Có
thể hiểu, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam là khả năng đạt được những gì mà dân
tộc, nhân dân Việt Nam mong muốn thông qua việc gây dựng ảnh hưởng, tạo sự hấp
dẫn bởi giá trị văn hóa Việt Nam, hệ giá trị chính trị - xã hội và mô hình nhà
nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chính sách đối nội và đối ngoại độc lập, tự
chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Như
nhiều quốc gia - dân tộc khác, Việt Nam cũng có nền văn hóa của riêng mình. Đó
là “thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước
và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ
tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn
hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm
rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”. Văn hóa Việt Nam - như cố Thủ tướng Phạm
Văn Đồng nhấn mạnh - là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc Việt
Nam, làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết
bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng
phát triển và lớn mạnh, viết nên những trang sử lạ lùng bởi tính kiên cường
trong hoạn nạn, bởi khí phách hào hùng trong giữ nước và dựng nước; “chất văn
hóa... là tinh hoa của dân tộc, của quý nhất mà ngày nay mọi người Việt Nam
chúng ta tự hào là người thừa kế và phát triển.
Trải
qua biết bao biến cố và thăng trầm của lịch sử, chịu ảnh hưởng của nhiều nền
văn hóa khác nhau, nhưng văn hóa Việt Nam không bị đồng hóa, mà vẫn giữ vững
bản sắc và thể hiện sức sống mãnh liệt của mình trong khả năng tiếp biến linh
hoạt và đầy sáng tạo. Khả năng “Việt hóa” hay sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Nho
giáo, Đạo giáo và Phật giáo là những minh chứng cho sự tiếp biến đầy sáng tạo
và sức sống mãnh liệt của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam.
Dưới
sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhất là sau khi công bố Đề cương văn hóa
Việt Nam (năm 1943) và triển khai thực hiện Nghị quyết số
03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, “Xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết số
33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, “Về xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước”, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có
chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trọng. “Nhận thức về văn hóa,
xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn. Các lĩnh vực, loại
hình, sản phẩm văn hóa phát triển ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu mới, nhiều
mặt của đời sống xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa
được kế thừa, bảo tồn và phát huy”, góp phần quan trọng trong việc quảng bá
hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè thế giới.
Trong
bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, văn hóa Việt Nam càng có
nhiều cơ hội để lan tỏa ra thế giới. Cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ, trong âm
nhạc, trong các loại hình nghệ thuật Việt Nam hay tính nhân văn trong văn hóa
ứng xử, văn hóa giao tiếp... của người Việt Nam không chỉ là sức mạnh nội sinh
đối với sự phát triển bền vững của đất nước, mà còn có sức lan tỏa đến nhiều
nền văn hóa, nhiều quốc gia, thu hút hàng triệu trái tim, khối óc của người dân
đến từ nhiều quốc gia - dân tộc khác nhau trên thế giới. Không ít đoàn nghệ
thuật của Việt Nam đi công diễn ở nước ngoài được đón nhận một cách nồng nhiệt;
không ít tác phẩm văn học của các tác giả Việt Nam được dịch ra nhiều thứ
tiếng, như thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiệt tác Truyện Kiều của
Nguyễn Du hay Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài...
Đến
nay, Việt Nam có hàng chục di sản văn hóa được UNESCO vinh danh. Trong đó,
không ít loại hình nghệ thuật, nhất là nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam, được
UNESCO vinh danh là kiệt tác truyền khẩu, là di sản văn hóa phi vật thể đại
diện của nhân loại, như: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được công
nhận năm 2005; Nhã nhạc cung đình Huế được công nhận năm 2008; Dân ca Quan họ,
Ca trù được công nhận năm 2009; Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội
được công nhận năm 2010; di sản Thực hành hát Then của người Tày, Nùng, Thái ở
Việt Nam được công nhận năm 2019. Các di sản văn hóa này có sức lan tỏa và hấp
dẫn lớn đối với người dân nhiều nước trên thế giới, góp phần làm phong phú thêm
văn hóa, văn minh nhân loại, đúng như C. Mác và Ph. Ăng-ghen từng viết
trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản rằng: “Những thành quả của
hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân
tộc... và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang
nảy nở ra một nền văn học toàn thế giới”.
Từ
chỗ chưa có tên trên bản đồ thế giới, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ
ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc các châu lục khác nhau.
Tham gia và tham gia ngày càng tích cực vào nhiều tổ chức và diễn đàn khu vực
và toàn cầu, trong đó có Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn
đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), ASEAN, Đại hội đồng Liên
nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AIPA), Diễn đàn Hợp tác Á -
Âu (ASEM)... Tổ chức thành công nhiều hội nghị, đàm phán tầm quốc tế, như Hội
nghị cấp cao ASEM; đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà của APEC năm 2006 và
2017; Hội nghị Cấp cao ASEAN năm 2010; hay cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên
năm 2019... Qua kênh ngoại giao văn hóa và nhiều kênh khác, thế giới biết nhiều
hơn về một Việt Nam giàu đẹp, hiếu khách, kiên cường, hòa hiếu, thủy chung với
hàng nghìn năm văn hiến; uy tín và ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế
ngày càng tăng; dấu ấn Việt Nam ngày càng sâu đậm; sức mạnh mềm của Việt Nam
nói chung, của văn hóa Việt Nam nói riêng ngày càng được nhân lên gấp bội, trở
thành một trong những động lực thúc đẩy kinh tế, xã hội Việt Nam ngày càng phát
triển. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định: Đất
nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày
nay.
Có
thể khẳng định, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, bao vây
cấm vận hay hội nhập, sức sống Việt Nam nói chung, văn hóa Việt Nam nói riêng
không ngừng phát triển và lớn mạnh, luôn luôn trỗi dậy với một sức mạnh phi
thường. Với lợi thế của mình, sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam đã góp phần làm sâu
sắc thêm giá trị nhân văn, hun đúc nên tâm hồn, cốt cách, khí phách, bản
lĩnh con người Việt Nam, tô thắm lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Tuy
nhiên, so với những thành tựu mà chúng ta đạt được trên lĩnh vực chính trị,
kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại..., thành tựu trong lĩnh vực văn hóa
chưa tương xứng. “Văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế
và chính trị, chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát
triển bền vững đất nước”. Mức đầu tư cho văn hóa mới chỉ bảo đảm duy trì hoạt
động “ổn định”, chứ chưa thực sự có sự đột phá ưu tiên. So với tổng chi thường
xuyên của ngân sách Trung ương, chi cho văn hóa (trong cả giai đoạn 2010 -
2017) cũng chỉ chiếm trung bình 1,16% và bằng khoảng 0,1% GDP, tức là bằng
khoảng 1/5 - 1/6 mức chi cho sự nghiệp kinh tế và bảo vệ môi trường. Một số cơ
chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động,
quản lý các nguồn lực cho văn hóa còn thiếu cụ thể, chưa rõ ràng. Hệ thống
thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa nhìn chung
còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp. Đặc
biệt, chúng ta vẫn còn có ít tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư
tưởng và nghệ thuật; chưa có nhiều tác phẩm có sức lan tỏa lớn ra cộng đồng thế
giới.
HAIVAN
bài rất hấp dẫn
Trả lờiXóa