằng, đường lối "ngoại giao cây tre" là một chính sách, sáng kiến tuyệt vời, cho thấy phong cách lãnh đạo và cam kết của Ðảng Cộng sản Việt Nam vì lợi ích của nhân dân Việt Nam. Bày tỏ ngưỡng mộ về trường phái "ngoại giao cây tre", ông Levy cho đây là sự kết hợp tài tình, bởi cây tre luôn linh hoạt và mạnh mẽ, có tính cộng đồng cao; cây tre mềm dẻo, nhưng cũng mạnh mẽ, đáng tin cậy. Chủ tịch Hội Hữu nghị Israel-Việt Nam bày tỏ ấn tượng tốt đẹp về vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước đạt được những thành tựu kinh tế-xã hội vượt bậc. Theo nhà ngoại giao Israel, lãnh đạo Việt Nam có tầm nhìn và tinh thần cống hiến vì lợi ích của người dân, đưa đất nước trở nên hùng mạnh.

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam

Một trong những âm mưu, thủ đoạn chống phá dai dẳng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành quả của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho công dân. Ý đồ này không ngoài mục đích hạ thấp sứ mệnh của báo chí cách mạng, phủ nhận khuynh hướng tính chính trị của báo chí cách mạng phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước và sâu xa hơn, hòng làm thay đổi thể chế chính trị - xã hội ở Việt Nam. NHỮNG LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ, THÂM ĐỘC Thời gian qua, các thế lực thù địch và một số cơ quan báo chí truyền thông phương Tây, các phần tử thiếu thiện chí, bất mãn chính trị đã lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí tại Việt Nam. Những luận điểm được "nhai đi nhai lại” nhiều lần là quy kết, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí thông qua cái gọi là "Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên”, xếp báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam "quản” báo chí theo chế độ "đăng ký”, "bị kiểm duyệt”, "hà khắc”... Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như: "Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được, mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; "Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFI, RFA, VOA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự cổ xúy, giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ xúy cho cái gọi là "tự do báo chí”, "xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng nhằm đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể khẳng định, thông tin sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí như những mũi kim tiêm tẩm độc xuyên vào nhận thức, thái độ, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan của nhiều người. Một bộ phận người dân hoài nghi, bi quan về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí nói riêng. Những thông tin sai lệch, xuyên tạc có thể làm chia rẽ, ly gián lòng người, làm phân tâm trong các giai tầng xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc... Nguy hại hơn, các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của cộng đồng quốc tế về Việt Nam; thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam. MỘT VIỆT NAM VỚI QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ MỞ RỘNG Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí Việt Nam phát triển. Cùng với đó, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước là hiện thực sinh động cho báo chí Việt Nam phát triển lớn mạnh cả về quy mô, tổ chức, lực lượng, phương tiện, công nghệ làm báo và sức ảnh hưởng, lan tỏa trong xã hội. Về phương diện chính trị, pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: "Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”; "xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông”. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 hiến định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo Luật Báo chí 2016, công dân được tham gia vào các quy trình sáng tạo, sản xuất sản phẩm báo chí, tiếp nhận báo chí, ngôn luận trên báo chí theo quy định (Điều 11). Các cơ quan báo chí có trách nhiệm bảo đảm công dân thực hiện quyền tự do báo chí theo quy định (Điều 12). Về phần mình, cơ quan báo chí và nhà báo được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ, không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (Điều 13); được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoạt động nghề nghiệp. Không ai có quyền cản trở nhà báo khai thác và thể hiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật (Điều 25). Tất nhiên, cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: "Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13). Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9). Thực tiễn đã chứng minh, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, quyền tự do báo chí được bảo đảm. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có gần 41.000 người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 18.000 người được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương có báo hoặc tạp chí; mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp... đều có tờ báo, tạp chí chuyên biệt dành cho họ. Nhiều tờ báo đã chuyển đổi thành cơ quan báo chí đa phương tiện, đa loại hình, hiện diện trên môi trường internet. Các loại hình báo chí di động, báo chí mạng xã hội, báo chí trí tuệ nhân tạo... xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đa giác quan (nghe-nhìn-đọc) ở mọi lúc, mọi nơi của công chúng. Đồng thời, các hình thức tương tác với công chúng được mở rộng. Mô hình truyền thông hai chiều tạo cơ hội để công chúng được bày tỏ chính kiến, quan điểm, nguyện vọng trước mọi vấn đề, sự việc đang diễn ra trong đời sống xã hội; được tham gia vào tiến trình giải quyết các vấn đề mà xã hội đang đặt ra như: Vấn đề bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ; chống biến đổi khí hậu; chống tham nhũng, tiêu cực xã hội... Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí phát triển. