Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2023

NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

 


Thời gian tới, yêu cầu cấp thiết tiếp tục đặt ra cho công tác lý luận là đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, cần có những đánh giá khách quan về những thành tựu đã đạt được và những bất cập, hạn chế, khuyết điểm; để có nhận thức ngày càng sáng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt, cần tập trung nghiên cứu làm rõ một cách tổng quát lộ trình và những chặng đường của thời kỳ quá độ; nội dung cơ bản của từng chặng đường đó…; những thành tựu đã đạt được và hạn chế trong nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ở các chặng đường đã qua của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, với nhiều thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu nhằm phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của của Đảng và thành tựu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng - sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị tư tưởng quan trọng, là cơ sở phản bác một cách thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, từng bước hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Năng lực, uy tín của một đảng chính trị cầm quyền bao giờ cũng được đánh giá bởi thước đo thực tiễn với nhiều yếu tố, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, yếu tố quan trọng hàng đầu là có thực hiện đúng mục tiêu, đường lối đề ra và thúc đẩy đất nước phát triển; có nâng cao tiềm lực mọi mặt của đất nước, khắc phục khó khăn và nguy cơ đe dọa đến chủ quyền, an ninh quốc gia và nền độc lập dân tộc không; cải thiện đời sống cho nhân dân lao động đến đâu và được quốc tế đánh giá như thế nào?… Với Việt Nam, những thành tựu mà đất nước đạt được trong 35 năm đổi mới chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta luôn luôn nhất quán, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Việc làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị dẫn dắt trong tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng trong thực tiễn theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức đảng, mỗi cơ quan, đơn vị, chức trách của mỗi cán bộ, đảng viên. Đường lối đổi mới, tầm nhìn và định hướng phát triển của đất nước đã xác định trong Đại hội XIII của Đảng chỉ trở thành lực lượng vật chất khi được thâm nhập, quán triệt sâu sắc và tổ chức có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn ở mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời, đó là cơ sở để mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên làm tốt công tác tư tưởng, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đến quần chúng nhân dân. Với trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, đường lối lãnh đạo đúng đắn, kinh nghiệm lãnh đạo quý báu của Đảng, sự ủng hộ, chung sức, đồng lòng của nhân dân, khát vọng về một đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và mục tiêu đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ trở thành hiện thực./.

TBQL 17

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN, ĐỒNG BỘ GẮN VỚI THỰC HIỆN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC


Công cuộc đổi mới, kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại cùng các nguồn lực khác, như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực tăng cường hợp tác, mở rộng hội nhập quốc tế đã đem lại những thay đổi to lớn, thành tựu có ý nghĩa lịch sử cho đất nước trong 35 năm thực hiện đường lối đổi mới. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”… Việt Nam kiên định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, là một hình mẫu đặc thù của chủ nghĩa xã hội với điểm xuất phát thấp và phải gánh chịu hậu quả chiến tranh nặng nề. Mỗi nhiệm kỳ đại hội của Đảng là một chặng đường, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ và kết quả đạt được của nhiệm kỳ trước tạo tiền đề phát triển cho nhiệm kỳ sau. Những thành tựu to lớn ấy có được là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong những mốc lịch sử quan trọng:

Một là, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đảng ta đã đề ra các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, trong đó: “Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5 - 7%/năm. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 - 5.000 USD”.

Hai là, đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đảng ta xác định 12 định hướng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó về lĩnh vực kinh tế là: “Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng…; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”.

Ba là, đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”./.

TBQL 17

XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM LÀ CHẾ ĐỘ XÃ HỘI ƯU VIỆT VÀ VÌ NHÂN DÂN

 

Xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là đem lại tự do, hạnh phúc của nhân dân: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng, Nhà nước luôn luôn thực hiện quan điểm nhất quán là “dân là gốc”, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, C. Mác đã cho rằng: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Theo chiều tiệm tiến thì việc phát triển tuần tự hay bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội đã lỗi thời lạc hậu, xây dựng hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn là hợp quy luật phát triển của xã hội loài người. Cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, chủ nghĩa tư bản không phải là nấc thang phát triển cao nhất của xã hội loài người. Trong thời đại hiện nay, các dân tộc chỉ có hai lựa chọn là, theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, hay cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn con đường nào phụ thuộc vào nhận thức và hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của mỗi dân tộc. Nhưng, xu hướng phát triển chung là các dân tộc đều đi lên chủ nghĩa xã hội, dù cho con đường đó diễn ra lâu dài, gian khổ và cách thức tiến hành sẽ không giống nhau.

Điều ấy được kiểm chứng rõ trong tính đặc thù của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sau khi giành được độc lập đã bỏ qua sự phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội. Nước ta phải trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh với quyết tâm chống lại ách đô hộ và xâm lược của đế quốc, thực dân, để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Việt Nam là một tấm gương mẫu mực trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; đó là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là đường lối cơ bản, xuyên suốt và nhất quán của cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại bước sang giai đoạn mới là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, có nhiều thành tựu trong giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ, nên đã đạt được năng suất lao động cao. Song, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó; các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, các tệ nạn xã hội, nhất là khi đại dịch COVID-19 diễn ra lại càng làm bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị - xã hội của các nước này không vì sức khỏe, hạnh phúc của đại đa số nhân dân lao động. Các phong trào đấu tranh phản kháng xã hội đã bùng nổ mạnh mẽ, với những nội dung và hình thức mới ở nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua, càng làm bộc lộ rõ sự thật về những mâu thuẫn mang tính bản chất không thể hóa giải của chế độ tư bản chủ nghĩa./.

TBQL 17

PHÒNG, CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.

Tấm gương mẫu mực trong nghiên cứu khoa học

C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục được những hạn chế của các đại biểu tư tưởng trong lịch sử và đương thời, có phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học. Với sự hội tụ đầy đủ các nhân tố chủ quan trong chuyển đổi lập trường giai cấp, cùng với trí tuệ uyên bác của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen đã kế thừa thành tựu khoa học tự nhiên, tiền đề lý luận một cách chọn lọc. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã gạt bỏ hiện tượng bên ngoài để tìm ra bản chất, những mâu thuẫn kinh tế-xã hội nảy sinh trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nghiên cứu thực tiễn, tìm ra nguyên nhân do chưa có hệ tư tưởng độc lập, tiên tiến; chưa được giác ngộ ý thức giai cấp, còn bị ảnh hưởng nặng nề của trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại nên cản trở, dẫn đến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở những nước tư bản phát triển, như: Đức, Anh, Pháp bị thất bại.

Sự vĩ đại trong nghiên cứu khoa học của các ông đã đạt được thành quả là sáng lập, phát triển nên học thuyết thực sự khoa học, cách mạng-vũ khí tư tưởng, lý luận của giai cấp công nhân. Ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, C.Mác và Ph.Ăngghen, sau này là V.I.Lênin đã vừa bảo vệ, vừa phát triển các nguyên lý cách mạng và gắn với đấu tranh quan điểm sai trái để ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của những trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại, đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời là văn kiện đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản, đánh dấu sự ra đời Chủ nghĩa Mác, công khai về mục tiêu, lý tưởng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân quốc tế. Trước đó, C.Mác, Ph. Ăngghen đã phải mất nhiều năm nghiên cứu thực tiễn để tìm hiểu vai trò của giai cấp công nhân-lực lượng xã hội tương lai giữ vai trò lãnh đạo lật đổ xã hội tư bản và xây dựng xã hội mới.

Ở thời kỳ V.I.Lênin, ông có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn với phát triển lý luận, tiêu biểu như các tác phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”; “Quyền dân tộc tự quyết”, “Nhà nước và cách mạng”... Ở mỗi tác phẩm đều kết cấu nội dung logic, sử dụng hiệu quả các phương pháp khoa học là so sánh, phân tích, logic-lịch sử. Trong bối cảnh sau khi Ph.Ăngghen qua đời thì Quốc tế II bị lũng đoạn (ngoại trừ Đảng Xã hội-Dân chủ Nga), còn lại các đảng khác đều bị phân hóa thành ba phái nên V.I.Lênin đã thấy rõ sự cần thiết phải đấu tranh, với bút chiến rất mẫu mực để vạch trần bộ mặt thật của nó. Các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để lại là những di sản khoa học đồ sộ, có giá trị lý luận và thực tiễn, mẫu mực về đấu tranh tư tưởng nên mãi mãi trường tồn trong thời đại hiện nay.

Gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận

Tấm gương mẫu mực trong gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của các ông thể hiện ở nội dung, hình thức, phương pháp, kỹ năng và kết quả thực tế.

Về nội dung thể hiện sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, xuất phát từ những nguyên lý gốc đã được chỉ ra trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”; bám sát những biến đổi mới của thực tiễn, của cơ sở kinh tế, lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, nắm vững bản chất sai trái về khoa học và phản động về chính trị của những quan điểm sai trái ở mỗi thời điểm cụ thể. Ở tác phẩm: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, với kết cấu 4 chương thì dành riêng chương 4 để đấu tranh phê phán quan điểm sai trái và các chương khác đều lồng ghép nội dung phê phán.

Về hình thức thể hiện, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong nhiều tác phẩm dù không đặt tên hoặc có một số ít tác phẩm sử dụng từ “đấu tranh” hoặc “phê phán” ở tên tác phẩm nhưng nội dung đều phản ánh rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học với phê phán quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại rất thuyết phục.

Về phương pháp thể hiện rất toàn diện, nhuần nhuyễn, như: Khái quát, phân tích, diễn giải, logic-lịch sử, so sánh để chỉ ra tính chất sai trái của các luận điểm mà những đối tượng cơ hội, xét lại đưa ra và chứng minh tính đúng đắn của các nguyên lý cách mạng.

Về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong các tác phẩm thể hiện tính đanh thép, “rõ danh tính đối tượng cần phê phán”, sắc sảo về bút lực, bảo đảm tính luận chiến, luận cứ, luận chứng và có thái độ chính trị kiên quyết.

Khi thực tiễn có sự thay đổi, cần bổ sung các nguyên lý cho phù hợp và xuất hiện quan điểm đối lập thì C.Mác và Ph.Ănghgen lại kết hợp nghiên cứu khoa học, chỉ rõ nguồn gốc và mục đích chính trị, tính chất sai trái về khoa học của quan điểm cơ hội, xét lại để tuyên truyền, giác ngộ giai cấp công nhân tránh bị ảnh hưởng tiêu cực. Tiêu biểu như tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô ta”, nhằm vạch trần quan điểm cơ hội, xét lại của chủ nghĩa Látxan sai trái về khoa học, với mục đích chính trị đưa ra “luật sắt về tiền công” nhằm bênh vực, che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân... Với phương thức đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng của C.Mác, Ph.Ăngghen thì tư tưởng của Látxan đã bị vạch trần, phá sản và qua đó khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Ở thời kỳ V.I.Lênin, sau khi Ph.Ăngghen mất và Quốc tế II bị lũng đoạn thì ông cho rằng tất yếu cần đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, bởi: “Chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù chính của chúng ta. Chủ nghĩa cơ hội trong tầng lớp trên của phong trào công nhân, đó là chủ nghĩa xã hội tư sản chứ không phải là chủ nghĩa xã hội vô sản”(*).

Công lao to lớn của V.I.Lênin là đã bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác, bảo vệ bản chất khoa học và cách mạng nên với tên gọi mới là “Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Ở mỗi tác phẩm, mà tiêu biểu như: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, “Nhà nước và cách mạng”, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky”, “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”... V.I.Lênin cũng kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn để phát triển lý luận và gắn nghiên cứu khoa học với đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội, xét lại, chủ nghĩa chống cộng. Kết quả, các đối tượng có tư tưởng cơ hội, xét lại đã từng bước bị vô hiệu hóa, giảm sự ảnh hưởng tiêu cực đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.

Ý nghĩa soi đường trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Thứ nhất, về giá trị gắn kết giữa nội dung nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận không được tách rời nhau. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã để lại chìa khóa giải quyết các vấn đề khoa học là phải có tư duy biện chứng, nắm vững tính quy luật khách quan của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản là rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trong những năm qua, xuất hiện rất nhiều luận điểm sai trái, nhiều thế lực, đối tượng tham gia và kết hợp sử dụng các loại phương tiện với số lượng ngày càng gia tăng, như: Huy động các đài phát thanh, hãng thông tấn, báo chí, nhà xuất bản ở nước ngoài, nhiều trang web, blog cá nhân tham gia chống phá Đảng, Nhà nước và thành tựu của nhân dân ta đã đạt được sau gần bốn thập niên thực hiện công cuộc đổi mới.

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.

Thứ hai, kế thừa phương pháp, kỹ năng sử dụng bút chiến của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch. Với tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky” của V.I.Lênin... là những tác phẩm mẫu mực thể hiện rõ phương pháp bút chiến. Các lực lượng tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay cần kế thừa để đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, phản khoa học, nhằm bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Mỗi bài viết cần sử dụng tổng hợp các phương pháp, các luận cứ, luận chứng, tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật-công nghệ hiện đại để góp phần đấu tranh, vô hiệu hóa những luận điệu cơ hội, xét lại nhằm phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng trong hệ tư tưởng của Đảng ta.

Thứ ba, kế thừa giá trị về lựa chọn giải pháp trụ cột trong kết hợp giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Việc làm thường xuyên là giáo dục nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng ta về sự cần thiết đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh đó, cần nhận diện kịp thời về bản chất, mục đích chính trị và tính chất phi khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng và đường lối đổi mới của Đảng ta.

Cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học, lực lượng đấu tranh chuyên sâu ở các bộ, ngành, cơ quan, địa phương, đơn vị, cơ sở giáo dục-đào tạo, cơ sở nghiên cứu thực hiện tốt giải pháp gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu khoa học; tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận với đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, cần phát huy tính tích cực chính trị của các lực lượng xã hội, nhất là cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học làm nòng cốt trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, chúng ta phải luôn kiên định với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay./.



TỔNG BÍ THƯ: AI KHÔNG XỨNG ĐÁNG THÌ NÊN “RÚT LUI TRONG DANH DỰ”

 Sáng 13/5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng đại biểu Quốc hội đơn vị bầu cử số 1 tiếp xúc cử tri quận Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng trước kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XV.

Phản hồi ý kiến cử tri về công tác phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư cho biết về cơ bản những vụ việc được dư luận quan tâm đã được đưa ra xét xử. Một số trường hợp trốn đi nước ngoài cũng đã bị tòa xử vắng mặt, đơn vị liên quan sẽ phối hợp với các nước mà đối tượng đang trốn để bắt về theo luật pháp quốc tế.

Tổng Bí thư khẳng định phòng chống tham nhũng không phải chỉ là chống sự câu kết, móc ngoặc với nhau mà cái gốc là chống suy thoái về tư tưởng, chính trị. "Nếu anh có đạo đức, tư tưởng tốt thì tham ô, tham nhũng làm gì, phải biết khinh bỉ cái đó, biết cái đó là cái xấu, tránh xa ra". Tổng Bí thư  cho hay, Trung ương khuyến khích những người đã vi phạm, thấy tay nhúng chàm rồi xin thôi, "thế là nhẹ nhàng, nhân văn nhất, mở đường cho tiến bộ".

Nói về việc thành lập Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng cấp tỉnh, Tổng Bí thư nhấn mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng là công việc của toàn dân và tất cả các cấp. Thời gian tới, kết quả một năm của Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng cấp tỉnh sẽ được sơ kết xem nơi nào làm tốt, nơi nào làm chưa tốt để chia sẻ kinh nghiệm giữa các địa phương. "Anh nào, địa phương không làm được thì xử lý. Đã không xứng đáng thì từ chức đi, rút lui trong danh dự là tốt nhất. Gần đây rất nhiều trường hợp thế rồi và đang còn nữa, các đồng chí cứ chờ xem".

Tại buổi tiếp xúc, cử tri đánh giá cao công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực quyết liệt, có hiệu quả, không có vùng cấm; đồng thời, đề nghị tiếp tục xử lý nghiêm các vụ tham nhũng, tiêu cực và có biện pháp xử lý đối với cán bộ sợ trách nhiệm, không dám nghĩ, không dám làm, làm việc cầm chừng; tiếp tục có biện pháp phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa; Đảng, Quốc hội, Chính phủ đẩy mạnh phòng chống tham nhũng tiêu cực, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng nặng chế tài xử lý, bảo đảm tính nghiêm khắc và đủ sức răn đe. "Bên cạnh xây dựng và thực thi cơ chế kiểm soát quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn để phòng chống tham nhũng, cần quan tâm cải cách tiền lương để cán bộ không dám tham nhũng, không thể tham nhũng và không cần tham nhũng".


KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH

 Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng.

Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ nhất, luôn xác định rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quan trọng hàng đầu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là trọng yếu.

Các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng mạnh trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, sát thực tiễn; chủ động đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình địa phương, đơn vị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.

Nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là việc tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Nội dung này phải được tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn, phải gắn việc học tập với hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.

Chú trọng việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng, giữ gìn mối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Coi trọng công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên cả về số lượng và chất lượng.

Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm.

Trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ, phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn, sắp xếp bố trí; căn cứ vào năng lực, sở trường công tác của cán bộ để giao việc phù hợp; giao việc, bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực công tác, khả năng phát triển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; đảm bảo tính liên tục, kế thừa, dân chủ, khách quan trong công tác cán bộ.

Công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Coi trọng đánh giá về đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng, là “cái gốc”; đánh giá đúng trình độ, năng lực, sở trường; lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm thước đo quan trọng để đánh giá cán bộ.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “sửa đổi lối làm việc”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu.

Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”; “...các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.

Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”.

Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.

Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”.

Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng.

Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.


KỶ NIỆM 10 NĂM NGÀY MẤT CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP (4-10-2013 / 4-10-2023): ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP QUA THỪA NHẬN CỦA TƯỚNG LĨNH PHƯƠNG TÂY

 Với những đóng góp và chiến công đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp không những nhận được sự yêu mến, cảm phục của nhân dân trong nước, bạn bè quốc tế mà còn từ chính sự thừa nhận của nhiều tướng lĩnh đối phương. Đó là điều hiếm gặp.

Từ những dự cảm về một nhà lãnh đạo lớn, một đối thủ tầm cỡ

Được cử làm đại diện của Pháp tại miền Bắc Đông Dương, ngay sau khi đến Hà Nội, cuối tháng 8-1945, J.Sainteny đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Võ Nguyên Giáp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo J.Sainteny, ngay từ đầu cuộc gặp, Võ Nguyên Giáp đã “gây cho tôi ấn tượng về một người kiên quyết, cực kỳ cứng rắn, khôn khéo và thông minh”.

Tuy nhiên, với bản tính thực dân, J.Sainteny đã phạm phải sai lầm rất lớn là không hình dung và đánh giá hết tầm vóc của người đối thoại với mình hôm đó, “lúc này, tôi hãy còn xa mới ngờ được rằng, Giáp là người hôm nay tôi gặp lần đầu tiên, chỉ vài tháng sau sẽ trở thành một trong những địch thủ ghê gớm nhất” (Theo cuốn Jean Sainteny: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ. Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2003, tr.116-118).

Sai lầm của J.Sainteny cũng là sai lầm chung của chính giới Pháp khi đánh giá thấp sức mạnh và quyết tâm bảo vệ nền độc lập vừa giành được của một dân tộc. L.Patti, nguyên Trưởng ban Đông Dương thuộc Pháp của OSS (Cục Tình báo chiến lược Mỹ, tiền thân của CIA), người tổ chức cuộc gặp, có những nhận xét khách quan hơn về thái độ của Sainteny và bản lĩnh của Võ Nguyên Giáp.

Trước lối suy nghĩ và xử sự như một “ông chủ” cũ của Sainteny về chính sách của Việt Minh đối với “kẻ không được mời mà đến”, Võ Nguyên Giáp bình tĩnh đáp trả, khiến “lần đầu tiên trong đời mình, Sainteny đã mặt đối mặt với một người Việt Nam dám dũng cảm đương đầu với người Pháp. Thái độ Sainteny nhụt hẳn đi” (Theo "L.Patty: Tại sao Việt Nam?", người dịch: Lê Trọng Nghĩa, Nxb Đà Nẵng, năm 1995, tr.215, 217). L.Patti nói thêm: “Ông (Sainteny) đã không thấy được chút nào là ông đã đụng đầu ngay với một người mà sau này đã được ghi nhận trong lịch sử bằng việc làm tan rã một cách cơ bản đế quốc thuộc địa Pháp ở Đông Dương”.

Chỉ vài tháng sau, Sainteny rất nhanh chóng nhận ra Võ Nguyên Giáp là “một nhân vật đáng gờm nhất. Nhân vật hùng mạnh này đã chế ngự Hội nghị trù bị tại Đà Lạt”. Đúng như Charles De Gaulle đã viết cho Hồ Chí Minh năm 1966: Giá có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt và người Pháp ngay sau đại chiến thế giới, thì Sainteny đã không có cơ hội để kiểm chứng nhận thức của mình về Võ Nguyên Giáp, khi gặp những sĩ quan cấp cao của Pháp được trao trả sau Hiệp định Geneva. Đó là Castries, Lalande, Langlais, Bigeard, Blanchet... và nhiều người khác. Qua câu chuyện trao đổi với họ, tôi dễ dàng nhận thấy họ ca ngợi phẩm chất chiến đấu của đối phương.

Sự khâm phục một bậc “đại tài” trong xây dựng và tổ chức quân đội cách mạng

Nhà nghiên cứu James A.Warren từng nhận xét: “Có lẽ những đóng góp quan trọng nhất của Giáp đối với kháng chiến trường kỳ là sự kết hợp linh hoạt của ba lực lượng (dân quân địa phương ở làng xã, bộ đội địa phương và các đơn vị chủ lực tập trung), và việc sử dụng sáng tạo các “hình thức chiến đấu” khác nhau-chiến tranh du kích” (Theo James A.Warren: Giap the General who defeated America in Vietnam, Palgrave Macmillan, New York, 2013).

Được giao thành lập và chỉ huy đội quân cách mạng, chỉ trong hơn một năm, từ 34 chiến sĩ đầu tiên, Võ Nguyên Giáp đã phát triển thành một lực lượng to lớn, làm nòng cốt trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền cũng như bảo vệ chế độ mới những ngày đầu thành lập. Chính lực lượng này tạo ra một thách thức khiến thực dân Pháp phải dè chừng khi âm mưu dùng vũ lực để khởi động chiến tranh.

Đô đốc hải quân Barjot-tác giả bản “Thông báo nghiên cứu số 46” (mật) của Ban Tham mưu-Bộ Quốc phòng Pháp (8-12-1946) đã đánh giá: “Những cố gắng phi thường và cái tài của Giáp chỉ trong vòng một năm thôi mà đã thành công trong việc xây dựng một công cụ có khả năng làm chỗ dựa vững vàng cho một chính sách không nhân nhượng chút nào đối với nước Pháp”.

Sống sót sau trận Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, Trung tá Marcel Bigeard (sau là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp) rút ra nguyên nhân thất bại của Pháp trước năng lực bậc thầy về tổ chức và xây dựng quân đội cũng như tài cầm quân của Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Những con người do tướng Giáp đào luyện thật là những chiến binh tuyệt vời! Những cuộc phản kích của quân Việt chặn đứng pháo binh của chúng tôi, các khẩu súng cối của chúng tôi không thể nhả đạn”.

Marcel Bigeard thú thực thêm: “Trong vòng chín năm, tướng Giáp đã đánh bại đạo quân viễn chinh của chúng ta, điều đó không có gì phải bàn cãi” (Marcel Bigeard: Lời thú nhận muộn mằn, Nxb. Hà Nội, năm 2004, tr.78).

Sau 21 năm liên tục chiến đấu, dưới sự lãnh đạo và chỉ huy của Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam có sự trưởng thành vượt bậc, lần lượt đối đầu và giành thắng lợi trước những đội quân xâm lược nhà nghề. Chiến trường Việt Nam trở thành nơi chôn vùi tên tuổi và sự nghiệp của hàng loạt tướng lĩnh cự phách của cả Pháp và Mỹ.

Trong cuốn "Đông Dương đỏ", Đại tướng Salan-từng là Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Chiến tranh Đông Dương vào năm 1952-1953, viết: “Hôm nay, 30-4-1975, tại nơi trước kia là xứ Đông Dương thuộc Pháp, Quân đội Việt Minh trước đó đã vào Điện Biên Phủ, bây giờ đã đặt chân tới Sài Gòn...

Chính phủ đã thống nhất, lại có thêm quyết tâm và có thời gian, lại có cả một nhân tố quan trọng cực kỳ, đó là quân đội của họ, một quân đội từ Điện Biên Phủ tới Sài Gòn, rất kỷ luật và can trường, sẵn sàng phục vụ đường lối chính trị của chính phủ... Họ là những người mà sĩ quan Pháp vẫn coi là “đối thủ đáng kính trọng”. Người Mỹ từng coi thường họ và hiển nhiên họ đã đánh bại Mỹ, tuy sức mạnh về số lượng và kỹ thuật vượt hơn họ nhiều lần”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là bậc thầy về chiến tranh nhân dân

Không dừng lại ở việc tổ chức và xây dựng lực lượng, quán triệt đường lối kháng chiến của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là bậc thầy về chiến tranh nhân dân, trên cương vị là người chỉ huy cao nhất của các lực lượng vũ trang Việt Nam.

Cuốn "Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân" của Đại tướng được dịch ra nhiều thứ tiếng, trở thành sách gối đầu giường của không chỉ nhiều nhà lãnh đạo thuộc thế giới thứ ba mà còn được sự đón nhận của nhiều tướng lĩnh phương Tây khi tìm hiểu về cội nguồn sức mạnh chiến thắng của QĐND Việt Nam.

“Trong hơn 30 năm sự nghiệp làm Tổng Tư lệnh, tướng Giáp không chỉ làm thất bại các kế hoạch của hai quốc gia mạnh hơn nhiều so với quốc gia của mình cả về quân sự và công nghệ, mà còn liên tục xây dựng sức mạnh và khả năng của các lực lượng quân sự của riêng mình, liên kết chặt chẽ chúng vào một cơ sở hạ tầng chính trị vững chắc mà chính ông đã góp phần không nhỏ để tạo ra. Rất ít tướng lĩnh trong lịch sử có thể tích hợp nhiều hình thức chiến tranh khác nhau-nổi dậy du kích, chiến tranh kiểu du kích do các đại đội và tiểu đoàn chính quy độc lập tiến hành, các chiến dịch cơ động, những cuộc bao vây và các cuộc tấn công theo lối chiến tranh quy ước-để thực hiện các mục tiêu chiến lược rộng lớn của họ”. (James A.Warren: Giap the General who defeated America in Vietnam, pp.243-244).