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới. Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Điều này có ý nghĩa bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam. NHÀ BÁO VÀ CƠ QUAN BÁO CHÍ TRONG CUỘC CHIẾN ĐẨY LÙI THÔNG TIN XẤU ĐỘC, THÙ ĐỊCH Những năm qua, nhiều tờ báo, đặc biệt là các tờ báo thuộc hệ thống báo Đảng, các cơ quan báo chí lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều báo Đảng địa phương, nhiều tạp chí khoa học đã đăng tải những bài viết phản ánh, phân tích, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chế độ cũng như chống phá nền báo chí cách mạng của các thế lực thù địch. Nhiều báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục: "Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, "Nhận diện sự thật”... lồng ghép đăng tải các bài viết khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Nhiều bài báo đã mở chuyên mục kiểm chứng thông tin để đăng tải sự thật về các sự việc, sự kiện, vấn đề bị các thế lực thù địch xuyên tạc để người dân không hoang mang, dao động. Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng thủ đoạn "diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Vì vậy, việc nhận diện, phản bác, đấu tranh chống thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí đòi hỏi nhà báo - với tư cách chủ thể thực thi trách nhiệm đưa tin, khởi tạo, định hướng dư luận tại cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân - phải nhập cuộc tích cực hơn để nhận diện sự thật, lẽ phải, kịp thời và kiên quyết phản bác mạnh mẽ, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị. Tự do báo chí ở Việt Nam là thực tiễn không thể phủ nhận, xuyên tạc. Việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận cũng là một trong những mục tiêu xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam; là đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng ở mọi kỳ, được bảo đảm bằng hệ thống Hiến pháp, pháp luật và được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Với thực tế đó, nhà báo có đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn để đấu tranh hiệu quả chống luận điệu xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí trên không gian mạng. Vì vậy, nhà báo phải mài sắc ngòi bút thành "vũ khí” sắc bén để đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Muốn phản bác hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, nhà báo cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn thể hiện khát khao bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa bằng một tinh thần nhiệt huyết, một trí tuệ, tài năng được hun đúc, rèn giũa bền bỉ. Theo lời Bác Hồ dạy, nhà báo cần "nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ”; "cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa”; "đi sâu vào quần chúng”. Nhà báo cần nắm vững chủ trương, chính sách để tuyên truyền trúng và có sức thuyết phục, để vững vàng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng. Đối với mỗi nhà báo, văn hóa tốt đem lại đạo đức tốt, tri thức rộng, sâu; nghiệp vụ vững để sáng tạo tác phẩm báo chí hay, hấp dẫn. Có thể khẳng định rằng, việc các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về tự do báo chí ở Việt Nam vừa là trách nhiệm chính trị vừa là đạo đức, văn hóa nghề nghiệp nhằm góp phần cùng cả hệ thống chính trị bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời bảo vệ những giá trị, thành quả tốt đẹp của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã được vun đắp, xây dựng gần một thế kỷ qua./. NHỮNG LUẬN ĐIỆU XẢO TRÁ, THÂM ĐỘC Thời gian qua, các thế lực thù địch và một số cơ quan báo chí truyền thông phương Tây, các phần tử thiếu thiện chí, bất mãn chính trị đã lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí tại Việt Nam. Những luận điểm được "nhai đi nhai lại” nhiều lần là quy kết, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí thông qua cái gọi là "Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên”, xếp báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam "quản” báo chí theo chế độ "đăng ký”, "bị kiểm duyệt”, "hà khắc”... Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như: "Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được, mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; "Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFI, RFA, VOA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự cổ xúy, giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ xúy cho cái gọi là "tự do báo chí”, "xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng nhằm đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể khẳng định, thông tin sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí như những mũi kim tiêm tẩm độc xuyên vào nhận thức, thái độ, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan của nhiều người. Một bộ phận người dân hoài nghi, bi quan về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí nói riêng. Những thông tin sai lệch, xuyên tạc có thể làm chia rẽ, ly gián lòng người, làm phân tâm trong các giai tầng xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc... Nguy hại hơn, các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của cộng đồng quốc tế về Việt Nam; thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam. MỘT VIỆT NAM VỚI QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ MỞ RỘNG Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí Việt Nam phát triển. Cùng với đó, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước là hiện thực sinh động cho báo chí Việt Nam phát triển lớn mạnh cả về quy mô, tổ chức, lực lượng, phương tiện, công nghệ làm báo và sức ảnh hưởng, lan tỏa trong xã hội. Về phương diện chính trị, pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: "Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”; "xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông”. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 hiến định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo Luật Báo chí 2016, công dân được tham gia vào các quy trình sáng tạo, sản xuất sản phẩm báo chí, tiếp nhận báo chí, ngôn luận trên báo chí theo quy định (Điều 11). Các cơ quan báo chí có trách nhiệm bảo đảm công dân thực hiện quyền tự do báo chí theo quy định (Điều 12). Về phần mình, cơ quan báo chí và nhà báo được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ, không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (Điều 13); được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoạt động nghề nghiệp. Không ai có quyền cản trở nhà báo khai thác và thể hiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật (Điều 25). Tất nhiên, cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: "Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13). Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9). Thực tiễn đã chứng minh, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, quyền tự do báo chí được bảo đảm. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có gần 41.000 người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 18.000 người được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương có báo hoặc tạp chí; mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp... đều có tờ báo, tạp chí chuyên biệt dành cho họ. Nhiều tờ báo đã chuyển đổi thành cơ quan báo chí đa phương tiện, đa loại hình, hiện diện trên môi trường internet. Các loại hình báo chí di động, báo chí mạng xã hội, báo chí trí tuệ nhân tạo... xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đa giác quan (nghe-nhìn-đọc) ở mọi lúc, mọi nơi của công chúng. Đồng thời, các hình thức tương tác với công chúng được mở rộng. Mô hình truyền thông hai chiều tạo cơ hội để công chúng được bày tỏ chính kiến, quan điểm, nguyện vọng trước mọi vấn đề, sự việc đang diễn ra trong đời sống xã hội; được tham gia vào tiến trình giải quyết các vấn đề mà xã hội đang đặt ra như: Vấn đề bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ; chống biến đổi khí hậu; chống tham nhũng, tiêu cực xã hội... Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí phát triển. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới. Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Điều này có ý nghĩa bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam. NHÀ BÁO VÀ CƠ QUAN BÁO CHÍ TRONG CUỘC CHIẾN ĐẨY LÙI THÔNG TIN XẤU ĐỘC, THÙ ĐỊCH Những năm qua, nhiều tờ báo, đặc biệt là các tờ báo thuộc hệ thống báo Đảng, các cơ quan báo chí lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều báo Đảng địa phương, nhiều tạp chí khoa học đã đăng tải những bài viết phản ánh, phân tích, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chế độ cũng như chống phá nền báo chí cách mạng của các thế lực thù địch. Nhiều báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục: "Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, "Nhận diện sự thật”... lồng ghép đăng tải các bài viết khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Nhiều bài báo đã mở chuyên mục kiểm chứng thông tin để đăng tải sự thật về các sự việc, sự kiện, vấn đề bị các thế lực thù địch xuyên tạc để người dân không hoang mang, dao động. Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng thủ đoạn "diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Vì vậy, việc nhận diện, phản bác, đấu tranh chống thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí đòi hỏi nhà báo - với tư cách chủ thể thực thi trách nhiệm đưa tin, khởi tạo, định hướng dư luận tại cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân - phải nhập cuộc tích cực hơn để nhận diện sự thật, lẽ phải, kịp thời và kiên quyết phản bác mạnh mẽ, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị. Tự do báo chí ở Việt Nam là thực tiễn không thể phủ nhận, xuyên tạc. Việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận cũng là một trong những mục tiêu xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam; là đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng ở mọi kỳ, được bảo đảm bằng hệ thống Hiến pháp, pháp luật và được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Với thực tế đó, nhà báo có đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn để đấu tranh hiệu quả chống luận điệu xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí trên không gian mạng. Vì vậy, nhà báo phải mài sắc ngòi bút thành "vũ khí” sắc bén để đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Muốn phản bác hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, nhà báo cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn thể hiện khát khao bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa bằng một tinh thần nhiệt huyết, một trí tuệ, tài năng được hun đúc, rèn giũa bền bỉ. Theo lời Bác Hồ dạy, nhà báo cần "nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ”; "cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa”; "đi sâu vào quần chúng”. Nhà báo cần nắm vững chủ trương, chính sách để tuyên truyền trúng và có sức thuyết phục, để vững vàng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng. Đối với mỗi nhà báo, văn hóa tốt đem lại đạo đức tốt, tri thức rộng, sâu; nghiệp vụ vững để sáng tạo tác phẩm báo chí hay, hấp dẫn. Có thể khẳng định rằng, việc các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về tự do báo chí ở Việt Nam vừa là trách nhiệm chính trị vừa là đạo đức, văn hóa nghề nghiệp nhằm góp phần cùng cả hệ thống chính trị bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời bảo vệ những giá trị, thành quả tốt đẹp của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã được vun đắp, xây dựng gần một thế kỷ qua./.