Với trọng trách của mình, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn bám sát thực tiễn để có kế hoạch ứng phó kịp thời với những diễn biến trên chiến trường. Chỉ đạo chiến lược của ông thể hiện tính bao quát sâu rộng, phát huy thế mạnh của ta, hạn chế khả năng của đối phương.

“Ông Giáp đã tỏ rõ những đức tính xuất chúng trong tất cả mọi lĩnh vực lớn nhất của chiến tranh. Về chiến lược, ông đã có một tầm quan sát sâu sắc các sự kiện và đã khoanh vùng những vấn đề chủ yếu; ông đã làm lung lay đối phương bằng sử dụng sáng suốt những lực lượng từ nhiều điểm: Ở Lào, Campuchia, trong vùng châu thổ sông Cửu Long, trên các cao nguyên Tây Nguyên, vùng đồng bằng ven biển, hai bên bờ vùng giới tuyến phi quân sự” (Peter Macdonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương).

Từng rải truyền đơn thách thức Đại tướng Giáp đưa quân đọ sức tại Điện Biên Phủ, nhưng kết cục tướng De Castries-chỉ huy tập đoàn cứ điểm này phải thú nhận: “Tướng Giáp là một người thông minh, dũng cảm, một người giỏi chỉ huy du kích...

Chúng tôi đã thấy rõ điều đó. Nay qua trận Điện Biên Phủ, tôi thấy tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương”. De Castries trần tình: “Tôi hân hạnh làm đối thủ của tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”.

Những thắng lợi trên chiến trường của Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn gắn với việc ông luôn chuẩn bị chu đáo cho công tác hậu cần trong suốt toàn bộ cuộc chiến cũng như trong từng chiến dịch cụ thể.

Đại tướng Peter Macdonald, nhà sử học quân đội Hoàng gia Anh, nhận xét: “Trong lĩnh vực hậu cần, ông thật xuất sắc suốt cuộc chiến tranh Đông Dương, không có một sự làm chủ hoàn hảo hơn về công tác hậu cần mà không thể thực hiện được trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Cũng như vậy, trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Đường mòn Hồ Chí Minh đã cung cấp tiếp tế cho QĐND Việt Nam và quân Giải phóng miền Nam ròng rã suốt mấy năm trời” (Peter Macdonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, Sđd, tr.376-377).

Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu chiến lược-quân đội Mỹ nhận xét: “Sự quản lý hệ thống hậu cần bởi Bắc Việt Nam đã chứng tỏ là một trong những chìa khóa đưa đến thành công của họ trong việc chống lại người Pháp và người Mỹ.

Sau khi Mỹ rút khỏi Việt Nam, các căn cứ và địa bàn do tướng Giáp cho xây dựng suốt cuộc chiến tranh mang lại cho QĐND Việt Nam một vị trí địa chiến lược ưu việt góp phần vào việc đánh bại lực lượng quân sự miền Nam Việt Nam”. Cùng với những thắng lợi trên cơ sở chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và chiến thuật đúng đắn, phải khẳng định rằng “Tướng Giáp là một bậc thầy về vận dụng chiến thuật hậu cần”.

Dưới góc nhìn của các tướng lĩnh, nhà nghiên cứu quân sự phương Tây, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một vị tướng hoàn toàn đặc biệt. Đại tướng Peter Macdonald nhận xét: “Ông là vị tướng lĩnh duy nhất đã phát động cuộc chiến chống kẻ thù bắt đầu từ một hoàn cảnh yếu kém trầm trọng: Thiếu vật tư, thiếu thốn nguồn tài chính, bắt đầu từ không có quân đội, vậy mà vẫn có thể đánh thắng liên tiếp từ bọn quân phiệt Nhật đến quân đội Pháp, đế quốc thuộc địa lớn thứ hai (sau nước Anh) và Hoa Kỳ, một trong hai siêu cường của thế giới... (Theo Cecil B. Currey: Chiến thắng bằng mọi giá-Thiên tài quân sự Việt Nam: Đại tướng Võ Nguyên Giáp).

Còn nhiều nữa những đánh giá về những chiến công của Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ các tướng lĩnh, nhà nghiên cứu phương Tây mà khuôn khổ bài báo này không thể kể hết./.



NÂNG TẦM ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO, CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRONG QUÂN ĐỘI

 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vừa ban hành Quyết định số 3525/QĐ-BQP, phê duyệt Đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội giai đoạn 2023 - 2030 và những năm tiếp theo” (gọi tắt là Đề án).

Đề án được chia làm 3 giai đoạn: 2023 - 2025; 2026 - 2030 và sau năm 2030.

Mục tiêu của Đề án xác định: Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội có trên 75% trở lên đạt chuẩn theo quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng; 50% nhà giáo qua cương vị chỉ huy, quản lý phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo của từng đối tượng. Giảng viên các học viện, trường sĩ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng và các học viện trực thuộc tổng cục, quân chủng, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) có trên 85% trở lên đạt trình độ sau đại học, trong đó có 25% trở lên đạt trình độ tiến sĩ. Giảng viên các trường sĩ quan, đại học trực thuộc tổng cục, quân chủng, binh chủng có 70% trở lên đạt trình độ sau đại học, trong đó 10% trở lên đạt trình độ tiến sĩ. Giảng viên các trường cao đẳng, trung cấp, trường quân sự quân khu, quân đoàn, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh có 25% trở lên đạt trình độ sau đại học.

Cán bộ quản lý giáo dục các học viện, trường sĩ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng và các học viện trực thuộc tổng cục, quân chủng, BĐBP có 45% trở lên đạt trình độ sau đại học; các trường sĩ quan, đại học trực thuộc tổng cục, quân chủng, binh chủng có 30% trở lên đạt trình độ sau đại học; các trường cao đẳng, trung cấp, trường quân sự quân khu, quân đoàn, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh có trên 15% trở lên đạt trình độ sau đại học.

Đề án cũng xác định, có hơn 700 nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục được đào tạo trình độ tiến sĩ, bảo đảm về chất lượng, cơ cấu hợp lý. Giảng viên, giáo viên có 50% trở lên được tham gia các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao năng lực, trong đó chú trọng các năng lực của nhà giáo về: Phát triển chương trình đào tạo, giảng dạy theo phương pháp hiện đại, nghiên cứu khoa học, ngoại ngữ, công nghệ thông tin và kiến thức thực tiễn. Cán bộ quản lý giáo dục có 50% trở lên được tham gia các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao năng lực, trong đó chú trọng các năng lực cần thiết cho cán bộ quản lý giáo dục về: Quản trị nhà trường, quản lý học viên, ch.uyển đ.ổi s.ố trong giáo dục, đào tạo, ngoại ngữ, công nghệ thông tin và kiến thức thực tiễn. Mỗi năm có hơn 35 nhà giáo Quân đội được công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư; trong mỗi đợt xét có hơn 15 nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục Quân đội được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú.

Mỗi năm có hơn 200 lượt cán bộ là lãnh đạo, chỉ huy trong các đơn vị Quân đội tham gia giảng dạy, truyền thụ kinh nghiệm thực tiễn, hướng dẫn luận văn, luận án, nghiên cứu khoa học... tại các cơ sở đào tạo trong Quân đội. Mỗi năm có trên 20% nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục được tham gia ít nhất một lần trong các hoạt động luân chuyển, thực tế, tham quan nghiên cứu, khảo sát thực tiễn ở các đơn vị. Mục tiêu của Đề án cũng xác định, từ năm 2026 đến hết năm 2030, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có 95% trở lên đạt chuẩn theo quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng; 75% trở lên nhà giáo qua cương vị chỉ huy, quản lý đơn vị phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo của từng đối tượng; 20 - 30% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế... Có 1.500 nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục được đi đào tạo trình độ tiến sĩ bảo đảm chất lượng, cơ cấu hợp lý.../.


PHÁT HUY PHẨM CHẤT "BỘ ĐỘI CỤ HỒ" - YÊU CẦU QUAN TRỌNG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ

 Từ lâu trong lịch sử, dân tộc ta luôn duy trì một truyền thống đẹp - đặt tên để ghi nhớ, tôn vinh những người có công với dân, với nước. “Bộ đội Cụ Hồ” cũng là một cái tên như thế và còn hơn thế nữa, bởi cái tên đó đã vượt qua ý nghĩa của một danh xưng thông thường để trở thành một kiểu mẫu nhân cách người lính của nhân dân (Bộ đội), nhưng được điển hình hóa theo nhân cách của một lãnh tụ vĩ đại, luôn gần gũi với nhân dân (Cụ Hồ).

1. Nguồn gốc, vinh dự và trách nhiệm khi được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ”

Câu hỏi đặt ra là “Bộ đội Cụ Hồ” - cái tên rất thân thương và trìu mến dành cho Quân đội ta được xuất hiện đầu tiên ở đâu và vì sao Nhân dân lại gọi Quân đội ta là “Bộ đội Cụ Hồ”? Theo những sử liệu có được, tên gọi ấy xuất hiện và truyền tụng trong nhân dân được khởi nguồn ở Chiến khu Việt Bắc.

Để bảo toàn lực lượng chiến đấu cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, ngay sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều đơn vị bộ đội được lệnh cơ động lên Việt Bắc. Những ngày đầu trở lại Chiến khu, bộ đội tổ chức trú quân phân tán trong các bản, làng, thôn xóm, cùng ăn, cùng ở với nhân dân. Chính từ những năm tháng này, đã nảy nở và phát triển mối quan hệ quân dân “cá - nước” giữa nhân dân với những người lính do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Bằng những việc làm cụ thể thông qua thực hiện nghiêm kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, như: không lấy cái kim, sợi chỉ của dân, không gây phiền hà cho nhân dân, kính trọng dân, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân; vừa bảo vệ dân, vừa hết lòng giúp đỡ nhân dân,... cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã nhanh chóng chiếm trọn tình cảm mến mộ của nhân dân, giúp nhân dân nhận thức được sự khác biệt căn bản giữa những chiến sĩ cách mạng với binh sĩ của các đội quân mà trước đó họ đã từng tiếp xúc. Tình cảm và niềm tin của nhân dân được củng cố và nhân lên khi biết những chiến sĩ cách mạng ấy do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện - Người mà từ lâu đã được nhân dân ta hết lòng tôn kính, tin tưởng tuyệt đối vì lòng yêu nước, thương dân. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: ở khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc trìu mến gọi các đơn vị vũ trang ta là “Bộ đội Ông Ké” hay “Bộ đội Ông Cụ”, khi biết “Ông Ké”, “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Bác Hồ, mọi người đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ”. Và tên gọi yêu quý ấy từ Chiến khu Việt Bắc đã lan truyền đi khắp nơi và trở thành quen thuộc đến ngày nay.

Thật vinh dự, tự hào khi được nhân dân ta gọi quân đội của mình là “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là tình cảm kính yêu lãnh tụ và lòng tin yêu đối với Quân đội, tình cảm gắn bó thiêng liêng, ruột thịt giữa người lính với lãnh tụ của mình. Nhân dân ta gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Cha già dân tộc” - Người tượng trưng cho những giá trị văn hóa cao đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Kính yêu lãnh tụ của mình, gửi gắm niềm tin vào Quân đội do chính Người giáo dục và rèn luyện, nhân dân đã lấy tên của lãnh tụ đặt tên cho Quân đội. Điều này có lẽ duy nhất chỉ diễn ra ở Việt Nam, bởi nó chính là cốt cách và nét đặc sắc của văn hoá quân sự Việt Nam. Tận trong sâu thẳm tấm lòng và tình cảm của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta chính là con em của họ, những người dân mặc áo lính dám chấp nhận hy sinh vì dân, vì nước.

Nhân dân gọi Quân đội là “Bộ đội Cụ Hồ” còn thể hiện mối quan hệ máu thịt giữa Nhân dân với Quân đội. Xét trong mối quan hệ giữa Quân đội và Nhân dân, đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta có một đội quân cách mạng của chính mình. Còn với Quân đội, đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự Việt Nam, một đội quân mà từ bản chất đến thực tiễn hành động đều chứng tỏ rằng đó là Quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây là lý do giải thích vì sao hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam - những người “lính Cụ Hồ”, luôn luôn được khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân.

Được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ” là một vinh dự lớn của Quân đội ta trước bè bạn quốc tế. Nhân dân thế giới không chỉ biết đến Việt Nam, khâm phục và kính trọng dân tộc Việt Nam bởi uy tín và đức độ của lãnh tụ Hồ Chí Minh - Người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cách mạng giải phóng các dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới kiệt xuất của Việt Nam; mà còn bởi một lý do, vì đất nước Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam đã sinh ra một Quân đội anh hùng, biểu trưng của lòng dũng cảm, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần quốc tế trong sáng; với chiến công vang dội “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, những chiến thắng có ý nghĩa quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Thật hiếm có một quân đội nào trên thế giới lại chiếm trọn tình cảm của bạn bè, nhân dân tiến bộ trên thế giới như Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngay cả những người lính, những chính khách bên kia chiến tuyến, sau cuộc chiến nhìn lại cũng phải thốt lời khâm phục về ý chí, bản lĩnh của một đội quân cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ” là một vinh dự lớn đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng thời, cũng là trách nhiệm hết sức nặng nề của Quân đội và mỗi quân nhân. Trao tặng cho Quân đội danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân dân luôn mong mỏi, kỳ vọng danh hiệu đó sẽ luôn tỏa sáng, là niềm tin, là sức mạnh, chỗ dựa của nhân dân. Với trách nhiệm đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội phải ra sức tu dưỡng và rèn luyện, không ngừng phấn đấu để giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là giá trị tinh thần vô giá mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã dày công vun đắp, nhân dân gửi trọn niềm tin đối với “Bộ đội Cụ Hồ”.

2. Giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”- yêu cầu quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong giai đoạn hiện nay.

Thấu triệt lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” và thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã khẳng định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là nguyên tắc, đồng thời là giải pháp cốt lõi, cơ sở nền tảng tạo sức mạnh tổng hợp, yếu tố quyết định bản chất cách mạng của Quân đội. Hiện nay, trước yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thì xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nhằm bảo đảm Quân đội bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân càng trở nên đặc biệt quan trọng, đòi hỏi phải tiến hành quyết liệt bằng nhiều giải pháp đồng bộ; trong đó, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giải pháp căn cốt với các nội dung cơ bản sau.

Một là, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải đảm bảo giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu trong giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, phải đảm bảo mọi cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần, nắm vững những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân cũng như thường xuyên thấu suốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp là đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó để mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ và sâu sắc về sự thống nhất giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” với nâng cao giác ngộ bản chất giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội; phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới thống nhất với nội dung xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, trong đó phải lấy xây dựng về chính trị làm nền tảng. Từ đó luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng; luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ, Nhân dân ta đã lựa chọn; nêu cao lòng tự tôn, tự hào dân tộc, tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là những vấn đề cốt yếu, nhằm đảm bảo cho Quân đội luôn giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Hai là, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải bảo đảm để Quân đội hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ; bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ cách mạng, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Chuẩn bị tốt về mọi mặt, tích cực huấn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị, năng lực công tác, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, không để bị động, bất ngờ, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, kể cả với cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao. Trong mọi lúc, mọi nơi, nhất là những thời điểm cam go, thử thách, cán bộ, chiến sĩ phải đặt lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết; sẵn sàng xả thân hy sinh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân”. Thấm nhuần tư tưởng đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội không chỉ huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, chiến đấu thắng lợi,... mà còn làm tròn chức năng của “đội quân công tác”, “đội quân lao động sản xuất”. Phải tích cực học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, tri thức, có kiến thức về kinh tế, chính trị; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia giúp dân xóa đói giảm nghèo, phòng, chống và giải quyết hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn kết hợp với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là ở các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cùng với đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải là người tiên phong, lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, chống quan điểm sai trái, phản động, luận điệu đòi “phi chính trị hoá” Quân đội của các thế lực thù địch. Phải thực sự nhạy bén về chính trị, có ý chí, năng lực và phương pháp đấu tranh với kẻ thù; có khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, sự tấn công của các thế lực thù địch để tham gia tích cực, hiệu quả vào mặt trận đấu tranh phi vũ trang, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng.

Ba là, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn có đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, kỷ luật nghiêm. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là tổng hòa các yếu tố hợp thành; trong đó và trước hết phải thể hiện ở đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, lành mạnh; luôn kiên định, vững vàng, không bị sa ngã, tha hóa trước mọi tác động tiêu cực của đời sống xã hội, mặt trái của kinh tế thị trường, sự cám dỗ của lối sống thực dụng, ích kỷ, hẹp hòi, những thị hiếu, dục vọng thấp hèn, không bị gục ngã trước sự tấn công của kẻ thù bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình”. “Bộ đội Cụ Hồ” phải là lực lượng tiên phong trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải luôn gương mẫu trong nhận thức, tư tưởng và hành động; nói, viết và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, Điều lệnh, Điều lệ của Quân đội, các chế độ quy định của đơn vị và địa phương nơi đóng quân. Chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết, trước hết, không đắn đo, suy tính thiệt hơn, sẵn sàng có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ.

Bốn là, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải luôn giữ vững và tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế. Tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh được thể hiện ở việc giúp nhau khắc phục khó khăn, cùng hoàn thành nhiệm vụ; nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng chí, đồng đội; giúp nhau trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất và trong cuộc sống. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; quan liêu, xa rời quần chúng, bởi đó là những tác nhân làm rạn nứt đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh, làm giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong đoàn kết (quan hệ) với nhân dân cần khắc ghi lời Bác dạy “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội, chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội. Muốn như thế thì phải đốc thúc bộ đội siêng giúp dân, hăng đánh giặc”, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy và chính quyền địa phương nơi đóng quân, gần gũi, gắn bó với nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn của nhân dân để có biện pháp giúp đỡ; không xâm phạm lợi ích của nhân dân, tích cực giúp đỡ dân phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, biên giới, hải đảo. Tích cực tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh, thảm họa,... sẵn sàng hy sinh bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, chia sẻ những khó khăn, mất mát của dân khi gặp hoạn nạn. Cùng với đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải tăng cường củng cố tình đoàn kết với quân đội các quốc gia, không ngừng mở rộng quan hệ, hợp tác với quân đội, nhân dân và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay phải phân biệt rõ đối tác, đối tượng; chủ động phối hợp đấu tranh giữ vững môi trường hòa bình ổn định, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hợp tác trong giải quyết các vấn đề toàn cầu; phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn,... như lời dạy của Bác: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”.

Hiện nay, “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng..., làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của Quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, để giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, mà trước hết là trách nhiệm của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy trong Quân đội và mọi quân nhân, làm cho những phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục tỏa sáng, nâng lên một tầm cao mới, xây dựng Quân đội vững mạnh, xứng đáng là “Quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng” và lòng tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Nhân dân.


CHIÊU TRÒ GIAN XẢO

 Xuyên tạc đường lối đối ngoại, chính sách ngoại giao của nước ta là một trong những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội. Các đối tượng vẽ ra câu chuyện Việt Nam nâng cấp quan hệ vì trước những diễn biến phức tạp, tranh chấp trên Biển Đông; họ dựng lên việc Việt Nam cần phải dựa vào Hoa Kỳ mới thoát khỏi ảnh hưởng nước khác, mới phát triển được đất nước, bảo vệ được lãnh thổ.

Trước chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden, các tổ chức phản động sống lưu vong, các hãng truyền thông định kiến với Việt Nam ở hải ngoại phát tán nhiều bài viết với nội dung xấu độc để kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ gây sức ép vấn đề dân chủ, nhân quyền với Việt Nam; cho rằng quan hệ Việt – Mỹ sẽ không phát triển nếu dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam không được cải thiện, nếu còn chế độ Cộng sản, “đảng cai trị”. Sau khi nước ta nâng cấp quan hệ thì họ bôi nhọ mối quan hệ này “không thực chất”, có những bài viết, bình luận miệt thị, cho rằng mối quan hệ chỉ “theo chiều hướng tiêu cực”. Mặt khác, các thế lực thù địch còn tỏ vẻ “lo lắng”, bày trò “tư vấn vạch hướng đi” cho Việt Nam để “mối quan hệ đi vào thực chất”!

Mục đích của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam, trong đó xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ, Việt Nam với Trung Quốc và một số nước khác. Các luận điệu xuyên tạc nhằm tìm cách cô lập, hạ thấp vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế; phá hoại mối quan hệ nước ta với các nước, chia rẽ tinh thần đoàn kết, hợp tác, hữu nghị của Việt Nam với các nước. Đó là những âm mưu, thủ đoạn hết sức nguy hiểm, cần phải nhận diện, đấu tranh.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG "THỰC CHẤT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC"

 Khi việc công khai phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dần đuối lý và tỏ ra kém hiệu quả, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại sử dụng một chiêu trò khác để chống phá cách mạng Việt Nam, đó là: dựa trên một số sự kiện lịch sử để đưa ra những xuyên tạc nhằm chứng minh rằng, “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Mục đích sâu xa của chúng là làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đây là luận điệu phi lý, cần kiên quyết bác bỏ.

Từ sự thừa nhận không thể phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta bằng cách điên cuồng phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khi hệ thống tư tưởng, lý luận này đang ngày càng đúng với những diễn biến của thời đại, các thế lực chống phá lại dở nhiều chiêu trò khác. Một trong những thủ đoạn gần đây mà chúng thường sử dụng là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; chúng dựa vào những sự kiện lịch sử rồi dùng thủ thuật quen thuộc là “đánh lộn sòng đen trắng” để hướng lái dư luận, rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc. Chẳng hạn như: vin vào sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Liên xô để gặp gỡ I.V. Stalin - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô và cuộc nói chuyện giữa hai vị lãnh tụ vĩ đại này vào cuối năm 1952 để đưa ra luận điệu rằng: “I.V. Stalin cáo buộc Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa dân tộc”; trắng trợn hơn, họ dựa vào sự kiện Quốc tế III chỉ thị đồng chí Nguyễn Ái Quốc về tại Cửu Long, Trung Quốc để hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng kết quả của Hội nghị là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) để rêu rao rằng: “Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) đã chứng minh rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc”. Tinh vi hơn, họ còn “giả vờ” công nhận công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam để hạ thấp, kích động tư tưởng bài trừ chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động là không phù hợp, bởi vì đây là hai hệ tư tưởng hoàn toàn đối lập nhau, v.v. Tuy nhiên, thực tế lịch sử lại chứng minh điều ngược lại, trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Và tư tưởng của Người “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1; hoàn toàn không thể, không phải là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc như luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá.

Thứ nhất, động lực thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa yêu nước chứ không phải là chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước (hay chủ nghĩa ái quốc, lòng yêu nước, tinh thần yêu nước) là cảm xúc, tình cảm, tinh thần yêu thương, tích cực đối với quê hương, đất nước. Trong khi đó, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”2. Sự khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc thể hiện ở chỗ: người yêu nước tự hào về đất nước của mình vì những gì nó xứng đáng, còn người theo chủ nghĩa dân tộc tự hào về đất nước của mình bất kể thứ gì (kể cả việc gây tội ác với dân tộc khác), tức là sự tự hào một cách mù quáng và cực đoan. Trong bài viết “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” đăng trên Báo Nhân dân (ngày 22/4/1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”3. Từ lòng yêu nước, thương nòi, Người đã yêu thương, đồng cảm với các dân tộc cùng cảnh ngộ, những lớp người dân lao động lầm than ở các nước chính quốc; đó là động lực để Người tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và hiện thực hóa lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, nhân loại. Trả lời phóng viên của Tạp chí Thanh Niên (Canada, tháng 12/1965), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nói rằng lúc còn thanh niên, tôi theo “chủ nghĩa dân tộc”, có lẽ không đúng. Vì hồi đó tôi chỉ biết thương đồng bào tôi, chứ chưa biết “chủ nghĩa” gì cả. Khi đi sang châu Phi, tôi thấy nhân dân thuộc địa ở đây cũng cực khổ, cũng bị áp bức, bóc lột như nhân dân Đông Dương. Khi sang các nước châu Âu, tôi thấy ở đó cũng có một số người rất giàu, “ngồi mát ăn bát vàng”, và lớp người nhân dân lao động rất nghèo khổ. Tôi suy nghĩ nhiều lắm. Trong lúc đó thì Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga. Lênin tổ chức Quốc tế Cộng sản. Rồi Lênin phát biểu Luận cương cách mạng thuộc địa. Những việc đó làm cho tôi thấy rằng: Nhân dân lao động Đông Dương, nhân dân các thuộc địa và nhân dân lao động muốn tự giải phóng thì phải đoàn kết lại và làm cách mạng. Vì vậy, tôi trở nên người theo Chủ nghĩa Mác - Lênin”4. Như vậy, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một chặng đường dài, vượt qua những chông gai thử thách, Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng rõ ràng, động lực chính là lòng yêu nước, thương dân, chứ không phải vì chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan như các thế lực phản động đang rêu rao.

Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân trong tiếp cận, giải quyết vấn đề dân tộc; là người luôn đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, không chấp nhận chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa Sô vanh trong phong trào Cộng sản quốc tế. Xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc luôn gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vấn đề dân tộc được Người tiếp cận và giải quyết như động lực để thúc đẩy sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và là tiền đề cho cách mạng vô sản trên toàn thế giới; lý tưởng giải phóng dân tộc không thể tách rời với mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Trong thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh cũng luôn đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, Sô vanh nước lớn. Tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa họp ở Mátxcơva từ ngày 14 đến 16/11/1957, chính Hồ Chí Minh là người kiên quyết nhất trong đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản. Người đã tán thành bản Tuyên bố chung của Hội nghị và nhấn mạnh thêm: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”5. Chính vì vậy, cho rằng “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu “đánh lộn sòng đen trắng” cố tình lấp liếm, bỏ qua lập trường, quan điểm giai cấp công nhân của Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam, phủ nhận vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của Người.

Thứ ba, Hồ Chí Minh là một trong những người tiên phong bảo vệ và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc trong mối quan hệ với nhân loại, vì mục tiêu chung là công bằng, tiến bộ và hòa bình. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, và khẩu hiệu hành động: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”, Hồ Chí Minh thấy rõ sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng của từng dân tộc và trên thế giới để sự nghiệp giải phóng dân tộc giành thắng lợi hoàn toàn, Người kêu gọi: “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại!”. Đồng thời, Người khẳng định: “Cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân các nước tư bản trực tiếp giúp cho các dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình, vì cuộc đấu tranh đó đánh thẳng vào trái tim của bọn áp bức;... Trong khi đó, cuộc đấu tranh cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa lại trực tiếp giúp đỡ giai cấp vô sản các nước tư bản trong cuộc đấu tranh chống các giai cấp thống trị để tự giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa tư bản. Sự nhất trí của cuộc đấu tranh chống đế quốc bảo đảm thắng lợi cho các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa và cho giai cấp vô sản ở các nước tư bản”6. Đây không chỉ là một cống hiến rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận Mác - Lênin, mà còn cho thấy, Người luôn giải quyết hài hòa, đặt quyền lợi của dân tộc trong mối liên hệ với nhân loại, với giai cấp, với các dân tộc bị áp bức vì mục tiêu chung là xây dựng thế giới hòa bình, tiến bộ, phát triển. Tư tưởng đó đã vượt lên trên “chủ nghĩa dân tộc”, nó hoàn toàn trái ngược với mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, với mưu đồ chính trị đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc.

Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, “mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”7. Đó là tất yếu khách quan, sự lựa chọn của lịch sử mà không luận điệu, thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Luận điệu “Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là vô căn cứ, thủ đoạn xảo trá, thấp hèn, dù có tô vẽ thế nào cũng không thể che mờ chân lý./.

XEM XÉT LỘ TRÌNH CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG TẠI PHIÊN HỌP THÁNG 10

 Tại phiên họp thường kỳ tháng 10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về các vấn đề kinh tế - xã hội, tài chính ngân sách và lộ trình cải cách tiền lương sau khi Trung ương đã xem xét và có kết luận nội dung này.

Chiều 28.9, phát biểu bế mạc phiên họp thứ 26 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, phiên họp đã hoàn thành 18 nhóm nội dung của chương trình phiên họp; trọng tâm là các nhóm nội dung chuẩn bị cho kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV.

Bên cạnh đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng cho ý kiến bằng văn bản đối với một số báo cáo khác. Trong đó trọng tâm toàn bộ phiên họp tháng này để cho ý kiến vào các nội dung trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6.

Chủ tịch Quốc hội cho biết, tại phiên họp thường kỳ tháng 10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến với một số nội dung rất quan trọng.

Trong đó, phiên họp tháng 10 sẽ cho ý kiến về các vấn đề kinh tế - xã hội, tài chính ngân sách và lộ trình cải cách tiền lương sau khi Trung ương đã xem xét và có kết luận nội dung này.

"Đây là nội dung quan trọng nhất phải chờ Trung ương họp xong thì chúng ta mới có căn cứ để xem xét, quyết định", Chủ tịch Quốc hội nói.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng cho ý kiến về công tác chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn tại kỳ họp thứ 6.

Đồng thời cho ý kiến đối với báo cáo kết quả rà soát hệ thống văn bản pháp luật theo yêu cầu tại Nghị quyết 101/2023/QH15. Đề nghị tổ công tác phối hợp với Chính phủ để có báo cáo thẩm tra sơ bộ về nội dung này.

Trong tháng 10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến đối với phương án sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách Trung ương 2022; việc sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách Trung ương 2021 đã bố trí cho chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội để thực hiện chính sách hỗ trợ ưu tiên nhà ở cho người lao động còn dư.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, đây là nội dung rất quan trọng liên quan đến phân bổ sử dụng dự phòng ngân sách với một số nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Theo Chủ tịch Quốc hội, riêng số tiền tăng thu của ngân sách năm 2021 rất lớn, của ngân sách Trung ương là 196.000 tỉ đồng, trong đó dự kiến dành 78.000 tỉ đồng cho cải cách chính sách tiền lương, bổ sung 65.000 tỉ đồng cho các dự án đầu tư trọng điểm...

Chủ tịch Quốc hội một lần nữa nhấn mạnh, đây là nội dung rất quan trọng, các Ủy ban của Quốc hội phải phối hợp chặt chẽ với nhau để thực hiện.

Tại buổi tiếp xúc cử tri mới đây, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung chia sẻ, thời gian qua, nhiều cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phải bỏ việc vì lương thấp.

Để tạm thời bù đắp một phần thu nhập, đảm bảo đời sống cho người dân, ngày 1.7.2023, Chính phủ đã thực hiện điều chỉnh tiền lương cơ sở và đang thực hiện lộ trình cải cách chính sách tiền lương.

“Cải cách chính sách tiền lương là việc không thể không làm và sẽ có nhiều điểm mới, lộ trình bắt đầu từ việc bãi bỏ lương cơ sở. Đây là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội”, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhấn mạnh.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung thông tin thêm, bên cạnh việc bỏ lương cơ sở, Chính phủ sẽ thiết kế song song 5 bảng lương mới, gồm: bảng lương đối với lãnh đạo, cán bộ quản lý; bảng lương của đối tượng làm chuyên môn nghiệp vụ; bảng lương đối với lực lượng vũ trang...

Riêng lực lượng vũ trang có 3 bảng lương gồm mức lương cho sĩ quan quân đội, quân nhân chuyên nghiệp; quân nhân quốc phòng và quân nhân của lực lượng công an./.


CHỮA “BỆNH QUAN LIÊU” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin “Kẻ thù bên trong tệ hại nhất của chúng ta, chính là anh chàng quan liêu... Chúng ta phải gạt bỏ kẻ thù đó”, Hồ Chí Minh khẳng định “bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cán bộ và công tác cán bộ. Bởi, theo Người: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Đó là một chân lý nhất định”. Cán bộ là dây chuyền của bộ máy, nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, toàn bộ máy cũng bị tê liệt, vì họ “là những người đem chính sách của Đảng thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ kém thì chính sách hay mấy cũng không thể thực hiện được”.

Xác định vị trí, vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cánh mạng, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những thứ “bệnh”, nguyên nhân, tác hại và đưa ra “thuốc chữa bệnh”. Thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin “Kẻ thù bên trong tệ hại nhất của chúng ta, chính là anh chàng quan liêu... Chúng ta phải gạt bỏ kẻ thù đó”, Hồ Chí Minh khẳng định “bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ. Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà có nằm trong các tổ chức ta, để làm hỏng công việc của ta”, “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác… phải tẩy sạch nó để thực hiện cần kiệm, liêm chính… để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc. Đó là nhiệm vụ quan trọng của mỗi chúng ta”.

Theo Hồ Chí Minh, “Bệnh quan liêu” là “chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự giác và tự động”; là “Tham ô, hủ hóa. Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng”, “Bệnh quan liêu... là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm”. Nguyên nhân của “bệnh quan liêu” là “vì xa cách quần chúng, không hiểu biết dân chúng, không học hỏi dân chúng, sợ dân chúng phê bình” và “khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa”. Tác hại của “bệnh quan liêu” là vô cùng lớn, bởi vì nó “đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí”. Cho nên, “Bệnh quan liêu chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy”.

Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, Đảng ta xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững”. Trong những năm qua, cùng với đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng ta thường xuyên quan tâm, chăm lo công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với sự nghiệp cách mạng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới. “Công tác cán bộ được đổi mới và phát triển mạnh mẽ theo phương châm công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, đạt được một số kết quả quan trọng”. Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ chưa thực sự phát huy được vai trò, hiệu quả, trách nhiệm trong công tác, tinh thần tự giác trong học tập, tu dưỡng phẩm chất đạo đức lối sống, ý thức tự phê bình và phê bình chưa cao, “nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiền phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở”, ngại va chạm, tiếp xúc với nhân dân, không lắng nghe và giải đáp kịp thời ý kiến, nguyện vọng của nhân dân; đánh giá hiệu quả công việc cá nhân, cơ quan, đơn vị, địa phương chủ yếu dựa trên các báo cáo, “lối làm việc bàn giấy”, chưa nghiên cứu tình hình thực tế. Do đó, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị không cao, gây bức xúc trong nhân dân... Những biểu hiện đó đã và đang làm giảm sút ý chí chiến đấu, ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết trong nội bộ, là cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm kích động, lôi kéo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, làm giảm lòng tin của nhân dân.

Quán triệt quan điểm của Đảng về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; đẩy mạnh Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục thực hiện có chất lượng Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và tiêu chuẩn cán bộ nêu tại Quy định số 89-QĐ/TW, Quy định số 90-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII… là những giải pháp quan trọng nhằm từng bước “tẩy sạch bệnh quan liêu” của “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và phức tạp, xuyên suốt trong tiến trình cách mạng; cần có sự quan tâm, chung sức của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. “Tẩy sạch bệnh quan liêu” cũng là để củng cố, phát huy vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng, theo đó, cần thực hiện tốt những giải pháp sau:

Một là, thực hiện có hiệu quả chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt, công tác của tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị

“Mục đích của phê bình giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”. Chế độ tự phê bình và phê bình là một trong những nguyên tắc, quy luật phát triển của Đảng ta, thông qua tự phê bình và phê bình giúp cho cán bộ, đảng viên nhận thấy và chỉ ra những ưu, khuyết điểm của mình và đồng chí, đồng đội. Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở một số cơ quan, địa phương thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình còn mang tính hình thức, e dè, chiếu lệ, cán bộ cấp dưới không mạnh dạn chỉ ra các khuyết điểm của cấp trên, một số cán bộ, đảng viên chưa thực sự lắng nghe ý kiến phê bình đồng chí, đồng đội, cấp dưới và quần chúng nhân dân; sau khi phê bình chưa tổ chức rút kinh nghiệm, chưa gắn chế độ tự phê bình và phê bình với chế độ kiểm tra, giám sát và sửa chữa kịp thời.

“Dùng cách thật thà tự phê bình và phê bình, để tẩy trừ những thói tham ô lãng phí và bệnh quan liêu, để cùng nhau tiến bộ”, “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”. Kết hợp chặt chẽ giữa chế độ tự phê bình và phê bình với công tác kiểm tra, giám sát của nhân dân, thực hiện đúng nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và giám sát”.

Thực hiện nghiêm túc chế độ phê bình từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, chủ động tạo các kênh thông tin để nhân dân phản ánh, đánh giá cán bộ, đặc biệt là cán bộ địa phương; giúp cho cán bộ gần dân, nghe dân, hiểu dân để dân dân tin, thể hiện tinh thần, trách nhiệm, trình độ và năng lực của mình trong sinh hoạt và công tác. “Mở rộng dân chủ phê bình trong cơ quan và ngoài quần chúng, từ trên xuống và từ dưới lên. “Trên đe dưới búa” của phê bình, thì nhất định tẩy được bệnh quan liêu”. Phải gắn chế độ tự phê bình và phê bình trong cơ quan, đơn vị với công tác phản biện của các tổ chức chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân.

Hai là, thực hiện đúng nguyên tắc trong quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển và đánh giá cán bộ.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, “khi cân nhắc cán bộ, cần phải xét rõ người đó có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem, người ấy xứng đáng với việc gì”, Đảng ta xác định: “Đổi mới và tăng cường công tác cán bộ, tạo sự chuyển biến trong thực tế về đánh giá, tuyển chọn và sử dụng cán bộ chủ yếu theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ chế thị trường và chính sách mở cửa”. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác quy hoạch cán bộ; Đảng thống nhất lãnh đạo và quản lý đội ngũ cán bộ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập trung của cấp uỷ đi đôi với việc phát huy trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu; đồng thời mở rộng dân chủ trong việc phát hiện nguồn, phát hiện tài năng. Kết hợp chặt chẽ giữa công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển và sử dụng cán bộ, bảo đảm khách quan, dân chủ, đúng người, đúng việc, được nhân dân tín nhiệm. Phải “Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

Công tác cán bộ phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc của chiến lược cán bộ của Đảng và đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ của từng cương vị, địa phương, cơ quan. Kiên quyết xử lý nghiêm và đưa ra khỏi bộ máy lãnh đạo những cán bộ có biểu hiện thoái hóa, biến chất, vi phạm đạo đức cách mạng, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn.

Ba là, không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách làm việc và năng lực công tác của cán bộ

Phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách và năng lực công tác là cơ sở, điều kiện để mỗi cán bộ hoàn thành mọi nhiệm vụ trên cương vị chức trách được giao. Thực tế cho thấy, ở đâu và khi nào cán bộ có những biểu hiện hạn chế về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác thì ở đó “bệnh quan liêu” có “cơ sở, điều kiện phát triển”. Do vây, các cấp, các ngành, ở mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên cần “Quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu”.

Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ là một quá trình thường xuyên, liên tục, lâu dài; là sự nỗ lực của các cấp lãnh đạo, các cơ quan đơn vị và từng cán bộ. Do đó, các cấp, các nghành, các cơ quan đơn vị và mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” một cách thực chất, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, kết hợp với các chế độ kiểm tra, giám sát, sắp xếp, bổ nhiệm, đánh giá và luân chuyển cán bộ.

Thực hiện đúng nguyên tắc và phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của nhân dân, của tập thể trong đánh giá cán bộ, đảng viên. Kiên quyết, kịp thời xử lý cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và thói làm việc quan liêu, không sâu sát thực tiễn...

Xây dựng kế hoạch, tiến hành có hiệu quả công tác giáo dục, nâng cao năng lực và tác phong công tác của cán bộ, thông qua thực tiễn để đánh giá năng lực công tác và trách nhiệm của cán bộ. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn. Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ. “Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”, cán bộ, người đứng đầu phải làm gương và là tấm gương để nhân dân và cấp dưới học tập và theo; “đặt công việc chung, lợi ích chung lên trên hết, trước hết”.

Bốn là, rèn luyện phong cách làm việc gần dân, sát thực tế của cán bộ.

Để chữa “bệnh quan liêu” đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện phương pháp, phong cách làm việc quần chúng, thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe ý kiến góp ý của tập thể, cấp dưới và của nhân dân. Tích cực hoạt động thực tiễn, chủ động nghiên cứu thực tế, rèn luyện khả năng đánh giá, định hướng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và hoạt động thực tiễn. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân”. Qua đó, cán bộ, đảng viên không những hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân mà còn học tập được nhiều kinh nghiệm hay của nhân dân. Làm cho mối quan hệ, đoàn kết gắn bó giữa cán bộ, đảng viên ngày càng bền chặt hơn, để cán bộ, đảng viên thực sự là “công bộc, đầy tớ của nhân dân”.

Sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới đòi hỏi phải không ngừng nâng cao vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ. Từ thực tế “bệnh quan liêu” ở không ít cán bộ hiện nay, đòi hỏi các cấp ủy đảng, các cơ quan, đơn vị và toàn hệ thống chính trị phải tích cực, chủ động, linh hoạt và kiên quyết, đảm bảo đúng nguyên tắc, phương châm, quan điểm chỉ đạo trong công tác cán bộ để “tẩy sạch bệnh quan liêu” trong cán bộ. “Mong rằng toàn thể cán bộ ta, ai không mắc bệnh quan liêu phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng sửa chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng với người cán bộ cách mạng, chớ để bị đào thải”./.



NHIỆM VỤ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA

 


An ninh quốc gia là sự vững mạnh, trường tồn của Đảng, sự ổn định, phát triển bền vững về mọi mặt của đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là sự ổn định về chính trị, về biên giới, chủ quyền lãnh thổ quốc gia và an ninh, an toàn xã hội.

Công tác bảo vệ an ninh quốc gia phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, toàn quân, toàn dân, của các cấp, các ngành; người đứng đầu cấp ủy, chính quyền chịu trách nhiệm chính và trước hết trong xử lý vấn đề an ninh ở lĩnh vực, địa phương mình.

Bảo vệ an ninh quốc gia là tổng thể các biện pháp xây dựng, củng cố tiềm lực an ninh quốc gia; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia; loại trừ các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia. Giữ vững an ninh quốc gia vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp để phát triển bền vững trên phạm vi cả nước, ở từng địa phương và từng lĩnh vực.

Chủ động tiến công, tích cực phòng ngừa; lấy phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dựa vào dân, yên dân là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia.

Bảo vệ an ninh kinh tế là bảo vệ an ninh quốc gia. Kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ an ninh quốc gia với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chủ trương, chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển và trong từng đề án, dự án cụ thể.

Chủ động, tích  cực hội nhập quốc tế về an ninh phù hợp với tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ an ninh quốc gia nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, tích cực góp phần khẳng định và củng cố các nguyên tắc cơ bản và phổ quát của quan hệ quốc tế nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Nhận diện, xử lý đúng đắn và vận dụng sáng tạo quan điểm về đối tượng, đối tác trong bảo vệ an ninh quốc gia. Đối tượng đấu tranh cơ bản, lâu dài là các thế lực thù địch, gián điệp nước ngoài, phản động lưu vong, phản động chống đối trong nước có âm mưu, ý đồ, hoạt động nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, gây nguy hại cho lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối tượng đấu tranh trực tiếp, nguy hiểm là các đối tượng có âm mưu, hoạt động nhằm “ly khai, tự trị”; chống đối, cơ hội chính trị; khủng bố; các loại tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm quốc tế hoạt động xâm phạm lợi ích, an ninh quốc gia. Đối tác là các cơ quan tình báo, an ninh nước ngoài và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, có lợi ích phù hợp với nước ta và hợp tác với ta trong bảo vệ lợi ích, an ninh quốc gia của Việt Nam. Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải cảnh giác, đấu tranh./.